1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng bảo hộ va những giải pháp tăng cường bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại viêt nam

85 269 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực thi có hiệu quả các Điều ước quốc tế nói trên không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, mà còn là công cụ hữu hiệu giúp Việt Nam cải thiện được tình hình bảo

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

(Niên Khóa 2006 - 2010) TÊN ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG BẢO HỘ VA NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG

BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM

TẠI VIÊT NAM

NGUYỄN PHAN KHÔI PHẠM LONG TÂN

Lớp: Tư pháp 1- K32

Cần Thơ, tháng 10- 2009

Trang 2

–{—

Đầu tiên tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ba, Mẹ người đã sinh ra con, nuôi dạy

tôi lớn khôn, cho tôi ăn học để tôi có được ngày hôm nay

Tôi xin gởi lời cảm ơn Thầy Nguyễn Phan Khôi, người đã tận tình hướng

dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Trong thời gian làm việc với

Thầy, tôi không những học hỏi được nhiều kiến thức bổ ích mà còn học được rất

nhiều về tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc của thầy

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều

kiện cho tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè vì đã luôn là nguồn động viên to

lớn, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình làm việc

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn với tất cả sự nỗ lực của bản thân,

nhưng chắc chắn sự thiếu sót là không tránh khỏi Tôi mong được sự đóng góp ý

kiến của thầy cô cùng các bạn

Một lần nữa xin cám ơn Ba, Mẹ tất cả Thầy Cô, bạn bè!

Trân Trọng PHẠM LONG TÂN

Trang 3

Trang 4

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1

2 ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI 2

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

4 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG MỘT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM 3

1.1 Khái niệm quyền tác giả và quyền liên quan 3

1.1.1 Khái niệm về quyền tác giả 3

1.1.2 Khái niệm quyền liên quan 3

1.1.3 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm với tác giả và các chủ thể khác 4

1.1.4 Lịch sử hình thành bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 5

1.2 Khái niệm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 6

1.3 Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 10

1.3.1 Khái niệm 10

1.3.2 Nội dung quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 12

1.3.2.1 Khái Niệm và Nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm 12

1.3.2.2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 14

1.3.3 Cơ chế bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 15

1.3.3.1 Cơ chế bảo hộ quốc gia 15

1.3.3.2 Cơ chế bảo hộ quốc tế 16

CHƯƠNG HAI: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 18

2.1 Nội dung cơ bản về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm theo quy định của một số điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam là thành viên 18 2.1.1 Các nguyên tắc cơ bản 19

2.1.1.1 Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treament_NT) 19

2.1.1.2 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Most Favoured Natoin_MFN 21

2.1.1.3 Một số nguyen tắc khác 23

2.1.2 Tiêu chuẩn bảo hộ, căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ 24

2.1.2.1 Tiêu chuẩn bảo hộ 24

2.1.2.2 Căn cứ xác lập 25

2.1.2.3 Thời hạn bảo hộ 26

2.1.3 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 27

2.1.3.1 Quyền sao chép 27

2.1.3.2 Quyền được hưởng thù lao 27

2.1.3.3 Quyền cho thuê thương mại đối với bản ghi âm 28

2.1.3.4 Quyền cung cấp và phân phối bản ghi âm 29

2.1.4 Các quy định về thực thi quyền 30 2.1.4.1 Các yêu cầu chung về việc thực thi quyền của nhà sản xuất bản

Trang 6

2.2 Sự tương thích của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền

của nhà sản xuất bản ghi âm 35

2.2.1 Khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 35

2.2.2 Nhận xét, đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 37

2.2.2.1 Chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ 38

2.2.2.2 Chủ thể có quyền yêu cầu bảo hộ 39

2.2.2.3 Quy định về đăng ký bảo hộ 40

2.2.2.4 Nguyên tắc bảo hộ 41

2.2.2.5 Điều kiện bảo hộ, căn cứ xác lập, thời hạn bảo hộ 42

2.2.2.6 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 43

2.2.2.7 Các quy định thực thi quyền 45

CHƯƠNG BA: THỰC TRẠNG BẢO HỘ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM TẠI VIỆT NAM 49

3.1 Thực trạng bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 49

3.1.1 Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi thực hiện các

cam kết quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 49

3.1.1.1 Những thuận lợi 49

3.1.1.2 Những khó khăn 50

3.1.2 Những thực tiễn bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam 54

3.1.2.1 Thực tiễn về đăng ký bảo hộ quyền của nhà sản xuất ghi âm tại Việt Nam 54

3.1.2.2 Thực tiễn về vi phạm bản quyền về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam 56

3.2 Một số kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Viện Nam 61

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 61

3.2.2 Tăng cường bộ máy thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 63

3.2.3 Nâng cao chất lượng của mạng lưới thông tin Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật 65

3.2.4 Xúc tiến thành lập các tổ chức bảo hộ tập thể 66

3.2.5 Tăng cường hượp tác quốc tế trong việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè vì đã luôn là nguồn động viên to lớn, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình làm việc

Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn với tất cả sự nỗ lực của bản thân, nhưng chắc chắn sự thiếu sót là không tránh khỏi Tôi mong được sự đóng góp ý kiến của thầy

cô cùng các bạn

Một lần nữa xin cám ơn Ba, Mẹ tất cả Thầy Cô, bạn bè!

Trân Trọng

PHẠM LONG TÂN

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đóng vai trò rất quan trọng đối với đối với sự phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của khao học, kỹ thuật, sự thịnh vượng của văn hóa và sự phát triển của kinh tế, tăng cường hợp tác và trao đổi quốc tế trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Việc Việt Nam gia nhập Công ước Rome, Công ước Geneva, Hiệp ước WPPT về bảo

hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là một bước đi tất yếu trong tiến trình hội nhập quốc

tế Việc trở thành thành viên của các Điều ước quốc tế này không chỉ nhằm thực hiện các điều kiện để được gia nhập WTO mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để các nhà sản xuất bản ghi âm nước ta được bảo hộ tại nước ngoài và ngược lại, giúp bảo hộ có hiệu quả các nhà sản xuất nước ngoài tại Việt Nam, tạo điều kiện để chúng ta hội nhập đầy đủ hơn vào nền kinh tế thế giới

Tham gia vào sân chơi chung, bên cạnh những điều kiện quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi, chúng ta còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn Thực thi có hiệu quả các Điều ước quốc tế nói trên không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, mà còn là công cụ hữu hiệu giúp Việt Nam cải thiện được tình hình bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm trong nước hiện nay Vì vậy, Việt Nam cần phải có những bước đi tích cực, chủ động hơn nữa trong việc tạo sự tương thích giữa các quy định pháp luật trong nước với các cam kết quốc tế, đồng thời bảo đảm thực thi có hiệu quả các quy định này Vi phạm bản quyền ở Việt Nam là một bài toán khó, tuy nhiên, nếu có sự chung sức đồng lòng cùng những giải pháp thực thi hữu hiệu, chắc chắn bài toán đó sẽ có lời giải trong một tương lai gần

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Thông qua tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ nói chung, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng, cũng như quy định của các Công ước, Hiệp ước quốc tế và các nước trên thế giới có liên quan về sở hữu trí tuệ Qua đó, tác giả sẽ

Trang 11

phân tích, so sánh giữa pháp luật Việt Nam với các Công ước, Hiệp ước cũng như các nước trên thế giới; đánh giá thực trạng thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng, quyền tác giả, chủ sở hữu nói chung ở Việt Nam trên cở sở đó tìm ra giải pháp để thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

3 ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI

Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực rộng gồm nhiều vấn đề như: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả…Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là Thực trạng bảo hộ và những giải pháp tăng cường bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm tại Việt Nam, nên tác giả chỉ đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ cũng như quy định của các Công ước, Hiệp ước quốc tế, phân tích lý luận và thực tiễn của đề tài Còn các vấn đề khác các quý thầy, cô và các bạn có thể tham khảo luật sở hữu trí tuệ và các văn bản có liên quan

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp phân tích của đề tài là trên cơ sở những quy định của pháp luật người viết sẽ thu thập tài liệu tham khảo, phân tích và đánh giá những vấn đề có liên quan; đối chiếu kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; nghiên cứu, so sánh, phân tích luật

5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Đề tài được kết cấu như sau:

Mục lục

Lời nói đầu

Nội dung: gồm ba chương

Chương một: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM

Chương hai: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN

XUẤT BẢN GHI ÂM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT QUỐC

Trang 12

CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN

CỦA NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM

1.1 Khái niệm quyền tác giả và quyền liên quan

1.1.1 Khái niệm về quyền tác giả

Quyền tác giả hay còn gọi là bản quyền là một thuật ngữ mô tả quyền lợi kinh tế

của người sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, trong đó bao gồm quyền tái bản,

in ấn, trình diễn, trưng bày tác phẩm của mình trước công chúng Tác giả, chủ sở hữu

quyền tác giả được độc quyền sử dụng, khai thác tác phẩm Mọi hành vi sao chép, trích dịch, công bố, phổ biến tác phẩm nhằm mục đích kinh doanh mà không có sự đồng ý của họ đều bị coi là xâm phạm quyền tác giả Quyền tác giả là quyền, dành cho những người sáng tạo ra tác phẩm văn học và nghệ thuật bao gồm cả các chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu Đây là cách nhìn của tác giả theo nghĩa hẹp Tuy nhiên, hiện nay, quyền tác giả được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

1.1.2 Khái niệm quyền liên quan

Quyền liên quan đến quyền tác giả là khái niệm để chỉ quyền của những người

trung gian có kỹ năng chuyên môn thể hiện tác phẩm dưới những hình thức phù hợp để công chúng có thể tiếp cận với tác phẩm Đó là quyền của nghệ sĩ biểu diễn đối với

cuộc biểu diễn của họ, quyền của nhà sản xuất đối với bản ghi âm của họ, quyền của tổ chức phát sóng đối với các chương trình phát sóng của họ

Có thể nói, quyền tác giả được hiểu theo nghĩa này là hợp lý Chúng ta đều biết tác giả là có độc quyền công bố, sử dụng, khai thác tác phẩm cũng như trình diễn tác phẩm Họ luôn muốn tác phẩm của mình được phổ biến tới công chúng càng rộng càng tốt Tuy nhiên công việc này không thể do tự một mình tác giả đảm đương, mà đòi hỏi cần có những người trung gian có năng lực chuyên nghiệp trợ giúp, thực hiện và cộng

