- Quốc tịch vừa mang tính quốc tế vừa là đối tượng điều chỉnh của luật trong nước, đặc thù này của mối quan hệ quốc tịch xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người và quyền
Trang 2NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3MỤCLỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỐC TỊCH 3
1.1 Khái niệm về quốc tịch 3
1.2 Ý nghĩa về quốc tịch 5
1.2.1 Ý nghĩa của quốc tịch đối với công dân 5
1.2.2 Ý nghĩa của quốc tịch đối với Nhà nước 6
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển quốc tịch 6
1.3.1 Quốc tịch thời kỳ chiếm hữu nô lệ 7
1.3.2 Quốc tịch thời kỳ Phong kiến 7
1.3.3 Quốc tịch thời kỳ Tư bản chủ nghĩa 7
1.3.4 Quốc tịch thời kỳ xã hội chủ nghĩa 8
1.3.5 Lịch sử hình thành quốc tịch Việt Nam 8
1.4 Các nguyên tắc xác định quốc tịch 12
1.4.1 Nguyên tắc xác định theo huyết thống 13
1.4.2 Xác định theo nguyên tắc nơi sinh 14
1.4.3 Nguyên tắc thỏa thuận quốc tế 15
1.5 Các nguyên tắc xác định quốc tịch theo quy định của pháp luật Việt Nam15 1.5.1 Nguyên tắc huyết thống: 15
1.5.2 Nguyên tắc nơi sinh 16
1.5.3 Xác lập quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập hoặc ký kết 17
CHƯƠNG 2:NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUỐC TỊCH VIỆT NAM 19
2.1 Những điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 18
2.2 Nội dung của quốc tịch Việt Nam 21
2.2.1 Quốc tịch của trẻ em 22
2.2.2 Quốc tịch của con nuôi chưa thành niên khi cha mẹ bị tước quốc tich25 2.2.3 Quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ bị tước quốc tịch hoặc bị hủy bỏ cho nhập quốc tịch Việt Nam 26
2.2.4 Quốc tịch của con nuôi chưa thành niên 27
2.3 Nhập quốc tịch Việt Nam 30
2.3.1 Điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam 30
Trang 42.3.2 Hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam 33
2.3.3 Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam 35
2.3.4 Trình tự, thủ tục và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam đối với người không quốc tịch đã cư trú ổn định tại Việt Nam 36
2.4 Mất quốc tịch Việt Nam 37
2.4.1 Đương nhiên mất quốc tịch 38
2.4.2 Mất quốc tịch Việt Nam do xin thôi quốc tịch Việt Nam 39
2.4.3 Mất quốc tịch Việt nam do bị tước quốc tịch 40
2.4.4 Mất quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế 41
2.5 Thôi quốc tịch Việt Nam 41
2.5.1 Căn cứ thôi quốc tịch Việt Nam 41
2.5.2 Hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam 43
2.5.3 Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam 44
2.6 Tước quốc tịch Việt Nam 45
2.6.1 Căn cứ tước quốc tịch Việt Nam 45
2.6.2 Trình tự tước quốc tịch Việt Nam 46
2.7 Hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam 47
2.7.1 Căn cứ hủy bỏ cho nhập quốc tịch Việt Nam 47
2.7.2 Trình tự, thủ tục hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam 47 2.8 Trở lại quốc tịch Việt Nam 48
2.8.1 Các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam 48
2.8.2 Hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam 50
2.8.3 Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam 50
2.9 Quốc tịch của người Việt Nam định cư ở nước ngoài 53
CHƯƠNG 3::THỰC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT QUỐC TỊCH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM 54
3.1 Tình trạng hai hay nhiều quốc tịch 54
3.1.1 Nguyên nhân của tình trạng hai hay nhiều quốc tịch 54
3.1.2 Những khó khăn của tình trạng hai hay nhiều quốc tịch 56
3.2 Tình trạng không quốc tịch 57
3.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng không quốc tịch 57
3.2.2 Những khó khăn của tình trạng không quốc tịch 58
3.3 Một số thực trạng khi áp dụng pháp luật quốc tịch Việt Nam 58
3.3.1 Thực trạng vấn đề không quốc tịch 59
3.3.2 Thực trạng vấn đề xin nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam 60
Trang 53.4 Một số giải pháp hoàn thiện luật quốc tịch Việt Nam 61
3.4.1 Giải pháp về vấn đề không quốc tịch 61
3.4.2 Giải pháp vấn đề hai quốc tịch 62
3.4.3 Giải pháp vấn đề xin nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam 64
PHẦN KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 6và phải thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật của Nhà nước đó quy định, đồng thời phải chịu sự chi phối và quản lý mọi mặt của Nhà nước Theo ý nghĩa nói trên, quốc tịch Việt Nam thể hiện những quan hệ gắn bó của cá nhân đối với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam đối với công dân Việt Nam Cho nên việc quy định về quốc tịch Việt Nam là hết sức cần thiết cho công dân cũng như Nhà nước việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Ngày nay, cùng với sự phát triển về pháp luật quốc tịch của các quốc gia
trên thế giới, pháp luật quốc tịch Việt Nam cũng có những bước phát triển ngày càng hoàn thiện Bên cạnh hoàn thiện về mặt lập pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật quốc tịch nước ta đã giải quyết được phần nào vấn đề về quốc tịch cho kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và bộ phận người không quốc tịch đang
cư trú trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm mà luật quốc tịch nước ta đạt được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến nhiều trường hợp phát sinh mà luật không dự liệu trước hết tất
cả Chính vì vậy, đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc áp dụng Luật Quốc tịch và khó khăn cho cả người dân Do đó, mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu những quy định của luật quốc tịch Việt Nam cũng như áp dụng luật trong thực tiễn áp dụng Từ đó, giúp bản thân nhận thức một cách tương đối và đầy đủ về pháp luật quốc tịch Việt Nam cũng như trong khả năng có thể giúp mọi người tìm hiểu về Luật Quốc tịch Việt Nam Qua
đó, bằng những kiến thức hạn hẹp của mình người viết xin đưa ra ý kiến đề xuất
Trang 7một số giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện các quy định của luật quốc tịch để tháo gỡ những khó khăn trong việc áp dụng Luật Quốc tịch Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
“Một số vấn đề cơ bản về quốc tịch Việt Nam”, là một đề tài nghiên cứu
thuộc ngành khoa học pháp lý nhưng trong tính pháp lý đó có một số vấn đề mang tính xã hội Do đó để tìm hiểu những vấn đề mang tính xã hội cần sử dụng những phương pháp như phương pháp khoa học, phương pháp tư duy, thống kê, phương pháp logic, Đồng thời nó cũng nghiên cứu các vấn đề thuộc các khía cạnh pháp lý nên sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, những đề xuất của người nghiên cứu…
Ngoài ra để nghiên cứu đề tài được tốt hơn người viết cần sử dụng những tài liệu và phương tiện như: Về tài liệu thì sử dụng những văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến quốc tịch, cũng như các chính sách của nhà nước về quốc tịch,…
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề về quốc tịch như: Thế nào là quốc tịch, lịch sử
hình thành và phát triển quốc tịch, căn cứ xác lập quốc tịch cũng như nội dung của quốc tịch cùng với những giải pháp hoàn thiện luật quốc tịch Việt Nam
5 Bố cục của đề tài
Bố cục đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quốc tịch
Chương 2:Nội dung cơ bản của quốc tịch Việt Nam
Chương 3: Thực trạng áp dụng luật quốc tịch và một số giải pháp hoàn thiện Luật quốc tịch Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, bản thân người viết không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định, nhờ sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn cũng như nhận được sự giải thích, hướng dẫn của thầy,cô Bộ Môn Luật Hành Chính Bản thân người viết rất mong được sự gớp ý kiến của thầy, cô để bài viết đạt được kết quả tốt nhất cũng như bản thân có được sự nhận thức toàn diện hơn về vấn đề quốc tịch Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỐC TỊCH
1.1 Khái niệm về quốc tịch
Theo Luật quốc tế hiện đại thì quốc tịch được hiểu là mối quan hệ pháp lý hai chiều được xác lập giữa cá nhân với một quốc gia nhất định có nội dung là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó và quốc gia mà họ là công dân Mối quan hệ pháp lý về quốc tịch được xác lập giữa cá nhân với quốc gia thể hiện qua các đặc điểm như:
- Đối với từng cá nhân đây là mối quan hệ pháp luật tồn tại một cách bền vững ổn định và ràng buộc người đó với nhà nước mà họ là công dân về quyền
và nghĩa vụ mang tính hai chiều
- Quốc tịch vừa mang tính quốc tế vừa là đối tượng điều chỉnh của luật trong nước, đặc thù này của mối quan hệ quốc tịch xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người và quyền công dân của một cá nhân khi tồn tại trong đời sống xã hội.1
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, quốc tịch là một chế định pháp lý bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật được thiết lập giữa cá nhân với một Nhà nước, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân Quốc tịch là căn cứ
duy nhất xác định công dân của một Nhà nước, là “sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó” Mỗi quốc gia có một chế định pháp lý khác nhau về
quốc tịch, do vậy, Luật quốc tịch mỗi nước quy định cụ thể vấn đề về nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch của mỗi công dân phù hợp với đặc thù của nước đó Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn
bó, bền vững về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất xác định công dân của một Nhà nước và trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân Theo từ điển Oxford của
Anh: Quốc tịch là sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó Theo từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì: “Quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp
lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân” Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân là công
1
Trang 9dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước2 Hầu như các nước Châu Âu, Châu Mỹ đều có cách hiểu tương đối giống nhau khi bàn luận đến khái niệm quốc tịch, đều cho rằng đó là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị Còn các quốc gia Châu Á thì cho rằng đó là mối quan hệ, ràng buộc Còn theo Từ điển luật của Hoa Kỳ thì cho rằng quốc tịch
