1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC SẢN XUẤT, KINH DOANH DO VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG .... Nhận thức của người tiêu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Cần Thơ, tháng 04/2010
04/2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Cần Thơ, tháng 04/2010
04/2010
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
˜ & ™
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
˜ & ™
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC SẢN XUẤT, KINH DOANH DO VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 3
1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng 3
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng theo pháp luật các nước 3
1.1.2 Khái niệm người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam 4
1.1.3 Quyền của người tiêu dùng 6
1.2 Khái niệm cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh 7
1.3 Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và chức năng của chế định 8
1.4 Lịch sử phát triển của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 11
1.5 Khái niệm về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 13
1.5.1 Định nghĩa 14
1.5.2 Đặc điểm 14
1.6 Tầm quan trọng của quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 16
CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC SẢN XUẤT, KINH DOANH DO VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 18
2.1 Trách nhiệm đảm bảo chất lượng hàng hóa của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh 18
2.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người tiêu dùng 21
2.3 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 22
2.3.1 Có thiệt hại xảy ra 23
2.3.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật 24
2.3.3 Có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại 25
2.3.4 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật 27
2.4 Những thiệt hại phải bồi thường khi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 29
2.4.1 Thiệt hại về tài sản 29
2.4.2 Thiệt hại về sức khỏe 30
2.4.3 Thiệt hại về tính mạng 33
2.5 Nguyên tắc bồi thường 35
2.5.1 Trường hợp giảm mức bồi thường 36
2.5.2 Trường hợp được thay đổi mức bồi thường 37
2.6 Các trường hợp nhà sản xuất, người nhập khẩu, người bán hàng không phải bồi thường thiệt hại 38
2.7 Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và vai trò của các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc giải quyết khiếu nại cho người tiêu dùng 41
2.8 Cánh thức khiếu nại, khởi kiện khi quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng bị xâm phạm 43
2.9 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại 44
Trang 6CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP 46
3.1 Thực trạng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 46
3.2 Một số giải pháp 53
KẾT LUẬN 56
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việc tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO đã mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội mới, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại hàng hóa Các sản phẩm phục vụ người tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng về
cả kiểu dáng, công dụng, chất lượng Do đó, người tiêu dùng ngày càng có thêm nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm, hàng hóa phù hợp với nhu cầu và túi tiền của mình Ngày Quốc tế người tiêu dùng năm nay với chủ đề “Tiền của chúng ta, Quyền của chúng ta”, nhưng thực tế người tiêu dùng có tiền chưa chắc có quyền Bởi vì, bên cạnh những doanh nghiệp không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm để giữ vững thương hiệu, thu hút người tiêu dùng thì lại có khá nhiều những doanh nghiệp có hành vi kinh doanh gian dối chỉ nhằm vào mục đích lợi nhuận đã gây ra không ít thiệt hại cho người tiêu dùng Hiện nay, vấn đề quyền lợi người tiêu dùng bị xâm phạm đang là một vấn đề nổi cộm và hết sức nóng bỏng
Trong khi đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một lĩnh vực còn khá mới
mẻ ở Việt Nam, các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn chưa đồng bộ và khó thực thi Nhận thức của người tiêu dùng về những quyền và lợi ích của mình còn hạn chế, đặc biệt là quyền yêu cầu bồi thường khi bị thiệt hại do sản phẩm không đảm bảo chất lượng là một quyền hết sức quan trọng nhưng lại bị người tiêu dùng
bỏ quên do các quy định của luật còn rườm rà, phức tạp, hơn nữa một phần không nhỏ những doanh nghiệp còn chưa ý thức về trách nhiệm bảo đảm chất lượng sản phẩm hàng hóa đối với người tiêu dùng, các vụ việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng đang ngày càng gia tăng theo chiều hướng phức tạp
Do đó, để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và cộng đồng các doanh nghiệp, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng nên đề tài được chọn là “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài chủ yếu xoay quanh vấn đề trách nhiệm bồi thường của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh khi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, những thực trạng tồn tại và một số giải pháp Đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm người tiêu dùng, khái niệm
cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh và như thế nào là bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh Bên cạnh đó, nội dung chính của đề tài là vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá
Trang 8nhân, tổ chức sản xuất,kinh doanh, những thiệt hại phải bồi thường cho người tiêu dùng
và một số trường hợp miễn trách Từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong vấn đề này
3 Phạm vi nghiên cứu
Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa đã được quy định cụ thể trong bộ luật dân sự 2005 nó bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong và ngoài hợp đồng Nếu giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất kinh doanh có mối quan hệ hợp đồng thì nếu có tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết theo các quy định của pháp luật về hợp đồng Ngược lại, nếu các bên không có mối quan hệ hợp đồng hoặc thiệt hại phát sinh cho người tiêu dùng không liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thì khi ấy sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa của nhà sản xuất, kinh doanh đối với người bị thiệt hại
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu nói về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh khi vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa gây thiệt hại cho người tiêu dùng Từ đó tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong quy định của pháp luật về vấn đề này để đưa ra các giải pháp thích hợp giúp nâng cao trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh đối với vấn đề đảm bảo chất lượng hàng hóa phục vụ người tiêu dùng
Chương 3: Thực trạng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng và một số giải pháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp sưu tầm và phân tích tài liệu từ luật, giáo trình, sách báo và các trang web Sau đó sử dụng phương pháp phân tích luật viết, phương pháp đối chiếu, so sánh các tài liệu này với nhau
và với quan điểm của một số quốc gia khác, cùng với các biện pháp suy lý để rút ra kết luận Bên cạnh đó, phương pháp trích lọc ý kiến của các nhà luật học, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng từ một số tài liệu sách báo cũng được sử dụng
để bài viết thêm sinh động và mang tính thực tế hơn Nếu có sai sót kính mong quý thầy
cô và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để bài ngày càng hoàn thiện hơn Xin chân thành cám ơn!