Trang 13

tác với tác giả để đưa tác phẩm đến với công chúng Đó chính là những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, các tổ chức phát sóng Các quyền của ba chủ thể này gọi là quyền liên quan (hay quyền kề cận), bởi lẽ các quyền đó nảy sinh và có liên quan trực tiếp đến quyền tác giả Việc thực hiện các quyền này thường gắn với việc thực hiện bản quyền cũng do pháp luật bản quyền điều chỉnh Cho nên, bên cạnh quy định sự bảo hộ tác giả, người sở hữu quyền tác giả, luật pháp còn quy định việc bảo vệ quyền lợi cho những người hỗ trợ khác, những người giúp phổ biến các tác phẩm Việc bảo hộ tốt quyền lợi của họ tức là đã gián tiếp bảo hộ quyền của tác giả Tuy nhiên, vấn đề bảo hộ quyền đối với nhóm người “liên quan” này ngày càng trở nên gay gắt cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ kĩ thuật số Công nghệ mới phát triển cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp giải trí khiến cho các hành vi xâm phạm các quyền liên quan diễn ra ngày càng phổ biến, trắng trợn thậm chí nghiêm trọng không kém gì nạn ăn cắp bản quyền Nhiều giọng ca mới, nhiều tác giả, nhiều kịch bản phim đã không thể ra đời đơn giản chỉ vì các nghệ sỹ này không có đủ động lực để chấp nhận mạo hiểm Họ biết rằng, dù họ có sản xuất ra sản phẩm gì chăng nữa thì sản phẩm của họ ngay lập tức sẽ bị sao chép và cũng có thể bị ăn cắp và họ không được cung cấp đủ tiền bạc để phát triển tài năng của mình Nghiêm trọng hơn

cả, trong thời gian gần đây phải kể đến những vi phạm trong lĩnh vực băng đĩa nhạc liên quan tới quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

1.1.3 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất bản ghi âm với tác giả và các chủ thể quyền liên quan khác

Nhà sản xuất bản ghi âm có mối quan hệ chặt chẽ với tác giả và chủ thể của các quyền liên quan khác

Nhà sản xuất bản ghi âm sử dụng các tác phẩm đã có để hình thành ra các vật phẩm là các băng, đĩa âm thanh Tác phẩm mà các tổ chức này sử dụng có thể là các tác phẩm gốc, có thể là các chương trình biểu diễn Cho nên, các tổ chức này trong quan hệ với tác giả, người biểu diễn, họ chính là những người sử dụng tác phẩm như những người sử dụng đặc biệt Nhưng khi các vật phẩm băng, đĩa hình được tạo ra thì

họ lại chính là tác giả của những tác phẩm mới Những tác phẩm này lại có thể được

Trang 14

các tổ chức phát sóng sử dụng để truyền sóng, phổ biến Vậy là nhà sản xuất vừa là người sử dụng, vừa là tác giả Từ vị trí có thể xâm phạm quyền của các chủ thể khác, nhà sản xuất trở thành chủ thể có nguy cơ bi xâm phạm quyền Họ là trung gian, là cầu nối giữa tác giả và công chúng, giúp tác giả phổ biến tác phẩm, nhưng chính họ lại cần một tổ chức khác giúp truyền bá, phổ biến các tác phẩm của mình Như vậy, các chủ thể này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương hỗ nhau Bảo hộ hiệu quả quyền lợi của chủ thể này tức là đã gián tiếp bảo hộ quyền của chủ thể khác

1.1.4 Lịch sử hình thành bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Sự ra đời và phát triển không ngừng của khoa học công nghệ kỹ thuật cuối thế kỷ

IX là con dao hai lưỡi đối với sự phát triển của ngành công nghiệp ghi âm lúc bấy giờ Một mặt, nó khiến cho các bản ghi âm được sản xuất ra với số lượng lớn và chất lượng tốt hơn trước nhiều lần, là động lực thúc đẩy ngành công nghiệp giàu tiềm năng này phát triển Tuy nhiên, chính những thành tựu đó lại tạo ra các bản sao trái phép trở nên

dễ dàng hơn, với chi phí thấp hơn Do vậy, để nền công nghiệp ghi âm có thể tồn tại và phát triển, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải hình thành một cơ chế bảo hộ đối với

đối tượng này không chỉ ở mỗi quốc gia mà trên phạm vi khắp thế giới

Những ý tưởng đầu tiên nhằm vào bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm đã dựa trên cơ

sở bảo hộ bản quyền tác giả Điều này là có cơ sở, bởi lẽ cũng như những quyền liên quan khác, quyền của các nhà sản xuất bản ghi âm có mối quan hệ chặt chẽ với bản quyền tác giả Hơn nữa ở thời điểm này, CƯ.Berne đã ra đời và sớm khẳng định vai trò nền tảng đối với việc bảo hộ quyền tác giả trên phạm vi quốc tế Cho nên, thiết lập mối

quan hệ với bản quyền tác giả là điều hợp lý

Năm 1934, tổ chức CISAC – Liên minh quốc tế của hội các tác giả và nhà soạn

nhạc cùng Liên đoàn quốc tế về công nghiệp thu thanh đã ký thoả ước tại STRESA yêu cầu trong những lần sửa đối sắp tới của Công ước Berne việc bảo hộ quyền của nhà sản

xuất bản ghi âm phải được đề xuất trong Phụ lục kèm theo công ước

Sau đó, các tổ chức này đã hợp tác tích cực với Văn phòng của Liên hiệp Berne đề

ra dự thảo về việc xây dựng một điều ước đa phương bảo hộ quyền liên quan trong đó

có quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, các

Trang 15

chuyên gia của WIPO, UNESCO, ILO đã gặp nhau tại Lahay và đưa ra dự thảo Công ước Ngày 26-10-1961, Công ước Rome, công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng đã được thông qua tại Rome Cùng với Công ước Berne, Công ước Rome ra đời là cơ sở cho sự hình thành nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương quan trọng khác, là nền tảng pháp lý quan trọng

cho việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm trên thế giới

Đối với Việt Nam, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm được đặt ra chậm hơn

nhiều so với sự phát triển của các quan hệ sở hữu trí tuệ khác và rất chậm so với thế giới Việc nghiên cứu về lĩnh vực này mới chỉ thực sự được quan tâm khoảng 15-20 năm trở lại đây, khi nhà nước có chủ trương đổi mới nền kinh tế Tuy vậy, chúng ta

cũng đã xây dựng được một khung pháp lý khá đầy đủ về lĩnh vực này

1.2 Khái niệm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Sự ra đời phát triển của công nghệ trong thời gian vừa qua đã đem đến nhiều lợi ích cho con người Giờ đây, một buổi biểu diễn đã không còn bị giới hạn trong một hội trường với một lượng khán giả bị hạn chế như trước, bởi lẽ, những bản ghi âm đã tái hiện những buổi biểu diễn của những nghệ sỹ đó và sử dụng lại chúng nhiều lần mà không cần có sự có mặt của họ Nhờ vậy mà công chúng tiếp cận với các tác phẩm âm nhạc dễ dàng hơn, phổ biến hơn với chi phí rẻ hơn Chỉ cần một bản copy thôi cũng đủ đáp ứng cho nhu cầu của hàng triệu người

Những bản ghi âm rõ ràng đã giúp các tác giả, các nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn có thể quảng bá tác phẩm của mình, khẳng định tên tuổi của mình tới đông đảo quần chúng một cách thuận lợi và tiết kiệm hơn nhiều so với trước đây Một ca sĩ không cần phải thực hiện những chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới nhưng các fan hâm mộ trên toàn cầu vẫn có thể biết đến họ, nghe các tác phẩm của họ thông qua những chiếc đĩa-

CD, VCD hoặc thông qua việc tải nhạc từ các trang web

Tuy nhiên, hiện nay, cũng chính các bản ghi âm này lại đang phải đối mặt với những tổn thất rất lớn do nạn xâm phạm bản quyền

Công nghệ số hoá đã khiến cho các bản ghi âm bị sao chép trái phép dễ dàng nhanh chóng hơn bao giờ hết Chúng ta đã từng được chứng kiến những đĩa nhạc CD

Trang 16

từ những năm 80, 90 được sao chép thành hàng tỉ bản và trở nên phổ biến như thế nào trên mạng Internet trong những năm gần đây Chưa bao giờ một khối lượng lớn thông tin lại có thể được lưu trữ trong một không gian nhỏ như hiện nay Đầu thập kỉ 1990, những chiếc đĩa CD với dung lượng trên 600 megabytes đã được những kẻ làm băng đĩa giả sử dụng tràn lan và thu được lợi nhuận lớn tới hàng triệu Đôla Giờ đây, một thiết bị nghe nhạc di động chỉ bằng một thanh socola cũng có thể chứa được lượng thông tin lớn gấp 70- 80 lần, có nghĩa là sẽ chứa được khoảng 10.000 bài hát Thật vậy, sức hấp dẫn của các chương trình ghi âm cũng như sự sẵn có trên thị trường của các phương tiện ghi âm tinh vi đã khiến cho vấn đề sao chép trái phép ngày càng gia tăng

mà hiện đã trở thành vấn nạn toàn cầu Sự ra đời của công nghệ ghi âm, đĩa hát, băng catsset đặc biệt là đĩa compact, MP3, Ipod… và sự phát triển nhanh chóng của chúng

đã cho thấy nhu cầu bảo hộ các nhà sản xuất chương trình ghi âm cấp thiết như thế nào

Vậy, ghi âm là gì? Từ điển Bách Khoa Việt Nam đã định nghĩa: “Ghi âm là ghi

lại tín hiệu âm thanh trên các vật liệu chuyên dùng để phát lại Kỹ thuật ghi âm bắt đầu từ phương pháp cơ khí (đĩa có rãnh) đến các vật liệu từ tính và hiện nay đã số hoá

cả trên bộ nhớ máy vi tính” Công Ước Geneva đã quy định: “Bản ghi âm là bất kỳ bản