là một đặc tính phát sinh từ sự kiện quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó3 Ngoài ra Luật Quốc tịch Lào khẳng định: Quốc tịch Lào thể hiện mối quan hệ pháp luật và chính trị, ràng buộc một người nào đó với Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và là cơ sở xác định người đó có địa vị là công dân Lào4 Trong khái niệm Luật quốc tịch của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thì thể hiện hai vấn đề:
- Thứ nhất, là mối quan hệ và sự ràng buộc cá nhân với Nhà nước;
- Thứ hai, là địa vị pháp lý của người đó, có nghĩa là khi là công dân Lào thì người đó sẽ được hưởng những quyền và lợi ích mà Nhà nước Lào ban cho Ngày nay quốc tịch được hiểu theo hai nghĩa: quốc tịch theo nghĩa pháp lý
và quốc tịch theo nghĩa thông thường
Theo nghĩa pháp lý thì: Quốc tịch là mối quan hệ chính trị pháp lý có tính chất lâu dài, bền vững, ổn định, không bị giới hạn bởi một cá nhân với một chính quyền Nhà nước nhất định Đó là sự thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa cá nhân với Nhà nước, làm pháp sinh quyền và nghĩa vụ của công dân với Nhà nước
Đây là mối quan hệ mang tính chính trị bởi vì quốc tịch thể hiện mối quan
hệ giữa công dân với Nhà nước nhất định qua các thời kỳ Tức là trong một thời
kỳ nhất định một Nhà nước sẽ có những quy định về quốc tịch khác nhau, những quy định này phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Đồng thời, quốc tịch cũng thể hiện tính pháp lý trong mối quan hệ Nhà nước và công dân được thể hiện như sau:
- Thứ nhất, Nhà nước bằng pháp luật, quy định quyền nghĩa vụ cho công
Trang 10- Thứ hai, công dân phải có nghĩa vụ tuân theo pháp luật mà Nhà nước của mình đặt ra dù họ ở trong hoặc ngoài nước;
- Thứ ba, Nhà nước có quyền phán xét, xử lý tuyệt đối các hành vi của công dân của mình đồng thời phải có trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích của công dân cả ở trong và ngoài nước
Mối quan hệ chính trị - pháp lý giữa một cá nhân với một Nhà nước không thể là sự tác động một chiều từ nhà nước đến cá nhân là công dân hay ngược lại
từ công dân đến Nhà nước mà mối quan hệ này là sự tác động qua lại lẫn nhau,
bổ trợ cho nhau đồng thời qua đó cũng thể hiện tính giai cấp rõ rệt, bằng việc Nhà nước ban hành các chế độ pháp lý cho công dân của nước mình, đồng thời Nhà nước cũng đề ra trách nhiệm bảo hộ quyền lợi cho cá nhân trong mối quan
hệ cộng đồng dân cư của quốc gia mà họ là công dân, cũng như trong quan hệ quốc tế mà người đó tham gia nhân danh chính cá nhân họ Về phía nhà nước xác lập quốc tịch có ý nghĩa thực hiện chủ quyền quốc gia đối với dân cư, bởi về pháp lý quốc tịch là căn cứ xác định giới hạn thẩm quyền tài phán của một quốc gia trong các mối quan hệ pháp luật quốc tế
Theo nghĩa thông thường thì: Quốc tịch được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội phát sinh trong các điều kiện: có, mất, thôi, tước, hủy, trở lại quốc tịch
Mối quan hệ pháp lý này có thể thấy trong luật quốc tịch Việt Nam, quốc
tịch Việt Nam cũng thể hiện mối quan hệ pháp lý gắn bó giữa Nhà nước và công dân, điều này được quy định cụ thể tại Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008:
“Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của một cá nhân với Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam”
Về nguyên tắc các quốc gia trên thế giới đều có quan điểm tương đối giống
nhau khi bàn luận đến khái niệm quốc tịch đều xuất phát từ điểm chung là mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước, trải qua những biến động của hệ thống pháp luật trên thế giới cũng như những biến đổi pháp luật của từng quốc gia khác nhau tác động mà khái niệm quốc tịch được đúc kết trên cơ sở lý luận phù hợp về mặt pháp lý và toàn diện về mặt thực tiễn
Trang 111.2 Ý nghĩa về quốc tịch
1.2.1 Ý nghĩa của quốc tịch đối với công dân
Việc xác định quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng, một cá nhân con người
không thể có được quyền và danh dự như công dân của một Nhà nước nhất định, nếu như cá nhân đó không phải là công dân của quốc gia mình, khi xác định được quốc tịch chính là việc xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước với công dân và ngược lại Điều này mang một ý nghĩa hết sức to lớn, bởi lẽ chỉ khi xác định được mình là công dân của một nước nào thì một người mới có thể xác định được một cách chính xác quyền và nghĩa vụ của mình đối với một nhà nước nhất định cũng như biết được nơi nào sẽ bảo vệ cho quyền lợi của mình khi phát sinh tranh chấp trong mối quan hệ trong nước và quan trọng hơn là quan hệ quốc tế
Từ chỗ xác định rõ quốc tịch cá nhân sẽ được hưởng các quyền đặc biệt của công dân như quyền bầu cử, ứng cử ngoài ra công dân của một nước còn được hưởng sự ưu đãi mà nhà nước dành cho công dân của nước mình mà các công dân của quốc gia khác không thể có được cũng như được thực hiện các nghĩa vụ
mà Nhà nước quy định
1.2.2 Ý nghĩa của quốc tịch đối với Nhà nước
Quốc tịch là yếu tố xác định công dân của một quốc gia Đây là yếu tố giúp
cho việc phân định ba dạng người trên lãnh thổ của một quốc gia là: Người mang quốc tịch của quốc gia sở tại; người có quốc tịch nước ngoài (có hai hay nhiều quốc tịch); người không quốc tịch
Việc xác định một cá nhân là công dân của một quốc gia mang một ý nghĩa hết sức quan trọng Điều này rất cần thiết trong công tác quản lý của Nhà nước cũng như việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội Khi có sự xác định
rõ những ai là công dân mang quốc tịch của quốc gia mình, đồng thời dựa trên sự phân bố dân cư, nhà nước sẽ dễ dàng hơn trong việc phân cấp quản lý Số dân sinh sống ở các vùng miền cũng là cơ sở cho Nhà nước phân chia địa giới hành chính giữa các cấp quản lý Dựa trên sự phân chia quản lý cụ thể tại các địa phương, Nhà nước sẽ có chính sách hợp lý để phát triển kinh tế xã hội từng vùng, miền trên đất nước, phát huy được thế mạnh của các địa phương Thông qua việc xác định dân số cũng như vùng tập trung dân cư, Nhà nước sẽ có phương hướng phân bố lại dân cư để tạo nên sự phát triển đồng bộ cả đất nước Từ việc xác định yếu tố trên, Nhà nước ta đã có chính sách thu hút người dân chuyển đến sinh sống ở những vùng có ít dân cư sinh sống bằng những ưu đải nhất định, một mặt
Trang 12giải quyết được việc làm mặt khác làm cho đất nước có mật độ dân số đồng đều, giúp thuận lợi hơn công tác quản lý, xác định quốc tịch của công dân một mặt nào đó làm cho các vùng miền có nền kinh tế phát triển ngang bằng nhau, giảm bớt một phần gánh nặng cho Nhà nước Thông qua xác định được quốc tịch của công dân, Nhà nước cũng xác định được các quyền của mình cũng như xác định trách nhiệm đối với công dân đang sinh sống trong nước và công dân ở ngoài nước
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển quốc tịch
Quốc tịch ra đời, tồn tại và mất đi cùng với sự ra đời và mất đi của chính
quyền Nhà nước Nguyên nhân làm xuất hiện quốc tịch là quá trình vận động xã hội, mà kết quả của sự vận động đó chính là xuất hiện của chính quyền Nhà nước Như vậy, khi một chính quyền nhà nước được thành lập xuất hiện mối quan hệ chính trị pháp lý giữa chính quyền Nhà nước và những cá nhân đang sống trên lãnh thổ của chính quyền nhà nước đó Về mặt lịch sử, quốc tịch là một khái niệm ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa 1.3.1 Quốc tịch thời kỳ chiếm hữu nô lệ
Trong chế độ chiếm hữa nô lệ, thì chỉ có những chủ nô mới được coi là người có đầy đủ các quyền do Nhà nước ban cho, trong đó có quyền được sở hữu
và bóc lột những người nô lệ Tuyệt đại đa số những người lao động là nô lệ Họ không được coi là con người mà chỉ là một thứ “công cụ lao động biết nói” và chủ nô đã áp đặt mọi ý chí lên người nô lệ cùng với quyền sở hữu và bóc lột, dẫn đến mối quan hệ bất bình đẳng giữa họ với giai cấp thống trị đặc biệt hơn là giữa
họ với nhà nước, hệ quả là họ không có một chút quyền gì trong xã hội Trong chế độ này thì vấn đề quốc tịch không được nhắc đến5
1.3.2 Quốc tịch thời kỳ phong kiến
Trong chế độ phong kiến, địa vị pháp lý của người lao động được cải thiện
hơn so với chế độ chiếm hữu nô lệ Tuy không còn thuộc quyền sở hữu của giai cấp phong kiến nhưng họ vẫn bị trói buộc vào ruộng đất của lãnh chúa và địa chủ, họ chỉ có một ít quyền cá nhân nhưng không được quyền chính trị không được tham gia vào bộ máy nhà nước phong kiến họ chỉ có nghĩa vụ đối với Nhà nước một cách tuyệt đối
1.3.3 Quốc tịch thời kỳ tư bản chủ nghĩa
5
Tập bài giảng Tư pháp Quốc tế, Th.s Diệp Ngọc Dũng – Th.s Cao Nhất Linh, Khoa Luật, Trường Đại
Trang 13Bước sang giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản đã đưa
ra nhiều quan điểm, tư tưởng tiến bộ trong đó có chế định về nhân quyền, về quốc tịch để lôi cuốn quần chúng lao động làm cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập và củng cố nền thống trị của giai cấp tư sản Chế định quốc tịch thay cho chế định thần dân trong chế độ phong kiến Đây là bước phát triển tiến
bộ trong lịch sử, vì theo đó người dân được gọi là công dân có nhiều quyền hơn
so với trước trong đó có quyền chính trị và dân sự Tuy nhiên trong chế độ tư bản chủ nghĩa người dân chỉ có quyền công dân và bình đẳng về mặt hình thức, còn trên thực tế chỉ có giai cấp thống trị tư sản mới được hưởng đầy đủ những quyền
đó6
1.3.4 Quốc tịch thời kỳ xã hội chủ nghĩa
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, chế định quốc tịch có nội dung hoàn toàn mới Giữa Nhà nước và công dân đã hình thành quan hệ mới về chính trị pháp lý,
do Nhà nước đã xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân và xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mọi công dân trong nhà nước xã hội chủ nghĩa đều bình đẳng với nhau về địa vị kinh tế, và bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực khác như: văn hóa, chính trị, xã hội Từ vị trí người bị thống trị nhân dân lao động thực sự trở thành người làm chủ trong các lĩnh vực đời sống xã hội
1.3.5 Lịch sử hình thành quốc tịch Việt Nam