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC SẢN XUẤT, KINH DOANH DO VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng
Khi xem xét đến vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, điều quan trọng đầu tiên cần làm rõ là khái niệm về người tiêu dùng Việc xác định thế nào là người tiêu dùng sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi áp dụng pháp luật
Người tiêu dùng xuất hiện từ rất lâu nhưng khái niệm người tiêu dùng, với tư cách khái niệm pháp lý, chỉ mới xuất hiện phổ biến từ khoảng những năm 1960 trở lại đây Khi
đó, “người tiêu dùng được hiểu là người mua, người sử dụng hàng hóa cho các mục đích không phải là mục đích thương mại” Người mua hàng hóa, dịch vụ làm sản phẩm trung gian nhằm phục vụ quá trình sản xuất hoặc cung ứng lại cho người khác sẽ không được xem là người tiêu dùng Do đó, người tiêu dùng phải là thể nhân, không thể là tổ chức Đây là một trong những khái niệm chung nhất được nhiều quốc gia chấp nhận1
Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau lại có quan niệm khác nhau về khái niệm thế nào là người tiêu dùng Để thấy được vấn đề này chúng ta cần tìm hiểu một cách khái quát về quan niệm về người tiêu dùng theo pháp luật một số quốc gia
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng theo pháp luật các nước
Theo bảng hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Tổ chức Quốc Tế người tiêu dùng (Consumers international- CI) của Liên Hiệp Quốc thì người tiêu dùng là người yêu cầu hay sử dụng hàng hóa dịch vụ cho những mục đích cá nhân trong gia đình Đây là khái niệm chung nhất về người tiêu dùng Như vậy, người tiêu dùng không chỉ là người yêu cầu mà còn là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ, tuy nhiên việc sử dụng hàng hóa dịch
vụ này chỉ nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân, gia đình vì vậy khái niệm đã làm hạn chế
đi những chủ thể sử dụng hàng hóa dịch vụ vào mục đích tập thể
Theo Luật bảo vệ người tiêu dùng của Thái Lan 1979 thì người tiêu dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa dịch vụ của nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hóa dịch vụ của nhà kinh doanh Tuy nhiên luật của Thái Lan vẫn chưa đề cập đến mục đích sử dụng
1
Ts Dương Thị Thanh Mai, Tổng thuật hội thảo Cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng thực tiễn Việt Nam và kinh
nghiệm quốc tế, Thông tin khoa học pháp lý, số 4 &5, năm 2007, trang 5
Trang 11Theo Luật bảo vệ người tiêu dùng 1987 của Vương Quốc Anh và Luật bảo vệ người tiêu dùng Bang Québec (Canada) 1987 thì người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ cho các mục đích tiêu dùng mà không phải là mục đích thương mại
Theo luật bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ 1986 thì người tiêu dùng được coi là bất cứ người nào, bao gồm người mua hàng hoặc thuê dịch vụ có trả tiền, đã thanh toán hoặc hứa thanh toán có thể một phần hoặc theo cách trả dần
Theo luật bảo vệ người tiêu dùng Malaysia năm 1999 thì:
“Người tiêu dùng” là người:
(a) Nhận được hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho mục đích cá nhân, sử dụng trong hộ gia đình, sử dụng hoặc tiêu dùng
(b) Không sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc dùng hàng hóa dịch vụ vào mục đích
(i) Cung cấp lại vì mục đích thương mại
(ii) Tiêu dùng chúng vào quá trình sản xuất
(iii) Trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ sửa chữa hoặc xử lý, các hàng hóa và tài sản gắn liền với đất khác
Tuy mỗi quốc gia có quy định khác nhau về khái niệm người tiêu dùng, nhưng nhìn chung pháp luật các nước đều dựa vào mục đích sử dụng để xác định như thế nào là người tiêu dùng
1.1.2 Khái niệm người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam
Trong một nền kinh tế, bên cạnh mối quan hệ giữa các nhà sản xuất với nhau thì quan hệ kinh tế chủ yếu là mối quan hệ giữa người tiêu dùng với nhà sản xuất, kinh doanh, hàng hóa dịch vụ Sức mua, sức tiêu thụ hàng hóa của người tiêu dùng chính là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, người tiêu dùng ở những lĩnh vực nhất định sẽ có những hiểu biết kém hơn so với nhà sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực chuyên môn Vì vậy, trong mối quan hệ với nhà sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng ít nhiều sẽ rơi vào yếu thế Do đó, cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, pháp luật Việt Nam là một công cụ chủ yếu để bảo vệ người tiêu dùng Khái niệm người tiêu dùng được luật hóa từ pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999, theo Điều 1 của Pháp lệnh thì “người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” Như vậy, không phải tất cả những người mua,
sử dụng hàng hóa dịch vụ đều được gọi là người tiêu dùng mà còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng của họ, người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vào những mục đích sau đây được gọi là người tiêu dùng:
Sử dụng hàng hóa, dịch vụ vào mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình
Trang 12Ví dụ: A mua xe máy để phục vụ cho việc đi lại của mình
Sử dụng hàng hóa, dịch vụ vào mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của tổ chức