định hình1

các âm thanh biểu diễn hay các âm thanh khác2 dành riêng cho cơ quan thính giác” Theo quy định của Điều 2.2 Hiệp Ước WPPT thì bản ghi âm chỉ là bản định hình thuần tuý về âm thanh, không bao gồm âm thanh ghi trong bản định hình nghe nhìn Nói rõ hơn, bản ghi âm chỉ nhằm vào định âm một bản nhạc, có thể cùng với lời đã được tác giả phổ nhạc, mà không bao gồm việc ghi âm những tác phẩm văn học và càng không bao gồm việc ghi hình (Video) những tác phẩm điện ảnh hay truyền

hình

Như vậy, bản ghi âm là các bản lưu giữ âm thanh, là biểu hiện sự tái hiện các âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác dưới dạng vật chất nhất định mà không bao gồm việc ghi âm những tác phẩm văn học cũng như không bao gồm việc ghi

Trang 17

hình nhằm giúp con người có thể nhận biết được những âm thanh đó và có thể sao chép hoặc truyền đạt những âm thanh này

Đối với âm nhạc, bản ghi âm là phương tiện ưa dùng nhất để truyền đạt tác phẩm

tới công chúng Cũng như sách đối với tác phẩm văn học, bản ghi âm có tác dụng phục

vụ cho tác phẩm âm nhạc3 Bản ghi âm được thực hiện thông qua hoạt động thu âm (phonorecords) là hoạt động cố định âm thanh ngoài phần nhạc đệm cho một bộ phim Thiết bị thu âm có thể là băng, đĩa CD, chíp máy tính có chứa âm thanh và những thiết

bị tương tự

Các bản ghi âm có thể chỉ riêng phần nhạc, riêng phần lời Để được phép ghi âm

người muốn ghi âm phải được sự cho phép của các chủ sở hữu quyền tác giả đối với một tác phẩm phần nhạc cũng như chủ sở hữu quyền tác giả đối với phần lời bài hát Một số quốc gia còn quy định, người ghi âm cũng phải được phép của các ca sĩ, nghệ sĩ

trình bày phần nhạc và hát phần lời

Nhà sản xuất bản ghi âm là một người hoặc một pháp nhân định hình lần đầu các

âm thanh của buổi biểu diễn hay các âm thanh khác4 Có nghĩa là sản phẩm mà nhà sản xuất bản ghi âm tạo ra phải là bản gốc của tác phẩm, là sự hiện thân nguyên bản âm thanh của một buổi biểu diễn trực tiếp hoặc bất kỳ một âm thanh nào khác mà không được lấy lại từ một bản ghi âm có trước

Như vậy, chỉ được coi là nhà sản xuất bản ghi âm khi người đó thực hiện việc định hình lần đầu âm thanh của buổi biểu diễn hay âm thanh khác Việc định hình âm này, có thể được thực hiện trên băng, đĩa hoặc trong bộ nhớ số Chẳng hạn Bến Thành audio đã tổ chức việc định hình âm lần đầu chương trình ca nhạc Làn sóng xanh Bến Thành Audio là nhà sản xuất bản ghi âm đối với chương trình ca nhạc này Cần lưu ý

là, pháp luật chỉ bảo hộ quyền của nhà sản xuất đối với bản định âm lần đầu mà không bảo hộ đối với bản sao từ bản định âm lần đầu, tức là tác phẩm được bảo hộ phải là bản

3

Tác phẩm âm nhạc (musical work) là một nhóm các tác phẩm có thể có bản quyền được diễn tả bằng hình thức

âm thanh Một bài hát của một nhà viết nhạc được bảo hộ bởi bản quyền tác phẩm âm nhạc nhưng việc thu thanh bài hát đó thì được bảo hộ bởi bản quyền thu thanh.

4 Điều 1.2, Công ước Geneve;

Trang 18

gốc5 Hơn nữa, không chỉ có tổ chức mới có thể là nhà sản xuất chương trình ghi âm Điều này sẽ đúng cách đây một vài năm Bởi chỉ có tổ chức mới có đủ khả năng về kỹ thuật và tài chính để thực hiện việc định hình âm, sản xuất băng đĩa ghi âm Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, hiện nay cá nhân hay một nhóm cá nhân cũng có đủ khả năng thực hiện hoạt động này Do đó, nhà sản xuất bản ghi âm có thể là pháp nhân cũng có thể là cá nhân Mục đích của quyền nhà sản xuất bản ghi âm là đảm bảo bù đắp cho các tác giả, cho phép họ làm chủ và khai thác tác phẩm của mình, qua

đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sáng tạo tinh thần Cũng như các quyền liên quan khác quyền của nhà sản xuất bản ghi âm có hai đặc điểm sao

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là tổng thể các quy phạm quy định và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của nhà sản xuất bản ghi âm đối với các chương trình ghi âm

dựa trên tác phẩm gốc của chủ sở hữu quyền tác giả

Thứ nhất: Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm cũng được hình thành dựa trên

việc sử dụng môt tác phẩm gốc6 Nhà sản xuất bản ghi âm tổ chức thu âm buổi biểu diễn của các nghệ sỹ hoặc các âm thanh khác, nhưng các nghệ sỹ này lại phải dùng những tác phẩm âm nhạc khác để trình diễn Như vậy, xét cho đến cùng quyền của nhà sản xuất bản ghi âm cũng được hình thành dựa trên việc sử dụng một tác phẩm gốc Do

đó, chủ thể quyền nhà sản xuất bản ghi âm phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân

và quyền tài sản không chỉ của người biểu diễn mà cả của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm gốc

Thứ hai: Chương trình ghi âm cũng phải có tính nguyên gốc nghĩa là do chính

công sức của nhà sản xuất bản ghi âm tạo ra và là bản ghi âm đầu tiên

Để tạo ra những bản ghi âm, người sản xuất phải đầu tư công sức để tổ chức việc ghi âm, phải bỏ ra một lượng tài chính không nhỏ để thực hiện công việc này Nhà sản xuất tuy không trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm nhưng lại có sáng tạo trong việc thể hiện tác phẩm Vì vậy, bảo hộ những nhà sản xuất chân chính, những người đã thực sự phải

5 Bản gốc tác phẩm là hình thức thể hiện đầu tiên của tác phẩm có tính nguyên gốc do tác giả sang tạo ra Bản gốc của tác phẩm là bản chính thức được công bố và được tác giả chủ sở hữu tác phẩm đăng ký bảo hộ tại cơ quan bảo hộ quyền tác giả Bản gốc là cơ sở để in ấn, phổ biến, phát hành hoặc chuyển sang hình thái thể hiện khác

6

Tác phẩm gốc là những tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định và có tính nguyên gốc

Trang 19

bỏ công sức, tiền bạc ra trước các đối thủ cạnh tranh, chống các hành vi xâm phạm thành quả của người khác bằng việc sao chép bất hợp pháp băng, đĩa ghi âm là điều tất yếu

1.3 Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

1.3.1 Khái niệm

Bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là những cách thức, biện pháp

được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng nhằm tạo ra hành lang pháp

lý để bảo về quyền, lợi ích chính đáng của nhà sản xuất bản ghi âm cũng như những chủ thể có liên quan khác, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào

Nhà sản xuất bản ghi âm được bảo hộ quyền phải là tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm sẽ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả và đáp ứng được một trong những điều kiện sau:

v Các nhà sản xuất bản ghi âm là công dân nước đó;

v Bản ghi âm được định hình lần đầu trên lãnh thổ quốc gia đó7

;

v Bản ghi âm được công bố lần đầu trên lãnh thổ quốc gia đó8

hoặc được coi là lần đầu tiên được công bố tại quốc gia đó9

Không giống như trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp, bảo hộ bản quyền nói chung, bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng phát sinh từ thời điểm tác phẩm được hình thành dưới một hình thức nhất định mà không buộc phải đăng ký, nộp lưu chiểu, nộp tiền hay những thủ tục tương tự, vì những thủ tục này không được coi là điều kiện để được bảo hộ bản quyền Tuy nhiên, để tránh những rắc rối về sau,

7

Bản ghi âm được định hình lần đầu tiên trên lãnh thổ quốc gia đó là bản ghi âm của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài lần đầu tiên được tái hiện tại quốc gia mà trước đó chưa được định hình tại bất kỳ quốc gia nào khác;

Trang 20

để có bằng chứng bác bỏ những hành vi xâm phạm của những đối tượng vi phạm bản quyền, pháp luật các nước khuyến khích tác giả, nhà sản xuất bản ghi âm tiến hành đăng ký bản quyền đối với những tài sản trí tuệ của mình

Cũng giống như quyền của tổ chức phát sóng, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

là quyền tài sản Điều này có sự khác biệt so với quyền của tác giả, của người biểu diễn Sự khác biệt đó có thể nói xuất phát từ sự đóng góp chất xám vàosản phẩm của các nhóm quyền Nói như vậy không có nghĩa là thành quả của nhà sản xuất bản ghi

âm không có chất xám Tất cả các đối tượng của quyền Sở hữu trí tuệ đều là những thành quả của lao động trí tuệ sáng tạo Tuy nhiên, đối với nhà sản xuất bản ghi âm thì thành quả ấy chịu tác động của hoạt động đầu tư về kinh tế, kỹ thuật nhiều hơn, đồng thời không để lại dấu ấn cái tôi đậm nét như ở tác phẩm văn học nghệ thuật và chương trình biểu diễn

Quyền được bảo hộ của nhà sản xuất bản ghi âm là quyền tài sản Trong quyền tài sản này có chứa giá trị phi vật chất Đó chính là năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất

Do là quyền tài sản nên quyền này có thể được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng, thừa kế hoặc thông qua việc thừa kế quyền

Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm được bảo hộ có thời hạn Các công ước quốc

tế cũng như pháp luật các quốc gia trên thế giới đều quy định thời gian bảo hộ tối thiểu đối với bản ghi âm là 20 năm kể từ khi kết thúc của năm mà các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm được ghi âm lần đầu hoặc của năm mà bản ghi âm được công bố lần đầu

Trong khoảng thời gian này, mọi hành vi sao chép không được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm đều được coi là hành vi xâm phạm quyền Tuy nhiên, để đảm bảo rằng chủ sở hữu không lạm dụng những đặc quyền dành cho họ nhằm tạo điều kiện phổ biến, sử dụng những sáng tạo nghệ thuật, pháp luật các nước quy định một số hạn chế

và ngoại lệ nhằm đảm bảo sự công bằng giữa quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu và người sử dụng Theo đó, các bản ghi âm có thể được sử dụng hạn chế (fair use) Điều này nhằm nhấn mạnh việc sao chép bản ghi âm hoàn toàn không vì mục đích kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm và không xâm