Ở Việt Nam, trước cách mạng tháng tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nữa phong kiến, không có độc lập, tự do, không có chủ quyền vì vậy ở giai đoạn này vấn đề quốc tịch chưa được đặt ra (Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á) Sự kiện này khẳn định Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền và bình đẳng với các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế đồng thời cũng đánh dấu sự bắt đầu của chế định “quốc tịch Việt Nam” Pháp luật quốc tịch cũng hình thành và phát triển gắn liền với tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam được khái quát ở hai giai đoạn trước và sau năm 1975
* Giai đoạn trước năm 1975
6
Tập bài giảng Tư pháp Quốc tế, Th.s Diệp Ngọc Dũng – Th.s Cao Nhất Linh, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, trang 47
Trang 14Sau cách mạng tháng tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa còn non
trẻ đứng trước nhiệm vụ cấp thiết phải xóa bỏ hệ thống pháp luật thực dân - phong kiến và nhanh chóng xây dựng hệ thống pháp luật mới để quản lý đất nước, giữ vững nền độc lập dân tộc Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống pháp luật mới không thể một sớm, một chiều Nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng về vấn đề quốc tịch cũng như khẳng định và thực hiện chủ quyền đất nước, để nghi nhận về mặt địa vị pháp lý địa vị xã hội thực tế của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chủ trương tạm thời áp dụng những quy định của pháp luật cũ, miễn là nội dung không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể quân chủ cộng hòa (Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945) Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã khẩn trương ban hành những văn bản pháp luật mới, trong đó có những văn bản pháp luật về quốc tịch như:
• Sắc lệnh 53/SL ngày 20/10/1945 quy định ai là công dân Việt Nam (tức là
có quốc tịch Việt Nam) và những người nào bị mất quốc tịch Việt Nam; thể thức tước quốc tịch Việt Nam của những người không sứng đáng
• Sắc lệnh số 73/SL ngày 7/12/1945 quy định về việc nhập quốc tịch Việt Nam
• Sắc lệnh số 25/SL ngày 25/2/1946 bổ sung sắc lệnh số 53/SL về trường hợp đàn bà Việt Nam lấy chồng ngoại quốc và đàn bà ngoại quốc lấy chồng Việt Nam
• Sắc lệnh số 215/SL ngày 20/10/1948 Sắc lệnh này ấn định những quyền lợi đặc biệt cho những người nước ngoài đã có công giúp đỡ cuộc kháng chiến của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
• Sắc lệnh số 051/ SL ngày 14/12/1959 bãi bỏ một số điều của Sắc lệnh 53/SL
Các sắc lệnh trên là căn cứ pháp lí để xác định và giải quyết những vấn đề liên quan đến quốc tịch đồng thời các sắc lệnh này đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển chế định quốc tịch Việt Nam Nó
đã đáp ứng được yêu cầu của cách mạng, phù hợp với tình hình thực tế về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật, xã hội của nước ta trong giai đoạn 1945-1954 gớp phần xây dựng chế độ pháp lý của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Năm 1954, cuộc khách chiến chống thực dân pháp thắng lợi, miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ Trong bối cảnh
Trang 15mới, chế định quốc tịch Việt Nam vẫn được áp dụng theo sắc lệnh cũ và có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, ngày 14/12/1959, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành sắc lệnh số 51/SL và bãi bỏ Điều 5 Sắc lệnh số 73/SL và Điều 6 Sắc lệnh 25/SL theo sắc lệnh số 73/SL, Bộ tư pháp có thẩm quyền quyết định việc nhập quốc Tịch Việt Nam của người nước ngoài, tuy nhiên theo Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Chính phủ năm 1960 không còn tồn tại Bộ Tư pháp trong cơ cấu Chính phủ vì vậy ngày 18/02/1971 Ủy ban thường vụ quốc hội đã ra Nghị quyết số 1013/NQTVQH ngày 08/12/1971 của
Ủy ban thường vụ quốc hội về việc giao cho Hội đồng Chính phủ quyền xét xử
và quyết định những trường hợp xin nhập hoặc xin thôi quốc tịch Việt Nam Các văn bản pháp luật về quốc tịch trên đã xác định các điều kiện để có và mất quốc tịch Việt Nam Phù hợp với Hiến pháp nước ta lúc bấy giờ, các quy định về quốc tịch đã khẳng định các nguyên tắc bình đẳng nam nữ, bình đẳng dân tộc và nhân đạo Các văn bản pháp luật về quốc tịch đã đáp ứng một cách kiệp thời, thiết thực yêu cầu chính trị là xác định được quốc tịch của nước ta, làm cơ sở và tạo điều kiện đảm bảo cho công dân được hưởng quyền về mọi mặt, đồng thời làm tròn nghĩa vụ đối với đất nước Tuy nhiên, vì được ban hành đơn lẻ, giá trị pháp lý thấp nên pháp luật về quốc tịch trong giai đoạn này chưa giải quyết được toàn diện những vấn đề về quốc tịch Việt Nam, đặc biệt chưa cụ thể hóa được những vấn đề về quốc tịch được quy định trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm
19597
* Giai đoạn sau năm 1975
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, những thay đổi về chính trị - kinh tế - xã hội đã đòi hỏi phải có những văn bản quy phạm pháp luật phù hợp có giá trị cao để điều chỉnh quan hệ pháp luật về quốc tịch Thời kỳ Pháp thuộc, rất nhiều người Việt Nam đã ra nước ngoài (chủ yếu ở Pháp
và các nước Tây Âu); giai đoạn năm 1945-1954, người Việt Nam cũng ra nước ngoài với số lượng không nhỏ, nhất là ở Hoa Kỳ Sau năm 1975, nhiều người Việt Nam ra nước ngoài bằng con đường bất hợp pháp trong đó một bộ phận đã nhập quốc tịch nước ngoài Mặt khác, khi thực hiện chính sách đổi mới, ngày càng có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài, số lượng người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam, nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi ngày càng gia tăng… trước tình hình đó ngày 28/6/1988,
7
Tập chí Luật học tháng 6-2009 chuyên đề Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
Trang 16Quốc hội khóa VIII, kỳ hợp thứ 3 đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam, đây là đạo luật đầu tiên điều chỉnh về vấn đề quốc tịch Việt Nam, đánh dấu một mốc mới trong quá trình lập pháp của nước ta Để cụ thể hóa, ngày 5/2/1990 Hội đồng
bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 37/HĐBT Luật quốc tịch năm 1988 và Nghị định số 37/HĐBT đã đáp ứng những nhu cầu chính trị và pháp lý quốc tịch trong giai đoạn mới của đất nước Xuất phát từ thực tế hội nhập cùng cộng đồng quốc
tế, đáp ứng những yêu cầu về việc giải quyết vấn đề quốc tịch và khắc phục những hạn chế của Luật Quốc tịch năm 1988, Ngày 20/5/1998, Quốc hội khóa X,
kỳ hợp thứ 3 của nước công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban hành luật quốc tịch Việt Nam số 07/1998/QH10 thay thế luật Quốc tịch năm 1988 và có hiệu lực
từ ngày 01/01/1999 Luật Quốc tịch 1998 đã phát huy những hiệu quả tích cực có tác dụng to lớn trong việc tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, hướng dẫn và động viên mọi người hưởng các quyền công dân, được coi là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch, đã quy định đường lối cụ thể như: Chính sách của Nhà nước ta về quốc tịch, việc có và mất quốc tịch Việt Nam, thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và con nuôi, thẩm quyền
và thủ tục giải quyết các việc về thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch
Để triển khai thực hiện Luật Quốc tịch năm 1998, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật sau:
• Nghị định của chính phủ số 104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998;
• Nghị định của chính phủ số 55/2000/NĐ-CP ngày 11/10/2000 sửa đổi một
Trang 1709/1998/TTLT-• Quyết định của Bộ trưởng Bộ tư pháp số 60/1999/QĐ-TP-QT ngày 7/4/1999
về việc ban hành mẫu giấy tờ về quốc tịch Việt Nam
Sau 9 năm thực hiện, ngày 15/2/2008 Bộ tư pháp đã tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, đánh giá những mặt tích cực, chỉ ra những mặt hạn chế cần khắc phục như việc ghi nhận nguyên tắc một quốc tịch còn cứng nhắc; điều kiện nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam chưa thực sự phù hợp với tình hình mới; thủ tục tiếp nhận và giải quyết các việc về quốc tịch còn rườm rà; công tác quản lý nhà nước về quốc tịch lỏng lẻo chưa sát với thực tiễn8
So với bối cảnh ban hành Luật năm 1998, thì hiện nay đất nước ta đã có nhiều thay đổi quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội; uy tín và vị thế quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Vấn đề quốc tịch Việt Nam cũng cần có những đổi mới cho phù hợp Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước ta về đại đoàn kết toàn dân tộc, coi người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời
và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, do vậy Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư Luật Quốc tịch Việt Nam thông qua ngày 13-11-2008 và đã được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 28-11-
2008 Luật gồm 6 chương, với 44 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2009 thay thế Luật Quốc tịch năm 1998 Về tổng thể, Luật Quốc tịch Việt Nam năm
2008 có cấu trúc cơ bản như Luật Quốc tịch năm 1998 (6 chương 42 điều) nhưng những hạn chế của Luật Quốc tịch năm 1998 đã cơ bản được sửa đổi trong luật quốc tịch mới
Có thể nói việc Quốc hội thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về quốc tịch Việt Nam Mặt khác, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn đảm bảo sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 1992, sự đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan cũng như tính khả thi của các quy định có tính nguyên tắc của luật Bảo đảm quyền có quốc tịch của mỗi cá nhân, hạn chế tình trạng không quốc tịch ở nước ta; tăng cường và nâng cao trình độ quản lý nhà nước về quốc tịch, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc bảo hộ có hiệu quả quyền
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài Hơn thế
8
Tập chí Luật học tháng 6-2009 chuyên đề Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008
Trang 18nữa, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn là sự kế thừa và phát triển những giá trị của pháp luật quốc tịch Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm quốc tế trong việc điều chỉnh vấn đề quốc tịch trong những năm gần đây
1.4 Các nguyên tắc xác định quốc tịch
Phương thức xác định quốc tịch đã hình thành từ xa xưa, và trãi qua một