Ví dụ: Đại học Cần Thơ mua máy in, máy vi tính phục vụ cho việc học tập của sinh
viên
Nói tóm lại, người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm phục
vụ cho mục đích tiêu dùng, người mua, sử dụng hàng hóa nhằm mục đích sinh lợi, hay nói cách khác ngoài mục đích tiêu dùng, sinh hoạt sẽ không thuộc đối tượng được bảo vệ của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999
Bên cạnh đó, khái niệm người tiêu dùng theo dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng được quy định như sau: Người tiêu dùng là các cá nhân, tổ chức mua hoặc sử dụng hợp pháp hàng hóa dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh Như vậy, cá nhân, tổ chức mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ được gọi là người tiêu dùng nếu thỏa hai yếu tố:
- Việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ phải hợp pháp
- Hàng hóa, dịch vụ được sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh
Như vậy, theo dự thảo cá nhân, tổ chức sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì lợi nhuận, vì mục đích kinh doanh thương mại sẽ không được gọi là người tiêu dùng, và do đó sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà sẽ tuân theo những quy định của Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005
Nhìn chung, khái niệm người tiêu dùng theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999 và dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có điểm tương đồng là đều dựa vào mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ để xác định cá nhân, tổ chức mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ có phải là người tiêu dùng hay không Tuy Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng có cách diễn đạt khác nhau về câu chữ nhưng đều có quy định chung về người tiêu dùng là người không sử dụng hàng hóa, dịch vụ vào mục đích sinh lợi Tuy nhiên, khái niệm người tiêu dùng theo quy định của dự thảo có phần rõ ràng và cụ thể hơn về chủ thể tiêu dùng là cá nhân, tổ chức mua,
sử dụng hàng hóa dịch vụ, bên cạnh đó dự thảo còn ràng buột điều kiện là việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó phải hợp pháp thì mới được luật bảo vệ Hơn nữa, khái niệm người tiêu dùng của dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng có thể nói là rộng hơn khái niệm người tiêu dùng trong pháp lệnh Nếu pháp lệnh chỉ giới hạn mục đích sử dụng chỉ là mục đích tiêu dùng, sinh hoạt để xác định thế nào là người tiêu dùng, thì dự thảo lại có phạm vi xác định như thế nào là người tiêu dùng rộng hơn, chỉ cần sử dụng hàng hóa hợp pháp và không nhằm mục đích kinh doanh nghĩa là không chỉ bao gồm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt mà còn bao gồm những mục đích khác chỉ cần đó không phải là mục đích kinh doanh, sinh lợi thì đều thuộc đối tượng được luật bảo vệ
Trang 13Ví dụ: Đại học Cần Thơ mua một sản phẩm về sử dụng trong phòng thí nghiệm của
trường Trong trường hợp này:
Theo pháp lệnh thì Đại học Cần Thơ không phải là người tiêu dùng, không thuộc đối tượng được bảo vệ của Pháp lệnh
Ngược lại, theo dự thảo Luật thì Đại học Cần Thơ vẫn được coi là người tiêu dùng, vẫn thuộc đối tượng bảo vệ của luật
1.1.3 Quyền của người tiêu dùng
Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành một yếu tố mang tính chất quốc tế Chấp nhận kinh tế thị trường là chấp nhận cạnh tranh Môi trường cạnh tranh góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các sản phẩm phục vụ người tiêu dùng ngày càng phong phú và hiện đại Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng phấn đấu, cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm để thu hút sự quan tâm
và thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Bởi vì, sức mua của người tiêu dùng chính là yếu tố quan trọng quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn chân chính, vừa có tâm vừa có tài, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để thu hút, phục vụ người tiêu dùng, giữ vững thương hiệu, thì lại có không ích những doanh nghiệp chỉ vì mục đích lợi nhuận, luôn tìm mọi cách để sản xuất
ra những sản phẩm với giá thành thấp và thu được lợi nhuận cao mà không quan tâm đến những lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, thậm chí họ còn sản xuất ra hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng…làm cho người tiêu dùng phải khốn đốn vì mua phải những sản phẩm đó, thậm chí tiền mất tật mang phải chịu những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe…Chính vì lẽ đó, hàng loạt những văn bản quy phạm pháp luật đã ra đời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng thấy được những quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời giúp các doanh nghiệp thấy được trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng Hai văn bản quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng là Pháp lệnh 13/1999/PL-UBTVQH 10 bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 27 tháng 04 năm 1999 và Nghị định 55/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24 tháng 04 năm 2008 Quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Quyền của người tiêu dùng được quy định cụ thể tại pháp lệnh UBTVQH như sau:
13/1999/PL-Người tiêu dùng có quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ; được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ; được bảo đảm
an toàn về tính mạng, sức khỏe và môi trường khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ; được hướng dẫn những hiểu biết cần thiết về tiêu dùng
Trang 14Người tiêu dùng có quyền đòi bồi hoàn, bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật đối với việc sản xuất kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng và việc thông tin quảng cáo sai sự thật
Người tiêu dùng có quyền đóng góp ý kiến trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện đúng trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Người tiêu dùng có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa, dịch vụ thuộc nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường và các hàng hóa, dịch vụ khác đã đăng ký, công
1.2 Khái niệm cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh
Theo Nghị định 55/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 24 tháng 04 năm
2008 Quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Điều 3 khoản
1 nghị định quy định:
Tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc một số công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi bao gồm cả tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và phân phối hàng hóa, dịch vụ
Bên cạnh đó, Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007 Điều 3 Khoản 6 có quy định:
Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh là tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc sản xuất (sau đây gọi là người sản xuất), nhập khẩu (sau đây gọi là người nhập khẩu), bán hàng, cung cấp dịch vụ (sau đây gọi là người bán hàng)
Như vậy, nói tóm lại, các chủ thể thực hiện hành vi thương mại vì mục đích sinh lợi được gọi chung là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm người sản xuất, người nhập khẩu và người bán hàng
Trang 151.3 Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và chức năng của chế định
* Khái niệm
Trong lịch sử pháp luật thế giới, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự Trải qua các thời kỳ lịch sử và ở những nước khác nhau, quy định về người phải bồi thường, cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường cũng như mức độ bồi thường có sự khác biệt Vấn đề này phụ thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại Việc áp dụng trách nhiệm này trong các thời kỳ lịch sử loài người nói chung và pháp luật, luật tục La Mã nói riêng theo hướng: từ sự trả thù cá nhân nhằm vào nhân thân của người gây thiệt hại do người thiệt hại và những người thân của họ áp dụng Phương thức này được chuyển dần sang hình thức nộp phạt cho người bị thiệt hại do người bị thiệt hại qui định (cưỡng chế cá nhân) đến phạt tiền bồi thường thiệt hại do các pháp quan thay mặt Nhà nước quy định được áp dụng theo trình tự tố tụng Mức độ và cách thức bồi thường cũng được qui định rất khác nhau từ phương thức “máu trả máu, mắt trả mắt” đến hình thức phạt tiền theo một tiêu chí chung do pháp luật qui định
Các bộ luật cổ của Việt Nam cũng quy định về trách nhiệm dân sự theo hình thức tương tự nhưng không quy định riêng về trách nhiệm dân sự Các quy định về hình phạt mang tính chất hình sự và phạt mang tính chất dân sự đều theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại như một khoản bồi thường2
Do sự phát triển của xã hội, các chế định pháp luật cũng dần thay đổi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài sản của người bị thiệt hại
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong luật dân sự Theo quy định tại Điều 281 Bộ luật dân sự năm 2005 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại chương XXI, phần thứ ba Bộ luật dân sự “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thừơng thiệt hại ngoài hợp đồng Trong trường hợp này trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với “nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật” Điều
2
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 2, nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2007,
trang 253
Trang 16604 Bộ luật dân sự đã xác định sự đồng nghĩa này bằng quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tính, tài sản… mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa
vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với khái niệm nghĩa vụ được quy định tại Điều 281 Bộ luật dân sự: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền)” Từ quy định này có thể nêu khái niệm về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại như sau:
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra
Ví dụ: A mua sản phẩm dưỡng da của hãng mỹ phẩm X tại một siêu thị, trong quá
trình sử dụng do sản phẩm có chất làm ẩm không phù hợp với da nhờn nhưng hãng mỹ phẩm X đã không có thông tin khuyến cáo với người tiêu dùng dẫn đến A là một người có
da nhờn đã mua và sử dụng, kết quả là da của A bị dị ứng Do đó, A có thể khởi kiện yêu cầu công ty X bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể là bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Trong quan hệ nghĩa vụ này, chủ thể tham gia có thể là công dân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Trong một số trường hợp, các cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ
Người bị thiệt hại (người có quyền) và người gây ra thiệt hại (người có nghĩa vụ) là các bên tham gia vào quan hệ nghĩa vụ đó Bên có quyền cũng như bên có nghĩa vụ có thể
có một hoặc nhiều người tham gia Nghĩa vụ, hoặc quyền của họ có thể là liên đới, riêng
rẻ, hoặc theo phần tùy điều kiện hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại
Khách thể của quan hệ nghĩa vụ này luôn thể hiện dưới dạng “hành động” phải thực hiện hành vi “bồi thường” cho người bị thiệt hại Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho các chủ thể khác Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thể hiện trong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, để phân biệt với trách nhiệm theo hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dựa trên cơ sở thiệt hại đã xảy ra, lỗi chỉ là cơ sở trách nhiệm chứ không phải là thước đo để xác định mức độ trách nhiệm Việc xem xét đến mức độ lỗi được đặt ra trong trường hợp thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây ra thiệt hại Mặt khác lỗi là yếu tố
Trang 17cấu thành trách nhiệm dân sự nhưng ngoại trừ trường hợp cố ý, còn tất cả trường hợp khác chỉ cần người gây ra thiệt hại nhận thức được hành vi của họ là trái với những quy tắc xử sự chung, có thể bị mọi người lên án là trái đạo đức đều bị coi là có lỗi Do đó, trong luật dân sự quy định một nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà không quy định những hành vi nào là có lỗi và phải chịu chế tài Nếu người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho cá nhân hoặc các tổ chức thì họ phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên (bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại) có quan hệ hợp đồng và thiệt hại phải do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã gây ra Trong trường hợp các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trách nhiệm này là trách nhiệm ngoài hợp đồng Trong trường hợp gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng Trong thực tiễn xét xử đều áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đây là áp dụng tương tự pháp luật, vì trong các quy định chung về nghĩa vụ không có các quy định cụ thể
* Chức năng của chế định
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm những chức năng chính sau:
Thứ nhất, đảm bảo việc đền bù tổn thất cho người bị thiệt hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể bị xâm hại
Thứ hai, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của công dân, giáo dục, răn đe đối với những người có hành vi gây thiệt hại, đảm bảo trật tự xã hội
3
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 2, nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2007,
trang 256-260
Trang 18Thứ ba, giáo dục công dân ý thức tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Thực chất chế định bồi thường thiệt hại là quy tắc phân bổ lại thiệt hại trong xã hội giữa các chủ thể có liên quan (tức là người gây thiệt hại, người bị thiệt hại hay một bên thứ ba nào khác) Chế định này còn có chức năng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật (chức năng phòng ngừa) Chức năng này nhằm làm cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội
ý thức được rằng nếu họ gây thiệt hại cho chủ thể khác, không những họ sẽ không đươc khuyến khích mà còn phải gánh chịu hậu quả bất lợi, thì họ sẽ phải có ý thức kiềm chế hành vi gây thiệt hại4
Như vậy, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng góp phần nâng cao tính trách nhiệm ứng xử của mỗi công dân trong xã hội
1.4 Lịch sử phát triển của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là một trường hợp cụ thể của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Do đó, để hiểu rõ về vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trước hết chúng ta cần tìm hiểu về lịch sử phát triển của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để có thể hiểu rõ hơn
về quá trình phát triển, hoàn thiện của chế định Sau đây là một số tóm lược về các giai đoạn phát triển của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dưới thời Lê, Nguyễn
Nghiên cứu pháp luật thời Lê (Quốc triều hình luật) và pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ), chúng ta nhận thấy các chế định về trách nhiệm dân sự được quy định sơ sài và tản mạn Các quy định này không phân biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự Chế tài hình sự được quy định trước hết nhằm trừng phạt kẻ nào đã xâm phạm vào tài sản hoặc nhân thân của người khác, ngoài hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại xảy ra Thiệt hại được đề cập đến trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ bao gồm cả thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần Pháp luật phong kiến quy định về phương thức bồi thường thiệt hại cũng tương tự như dân luật hiện đại: thiệt hại xảy ra có thể bồi thường bằng hiện vật, bằng tiền, bằng tài sản khác hoặc một khoản tiền cấp dưỡng
Sở dĩ không có sự phân biệt rõ giữa hình luật và dân luật trong Quốc triều hình luật