Trang 21

phạm tới các quyền lợi khác của nhà sản xuất, việc sử dụng đó hoàn toàn cho cá nhân

để thưởng thức, để nghiên cứu thì không phải là hành vi xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Mặc dù vậy, trên thực tế việc quản lý vấn đề này gặp rất nhiều khó khăn vì nhiều khi người ta sao chép bản ghi âm với danh nghĩa sử dụng cá nhân nhưng thực chất là bán thu tiền, sao chép lại băng, đĩa nhạc để phát ở nhà hàng, khách sạn hay tải nhạc điện thoại, phục vụ cho khách Những trường hợp đó thì không thể coi là dùng cho mục đích cá nhân được

Ngoài ngoại lệ trên, mọi hành vi sử dụng bản ghi âm mà không có sự thoả thuận đều được coi là hành vi xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Những hành vi có thể bị coi là xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm là:

· Chiếm đoạt quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

· Mạo danh nhà sản xuất bản ghi âm;

dỡ bỏ hoặc đã bị thay đổi mà không được phép của nhà sản xuất bản ghi âm

1.3.2 Nội dung quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

1.3.2.1 Khái niệm và nghĩa vụ của nhà sản xuất bản ghi âm

a) khái niệm:

"nhà sản xuất bản ghi âm" là một cá nhân hoặc pháp nhân đầu tiên định hình âm

thanh của buổi biểu diễn hoặc của các âm thanh khác;

10

Công bố bản ghi âm là việc đưa ra các bản sao của bản ghi âm tới công chúng với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền và với số lưọng hợp lý ( Điều 2.5 Hiệp ước WPPT)

Trang 22

Bản ghi âm, ghi hình: Là bản định hình các âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác, hoặc việc định hình sự tái hiện lại các âm thanh, hình ảnh không phải dưới hình thức định hình gắn với tác phẩm điện ảnh hoặc tác phẩm nghe nhìn khác

Bản ghi hình, ghi âm được bảo hộ:

Ø Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;

Ø Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

b) Nghĩa vụ

Để tạo ra các bản ghi âm, nhà sản xuất bản ghi âm phải sử dụng tác phẩm hoặc chương trình biểu diễn của người khác.Vì vậy, họ phải có nghĩa vụ với tác giả, hoặc chủ sở hữu tác phẩm và người biểu diễn, bao gồm những nghĩa vụ sau:

ª Khi sử dụng tác phẩm chưa được công bố, người sản xuất bản ghi âm phải xin phép tác giả, chủ sở hữu tác phẩm thông qua việc giao kết hợp đồng sử dụng tác phẩm Khi sử dụng tác phẩm, nhà sản xuất phải nêu tên thật hoặc bút danh của tác giả, trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, đảm bảo sự toàn vẹn nội dung của tác phẩm

ª Đối với những tác phẩm đã được công bố, tổ chức, cá nhân sản xuất bản ghi

âm không phải xin phép tác giả nhưng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nói trên

ª Khi sử dụng chương trình của người biểu diễn để sản xuất chương trình, nhà sản xuất bản ghi âm phải giao kết hợp đồng với người biểu diễn và phải trả thù lao cho

họ Nghĩa vụ này của nhà sản xuất chương trình ghi âm gắn liền với cả quyền của người biểu diễn Cũng như hợp đồng với tác giả trong trường hợp tác phẩm chưa được công bố, việc giao kết hợp đồng với người biểu diễn là một hình thức xin phép chương trình biểu diễn để ghi băng, ghi âm thanh và làm bản sao để phổ biến Nghĩa vụ ký hợp đồng với người biểu diễn gắn liền với nghĩa vụ trả thù lao cho họ, mức và cách thức trả thù lao thường là do các bên thoả thuận

ª Người sản xuất cũng có nghĩa vụ phải ghi tên thật (hoặc bút danh) của tác giả

và tên của người biểu diễn trên băng đĩa ghi âm không chỉ trên bản gốc mà còn cả trên

Trang 23

các bản sao từ bản gốc Sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ này, nếu nhà sản xuất không ghi tên hoặc ghi sai tên tác giả, người biểu diễn Trong trường hợp này, tác giả, người biểu diễn có quyền yêu cầu người sản xuất phải cải chính công khai và có thể phải bồi thường thiệt hại

ª Bên cạnh nghĩa vụ ghi tên tác giả, người biểu diễn, người sản xuất còn có nghĩa vụ đảm bảo sự toàn vẹn của tác phẩm, bảo đảm sự toàn vẹn của tác phẩm gốc và

sự toàn vẹn của hình tượng biểu diễn Đối với tác phẩm gốc, nhà sản xuất không được sửa đổi, cắt xén tác phẩm nếu không được tác giả đồng ý Chẳng hạn nếu nhà sản xuất

sử dụng một phần ca khúc để sản xuất bản ghi âm liên khúc thì phải hỏi ý kiến của tác giả Đối với hình tượng biểu diễn cũng vậy, nhà sản xuất không được tiến hành các hành vi thay đổi, xuyên tạc làm ảnh hưởng xấu tới danh dự, uy tín của người biểu diễn Trường hợp nhà sản xuất vi phạm nghĩa vụ đảm bảo sự toàn vẹn của tác phẩm, hình tượng người biểu diễn, tác giả, người biểu diễn cũng có quyền yêu cầu chấm dứt hành

vi vi phạm và bồi thường thiệt hại

1.3.2.2 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Nhà sản xuất bản ghi âm có các quyền sau:

ª Thứ nhất, nhà sản xuất bản ghi âm được độc quyền cho phép hoặc không cho phép làm bản sao của bản ghi âm và phát hành sản phẩm Có nghĩa là chỉ họ mới được quyền nhân bản và phân phối các bản gốc và bản sao của bản ghi âm, còn mọi hành vi nhân bản và phân phối nếu không được sự đồng ý của nhà sản xuất đều bị coi là xâm phạm quyền Người sản xuất có thể tự mình thực hiện độc quyền hoặc cho người khác

sử dụng độc quyền đó thông qua các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng Như vậy, việc sao toàn bộ hoặc phần chủ yếu của một băng, đĩa ghi âm bất kể trực tiếp hay gián tiếp từ bản định hình âm gốc mà không được nhà sản xuất đồng ý đều bị coi là xâm phạm quyền

ª Độc quyền thứ hai của nhà sản xuất bản ghi âm chính là họ có quyền hưởng thù lao khi bản ghi âm hoặc bản sao của họ được sử dụng vào mục đích thương mại Nhà sản xuất bản ghi âm đã đầu tư không ít công sức, kỹ thuật, tài chính để tạo ra các bản ghi âm, lẽ đương nhiên họ phải được hưởng thành quả lao động, sáng tạo này Họ

Trang 24

có quyền cho thuê, cho mượn hoặc bán bản gốc hoặc bản sao bản ghi âm để sử dụng nhằm đạt được mục đích thương mại Thù lao nhận được sẽ là cơ sở kích thích họ tiếp tục đầu tư sáng tạo ra các tác phẩm có giá trị và chất lượng cao hơn Pháp luật của các nước quy định cả người biểu diễn và nhà sản xuất băng, đĩa ghi âm đều được hưởng thù lao từ việc cho người khác sử dụng thành quả của mình (bản ghi âm hoặc bản sao của bản ghi âm) để sử dụng vào mục đích kinh doanh Tỷ lệ phân chia do các bên thoả thuận, một số nước cũng quy định các điều kiện phân chia nhưng thông thường là theo

tỷ lệ 50/50

1.3.3 Cơ chế bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Cũng như các quyền của các đối tượng sở hữu trí tuệ khác, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm mang tính phi vật thể, dễ sao chép, dễ lưu trữ, dễ phổ biến và có tính lãnh thổ ( nó phát sinh trên lãnh thổ nước nào thì chỉ bảo hộ tại nước đó) Cho nên, các quốc gia phụ thuộc vào khả năng, điều kiện của nước mình sẽ đưa ra những quy định phù hợp cho việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất Hiện nay, trên thế giới, quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng được bảo hộ theo hai cơ chế chính là cơ chế bảo hộ quốc gia (bảo hộ theo các quy định của pháp luật quốc gia)

và bảo hộ theo cơ chế quốc tế ( việc bảo hộ được thực hiện theo cả các quy định của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế)

1.3.3.1 Cơ chế bảo hộ quốc gia

Đây là cơ chế bảo hộ theo đó một trong những quốc gia sẽ ban hành những quy định đặc thù về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm và cũng chỉ áp dụng đối với các đối tượng của quyền của nhà sản xuất trong nước giữa các chủ thể trong nước Hay nói cách khác, đây là các quan hệ pháp luật về sở hữu trí tuệ thuần tuý trong nước và không có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, xuất phát từ những khác biệt về điều kiện kinh

tế, xã hội, chính trị, lịch sử… việc xây dựng các quy định trong lĩnh vực bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm cũng có nhiều điểm khác Theo đó, các quy định về quyền của nhà sản xuất có thể được xây dựng tương đối đầy đủ, hệ thống trong những văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bản quyền, ví dụ như ở Cộng hoà Pháp, Hoà Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam… Nhưng ở một số quốc gia đặc biệt

Trang 25

là ở những nước đang phát triển và chậm phát triển, các quy định đặc thù này lại không được tập trung trong luật riêng về sở hữu trí tuệ mà lại nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau như Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Hành chính hoặc các văn bản dưới luật khác

Nhưng dù theo xu thế nào đi nữa, bằng việc xây dựng các quy phạm pháp luật, luật quốc gia cũng đã trở thành công cụ hữu hiệu để bảo vệ các sản phẩm trí tuệ nói chung, các bản ghi âm nói riêng, trước hết là tác phẩm của công dân nước sở tại Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển của các mối quan hệ xã hội, sự mở rộng ngày càng nhanh trong việc giao lưu giữa các nền văn hoá trên thế giới, việc bảo hộ bản ghi âm chỉ trong phạm vi quốc gia sẽ không thể được thực hiện hiệu quả Thêm vào đó, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, khi thế giới chúng ta đang sống trở thành một thị trường chung thì tất yếu phải cần đến những công cụ pháp lý hữu hiệu hơn để bảo vệ thành quả sáng tạo của con người Chính vì vậy cơ chế bảo hộ quốc gia sẽ luôn phải song song tồn tại cùng cơ chế bảo hộ quốc tế