quá trình phát triển Đó là những quy tắc, phương pháp mà quốc gia trên thế giới
đã sử dụng để xác định công dân của nước mình Mỗi một cá nhân con người thường phải gắn với một Nhà nước nhất định Việc cá nhân mang quốc tịch của một Nhà nước phải phù hợp với luật do Nhà nước đó quy định Về việc Nhà nước quy định các điều kiện xác định và thủ tục xác định quốc tịch là dấu hiệu chủ quyền của Nhà nước Không một thế lực nào bên ngoài có quyền can thiệp cũng không có quyền ép buộc một Nhà nước phải nhập quốc tịch hay tước quốc tịch của một cá nhân nào đó Việc xác định quốc tịch, không có quốc tịch liên quan rất nhiều đến quyền tối thiểu của con người: Được sống được tự do, được mưu cầu hạnh phúc Vì vậy, giải quyết vấn đề này không đơn thuần chỉ là công việc nội bộ thể hiện chủ quyền của một Nhà nước, mà nó còn vược ra khỏi phạm
vi của Nhà nước Nhiều nước đã ký kết nhiều hiệp ước liên kết với nhau để giải quyết vấn đề quốc tịch Thậm chí nhiều vấn đề có liên quan đến việc xác định quốc tịch còn là phạm vi điều chỉnh các công ước và điều ước quốc tế Đây cũng
là một đòi hỏi khách quan hiện nay để đáp ứng trong điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật, thương mại và các lĩnh vực giao lưu khác giữa các nước
Nội dung cơ bản của bất cứ một pháp luật quốc tịch của một quốc gia nào đều phải quy định được những người nào có quốc tịch của nước mình, tức là quy định những tiêu chuẩn để xác định những người được pháp luật nghiễm nhiên công nhận là những người được mang quốc tịch của Nhà nước sở tại không cần phải có quyết định của cơ quan đại diện Nhà nước việc Nhà nước ban hành pháp luật nhằm xác định người có quốc tịch của nước mình và do đó là công dân của nước mình cũng như quy định điều kiện, thủ tục nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch, là một trong những biểu hiện cụ thể của chủ quyền quốc gia
1.4.1 Xác định quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống
Theo nghuyên tắc này thì mọi đứa trẻ khi sinh ra đều có quốc tịch của cha
mẹ, không phụ thuộc vào nơi sinh, cũng như không phụ thuộc vào ý chí của cha
mẹ, quốc tịch của đứa trẻ là quốc tịch tự nhiên Đa phần các nước trên thế giới
Trang 19đều áp dụng nguyên tắc này như: Tây Á và Bắc Âu (Ví dụ các nước áp dụng như: Apganixtan, Áo, Na uy, Phần Lan, Tây Ban Nha )
Nguyên tắc huyết thống có hai dạng: Huyết thống tuyệt đối và huyết thống tương đối
1.4.1.1 Huyết thống tuyệt đối: Là nguyên tắc theo đó được áp dụng cho trường
hợp cả cha và mẹ có cùng quốc tich Theo nguyên tắc này thì đứa trẻ sinh ra sẽ
có quốc tịch theo cha mẹ, bất kể nơi đứa trẻ được sinh ra một số nước áp dụng như: Rumani, Lào, Campuchia, Trung Quốc
Ví dụ Điều 9 Luật Quốc tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào không
phụ thuộc vào việc trẻ em được sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lòa thì có quốc tịch Lào9
Đây là cách thức xác định quốc tịch truyền thống và phổ biến nhất mà luật
pháp của các nước sử dụng để xác định quốc tịch của trẻ em khi sinh ra
1.4.1.2 Huyết thống tương đối: Là nguyên tắc theo đó được áp dụng cho
trường hợp chỉ cần có cha hoặc mẹ mang quốc tịch của một nước nào đó thì đứa trẻ sẽ mang quốc tịch của nước mà người cha hay người mẹ đó mang quốc tịch; hoặc trong trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ có quốc tịch còn người kia không rõ hay không có quốc tịch thì đứa trẻ sẽ mang quốc tịch của người cha hoặc người
mẹ đó Các nước áp dụng như: Pháp, Ban Lan, Thái Lan, Nhật Bản
Ví dụ: Theo Điều 17 Bộ luật Quốc tịch nước cộng hòa Pháp, trẻ em sinh ra
hợp pháp hoặc ngoài giá thú có quốc tịch Pháp nếu có cha hoặc mẹ là công dân của Pháp; Điều 4 khoản 1 Luật Quốc tịch Vương quốc Thái Lan: một người sinh
ra có cha hoặc mẹ có quốc tịch Thái Lan không phân biệt sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Thái Lan hoặc Điều 2 Luật Quốc tịch Nhật Bản, trẻ em sẽ có quốc tịch Nhật Bản nếu cha hoặc mẹ có quốc tịch Nhật Bản vào thời điểm sinh ra đứa trẻ10…
Tuy nhiên yếu điểm của nguyên tắc này là khi bố mẹ của đứa trẻ không cùng một quốc tịch thì không cho phép xác định quốc tịch ngay cho đứa trẻ Nhằm mục đích vược ra khỏi sự khiếm khuyết này, một số nước quy định rằng, trẻ em sinh ra mang quốc tịch người cha (ví dụ một số nước ở châu Á: Thái Lan, Brunay, Indonexia) Quy định này bị nhiều nước lên tiếng phê phán là vi phạm
Trang 20quyền bình đẳng giữa nam và nữ Một số nước khác giải quyết mâu thuẫn bằng việc quy định: trong những trường hợp tranh chấp trên, đứa trẻ mang quốc tịch của nước nào là do sự thỏa thuận giữa cha và mẹ, nếu trong trường hợp cha mẹ không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết
1.4.2 Xác định quốc tịch theo nguyên tắc nơi sinh
Theo nguyên tắc này trẻ em sinh ra trên lãnh thổ của nhà nước nào thì phải mang quốc tịch của nhà nước đó, không phụ thuộc vào ý chí của bố mẹ chúng, cũng như không tính đến việc bố mẹ chúng mang quốc tịch của nhà nước nào (Một số nước áp dụng như: Cu Ba, Trung Quốc, Singabore )
Ví dụ: Theo điểm a Điều 29 Hiến pháp của Cộng hòa Cu Ba, những người sinh ra trên lãnh thổ Cu Ba (trừ con của những người nước ngoài đang làm việc tại Cu Ba cho Chính phủ của họ hoặc cho các tổ chức quốc tế) có quốc tịch Cu Ba; Theo Điều 6 Luật Quốc tịch của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Quốc, trẻ em sinh ra tại nước này có cha mẹ là người không quốc tịch hoặc quốc tịch không rõ ràng định cư ở Trung Quốc thì có quốc tịch Trung Quốc11 Nguyên tắc này hạn chế được sự bất đồng trong việc tranh chấp về quốc tịch của đứa trẻ khi cha, mẹ có hai quốc tịch khác nhau Nhưng cũng giống như nguyên tắc thứ nhất việc áp dụng nguyên tắc này vào thực tiễn cho thấy có những khuyết điểm lớn, không bao quát hết mọi trường hợp, như việc xác định quốc tịch của đứa trẻ không rõ bố mẹ là ai, được tìm thấy trên lãnh thổ của một nước
Như vậy hai nguyên tắc trên, dù ít hay nhiều điều có khiếm khuyết, không thể bao quát hết những trường hợp những cá nhân trong đất nước sở tại Nhưng thực ra mà nói không thể có một nguyên tắc nào có thể thâu tóm hết tất cả những trường hợp cá nhân được mang quốc tịch của quốc gia sở tại Muốn hay không muốn, nhiều trường hợp việc xác định quốc tịch chỉ là một thủ tục hình thức Để hạn chế đến mức tối đa việc các cơ quan đại diện Nhà nước phải ra quyết định quốc tịch của cá nhân nhiều nhà nước trên thế giới áp dụng cả hai nguyên tắc trên như: Ba Lan, Anh, Ấn Độ Chỉ còn lại những trường hợp tranh chấp quốc tịch mới cần đến quyết định của cơ quan Nhà nước
1.4.3 Nguyên tắc thỏa thuận quốc tế
Công ước Liên hợp quốc về hạn chế tình trạng không quốc tịch, các nước cam kết “hành động theo Nghị quyết 896 (IX) do Đại hội đồng Liên hợp quốc
11
Tập chí Luật học tháng 6-2009 chuyên đề Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008
Trang 21thông qua ngày 04/12/1954; xem xét một cách thiện chí để giảm tình trạng không quốc tịch bằng một điều ước quốc tế” Các quốc gia có thỏa thuận đa phương hoặc song phương về quốc tịch, những thỏa thuận này là cơ sở xác định một bộ phận dân cư nhất định thuộc quốc tịch nước nào12 Chẳng hạn khi thỏa thuận về việc chuyển lãnh thổ nào đó vào quốc gia khác (ví dụ: Việc xác lập Cộng hòa dân chủ Đức vào cộng hòa Liên bang Đức cũng phải có sự thỏa thuận giữa hai nước
về vấn đề quốc tịch của người dân hai nước, việc Trung Quốc thu hồi Hồng Kông thì đều có thỏa thuận về quốc tịch; hay những thỏa thuận của hai quốc gia
về việc cho phép người dân của nước này có quốc tịch của nước sở tại Những thỏa thuận trên là cơ sở để xác định quốc tịch của một bộ phận dân cư nhất định
và được nhiều nước áp dụng13
1.5 Các nguyên tắc xác định quốc tịch theo quy định của pháp luật Việt Nam 1.5.1 Nguyên tắc huyết thống
Theo quy định tại Điều 15 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định:
“Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Vịệt Nam mà khi sinh có cha mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam”, quốc tịch của con gắn liền với
quốc tịch của cha mẹ
- Thứ nhất: Tại thời điểm đứa trẻ sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam (huyết thống tuyệt đối)
- Thứ hai: Không quan tâm đến việc đứa trẻ được sinh ra ở đâu, điều kiện thứ nhất là điều kiện tiên quyết để đứa trẻ có quốc tịch Việt nam, điều kiện thứ hai là điều kiện phủ định nghuyên tắc nơi sinh, có nghĩa là khi áp dụng nguyên tắc huyết thống để xác định quốc tịch thì nguyên tắc nơi sinh bị triệt tiêu Bên cạnh đó nguyên tắc huyết thống còn được quy định tại Điều 16 Luật Quốc tịch
2008: “Trẻ em khi sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch, hoặc
mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam”
(Khoản 1 Điều 16 Luật Quốc tịch 2008) bản chất là nguyên tắc huyết thống tương đối, vì chỉ cần có cha hặc mẹ là công dân Việt Nam thì con sinh ra sẽ có
quốc tịch Việt Nam Hoặc theo khoản 2 Điều 16 Lật Quốc tịch 2008 “Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt nam, nếu có thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào
Trang 22thời điểm đăng ký khái sinh cho con Trường hợp trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam” Theo quy định này thì ngoài việc bao hàm quy
định luật quốc tịch 1998 Luật Quốc tịch 2008 đã giải quyết trong trường hợp cha
mẹ không thỏa thuận được thì đứa trẻ sẽ có quốc tich Việt Nam nếu sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam, điều này đã giải quyết được phần nào bất cập, hạn chế của Luật Quốc tịch 1998, xét thấy khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch 2008 là sự kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc huyết thống tương đối và nguyên tắc nơi sinh
1.5.2 Nguyên tắc nơi sinh
Việt Nam cũng thừa nhận nguyên tắc nơi sinh trong các trường hợp cụ thể
nhằm đảm bảo cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch (trừ trường hợp có quốc tịch nước ngoài)
Theo Điều 17 Luật Quốc tịch 2008 thì “Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt
Nam mà khi sinh có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam hoặc khi được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam”
Luật quy định như vậy phần nào hạn chế được tình trạng không quốc tịch của trẻ em khi sinh tại Việt Nam, theo quy định tại điều này thì cha mẹ phải đang thường trú tại Việt Nam, đồng thời không mang quốc tịch của bất kỳ một quốc gia nào khác có như vậy khi sinh con tại Việt Nam thì đương nhiên có quốc tịch Việ Nam Tuy nhiên nếu căn cứ vào nội dung, chỉ có thể xác định được quốc tịch cho đứa trẻ khi cha mẹ, hoặc ít nhất là người mẹ có nơi thường trú tại Việt Nam Điều này có nghĩa là, trong trường hợp cha mẹ của đứa trẻ không có quốc tịch và không có nơi thường trú tại Việt Nam nhưng sinh con trên lãnh thổ Việt Nam thì đứa trẻ sẽ không có quốc tịch Do đó, chúng ta nên đảm bảo quốc tịch cho đứa trẻ
bằng việc quy định:“Nếu cha mẹ là người không có quốc tịch hoặc mẹ là người không có quốc tịch còn cha không rõ là ai thì đứa trẻ có quốc tịch Việt Nam nếu đăng ký khai sinh tại Việt Nam” Có như thế mới đảm bảo được chủ trương tạo
điều kiện tối đa cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch, đảm bảo được quyền có quốc tịch của cá nhân nói chung và của trẻ em nói riêng khi sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Dân sự
Trang 23Việt Nam; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em năm 1989…
1.5.3 Xác lập quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập hoặc ký kết
Nhìn tổng thể điều ước quốc tế trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Việt Nam hiện hành điều nghi nhận bằng một công thức chung đó là: Trong trường hợp điều ước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của luật thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế trong đó có luật quốc tịch được quy định tại khoản 5 Điều 14 Luật Quốc tịch năm 2008 Như vậy, Việt Nam đã chấp nhận quan điểm về giá trị ưu thế của điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập hoặc ký kết so với pháp luật trong nước và coi điều ước quốc tế là một bộ phận cấu thành của pháp luật Việt Nam và về phương diện hiệu lực thi hành14 Tuy vậy, việc xác định vị trí cụ thể của điều ước quốc tế là chưa được quy định một cách rõ ràng, trường hợp nào thì
áp dụng trực tiếp, trường hợp nào phải thông qua thủ tục chuyển hóa bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, cần phải được quy định rõ
và cần có cách tếp cận linh hoạt mềm dẻo Tóm lại, về vị trí của quy phạm điều ước quốc tế, cũng như phương thức áp dụng điều ước quốc tế cần phải được quy định rõ ràng và chặt chẽ trong đạo luật cao nhất của nhà nước ta Hiến pháp, và đạo luật chuyên ngành - pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế Làm được điều đó, là gớp phần tạo một hành lang pháp lý cần thiết cho công cuộc hội nhập một cách sâu sắc và toàn diện Trên cơ sở đó việc xác lập quốc tịch theo điều ước quốc tế sẽ được nghi nhận một cách đầy đủ nhất trong các quy định của luật, tạo được thiện cảm của các quốc gia trong việc xác lập quốc tịch thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế, đây là quy định mang tính chất hội nhập, đánh dấu bước phát triển hội nhập sâu rộng của Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUỐC TỊCH VIỆT NAM
2.1 Những điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 được Quốc hội khoá X nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20/5/1998 tại kỳ họp thứ 3 (sau đây gọi là Luật quốc tịch 1998) là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch của Nhà nước ta Luật quốc tịch 1998 đã điều chỉnh tương đối toàn diện các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quốc tịch như: quyền của cá nhân đối với quốc tịch, nguyên tắc một quốc tịch, hạn chế tình trạng không quốc tịch, quốc tịch của vợ và chồng, các căn cứ xác định người có quốc tịch Việt Nam, mất quốc tịch Việt Nam, thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi; thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch Sau hơn 9 năm thực hiện, Luật Quốc tịch 1998 đã thực sự đi vào cuộc sống, phát huy vai trò là
cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định người có quốc tịch Việt Nam, cho nhập, cho thôi, cho trở lại quốc tịch Việt Nam, thực hiện chính sách bảo hộ của Nhà nước ta đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài Luật Quốc tịch 1998 đã góp phần quan trọng vào việc hình thành mối quan hệ gắn bó giữa công dân Việt Nam với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tuy nhiên, Luật Quốc tịch 1998 cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập sau đây:
Một là, nguyên tắc một quốc tịch quy định tại Điều 3 là cứng nhắc, bất cập
so với yêu cầu hội nhập quốc tế, chưa thật phù hợp với nguyện vọng của kiều bào
ta ở nước ngoài và thực sự khó khăn trong triển khai thực hiện trên thực tế
Nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 3 Luật Quốc tịch 1998:
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam
có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam” Tuy nhiên, do thiếu cơ chế bảo đảm
thực hiện nguyên tắc này (cơ chế đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam khi đương sự chọn hoặc nhập quốc tịch nước ngoài) nên trên thực tế đã nảy sinh hệ quả là công dân Việt Nam định cư ở một số nước mà ở đó khi nhập quốc tịch pháp luật của nước sở tại không bắt buộc phải thôi quốc tịch Việt Nam dẫn đến một số lượng khá đông người Việt Nam định cư ở nước ngoài rơi vào tình trạng vừa có quốc tịch nước sở tại, vừa có quốc tịch Việt Nam Thêm vào đó, trong khi Việt Nam quy định nguyên tắc xác định quốc tịch theo huyết thống thì luật quốc
Trang 25tịch một số nước lại xác định quốc tịch theo nơi sinh, sự xung đột pháp lý này cũng là lý do làm tăng thêm số người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch Vì vậy, sự cứng nhắc của nguyên tắc một quốc tịch trong Luật Quốc tịch 1998 đã làm cho các cơ quan nhà nước Việt Nam gặp nhiều khó khăn, lúng túng, thậm chí bị bó tay khi giải quyết các vụ việc cụ thể có liên quan đến quốc tịch
Hơn nữa, nguyên tắc một quốc tịch theo Luật Quốc tịch 1998 thực sự chưa phản ánh đúng nguyện vọng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Đại đa
số kiều bào ta dù phải rời Tổ quốc do các hoàn cảnh khác nhau, nhưng vẫn có nguyện vọng thiết tha được gắn bó với quê hương nên không muốn bị mất quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước sở tại
Từ những vấn đề đã nêu ở trên, yêu cầu bức xúc đặt ra là cần phải cân nhắc sửa đổi nguyên tắc một quốc tịch được quy định tại Điều 3 Luật Quốc tịch 1998 cho phù hợp với tình hình thực tế
Hai là, Luật Quốc tịch 1998 chưa có cơ chế hữu hiệu, khả thi để thực hiện
một chủ trương quan trọng là hạn chế tình trạng không quốc tịch ở nước ta
Thực tế hiện nay số công dân nước ngoài, người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ nước ta là tương đối nhiều, việc giải quyết quốc tịch cho họ gặp rất nhiều khó khăn và trong nhiều trường hợp không thể giải quyết được Ngoài ra, việc hoạch định lại biên giới giữa Việt Nam và các nước láng giềng trong những năm qua cũng dẫn đến hệ quả là một bộ phận khá lớn dân cư dọc biên giới tuy đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam nhưng chưa được nhập quốc tịch Việt Nam Lý do là, phần lớn trong số họ không có giấy tờ tuỳ thân để xác định tình trạng quốc tịch, trình độ văn hoá rất thấp thậm chí không biết chữ, điều kiện kinh tế lại khó khăn, do đó nếu cứ buộc họ làm thủ tục nhập quốc tịch theo đúng quy định của Luật Quốc tịch 1998 là không khả thi Thực trạng này không những làm cho cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn, mà còn làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong việc quản lý dân cư dọc biên giới
Để giải quyết vấn đề tồn đọng nêu trên về quốc tịch, cần phải quy định một thủ tục sát với yêu cầu thực tế hơn
Ba là, cơ chế quản lý nhà nước về quốc tịch còn bất cập, hiệu lực, hiệu
quả quản lý chưa cao
Theo quy định của Luật Quốc tịch 1998, có nhiều cơ quan khác nhau có thẩm quyền tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề quốc tịch, nhưng việc phân định trách nhiệm và quyền hạn có nhiều điểm chưa cụ thể, thiếu cơ chế phối hợp
Trang 26chặt chẽ dẫn đến tình trạng chậm trễ trong giải quyết các việc về quốc tịch, chia cắt về thông tin, yếu kém về thống kê quốc tịch Đến nay chưa lập được cơ sở giữ liệu quốc gia về quốc tịch là một thiếu sót lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý nhà nước về quốc tịch Mặt khác, đối với những người Việt Nam định cư ở nước ngoài do thiếu cơ chế đăng ký quốc tịch nên thực sự chúng ta chưa nắm được tình trạng quốc tịch của hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài để có chính sách quản lý và bảo hộ
Hơn nữa, so với bối cảnh tại thời điểm ban hành Luật Quốc tịch 1998, hiện nay đất nước ta đã có nhiều thay đổi lớn, quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội; uy tín và vị thế quốc tế của nước ta ngày càng nâng cao trong quan hệ đối ngoại Nước ta đã hội nhập sâu hơn vào đời sống kinh tế quốc tế (là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc) Thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội trong hơn 20 năm đổi mới đã đưa nước ta tới ngưỡng cửa thoát nghèo, trở nên khá giả hơn và do đó có thêm điều kiện để bảo đảm tốt hơn cho công dân được hưởng đầy đủ các quyền do pháp luật quy định, trong đó quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản của công dân Đồng thời, phải nói rằng với sự phát triển của khoa học pháp lý, tư duy pháp lý cũng có nhiều đổi mới, tiếp cận gần hơn với các giá trị phổ biến của thế giới Trong bối cảnh như vậy, Bộ Chính trị đã có sự đánh giá đúng đắn về các chính sách của nhà nước ta đối với cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài: “Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt sâu sắc và thực hiện đầy đủ, công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức; các chính sách, văn bản pháp luật chưa đồng bộ, chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết dân tộc, chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam định cư ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước” (trích Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối
với người Việt Nam ở nước ngoài) Do đó, việc xây dựng và ban hành Luật quốc tịch (sửa đổi) là cần thiết, góp phần quan trọng vào việc thể chế hoá và bảo đảm thực hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta coi người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước
Trang 272.2 Nội dung của quốc tịch Việt Nam
Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và quyền của Nhà nước đối với công dân Ngày nay, trong mọi hoạt động của Nhà nước, thì quyền và nghĩa vụ của công dân ngày càng được mở rộng đối với sự phát triển mọi mặt của xã hội Song song đó yêu cầu của Nhà nước đối với người dân cũng lớn hơn, đòi hỏi họ phải sử dụng đầy đủ hơn, tích cực hơn các quyền và thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ công dân của mình Nhưng để có quyền và nghĩ vụ công dân thì một cá nhân trước hết phải mang tư cách công dân của một Nhà nước nhất định, nghĩa là cá nhân đó phải có quốc tịch của một Nhà nước nhất định Quốc tịch của một cá nhân là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên quyền và nghĩa vụ công dân, nó làm cho mọi công dân có ý thức rõ ràng và đầy đủ hơn về địa vị pháp lý của mình trong xã hội Quyền và nghĩa vụ công dân trong pháp luật việt Nam được quy định rõ trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đây là cơ sở pháp lý bảo đảm cho công dân thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ của mình và động viên mọi công dân tham gia vào các hoạt động Nhà nước Theo đó Hiến pháp năm 1992 tại Điều 49 quy định;
“Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” và tại Điều 52 lại khẳng định các quyền phải có của một công dân, đó là:
“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, kinh tế, văn hóa, dân sự và xã hội được tôn trọng, thể hiện các quyền công dân
và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật” Như vậy người được xác định
là có quốc tịch Việt Nam, nếu có một trong các trường hợp sau:
2.2.1 Quốc tịch của trẻ em
Việc xác lập quốc tịch cho trẻ em là rất quan trọng, đối với Nhà nước Việt
Nam với mục đích là bảo vệ quyền lợi của trẻ nên việc xác định của trẻ em khi sinh ra được dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa, hợp lý giữa hai tiêu chí huyết thống
và nơi sinh Theo đó, tại Điều 15 Luật Quốc tịch 2008 quy định: “Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam” Pháp luật Việt Nam trong trường hợp này
đã áp dụng nguyên tắc huyết thống tuyệt đối để xác định quốc tịch cho đứa trẻ, không phụ thuộc vào ý chí của cha mẹ đứa trẻ Pháp luật về quốc tịch khẳn định trong mọi trường hợp đứa trẻ có cha, mẹ đều có cùng quốc tịch Việt Nam thì cho
dù đứa trẻ đó sinh ra ở đâu trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam thì đứa trẻ đó cũng có quốc tịch Việt Nam Ngay cả trong trường hợp nước mà đứa trẻ có công
Trang 28dân Việt Nam sinh ra tại nước đó quy định trẻ em sinh ra trên lãnh thổ nước đó thì mặc nhiên có quốc tịch nước đó Tuy nhiên, điều này vẫn không làm thay đổi quốc tịch của đứa trẻ vì đứa trẻ này có cha, mẹ đều là công dân Việt Nam Để bảo vệ quyền lợi của đứa trẻ tránh trường hợp phân biệt đối xử Việt Nam còn áp dụng nguyên tắc huyết thống tương đối để xác lập quốc tịch cho trẻ em trong trường hợp trẻ em chỉ có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thì đứa trẻ đó vẫn có quốc tịch Việt Nam Tại Điều 16 Luật Quốc tịch 2008 ghi nhận:
1) Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia
là người không quốc tịch, hoặc có mẹ là công dân Việt Nam, còn cha không rõ
là ai thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam
2) Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con
Trong trường hợp tại khoản 1 Điều 16 thì quốc tịch của đứa trẻ phụ thuộc
hoàn toàn vào quốc tịch của một trong hai người cha hoặc mẹ, chỉ cần cha hoặc
mẹ của đứa trẻ có quốc tịch Việt Nam cộng với điều kiện là người còn lại một trong hai người cha hoặc mẹ là người không quốc tịch thì đứa trẻ đó đương nhiên
có quốc tịch Việt Nam hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì đứa trẻ cũng có quốc tịch Việt Nam Việc xác lập quốc tịch trong trường hợp này giống như Điều 15 hoàn toàn không phụ thuộc vào nơi sinh của đứa trẻ Mặt khác đối với việc xác lập quốc tịch cho đứa trẻ theo khoản 2 Điều 16 thì đưa trẻ
sẽ có quốc tịch Việt Nam bằng việc thỏa thuận bằng văn bản của cha, mẹ cho dù đứa trẻ đó được sinh ra ở trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam Bên cạnh việc xác định quốc tịch của đứa trẻ bằng nguyên tắc huyết thống, Luật Quốc tịch Việt Nam còn áp dụng nguyên tắc nơi sinh để xác định quốc tịch cho đứa trẻ được quy định tại Điều 17 Luật Quốc tịch hiện hành:
1) Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam
2)Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam
Trang 29Để bảo vệ quyền lợi cho đứa trẻ pháp luật về quốc tịch Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam có quốc tịch Việt Nam, bất kể cha mẹ đứa trẻ đó đều là người không quốc tịch nhưng phải kèm theo điều kiện là thường trú tại Việt Nam Như vậy trong trường hợp này nếu cha, mẹ đều là người không quốc tịch hoặc chỉ có mẹ là người không quốc tịch còn cha không rõ là ai không thường trú mà chỉ tạm trú tại Việt Nam vậy quốc tịch của đứa trẻ đó sẽ ra sao thì Luật không quy định Có thể họ chỉ là những người tạm trú tại Việt Nam trong thời gian nhất định, mối quan hệ gắn kết giữa họ với Nhà nước Việt Nam chỉ là tạm thời Khoản thời gian gọi là tạm trú cho nên không thể kiểm soát được họ một cách toàn diện và không thể quản lý họ khi họ không còn tạm trú tại Việt Nam, nên tất cả những quá trình thể hiện mối quan hệ khắn khích giữa Nhà nước và người không quốc tịch tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam không thực hiện được trong tương lai Trong khi đó pháp luật quốc tịch Việt Nam còn ghi nhận việc có quốc tịch cả trong trường hợp mà trẻ sơ sinh
bị bỏ rơi mà tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam cụ thể tại khoản 1 Điều 18 Luật
Quốc tịch 2008: “Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha, mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam”
Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam sẽ có quốc tịch
Việt Nam, điều nầy thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam Nhà nước bảo hộ cho những người là công dân của nước mình, vì thế việc xác lập quốc tịch cho trẻ em theo quy định tại khoản 1 Điều 18 là Nhà nước Việt Nam tự nguyện ràng buộc trách nhiệm của mình đối với đứa trẻ đó, đồng thời Nhà nước
ta cũng khẳn định đứa trẻ đó là quyền thiên liêng của trẻ em là quyền được khai sinh và quyền có quốc tịch như quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật Bảo vệ và
chăm sóc trẻ em: “Trẻ em có quyền khai sinh và có quốc tịch” Quy định trên
nhằm đảm bảo sự thống nhất đối với xu hướng chung của thế giới về bảo vệ quyền trẻ em tại Điều 7 khoản 1 của công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em
(ngày 20/11/ 1989) quy định: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền ngay khi chào đời, có họ tên, có quốc tịch, và trong chừng mực có thể có quyền biết cha, mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc”
Hầu hết các quy định nói trên là bảo vệ quyền trể em thì tại sao chúng ta không triệt để thừa nhận vấn đề có quốc tịch trong trường hợp của trẻ em mà có cha và mẹ hoặc chỉ có mẹ là người không quốc tịch nhưng tạm trú ở Việt Nam có quốc tịch nước mình, có thể dựa trên chính sách nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa xét về thực tế, nếu cha, mẹ hoặc chỉ có mẹ của đứa trẻ này không có quốc
Trang 30tịch thì đứa trẻ này cũng khó có quốc tịch của nươc khác Trong khi đó, trẻ em trong giai đoạn nầy cần phải được hưởng những các chính sách chăm sóc và bảo
vệ tốt nhất, ở đây, không có nghĩa là đứa trẻ sống trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn mà cha mẹ chúng đang trong thời gian tạm trú mà đứa trẻ đó không được hưởng các chế độ của Nhà nước ta cho trẻ em có quốc tịch Việt Nam nhưng
sự chăm sóc và bảo vệ này có thể không triệt để như bao trẻ khác Vấn đề công nhận quốc tịch cho trẻ em trong trường hợp này không phải là đương nhiên sẽ có quốc tịch Việt Nam, mà ở đây khi muốn công nhận chúng ta cần phải dựa trên một số yếu tố nhất định, cụ thể như: dựa vào ý chí, nguyện vọng của cha, mẹ đứa trẻ mong muốn xác lập quốc tịch cho đứa trẻ, dựa vào yếu tố nhân thân khi họ bắt đầu sống trên lãnh thổ Việt Nam tới thời điểm cuối cùng mà họ xin xác lập
quốc tịch Việt Nam cho con họ…
2.2.2 Quốc tịch của con nuôi chưa thành niên khi cha mẹ bị tước quốc tịch
Theo quy định tại Điều 35 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định:
1)Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha
mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ
2) Khi chỉ có cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quôc tịch Việt Nam
thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ
Trường hợp cha hoặc mẹ được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam thì con
chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ không thỏa thuận bằng văn bản về việc giữ quốc tịch nước ngoài của con
Theo quy định trên thì trong các trường hợp nhập, trở lại hoặc thôi quốc
tịch Việt Nam thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ
sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của cha mẹ Điều đó có nghĩa là nếu cha mẹ mang quốc tịch của quốc gia nào thì quốc tịch của con chưa thành niên sẽ mang quốc tịch của quốc gia đó Tuy nhiên, để bảo vệ và tôn trọng ý chí của con chưa thành niên trong trường hợp con chưa thành niên không muốn thay đổi quốc theo
cha mẹ thì tại khoản 3 Điều 35 Luật Quốc tịch 2008 quy định: “Sự thay đổi quốc tịch của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đó” Điều này thể hiện rõ ý chí của nhà làm luật nhằm mục đích bảo
vệ người chưa thành niên, nếu cha mẹ có quốc tịch nước ngoài thì sẽ thay đổi quốc tịch của cha mẹ, nhưng ngược lại, nếu cha, mẹ không có quốc tịch nước