1.3.3.2 Cơ chế bảo hộ quốc tế

Cơ chế bảo hộ quốc tế là cơ chế bảo hộ không chỉ tuân theo các quy định của pháp luật quốc gia mà việc bảo hộ còn được đảm bảo trên phạm vi quốc tế, thông qua các quy định của các Điều ước quốc tế song phương và đa phương

Các Điều ước quốc té đa phương quan trọng để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được ra đời từ thế kỷ XIX Cho đến nay, các Điều ước quốc tế đa phương đã thực sự đóng góp vai trò quan trọng trong việc bảo hộ quyền trên phạm vi quốc tế và được đông đảo các quốc gia gia nhập Có thể kể đến các Điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật 1886

Ø Công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng ;

Ø Công ước Geneve về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm 29/10/1971;

Ø Công ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm

Trang 26

Các Điều ước quốc tế song phương ra đời sớm hơn so với các Điều ước quốc tế đa phương, khi các điều ước đa phương chưa ra đời thì đây là hình thức được nhiều quốc gia áp dụng để bảo hộ cho các nhà sản xuất là công dân nước mình khi tác phẩm của họ vượt ra ngoài biên giới quốc gia Hiện nay, tuy đã là thành viên của nhiều Điều ước quốc tế đa phương về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nhưng đại đa số các quốc gia vẫn rất coi trọng việc ký kết các Điều ước quốc tế song phương Các thoả thuận quốc tế

về quyền của nhà sản xuất giữa hai quốc gia thường được ghi nhận trong các hiệp định

về quyền tác giả hoặc các hiệp định thương mại giữa các nước

Nói tóm lại, các Điều ước quốc tế cùng với pháp luật quốc gia giữ vai trò quan trọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu Chúng không chỉ là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ những thành quả sáng tạo của con người mà còn giúp các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, những nghệ sỹ biểu diễn, các nhà sản xuất bản ghi âm, các tổ chức phát sóng có khả năng thu hồi một cách có hiệu quả những chi phí đã bỏ ra để đầu tư cho việc sáng tạo tác phẩm, giúp họ có thể tiếp tục tái đầu tư để tạo ra những tác phẩm mới có chất lượng hơn Đồng thời coi trọng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế đặc biệt là các ngành công nghiệp giải trí, tạo nên sự cân bằng giữa quyền lợi của chủ sở hữu tài sản trí tuệ với nhu cầu của xã hội

Trang 27

CHƯƠNG HAI CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN CỦA NHÀ SẢN

XUẤT BẢN GHI ÂM THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1 Nội dung cơ bản về bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm theo quy định của một số Điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam là thành viên

Việc bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nhưng mỗi quốc gia lại không thể tự mình tiến hành hoạt động bảo hộ các quyền này, nên cần có sự liên kết chặt chẽ trên phạm vi quốc tế Từ đó, các Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã ra đời, trở thành công cụ đắc lực trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể liên quan Trong xu thế hội nhập, để bảo vệ lợi ích của chính mình, để thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu quốc tế, Việt Nam

đã và đang tích cực tham gia các Điều ước quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực này

Đến nay, Việt Nam đã tham gia và ký kết hầu hết các Điều ước quốc tế quan trọng

về sở hữu trí tuệ như Công ước Rome 1961; Công ước Geneva 1971; Hiệp ước WPPT

1996 Đây là, những điều ước có nội dung đề cập trực tiếp đến quyền của nhà sản xuất bản ghi âm và bảo hộ quyền của họ

Công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (sau đây gọi tắt là Công ước Rome) được ký kết tại Rome ngày 26/10/1961 Công ước này, được coi là Công ước tiên phong trong lĩnh vực bảo hộ quyền liên quan, bởi lẽ nó xuất hiện vào thời điểm có rất ít quốc gia ban hành các nguyên tắc về bảo hộ những nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát sóng, trong khi Công ước Berne,

Công ước, nền tảng về bảo vệ bản quyền lại chưa có những quy định cụ thể về các quyền này Mười năm sau, một cam kết quốc tế khác riêng trong lĩnh vực bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm đã ra đời tại Geneva, Công ước về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm của họ (còn gọi là Công ước Geneva 1971 hay Công ước về bản ghi âm) được ký kết ngày 29/10/1971 Công ước Geneva là một Hiệp ước đặc biệt bổ sung cho Công ước Rome riêng trong lĩnh vực bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm

Trang 28

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ số, sự gia tăng không ngừng của những hành vi vi phạm các quyền liên quan trong những năm 1980, người ta thấy rằng, Công ước Rome, Công ước Geneva không còn đủ nữa, cần phải những cam kết quốc tế phù hợp trong môi trường kỹ thuật số, cần phải có những quy tắc mới cứng rắn hơn, có tính ràng buộc chặt chẽ hơn… Kết quả là, Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và sản xuất bản ghi âm (gọi tắt là Hiệp ước WPPT) đã ra đời tại Geneva tháng 12 năm 1996

Hiệp ước WPPT có mối quan hệ nhất định với CƯ Rome Cũng như mối quan hệ giữa Hiệp định TRIPs và Công ước ROME, WPPT đã kế thừa một số qui định của ROME

Hiệp ước này cũng tuyên bố rằng “không qui định nào trong Hiệp ước này làm

tổn hại đến những nghĩa vụ hiện tại mà các bên ký kết đã có với nhau theo Công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tô chức phát sóng ký tại ROME.” 11

Có thể nói, ba điều ước trên là những cam kết khá đầy đủ điều chỉnh lĩnh vực bảo

hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Song, cả ba lại chưa đề cập nhiều tới việc thực thi các cam kết này như thế nào TRIPs ra đời đã khắc phục những thiếu sót đó

Đây là Hiệp định Sở hữu trí tuệ toàn diện nhất trên thế giới hiện nay Không chỉ là tổng hợp của các Công ước trước đó, Hiệp định TRIPs còn bổ sung một số lượng lớn các nghĩa vụ chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ trong các Công ước, Hiệp ước đã ký trước đây

Như vậy đáp ứng những thách thức của việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, các công ước quốc tế đã lần lượt ra đời Vậy là thế giới đã có thêm nhiều công

cụ đắc lực để bảo vệ quyền này

Nội dung cơ bản của các Điều ước quốc tế trên được quy định như sau:

(1) Các nguyên tắc cơ bản;

(2) Tiêu chuẩn bảo hộ, căn cứ xác lập quyền và thực hiện bảo hộ;

(3) Nội dung quyền của nhà sản xuất bản ghi âm;

(4) Các quy định về thực thi quyền

2.1.1 Các nguyên tắc cơ bản

2.1.1.1 Nguyên tắc đối xử Quốc gia (National Treament - NT)

Công ước Berne coi đây là nền tảng của sở hữu trí tuệ Nguyên tắc này qui định rằng các thành viên không được đối xử với công dân của các Quốc gia thành viên khác

11 Điều 1.3 Hiệp ước WPPT

Trang 29

kém thuận lợi hơn công dân của chính nước mình, trừ một số trường hợp ngoại lệ cho phép

Nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 2.1 Công ước ROME: “Trong công ước

này, đối xử Quốc gia được hiểu là sự đối xử theo luật Quốc gia của nước thành viên nơi có yêu cầu Bảo hộ dành cho: Các mà sản xuất bản ghi âm là công dân của Nước

đó, đối với các bản ghi âm được định hình lần đầu hoặc công bố lần đầu trên lãnh thổ Nước đó…”

Kế thừa nguyên tắc này, Hiệp ước WPPT qui định: “Những bên ký kết sẽ dành

cho công dân của Các bên ký kết khác sự đối xử mà Bên đó dành cho chính công dân của nước mình đối với các quyền độc quyền được qui định cụ thể trong Hiệp ước này

và đối với quyền hưởng thù lao thoả đáng được quyết định tại Điều 15 của Hiệp uớc này 12

Điều 4.1 Hiệp ước WPPT không trực tiếp đưa ra khái niệm công dân của các bên

ký kết mà dẫn chiếu đến các điều khoản khác

Qui định về chế độ đối xử quốc gia được đặt ra không chỉ nhằm bảo đảm quyền của người nước ngoài được bảo hộ mà còn bảo đảm rằng họ không bị phân biệt đối xử theo bất kì cách nào liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, bảo hộ quyền nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng Liên quan đến chế độ NT, cả Công ước ROME và

Hiệp ước WPPT đều đặt ra những ngoại lệ nhất định Công ước yêu cầu “đối xử Quốc

gia phải tuỳ thuộc vào sự bảo hộ được cấp cụ thể và các hạn chế qui định cụ thể trong Công ước nà 13

Có nghĩa là ngoại trừ những quyền đã được Công ước đảm bảo tạo nên

sự bảo hộ tối thiểu, trong phạm vi các giới hạn bảo lưu và ngoại lệ được Công ước thừa nhận, nhà sản xuất bản ghi âm cũng như những chủ thể của quyền liên quan khác sẽ được hưởng tại những Quốc gia thành viên của Công ước những quyền giống như các quyền mà các Quốc gia đó trao cho công dân của họ

Hiệp ước WPPT cũng đưa ra ngoại lệ, theo đó các thành viên có thể dựa vào để miễn trừ nghĩa vụ đối xử Quốc gia khi bên ký kết cố tình đưa ra tuyên bố rằng sẽ chỉ áp dụng quyền được hưởng thù lao từ việc phát sóng và truyền đạt ra công chúng nhằm mục đích thương mại của nhà sản xuất bản ghi âm trong một số trường hợp nhất định, hoặc tuyên bố rằng nước mình sẽ khống chế việc áp dụng các qui định đó theo một số cách khác hoặc có thể áp dụng tất cả các qui định này