Trang 31ngoài thì vẫn mang quốc tịch Việt Nam, chính vì rơi vào trường hợp cha, mẹ không có quốc tịch nước ngoài nên con chưa thành niên không thể có quốc tịch theo cha, mẹ nên phải giữ quốc tịch Việt Nam Vì thế, không phải mọi trường hợp quốc tịch của con chưa thành niên cũng phải chịu sự lệ thuộc vào ý chí của cha, mẹ mà nó chịu sự chi phối rất nhiều của Nhà nước mà đương sự mang quốc
tịch Ngoài ra, đối với khoản 2 Điều 35 lại không đề cập trường hợp nếu chỉ cha
hoặc mẹ thôi quốc tịch Việt Nam thì quốc tịch của con chưa thành niên cùng sống với người đó sẽ ra sao nếu họ không thỏa thuận bằng văn bản về việc giữ quốc tịch Việt Nam cho đứa con Việc “để ngỏ” như vậy sẽ dẫn đến hai cách hiểu khác nhau: con chưa thành niên sống cùng cha hoặc mẹ người được thôi quốc tịch Việt Nam không bị mất quốc tịch Việt Nam hoặc con chưa thành niên sống cùng cha hoặc mẹ được thôi quốc tịch Việt Nam đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam Theo quan điểm của người viết, cần quy định cụ thể đối với trường hợp này theo hướng nếu cha mẹ không thỏa thuận về việc giữ quốc tịch Việt Nam cho con thì quốc tịch của con cũng sẽ thay đổi theo quốc tịch của cha hoặc mẹ, nghĩa là trẻ em cũng mất quốc tịch Việt Nam Trường hợp cha hoặc mẹ được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ không thỏa thuận bằng văn bản về việc giữ quốc tịch nước ngoài của con Điều kiện “cùng sinh sống” là một trong những điểm mới của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 nhằm tạo điều kiện thận lợi nhất để công dân Việt Nam sau khi được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam
2.2.3 Quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ bị tước quốc tịch hoặc
bị hủy bỏ cho nhập quốc tịch Việt Nam
Con người đã trải qua các giai đoạn tồn tại và phát triển khác nhau, đi từ xã
hội lạc hậu đến thời kỳ hiện đại Tùy theo các giai đoạn phát triển mà hình thành nên các quy định pháp luật khác nhau, chẳng hạn như thời kỳ phong kiến pháp luật có các quy định về sự lệ thuộc giữa những người có cùng huyết thống khi một trong những người trong gia tộc phạm trọng tội thì sẽ bị liên lụy tới họ, cha phạm tội con cũng bị gánh chịu Nhưng theo hướng phát triển của lịch sử và sự tiến bộ qua tư tưởng của các thời kỳ thì những quy định của pháp luật mang tính lỗi thời không còn tồn tại nữa Pháp luật hiện đại là nhằm mục đích bảo vệ con người bảo vệ sự bình đẳng giữa các giai cấp, là sự dung hòa giữa Nhà nước và công dân Chính vì thế, mối quan hệ lệ thuộc không còn tồn tại nữa, cho nên khi
Trang 32một người trong gia tộc có những hành vi vi phạm pháp luật thì trách nhiệm pháp
lý thuộc về chính cá nhân người đó, pháp luật buộc họ phải gánh chịu mà không làm ảnh hưởng đến đối tượng khác có quan hệ với họ
Luật pháp trong thời kỳ hiện đại quy định trách nhiệm pháp lý cho một
hành vi vi phạm pháp luật cho một cá nhân chỉ thuộc về cá nhân đó, không ai được phép gánh chịu thay và không có quy định nào của Nhà nước cho gánh chịu thay hay cùng chịu chung với hành vi vi phạm pháp luật của người đó
Vấn đề về quốc tịch của cá nhân cũng thế, khi một người có hành vi vi
phạm buộc Nhà nước phải ra quyết định tước đi quốc tịch mà họ đang có thì hoàn toàn không ảnh hưởng đến người khác Như theo quy định tại Điều 36 Luật
Quốc tịch 2008: “Khi cha mẹ hoặc một trong hai người bị tước quốc tịch Việt Nam hoặc bị bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam thì quốc tịch của con chưa thành niên không bị thay đổi”
Vấn đề về trách nhiệm pháp lý của một cá nhân đòi hỏi cá nhân đó phải gánh chịu sự trừng phạt của pháp luật bằng chính hành vi của mình pháp luật không thể buộc người có cùng chung quan hệ phải gánh chịu chung Đối với việc một cá nhân bị tước quốc tịch hoặc bị hủy bỏ cho nhập quốc tịch Việt Nam thì không thể ảnh hưởng đến quốc tịch của người khác Việc cha mẹ hoặc một trong hai người vi phạm những quy định của Nhà nước Việt Nam dẫn đến việc tước quốc tịch hoặc hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam thì không thể dẫn đến mối quan hệ hệ lụy là con của họ phải mất quốc tịch theo họ mà đặt biệt là con chưa thành niên Ngay cả trong trường hợp mới cấp quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam mà Nhà nước Việt Nam mới chỉ tiến hành hủy quyết định cho nhập của người vi phạm pháp luật Việt Nam còn quyết định cho nhập của những người khác vẫn được giữ nguyên, ở tại điểm nầy pháp luật đã thể hiện sự công bằng trong mọi trường hợp và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho những người không liên quan mà đặc biệt vẫn là người chưa thành niên Như thế, pháp luật về quốc tịch Việt Nam ngay từ những quy định đầu tiên trong luật quốc tịch
đã thể hiện khá rõ quan điểm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ em phát triển tránh không làm ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần của trẻ
2.2.4 Quốc tịch của con nuôi chưa thành niên
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có quy định rất khác nhau về quốc tịch
của con nuôi chưa thành niên là trẻ em Việt Nam và trẻ em người nước ngoài, cụ thể việc quy định đó được thể hiện tại Điều 37 Theo đó quốc tịch của trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi được quy định tại
Trang 33khoản 1 Điều 37 như sau: “Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam”
Luật quốc tịch quy định trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm
con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, vấn đề đặt ra là trẻ em là công dân Việt Nam được giữ quốc tịch Việt Nam cho đến khi nào thì trong luật chưa làm rõ, có thể là khi đứa trẻ này có đủ quyền để chọn lựa quốc tịch cho mình Việc quy định giữ quốc tịch Việt Nam cũng tạo ra một số thuận lợi cho trẻ em là công dân Việt Nam khi được làm con nuôi của người nước ngoài là việc đứa trẻ này vẫn được Nhà nước Việt Nam bảo hộ và cho hưởng đầy đủ các chính sách như trẻ em đang sinh sống trong nước nhưng điểm bất lợi cho đứa trẻ đó chính là hoàn cảnh thực
tế Nếu đứa trẻ được người nước ngoài nhận làm con nuôi không sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam mà sống trên lãnh thổ của cha mẹ nước có quốc tịch, thì các chính sách bảo hộ của Nhà nước Việt Nam bị hạn chế, và nếu người nhận đứa trẻ làm con nuôi không xác lập quốc tịch cho đứa trẻ theo pháp luật quốc tịch của họ thì càng gặp nhiều bất lợi hơn Trong khi đó nếu cha mẹ nuôi xác lập quốc tịch thì sẽ dẫn đến trình trạng hai quốc tịch mà theo xu hướng chung của các nước đang dần hạn chế tình hình đó, và trình trạng một cá nhân mang hai quốc tịch cũng sẽ nảy sinh mâu thuẫn về bảo vệ quyền ngoại giao với người hai quốc tịch
Do đó, để hạn chế mâu thuẫn trong việc bảo hộ ngoại giao và trình trạng
hai quốc tịch, trong hiệp định về con nuôi giữa Việt Nam và các nước đã đưa ra nội dung rằng các nước ký kết cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đứa trẻ đến một độ tuổi nhất định (theo pháp luật của các nước nhận nuôi chẳn hạn như Luật
Quốc tịch Việt Nam năm 2008 tại khoản 4 Điều 37 quy định: “Quốc tịch của con nuôi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thay đổi phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đó”) được lựa chọn quốc tịch Theo số liệu thống kê cho thấy từ năm
2003 đến tháng 6 năm 2009 trở lại đây có khoản 6.000 trẻ em được người nước ngoài nhận làm con nuôi15 Tính đến thời điểm hiện tại Việt Nam đã ký các hiệp định về nuôi con nuôi với Italia, Pháp, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Canada, Ireland, Thụy Điển và Hoa Kỳ và đang chuẩn bị tham gia Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc
tế16 Hiện Việt Nam đưa ra nguyên tắc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi tại
Trang 34những nước đã ký hiệp định song phương, còn những người tại những nước chưa
ký hiệp định thì không thể xin con nuôi Việt Nam được Ví dụ, với Hoa Kỳ, Canada, Thụy Sỹ, Đức, Australia và rất nhiều nước vốn trước đây thường xin con nuôi Việt Nam
Việc cho trẻ làm con nuôi người nước ngoài đang là vấn đề được quan tâm,
nhất là tình hình phát triển của đứa trẻ sau khi được nhận làm con nuôi Nhằm bảo hộ cho trẻ em là công dân nước mình, pháp luật Việt Nam quy định trẻ em vẫn giữ quốc tịch Việt Nam cho đến khi đủ 18 tuổi thì đứa trẻ này có quyền lựa chọn quốc tịch cho mình, hoặc giữ quốc tịch Việt Nam hoặc thay đổi theo cha mẹ nuôi Điều này có thể xem là hợp lý nhưng trong trường hợp đứa trẻ là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì phải thay đổ quốc tịch thành quốc tịch Việt Nam như quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 như sau: “Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi” Pháp luật Việt
Nam mặc nhiên thừa nhận trẻ có quốc tịch Việt Nam trong trường hợp này, trong
khi đó tại khoản 1 Điều 37 luật lại quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam được người có quốc tịch nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam” Vì mục đích bảo hộ cho trẻ em là người Việt Nam pháp luật nước ta thừa
nhận đứa trẻ này vẫn giữ quốc tịch cho đến khi nào đứa trẻ đó có đủ quyền xin thôi quốc tịch Việt Nam để giữ quốc tịch nước ngoài theo quốc tịch của cha mẹ nuôi Nếu pháp luật nước ta hướng tới mục đích bảo hộ thì pháp luật nước ngoài cũng hướng tới mục đích đó mà bảo vệ cho công dân nước mình bằng cách có những quy định tương tự như pháp luật Việt Nam thì đứa trẻ đó sẽ có hai quốc tịch, gây nên những khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với cả hai nước mà đứa trẻ đó mang quốc tịch Điều này có thể gây nên những mâu thuẫn lớn trong luật pháp của các nước nhận con nuôi và nước cho con nuôi Tuy nhiên việc quy định như vậy luật pháp cũng có cái lý riêng, đó là sự thừa nhận trách nhiệm của mình đối với cá nhân được nhận làm con nuôi, Nhà nước ta xem đứa trẻ đó là công dân Việt Nam và có những chính sách bảo hộ tốt nhất cho đứa trẻ cũng như tại khoản 1 Điều này nếu như luật Việt Nam quy định đứa trẻ đó vẫn giữ quốc tịch Việt Nam khi được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì có thể nước nhận làm con nuôi cũng có thể quy định đứa trẻ có quốc tịch nước đó ngay từ lúc làm thủ tục nhận làm con nuôi nên trình trạng đứa trẻ mang hai quốc tịch là không tránh khỏi Nhưng xét về mặt thực tế thì việc quy định như vậy tạo