12 Điều 4.1 Hiệp ước WPPT

13 Điều 2.2, Công ước ROME

Trang 30

Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm của họ không đề cập tới nguyên tắc đối xử Quốc gia nhưng lại khẳng định: “

mỗi Quốc gia ký kết sẽ bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các Quốc gia

ký kết khác chống lại việc làm bản sao mà không được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi âm đó và chống lại việc nhập khẩu các bản sao đó với điều kiện là việc làm bản sao hoặc nhập khẩu đó là nhằm mục đích phân phối tới công chúng và chống lại việc phân phối các bản sao đó tới công chúng”,(14) và không được giải thích Công ước này bằng bất kì cách thức nào để hạn chế ảnh hưởng tới sự bảo hộ khác được đảm bảo theo

bất kì pháp luật Quốc gia hoặc thoả

thuận Quốc tế nào14 Điều đó có nghĩa là, Công ước cũng đã xác định các hành vi bất hợp pháp mà các Quốc gia thành viên phải quyết định biện pháp bảo hộ hữu hiệu để chống lại những hành vi đó đồng thời Công ước cũng không hạn chế việc Bảo hộ đối với người nước ngoài theo pháp luật Quốc gia hoặc theo các Hiệp ước Quốc tế

Như vậy, có thể thấy dù được thừa nhận trực tiếp hoặc gián tiếp trong các Điều ước quốc tế, nguyên tắc đối xử Quốc gia vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng đặc biệt trong quá trình thực thi và giải quyết tranh chấp liên quan trong lĩnh vực này Bởi lẽ, sự phát triển của các bản ghi âm, các đối tượng của bản quyền không còn hạn chế trong phạm vi lãnh thổ mỗi Quốc gia cũng như những vi phạm trong lĩnh vực này

đã vượt qua biên giới các nước, đòi hỏi sự quan tâm hợp tác giải quyết chung của cộng đồng

Như vậy, việc áp dụng nguyên tắc này sẽ đảm bảo sự ổn định của các mối quan hệ quốc tế và góp phần tạo nên một quá trình xử sự chung cho các quốc gia trên thế giới

2.1.1.2 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Most Favoured nations – MFN )

Nguyên tắc này, được ghi nhận tại Điều 4 Hiệp định TRIPS: “Đối với việc Bảo hộ

sở hữu trí tuệ, bất kì một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc sự miễn trừ nào được một Thành viên dành cho công dân của bất kì nước nào khác cũng phải được lập tức và

vô điều kiện dành cho công dân của tất cả các thành viên khác.” Điều này có nghĩa là, nếu hai hoặc nhiều nước Thành viên của TRIPs tham gia thỏa thuận có tiêu chuẩn bảo

hộ cao hơn tiêu chuẩn bảo hộ của TRIPs thì những nước này có nghĩa vụ phải dành sự

ưu đãi và đặc quyền đó cho công dân của tất cả các nước thành viên khác của TRIPs Như vậy, nếu như nguyên tắc đối xử quốc gia đề cập tới sự bình đẳng trong đối xử giữa

14 Điều 7.1, Công uớc Geneva

Trang 31

công dân của Quốc gia mình với công dân của các thành viên khác thì nguyên tắc Most đối xử tối huệ quốc lại qui định sự bình đẳng trong đối xử của một Quốc gia đối với công dân của các thành viên khác nhau Các nước thành viên phải được hưởng sự đối

xử thuận lợi nhất mà một nước thành viên có thể dành cho một nước thứ ba khác, bất

kể nước thứ ba đó có là thành viên

của TRIPs hay không Nguyên tắc này tạo nên một sân chơi bình đẳng cho các quốc gia, ngăn cấm sự phân biệt đối xử giữa các Quốc gia thành viên Một hành vi vi phạm của một Quốc gia bất kì được miễn trừ trách nhiệm ở một Quốc gia thành viên của TRIPs thì cũng có những hành vi tương tự của Quốc gia thành viên khác cũng đương nhiên được hưởng miễn trừ trách nhiệm trên lãnh thổ nước đó Nguyên tắc này, là một nhân tố mới trong khuôn khổ Sở hữu trí tuệ quốc tế, từ trước tới nay chưa được quyết định trong phạm vi quyền Sở hữu trí tuệ ở cấp độ đa phương Lẽ dĩ nhiên nguyên tắc tối huệ quốc được ghi nhận trong Công ước Rome, Công ước Geneva và Hiệp ước WPPT Tuy nhiên, nguyên tắc này trên thực tế lại được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế, được xem là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất và là nguyên tắc nền tảng của WTO

Cũng giống như chế độ đối xử quốc gia, nguyên tắc này, cũng có một số ngoại lệ Những ngoại lệ và miễn trừ này được quy định cụ thể tại Điều 4 Hiệp định TRIPs Một quốc gia khi dành sự ưu đãi, miễn trừ cho Quốc gia thành viên này sẽ không buộc phải trao những đặc quyền này cho các thành viên khác khi:

Ø Sự ưu tiên đó được hình thành trên cơ sở các thoả thuận Quốc tế về việc giúp đỡ trong tố tụng hoặc thực thi Luật nói chung chứ không giới hạn riêng về Bảo hộ

Ø Sự đãi ngộ đó dựa trên cơ sở các thoả ước Quốc tế trong lĩnh vực Bảo hộ Sở hữu trí tuệ đã có hiệu lực trước khi Hiệp định WTO có hiệu lực với điều kiện là các Thoả ước đó phải được thông báo cho Hiệp định TRIPs và tạo nên sự phân biệt đối xử tuỳ tiện, và bất hợp lý với các công dân của các nước thành viên khác

Trang 32

2.1.1.3 Một số nguyên tắc khác

Ngoài hai nguyên tắc cơ bản có tính chất chỉ đạo và khái quát toàn bộ quá trình bảo hộ của nhà sản xuất bản ghi âm, Công ước Rome, Công ước Geneva, Hiệp ước WPPT, Hiệp định TRIPS còn qui định một số nguyên tắc khác như: Nguyên tắc Bảo hộ tối thiểu, nguyên tắc về sự cân bằng lợi ích của chủ thể quyền và lợi ích công cộng, Các vấn đề có tính nguyên tắc liên quan tới việc thực thi các cam kết quốc tế trong pháp luật các Quốc gia thành viên

Đây là nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ các vấn đề về Sở hữu trí tuệ nói chung, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm nói riêng Theo nguyên tắc này, các ĐƯQT trên sẽ qui định việc Bảo hộ của nhà sản xuất bản ghi âm (bao gồm các qui định về điều kiện bảo hộ, thực hiện bảo hộ, các quyền được cấp cho nhà sản xuất, các bộ phận thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm) ở mức độ tối thiểu, các Quốc gia thành viên chỉ có

thể thực hiện việc bảo hộ tại Quốc gia mình ở mức độ bằng hoặc lớn hơn “mức trần”

đó và đương nhiên việc bảo hộ đó không được mâu thuẫn với các Hiệp định và Công ước mà Quốc gia đó đã tham gia Chẳng hạn Công ước Rome qui định thực hiện bảo

hộ tối thiểu đối với bản ghi âm là 20 năm kể từ khi kết thúc của năm mà việc định hình bản ghi âm được thực hiện Như vậy, kể từ khi gia nhập các thành viên Công ước này

sẽ phải qui định thực hiện Bảo hộ tối thiểu đối với bản ghi âm không dưới 20 năm

thậm chí 50 năm hoặc nhiều hơn nữa “Nguyên tắc về sự cân bằng lợi ích và lợi ích

của xã hội, của Nhà nước”

Nguyên tắc này được ghi nhận ngay ở phần mở đầu của Hiệp ước WPPT: “Công

nhận nhu cầu duy trì sự cân bằng giữa các quyền của người biểu dễn, nhà sản xuất bản ghi âm và lợi ích của đông đảo công chúng, đặc biệt là giáo dục, nghiên cứu và thu thập thông tin”

Cả Rome, Geneva và WPPT, cùng qui định pháp luật Quốc gia có thể qui định những hạn chế về bảo hộ những nhà sản xuất bản ghi âm tương tự như đã qui định trong pháp luật Quốc gia mình đối với việc bảo hộ các tác giả của các tác phẩm văn học và nghệ thuật Bằng việc qui định những ngoại lệ, các Công ước đã phần nào hạn chế quyền của các nhà sản xuất bản ghi âm cũng như quyền của các chủ thể có quyền khác, tạo điều kiện phổ biến các giá trị nghệ thuật, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ bởi những người nắm quyền và ngăn chặn các hành vi cản trở hoạt động thương mại bất hợp lý Tuy nhiên, li – xăng cưỡng bức chỉ có thể được qui định trong chừng mực phù hợp với Công ước Có nghĩa là các bên

Trang 33

ký kết chỉ qui định các hạn chế hoặc ngoại lệ đối với các quyền được qui định trong các Công ước, Hiệp ước này trong một số trường hợp đặc biệt sao cho không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường bản ghi âm và không làm phương hại bất hợp lý đến lợi ích chính đáng của nhà sản xuất bản ghi âm Điều 7 Hiệp định TRIPs cũng đã

khẳng định nội dung này: “Việc bảo hộ và thực thi các quyền Sở hữu trí tuệ phải góp

phần vào thúc đẩy cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích Xã hội, lợi ích kinh tế và tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ” tạo sự cân bằng giữa

lợi ích của những chủ thể có quyền và lợi ích của cộng đồng Thật vậy, trên đây là những nguyên tắc cơ bản được Công ước Rome, Công ước Geneva, Hiệp ước WPPT, Hiệp định TRIPs đề cập tới nhằm bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ Thông qua những tư tưởng chỉ đạo có tính định hướng này, các nước thành viên có thể chủ động hơn trong việc xúc tiến các hoạt động thương mại có gắn kết với quyền SHTT cũng như hài hoà hoá Pháp luật Quốc gia với các cam kết quốc tế

2.1.2 Tiêu chuẩn bảo hộ, căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ

2.1.2.1 Tiêu chuẩn bảo hộ

Bản ghi âm là một trong những đối tượng quan trọng nhất của bản quyền, bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm không chỉ bảo vệ quyền của người định hình bản ghi âm đó mà còn gián tiếp bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tác giả cũng như những người biểu diễn các tác phẩm Để được hưởng chế độ đối xử quốc gia của các nước thành viên khác, nhà sản xuất của các bên ký kết phải đáp ứng các tiêu chuẩn về bảo hộ theo các Điều ước quốc tế Điều 5.1 Công ước Rome quy định: “mỗi nước thành viên phải dành sự đối xử quốc gia cho nhà sản xuất bản ghi âm nếu một trong các điều kiện sau được đáp ứng:

° Nhà sản xuất bản ghi âm mang quốc tịch của một nước thành viên khác (tiêu chuẩn quốc tịch);

° Bản ghi âm được công bố lần đầu tại một nước thành viên khác

(tiêu chuẩn nơi công bố)

Như vậy, nguyên tắc đối xử quốc gia sẽ được trao cho nhà sản xuất bản ghi âm nếu nhà sản xuất là công dân của một quốc gia thành viên khác, hoặc bản định hình âm đầu tiên được thực hiện tại một nước thành viên khác, bản ghi âm lần đầu tiên được công bố hay đồng thời được công bố tại một quốc gia thành viên khác

Trang 34

Tiêu chuẩn bảo hộ trên cũng đã được Hiệp ước WPPT kế thừa tại Điều 3 Theo

đó, các bên ký kết sẽ dành sự bảo hộ được quy định theo Hiệp ước này cho những nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các bên ký kết khác, những người đủ tiêu chuẩn bảo hộ được Công ước Rome quy định

Để được bảo hộ, Công ước Geneva quy định: “bất kỳ quốc gia ký kết nào mà vào

ngày 29/10/1971, chỉ dành sự bảo hộ đối với nhà sản xuất bản ghi âm trên cơ sở ghi

âm lần đầu có thể thông qua một thông báo nộp tới Tổng thư ký của WIPO tuyên bố là quốc gia đó áp dụng tiêu chuẩn nơi ghi âm lần đầu này thay về áp dụng tiêu chuẩn quốc tịch của nhà sản xuất bản ghi âm” Với quy định này, Công ước về bản ghi âm

chỉ yêu cầu tiêu chuẩn về quốc tịch như một điều kiện để trao bảo hộ Nhưng trong một

số trường hợp đặc biệt, họ cũng có thể trao sự bảo hộ chỉ dựa trên cơ sở nơi giới thiệu thực hiện bản định hình âm đầu tiên thay vì áp dụng tiêu chuẩn quốc tịch

Từ những quy định trên có thể thấy rằng Công ước Rome đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn lựa chọn mở rộng khả năng được bảo hộ của các bản ghi âm hơn nhiều so với Công ước Bản ghi âm

Tuy nhiên, Điều 5.3 và Điều 17 Công ước Rome lại cho phép bảo lưu những tiêu chuẩn lựa chọn này

Bằng việc gửi thông báo đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, mọi quốc gia thành viên bất kỳ lúc nào cũng có thể tuyên bố rằng Nước mình sẽ không áp dụng tiêu chuẩn nơi công bố hoặc nơi định hình âm Bất kỳ quốc gia nào vào ngày 26/10/1961 chỉ dành

sự bảo hộ đối với nhà sản xuất bản ghi âm trên cơ sở tiêu chuẩn về nơi định hình, có thể loại trừ cả hai tiêu chuẩn về Quốc tịch và nơi công bố Ngoại lệ này giúp cho việc thực thi Công ước Rome có thể thích ứng với các điều kiện bảo hộ đã tồn tại trước đó trong pháp luật các quốc gia thành viên khác

2.1.2.2 Căn cứ xác lập quyền

Không giống như các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (trừ bí mật kinh doanh), quyền của nhà sản xuất bản ghi âm cũng như quyền tác giả và quyền liên quan

nói chung được bảo hộ đương nhiên Điều 20 Hiệp ước WPPT qui định: “Việc hưởng

và thực hiện các quyền được qui định trong Hiệp ước này sẽ không yêu cầu bất kỳ thủ tục hình thức nào”

Điều đó có nghĩa là quyền tác giả, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình trên một hình thức vật chất nhất định không lệ thuộc vào bất kỳ hình thức nào như đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự

Trang 35

Tuy nhiên Điều 5 Công ước Geneva, Điều 11 Công ước Rome lại quy định một

số hạn chế về thủ tục Cụ thể là nếu một quốc gia yêu cầu tuân thủ những thủ tục như là điều kiện để được bảo hộ các quyền liên quan đối với bản ghi âm thì những thủ tục này cần được xem như đã hoàn thành nếu tất cả các bản sao trên thị trường của bản ghi âm

đã công bố hoặc các bao bì của chúng gắn một thông báo có chứa dấu hiệu chữ P cùng với năm công bố đầu tiên

Nếu các bản sao hay bao bì của chúng không xác định rõ nhà sản xuất hoặc bên được li-xăng thì thông báo cũng phải chứa tên chủ sở hữu của nhà sản xuất và nếu các bản sao hay bao bì của chúng không xác định những người biểu diễn chính thì thông báo cũng sẽ phải chứa tên của người sở hữu các quyền của những người biểu diễn đó15 Nhưng cần phải khẳng định rằng nội dung Điều 5 Công ước Geneva, Điều 11 Công ước Rome không phải là những căn cứ để xác lập quyền, không phải là một điều kiện về thủ tục Những quy định trên chỉ là một hạn chế về mặt thủ tục, là thủ tục hình thức mà một số quốc gia đề ra trong pháp luật quốc gia mình

2.1.2.3 Thời hạn bảo hộ

Về thời hạn bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, Điều 4 Công ước

Geneva quy định: “ thực hiện bảo hộ sẽ tuỳ thuộc vào pháp luật quốc gia của mỗi quốc

gia ký kết Tuy nhiên nếu luật pháp quốc gia quy định một thời hạn cụ thể cho sự bảo

hộ này, thì thời hạn đó sẽ không ít hơn 20 năm kể từ khi kết thúc của năm mà các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm được ghi lần đầu hoặc của những năm mà bản ghi âm được công bố lần đầu” 20 năm cũng chính là thời gian bảo hộ tối thiểu đã được ghi

nhận trong Công ước Rome tại Điều 14 Điều 17 Hiệp ước WPPT: “thực hiện bảo hộ

dành cho nhà sản xuất bản ghi âm theo hiệp ước này kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thực hiện 50 năm, tính từ khi kết thúc năm mà bản ghi âm đã được công bố, nếu không có việc công bố này trong vòng 50 năm kể từ khi định hình bản ghi âm, 50 năm tính từ khi kết thúc năm mà việc định hình được thực hiện” Như vậy, thực hiện bảo hộ

theo Hiệp ước WPPT kéo dài hơn so với quy định của Công ước Rome và Công ước Geneva Thực hiện bảo hộ các bản ghi âm theo quy định Hiệp định TRIPs cũng tương

tự như Hiệp ước WPPT, bảo hộ trong 50 năm, tuy nhiên chúng có sự khác biệt về nội dung Theo Điều 14.5 của Hiệp định TRIPs, thời hạn 50 năm luôn được tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà việc ghi âm được tiến hành, trong khi đó, thời hạn mà Hiệp ước WPPT qui định lại được tính kể từ khi kết thúc năm mà bản ghi âm đựơc công bố,

15 Điều 11 Công ước Rome

Trang 36

và chỉ trong trường hợp không được công bố thì thời hạn mới được tính theo Hiệp định TRIPs Do việc công bố thường diễn ra sau khi định hình nên thời hạn tính theo Hiệp ước WPPT nhìn chung là dài hơn Hiện nay thời hạn 50 năm là mức bảo hộ phổ biến

được áp dụng hầu hết các nước trên thế giới

2.1.3 Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

Trước vai trò là cầu nối giữa các tác phẩm nghệ thuật với đông đảo công chúng,

quyền lợi của nhà sản xuất băng, đĩa âm thanh đã được thừa nhận rộng rãi và trở thành một lĩnh vực quan trọng trong Sở hữu trí tuệ Nhà sản xuất bản ghi âm có các quyền

sau:

2.1.3.1 Quyền sao chép

Để bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, Công ước Geneva qui định: “Mỗi

Quốc gia ký kết sẽ bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm là công dân của các quốc gia ký kết khác chống lại việc làm bản sao mà không được sự đồng ý của nhà sản xuất bản ghi

âm đó và chống lại việc nhập khẩu các bản sao đó với điều kiện là việc làm bản sao hoặc nhập khẩu đó là nhằm mục đích phân phối tới công chúng, và chống lại việc phân phối các bản sao đó từ công chúng” (Điều 2,Công ước Geneva)

Với qui định trên, Công ước Geneva đã trao sự bảo hộ không chỉ chống lại việc sao chép các bản ghi âm mà còn chống lại việc phân phối các bản sao bất hợp pháp và việc nhập khẩu các bản sao như vậy để phân phối

Đối với việc sao chép bản ghi âm, qui định của Hiệp định TRIPs và Công ước

Rome về cơ bản là giống nhau Điều 14.2 Hiệp định TRIPs qui định: “Những người

sản xuất bản ghi âm phải có quyền cho phép hoặc cấp việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm của họ” Các Công ước này không qui định về quyền cho phép

biểu diễn các bản ghi âm và không dứt khoát ngăn cấm việc phân phối hay nhập khẩu những bản sao ghi âm trái phép như Công ước Geneva Bên cạnh đó, độc quyền cho phép sao chép của nhà sản xuất cũng được áp dụng đầy đủ trong môi trường kỹ thuật

số và được Hiệp ước WPPT kế thừa tại Điều 11: Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng độc quyền cho phép sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm của họ trong bất kì cách thức hoặc hình thức nào

2.1.3.2 Quyền được hưởng thù lao

Liên quan tới một loại quyền nữa của nhà sản xuất bản ghi âm, Điều 12 Công ước Rome qui định rằng nếu một bản ghi âm đã được công bố vì mục đích thương mại được sử dụng trực tiếp để phát sóng hoặc cho bất kì sự truyền đạt nào tới công chúng

Trang 37

thì người sử dụng sẽ phải trả một khoản tiền thù lao hợp lý cho người biểu diễn hoặc nhà sản xuất bản ghi âm hoặc cho cả hai Như vậy Điều 12 không trao cho nhà sản xuất bản ghi âm quyền được phép hay ngăn cấm việc sử dụng thử phát một bản ghi âm (như phát thanh, truyền hình hoặc truyền thông đại chúng dưới bất kì hình thức nào) Họ được nhận một khoản tiền thù lao do bản ghi âm của mình được sử dụng Quy định này dường như đã thiết lập một loại li-xăng không tự nguyện Điều 12 cũng quy định nếu các bên không có sự thoả thuận thì luật pháp quốc gia, tuỳ theo lựa chọn, có thể đưa ra các điều kiện phân chia khoản tiền thù lao này

Tuy nhiên, việc thực thi những quy định này có thể bị các quốc gia thành viên hạn chế hay loại trừ vào bất kì thời điểm nào bằng một thông báo thích hợp (điều 16.1, Công ước Rome) Theo đó, một quốc gia thành viên có thể tuyên bố quốc gia mình sẽ không áp dụng điều 12, hoặc sẽ bảo lưu trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như đối với việc truyền đạt tới công chúng trừ trường hợp phát sóng hoặc phát sóng một bản ghi âm trước ngày công ước có hiệu lực Quốc gia đó cũng có thể áp dụng điều khoản này chỉ đối với các bản ghi âm của nhà sản xuất là công dân của một quốc gia thành viên khác Bên cạnh đó, đối với những bản ghi âm của nhà xuất là công dân của một quốc gia thành viên, phạm vi và thời hạn bảo hộ cũng có thể bị hạn chế để tương ứng với sự bảo hộ mà quốc gia liên quan khác đã trao

2.1.3.3 Quyền cho thuê thương mại đối với bản ghi âm

Với mục đích đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích hợp pháp của nhà sản xuất bản ghi

âm và lợi ích thiết yếu của mỗi quốc gia, Hiệp định TRIPs cho phép các nước thành viên áp dụng cơ chế cho thuê mang tính thương mại mà không cần xin phép để phục vụ nhu cầu trong nước Độc quyền cho thuê nhằm mục đích thương mại được đề cập cụ thể trong điều 14.4 Hiệp định TRIPs Theo đó, những người sản xuất bản ghi âm có quyền cho phép hoặc cấm việc cho công chúng thuê các bản ghi âm nhằm mục đích thương mại Quy định này đã được đề cập trong HƯ.WPPT Điều 13 Hiệp ước này quy định: “Nhà sản xuất bản ghi âm được hưởng độc quyền cho phép thuê thương mại tới công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm của mình, thậm chí sau khi chúng được phân phối bởi hoặc theo sự cho phép của nhà sản xuất” Cả hai Công ước đều quy định, đối với những nước trước đó đã có một hệ thống trả tiền thù lao tương xứng cho nhà sản xuất bản ghi âm đối với việc cho thuê bản ghi âm, họ có thể được duy trì chế độ đó với điều kiện là việc cho thuê thương mại bản ghi âm không làm phương hại về vật chất đối với độc quyền sao chép của chủ sở hữu

Trang 38

2.1.3.4 Quyền cung cấp và phân phối bản ghi âm

Liên quan tới việc công bố, phổ biến tác phẩm, truyền tải tác phẩm trong mạng lưới kĩ thuật số, Hiệp ước WPPT quy định: “ nhà sản xuất bản ghi âm có độc quyền cho phép cung cấp tới công chúng bản ghi âm của họ, bằng phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến, theo cách thức mà các thành viên trong cộng đồng có thể truy cập từ một địa điểm và tại bất kì thời điểm nào do họ lựa chọn (điều 14, Hiệp ước WPPT) Các thành viên cũng phải có nghĩa vụ cấp độc quyền phân phối cho các nhà sản xuất Những bản gốc và bản sao của bản ghi âm sẽ được phân phối chỉ bởi nhà sản xuất thông qua việc bán hoặc hình thức chuyển nhượng khác ( Điều 12, Hiệp ước WPPT) Đây là những quyền mới lần đầu tiên được ghi nhận trong các cam kết quốc tế về quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, và là những nghĩa vụ mới đối với những nước tham gia Hiệp ước

Từ những phân tích trên, nếu so sánh những quy định của WPPT với các quy định tương ứng của Công ước Rome, Công ước Geneva và Hiệp định TRIPs, ta thấy rằng WPPT quy định khá chi tiết về vấn đề quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, WPPT đã đặt ra một phạm vi quyền bảo hộ rộng nhất so với các Điều ước còn lại

Như vậy, theo các cam kết này, nhà sản xuất bản ghi âm sẽ được trao độc quyền sao chép, phân phối, cung cấp, cho thuê thương mại bản ghi âm và được nhận thù lao

từ các hoạt động này Các cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đài phát thanh có nhu cầu sử dụng các bản ghi âm của các nước thành viên Công ước, phải liên hệ với các đối tác để xin phép, thoả thuận về việc sử dụng

Tuy nhiên, các cam kết quốc tế này cũng đã đề cập tới một số hạn chế nhất định trong các quyền của nhà sản xuất bản ghi âm Ngoại lệ được đặt ra đối với những hành

vi sử dụng cá nhân nhằm mục đích giảng dạy, nghiên cứu hay trích dẫn, đưa tin thời

sự, sử dụng các bản ghi âm tạm thời (điều 15 Công ước Rome, điều 16 Hiệp ước WPPT, điều 13 Hiệp định TRIPs) Những ngoại lệ được đặt ra đối với những hành vi phi thương mại nói trên được coi là những hạn chế quyền vì lợi ích đặc biệt của các nước đang phát triển Nhưng cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những hạn chế, ngoại lệ này chỉ được quy định trong những trường hợp nhất định và không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường một tác phẩm và không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người nắm quyền

Trang 39

2.1.4 Các quy định về thực thi quyền

Cơ chế bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi âm thông qua việc thực thi quyền

hướng tới mục tiêu chính là bảo đảm một mức độ tương ứng về bảo hộ quyền ở các Quốc gia thành viên với các mục tiêu khác như: (i) Kích thích đầu tư sáng tạo; (ii) Ngăn chặn những thất thoát về thuế; (iii) Thúc đẩy sự phát triển kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp giải trí;(iv) Bảo hộ người tiêu dùng; (v) Đảm bảo duy trì trật tự

công cộng

Xuất phát từ vai trò quan trọng của cơ chế thực thi quyền trong việc bảo hộ quyền

Sở hữu trí tuệ, pháp luật quốc tế đã có khá nhiều quy định về vấn đề này Công uớc Rome 1961, Hiệp ước WPPT về biểu diễn và ghi âm cùng quy định các bên ký kết phải ban hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo việc áp dụng các Công ước này phù hợp với hệ thống pháp luật nước mình Các thành viên đó cũng phải bảo đảm các thủ tục thi hành đó đã phải có sẵn trong pháp luật nước mình và phải ở trong tình trạng có thể thực hiện được16

Điều 3 Công ước về Bản ghi âm cũng đã khẳng định pháp luật các quốc gia thành viên phải đề ra các biện pháp để thực thi Công ước Các biện pháp đó bao gồm việc bảo hộ:

Ø bằng cách cấp bản quyền tác giả cho các bản ghi âm;

Ø bằng cách cấp các quyền cụ thể khác;

Ø bằng luật liên quan tới cạnh tranh không lành mạnh;

Ø hoặc bằng chế tài hình sự

Tuy nhiên, cần phải nói rằng các Công ước, Hiệp ước trên chỉ nêu ra những vấn

đề chung về thực thi quyền mà không đi sâu vào chi tiết các biện pháp thực thi.Điều này gây nhiều khó khăn cho việc thống nhất áp dụng trên thực tế, Hiệp định TRIPs ra đời đã khắc phục hạn chế này Các quy định về thực thi theo các cam kết quốc tế, vì thế

sẽ được đề cập ở Hiệp định TRIPs

Hiệp định TRIPs đã dành cả phần III, từ Điều 41 đến Điều 64 để quy định về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ, bao gồm hai phần chính: Thứ nhất, quy định về các yêu cầu chung đối với hệ thống pháp luật của các bên ký kết về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ; Thứ 2, quy định về các yêu cầu cụ thể về thủ tục dân sự, hành chính, hình sự và các biện pháp kiểm soát biên giới Đây cũng chính là các quy định về thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi âm

16 Điều 26 Công ước Rome, Điều 23 Hiệp ước WPPT

Trang 40

2.1.4.1 Các yêu cầu chung về việc thực thi quyền của nhà sản xuất bản ghi

âm

Điều 14 Hiệp định TRIPs yêu cầu các bên ký kết có nghĩa vụ quy định trong luật quốc gia các thủ tục thực thi cho phép chống lại có hiệu quả các hành vi xâm phạm quyền Quy định này cũng đã được đề cập tại Điều 23 Hiệp ước WPPT

Điều 26 Công ước Rome Điều 42, Hiệp định TRIPs cũng quy định các thủ tục thực thi trong pháp luật quốc gia chỉ được coi là có hiệu quả khi đáp ứng các yêu cầu sau:

Thứ nhất: Phải bao gồm các biện pháp kịp thời để ngăn chặn xâm phạm và các

chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, không để các hành vi xâm phạm tiếp diễn;

Thứ hai: Việc áp dụng các thủ tục thực thi phải không gây cản trở đối với hoạt

động thương mại chính đáng và có các biện pháp bảo vệ có hiệu quả chống lại sự lạm dụng của chủ thể quyền Yêu cầu này được đưa ra nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa việc bảo hộ quyền của các nhà sản xuất bản ghi âm và quyền của các bên liên quan cũng như của xã hội nói chung

Hai yêu cầu trên có thể được coi là nguyên tắc có tính chất chỉ đạo và cơ bản nhất cho hoạt động thực thi, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các quốc gia trong việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền

Thứ 3: Các thủ tục thực thi phải đúng đắn và công bằng, không được quá phức tạp

hoặc tốn kém và không có những giới hạn bất hợp lí về thời gian cũng như sự chậm trễ không chính đáng

Thứ 4: Các quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính và thủ tục xét xử

phải được thể hiện bằng văn bản và nêu rõ các lí do là căn cứ của các quyết định đó Các quyết định giải quyết vụ việc chỉ dựa trên chứng cứ mà các bên liên quan đã đưa

ra

Thứ 5: Các bên tham gia khiếu kiện phải có quyền yêu cầu cơ quan tư pháp xem

xét lại các quyết định hành chính theo thủ tục tư pháp

Thứ 6: Hệ thống tư pháp để thực thi các quyền không phải tách biệt với hệ thống

tư pháp để thực thi pháp luật nói chung

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w