Trang 35nên sự khó khăn trong xu hướng hòa nhập hiện nay, nếu chúng ta quy định trẻ
em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi vẫn giữ quốc tịch Việt Nam thì chúng ta cũng cần theo nguyên tắc có đi có lại, là cho phép trẻ em người nước ngoài được người việt Nam nhận làm con nuôi vẫn giữ quốc tịch nước ngoài theo sự lựa chọn của họ Khi một đứa trẻ là người nước ngoài được cha mẹ
mà một người là công dân Việt Nam, còn người kia là người nước ngoài nhận làm con nuôi thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam của cha mẹ nuôi và được miễn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật này Cũng giống như các trường hợp khác, khi cha mẹ có sự khác biệt về quốc tịch thì quốc tịch của con sẽ do sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ Nhưng trên thực tế, nếu trẻ em là công dân Việt Nam mà được vợ chồng, trong
đó một người là công dân Việt Nam người kia là người nước ngoài nhận làm con nuôi thì quốc tịch của trẻ em đó ra sao? Trong trường hợp này Luật có thể quy định, nếu như cha mẹ nuôi không thảo thuận được bằng văn bản thì trẻ em có quốc tịch Việt Nam nếu trẻ em thường trú trên lãnh thổ Việt Nam hoặc sẽ trở thành người không quốc tịch
2.3 Nhập quốc tịch Việt Nam
2.3.1 Điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam
Theo Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 thì công dân nước ngoài và
người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;
b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán, của dân tộc Việt Nam;
c) Biết tiếng việt đầy đủ để hòa nhập vào cộng dồng Việt Nam;
d) Đã thường trú ở Việt Nam 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam;
e) Có khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam
Để nhập quốc tịch Việt Nam thì đòi hỏi người xin nhập quốc tịch phải có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ Như thế nào là năng lực hành vi dân sự thì theo
Điều 17 Luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng
Trang 36lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự trong trường hợp khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân
sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền Bên cạnh điều kiện
là có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì người muốn nhập quốc tịch Việt Nam còn phải thỏa tất cả các điều kiện còn lại như: biết tiếng Việt đầy đủ theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 78/NĐ-CP/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam quy định về khả năng biết tiếng việt của người
xin nhập quốc tịch là: “Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam, được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt với công dân Việt Nam trong cuộc sống, phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó”
Giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được quy định là một trong các giấy sau: bản sao bằng tốt nghiệp sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc trung học cơ
sở của Việt Nam, bản sao văn bằng hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ tiếng Việt do cơ sở đào tạo tiếng Việt của Việt Nam cấp Trong trường hợp không có các giấy tờ trên, sở tư pháp tổ chức phỏng vấn trực tiếp để kiểm tra trình độ tiếng Việt của người đó; Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam trong đó khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được chứng minh bằng tài sản, nguồn thu nhập hợp pháp của người đó hoặc sự bảo lãnh của tổ chức, cá nhân tại Việt Nam Một người nếu không có khả năng đảm bảo cuộc sống mà xin nhập quốc tịch không khéo sẽ trở thành gánh nặng cho Nhà nước cho nên việc quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp; Đã thường trú ở Việt Nam 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam đây là khoản thời gian mà người xin nhập quốc tịch có thể ổn định cuộc sống, hiểu biết về văn hóa, xã hội cũng như phong tục tập quán của người Việt Nam để
họ có thể sống và làm việc một cách ổn định và lâu dài Ngoài ra một người muốn nhập quốc tịch Việt Nam phải tôn trọng hiến pháp, pháp luật cũng như phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam đây là điều kiện không thể thiếu khi đề cập đến vấn đề nhập quốc tịch Việt Nam
Đây là các điều kiện chung đối với người xin nhập quốc tịch Việt Nam và
về cơ bản các điều kiện chung này không thay đổi so với quy định của Luật Quốc tịch năm 1998 Thực tế cho thấy các quốc gia thường đưa ra những quy định nhập quốc tịch khác nhau nhưng nhìn chung pháp luật các nước đều quy định
Trang 37điều kiện nhập quốc tịch là phải có phẩm chất đạo đức tốt, chưa bị kết án tù, có hiểu biết cơ bản về văn hóa của nước đó, từ 18 đến 20 tuổi trở lên, cư trú trên lãnh thổ nước đó một thời gian nhất định…Do đó, quy định về điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam như trên là khá chặt chẽ và phù hợp với pháp luật các nước và đặc thù của Việt Nam hiện nay đồng thời cũng có sự tương thích với Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948, Công ước của Liên hợp quốc
về hạn chế trình trạng người không quốc tịch năm 1975
Về phía Nhà nước các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam, một mặt có ý nghĩa đảm bảo Hiến pháp, pháp luật cũng như phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam được tôn trọng, mặt khác, đảm bảo rằng những người gia nhập quốc tịch Việt Nam không tạo ra gánh nặng về kinh tế, văn hóa, xã hội…cho Nhà nước Về phía bản thân người xin nhập quốc tịch, các điều kiện trên cũng là cơ
sở ban đầu có thể giúp họ hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam cả về mặt văn hóa, ngôn ngữ cũng như điều kiện cuộc sống và đủ để thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của công dân khi họ mang quốc tịch Giữa điều kiện chung và riêng, có tính đến yếu tố tâm lí, tình cảm và đặc thù của một số đối tượng cụ thể, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 cho phép miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam đối với những đối tượng này Khoản 2 điều 19 Luật quốc tịch 2008 quy
định người xin nhập quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong số trường hợp: “Là
vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam”; hoặc “là người
có công đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam” hoặc “Việc gia nhập quốc tịch của người đó có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì được miễn các điều kiện c), d),e) nói trên Về điểm
này Luật 2008 đã làm rõ, chỉ trường hợp là cha mẹ đẻ, con đẻ của công dân Việt Nam hoặc có công đóng gớp đặc biệt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam mới được miễn giảm về điều kiện và thủ tục nói trên Luật 2008 đã nới lõng các điều kiện và mở rộng các đối tượng được miễn một số điều kiện gia nhập quốc tịch Việt Nam Đáng lưu ý nữa là khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch năm 2008 đã quy định cụ thể: cũng chỉ những đối tượng trên, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép mới được giữ quốc tịch nước ngoài khi gia nhập quốc tịch Việt Nam; mọi trường hợp khác khi nhập quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài
Quy định miễn một số điều kiện khi nhập quốc tịch Việt Nam cho những đối tượng nêu trên đồng thời có thể cho phép họ giữ quốc tịch nước ngoài, một mặc có ý nghĩa đảm bảo cho nguyên tắc một quốc tịch, mặt khác lại tạo điều kiện
Trang 38thuận lợi đối với những người có quan hệ gia đình gần gủi với công dân Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam; khuyến khích những người có công đóng góp cho Nhà nước Việt Nam cũng như tạo điều kiện thuận lợi để thu hút những người có tinh thần, tâm huyết, tài năng nhập quốc tịch Việt Nam để có thể cống hiến tốt nhất cho sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam Ngoài ra Luật Quốc
tịch Việt Nam năm 2008 còn quy đinh: “Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải
có tên gọi Việt Nam” Tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa
chọn và được ghi rõ trong quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam Người xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng nghĩa với việc muốn gắn bó và cống hiến công sức của mình gớp phần xây dựng đất nước Việt Nam phát triển Quy định này vẫn đảm bảo tính bình đẳng dân tộc ở chỗ người xin nhập quốc tịch vẫn có quyền lựa chọn tên gọi phù hợp cho mình Tuy nhiên để đảm bảo lợi ích cho quốc gia,
khoản 5 Điều 19 Luật Quốc tich Việt Nam 2008 vẫn tiếp tục quy định: “Người xin nhập quốc tịch Việt Nam không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam”
Nhằm giải quyết thực trạng người không quốc tịch cư trú ở Việt Nam, Luật
Quốc tịch 2008 quy định: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy
tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày luật này có hiệu lực thi hành và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam” (Điều 22) Theo quy định này, những
người không quốc tịch mà không có giấy tờ tùy thân vẫn phải đáp ứng các điều kiện chung về nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của Luật nhưng có thể nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, tủ tục đơn giản hơn và hồ sơ nhập quốc tịch của họ không nhất thiết phải có đủ các giấy tờ như quy định tại Điều 20 của Luật Quy định trên là phù hợp với thực tế hiện nay ở nước ta Bởi lẽ nếu cho phép những người không quốc tịch, người không rõ quốc tịch đã cư trú
ổn định trên lãnh thổ Việt Nam chỉ cần đăng ký quốc tịch Việt Nam giống như người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có thể gây ra một số vấn đề phức tạp
về di cư, nhập cư…đặc biệt là đối với dân cư ở vùng ven biên giới hoặc đối với một số người nước ngoài đang làm việc trên lãnh thổ Việt Nam mà chưa lường hết được những hậu quả phát sinh và những tác động khác về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Điều 22 Luật Quốc tịch 2008 một mặt tạo ra cơ chế giải quyết những tồn đọng về trình trạng người không quốc tịch, tạo điều kiện cho người không rõ quốc tịch nước nào được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục đơn giản