và Hoàng Việt luật lệ, trước hết vì nó được ban hành là nhằm phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị, để duy trì và bảo vệ sự tồn tại của nền quân chủ, không chú trọng vào việc quy định việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân Do ảnh hưởng sâu sắc
4
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2007/10/14/0766/ truy cập ngày 08/01/2001
Trang 19của tư tưởng Nho giáo Trung Hoa Theo tư tưởng này, trong xã hội mọi người đều hành động như hiền nhân, quân tử, giữa họ không thể có những tranh chấp về quyền lợi Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho chế định trách nhiệm dân sự quy định rất tản mạn và không đầy đủ trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ5
* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dưới thời Pháp thuộc
Năm 1958, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược Việt Nam, nhà Nguyễn
đã thỏa hiệp và từng bước tiến tới đầu hàng thực dân Pháp
Thời kỳ Pháp thuộc, do tiếp thu sự tiến bộ của khoa học pháp lý phương Tây, trách nhiệm dân sự được tách khỏi trách nhiệm hình sự Những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong hai bộ luật: Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
Điều 712 Dân luật Bắc kỳ và Điều 716 Hoàng Việt trung kỳ hộ luật quy định: người nào làm bất cứ việc gì gây thiệt hại cho người khác do lỗi của mình đều phải bồi thường thiệt hại Thiệt hại được quy định trong hai bộ luật Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt trung kỳ luật hộ cũng được chia ra thành thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần6 Thiệt hại vật chất là những thiệt hại thực tế, tính được thành tiền Về thiệt hại tinh thần pháp luật bảo hộ quyền của người dân trong việc khai sinh, khai tử, kết hôn Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tinh thần trong việc từ hôn
Từ thời Lê, Nguyễn đến thời Pháp thuộc chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã dần được hoàn thiện Đặc biệt là trong thời kỳ Pháp thuộc trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự được phân biệt rõ ràng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định cụ thể về các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự và có sự quy định cụ thể về thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần Từ đó tạo nền tảng cho việc hoàn thiện chế định trong việc xây dựng hệ thống pháp luật sau này
* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sau thời Pháp thuộc đến nay
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, Việt Nam phải lao vào một cuộc chiến mới- cuộc chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Nên Hiến pháp 1946 ra đời đã không đề cập đến vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đến Hiến pháp 1959 cũng chỉ đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước khi trưng mua hoặc trưng dụng các tư liệu sản xuất khi cần thiết vì lợi ích chung của cộng
5
Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời
Pháp thuộc, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1998, trang 142
6
Bộ tư pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời
Pháp thuộc, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1998, trang 159
Trang 20đồng (Điều 20 Hiến pháp1959) mà không đề cập trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các chủ thể khác
Năm 1972, Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư 173/ UBTP ngày 23 tháng 2 năm 1972 hướng dẫn thi hành bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên thông tư chỉ chú trọng đến thiệt hại vật chất bao gồm bồi thường thiệt hại do tính mạng, tài sản, sức khỏe bị xâm hại mà không có quy định nào về bồi thường thiệt hại tinh thần
Hiến pháp 1980 Điều 70 quy định “công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm” Thiệt hại tinh thần bước đầu được các nhà làm luật quan tâm, chú trọng đến
Đến hiến pháp 1992, bên cạnh những giá tri vật chất, giá tri tinh thần ngày càng được chú trọng hơn Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (Điều 71) Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự (Điều 74)
Từ sau hiến pháp 1992 cho đến nay, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng được hoàn thiện, quy định một cách chặt chẽ và đầy đủ, đặc biệt là khi Bộ luật dân sự 1995 ra đời và dần hoàn thiện ở Bộ luật dân sự 2005
1.5 Khái niệm về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, mức độ tự do hóa thương mại ngày càng gia tăng, số lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng Hơn thế nữa, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay, các sản phẩm hàng hóa không còn là sản phẩm của sự sản xuất giản đơn mà là kết tinh của khoa học công nghệ Chính
vì vậy, người tiêu dùng với những hiểu biết thông thường sẽ khó có thể nhận biết được chính xác chất lượng, giá trị thực của hàng hóa, dịch vụ trong khi đó nhà sản xuất, kinh doanh là những nhà chuyên môn, hoạt động chuyên nghiệp nên sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn người tiêu dùng Vì vậy, ít nhiều người tiêu dùng sẽ bị rơi vào thế yếu so với các nhà sản xuất, kinh doanh Do đó, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu
dùng cần được đề ra và thực hiện một cách nghiêm túc
Trên cơ sở Điều 28 Hiến Pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) “Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều
bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng”, quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tiếp tục được
cụ thể hóa tại Điều 632 Bộ luật dân sự 1995 và kể từ đó cho đến nay, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tiếp tục được khẳng định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác
Trang 21Đặc biệt là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999, Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007, Nghị định 55/2008/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ luật dân sự 2005…
1.5.1 Định nghĩa
Người tiêu dùng có quyền yêu cầu cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh bồi thường thiệt hại khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng Vấn đề bồi hoàn, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng được quy định tại Điều 630 BLDS
2005 cụ thể như sau: “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất kinh doanh không đảm bảo chất lượng hàng hóa mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”
Nhìn chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm bồi thường của
cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh do lỗi cố ý hoặc vô ý không đảm bảo chất lượng hàng hóa gây thiệt hại cho người tiêu dùng, các quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ này
là do pháp luật quy định, giữa các bên không tồn tại mối quan hệ hợp đồng nào Trường hợp các bên có mối quan hệ hợp đồng thì thiệt hại phát sinh cũng không liên quan đến việc thực hiện hợp đồng
Thiệt hại phải bồi thường cho người tiêu dùng do hàng hóa không đảm bảo chất lượng bao gồm thiệt hại về giá trị tài sản, hàng hóa bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại, thiệt hại
về tính mạng sức khỏe con người, thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản và chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại
Khi phát hiện ra quyền và lợi ích hợp pháp của minh bị xâm phạm người tiêu dùng
có thể khiếu nại hoặc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.5.2 Đặc điểm
Chủ thể trong mối quan hệ nghĩa vụ này là cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh
và người tiêu dùng
Khách thể chính là việc cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh phải thực hiện hành
vi bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng
Là một loại trách nhiệm dân sự
Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là:
Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa và gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng
Có lỗi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh
Trang 22Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm tài sản
Trong mối quan hệ này là giữa các bên không có mối quan hệ hợp đồng, trách nhiệm bồi thường phát sinh là do những quy định của luật
Ví dụ: A mua son môi của công ty mỹ phẩm X từ cửa hàng của B Do sản phẩm
son môi này có chứa sudan là chất gây ung thư và A đã sử dụng nên bị bệnh Khi đó A có thể kiện công ty mỹ phẩm X đã vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa gây thiệt hại cho A và yêu cầu bồi thường thiệt hại Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng,
Nếu các bên có mối quan hệ hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường phát sinh này cũng không phải là do việc vi phạm một nghĩa vụ trong hợp đồng nghĩa là không liên quan đến việc thực hiện hợp đồng mà là vi phạm nghĩa vụ do luật định
Ví dụ: A mua nồi cơm điện tại siêu thị điện máy C Siêu thị có quy định rõ trong
vòng 2 tuần sau khi mua về nếu nồi cơm điện có phát sinh khuyết tật gì thì A có quyền đến siêu thị đổi lại Nhưng sau một tháng mua về và sử dụng nồi cơm điện mới phát sinh lỗi là làm khét cơm Giả sử khuyết tật phát sinh là do quá trình vận chuyển của siêu thị Trong tình huống này A có thể kiện yêu cầu siêu thị bồi thường do không đảm bảo chất lượng hàng hóa Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bên cạnh đó, để phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do không đảm bảo chất lượng hàng hóa gây thiệt hại cho người tiêu dùng và trách nhiệm bồi thường do không đảm bảo chất lượng hàng hóa trong hợp đồng chúng ta cùng phân tích các ví dụ sau:
Ví dụ: Chị A mua điện thoại di động cũ và đã hết hạn bảo hành tại cửa hàng điện
thoại di động B Cửa hàng thông báo sản phẩm sẽ được cửa hàng bảo hành trong vòng một tháng nếu xảy ra các lỗi về kỹ thuật
Nếu trong thời gian một tháng sản phẩm phát sinh khuyết tật A có quyền yêu cầu cửa hàng B bảo hành, nếu không sửa chữa được thì A và B có thể thỏa thuận đổi lấy điện thoại khác, giảm giá, hoàn tiền hoặc giải quyết tại tòa án Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng do không đảm bảo chất lượng hàng hóa của B đối với A
Nếu sau thời gian một tháng sản phẩm mới phát sinh khuyết tật thì A có thể kiện yêu cầu B bồi thường thiệt hại Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do
vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Như vậy, trách nhiệm bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa của nhà sản xuất, kinh doanh đối với người tiêu dùng được quy định trong Bộ luật dân sự 2005 bao gồm
Trang 23trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng của nhà sản xuất, kinh doanh đối với người tiêu dùng do vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa là trách nhiệm dân
sự phát sinh do nhà sản xuất, kinh doanh vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng nghĩa là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa được quy định trong hợp đồng Chẳng hạn như trường hợp người tiêu dùng mua phải sản phẩm, hàng hóa không đúng chất lượng hay có khuyết tật thì họ có thể yêu cầu sửa chửa, đổi vật, giảm hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra nếu đó là trong một khoản thời gian hợp lý đối với hàng hóa không có bảo hành, hoặc trong thời hạn bảo hành đối với hàng hóa có bảo hành
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của nhà sản xuất, kinh doanh do không đảm bảo chất lượng hàng hóa vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là trường hợp giữa nhà sản xuất, kinh doanh không có mối quan hệ hợp đồng Nếu nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng có mối quan hệ hợp đồng thì trách nhiệm phát sinh cũng không liên quan đến việc thực hiện hợp đồng Chẳng hạn như việc bảo hành hàng hóa, nếu quá thời hạn bảo hành mà hàng hóa phát sinh khuyết tật gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trường hợp không có bảo hành, người tiêu dùng sẽ được đổi, hoàn tiền, sửa chửa hàng hóa trong một khoảng thời gian hợp lý, nếu quá thời gian này mà phát sinh tranh chấp thì đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của nhà sản xuất, kinh doanh đối vói người tiêu dùng
1.6 Tầm quan trọng của quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Thứ nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội Bởi vì mỗi người trong chúng ta đều là người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bảo vệ lợi ích của toàn xã hội
Thứ hai, đảm bảo những thiệt hại mà người tiêu dùng gánh chịu do hàng hóa, sản phẩm kém chất lượng phải được bồi thường
Thứ ba, nâng cao ý thức trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh trong mối quan hệ với người tiêu dùng
Thứ tư, có ý nghĩa răn đe những doanh nghiệp có hành vi làm ăn gian dối, chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng
Nói tóm lại, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa đảm bảo cho những thiệt hại của người tiêu dùng phải được bồi thường Nâng cao ý thức trách nhiệm của cá
Trang 24nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh đồng thời có ý nghĩa giáo dục, răn đe những doanh nghiệp có hành vi vi phạm nhằm bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội
Trang 25CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC SẢN XUẤT, KINH DOANH DO
VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
2.1 Trách nhiệm đảm bảo chất lượng hàng hóa của cá nhân, tổ chức, sản xuất, kinh doanh
Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2005 Điều 630 thì “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không đảm bảo chất lượng hàng hóa mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường” Như vậy, khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh thì cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải tuân thủ các điều kiện về đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật, đồng thời phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa do mình sản xuất, kinh doanh Một khi sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng và gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng thì cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng Vậy thế nào là sản phẩm, hàng hóa? Sản phẩm, hàng hóa như thế nào mới được gọi là đảm bảo chất lượng? Và một khi thiệt hại xảy ra cho người tiêu dùng thì những thiệt hại nào được bồi thường?
Theo Các Mác: Sản phẩm là kết quả của quá trình lao động để phục vụ cho việc làm thỏa mãn nhu cầu của con người Trong nền kinh tế thị trường, người ta quan niệm sản phẩm là bất cứ cái gì đó có thể đáp ứng nhu cầu thị trường và đem lại lợi nhuận7
Theo luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 thì:
- Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng
- Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị
Khái niệm chất lượng sản phẩm hàng hóa là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội Do tính chất phức tạp đó nên
có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm, hàng hóa:
- Theo quan niệm của các nhà sản xuất: Chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã xác định trước
- Xuất phát từ người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng8
7
http://www.sbmf.vn/forum/archive/index.php/t-1115.htlm truy cập ngày 28/1/2010
Trang 26Và theo Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa tại Điều 3 khoản 5 thì: Chất lượng sản phẩm hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng
Như vậy, một khi cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ không đảm bảo các điều kiện về chất lượng sản phẩm, hàng hóa và để cho thiệt hại xảy ra, thì các thiệt hại phải bồi thường cho người tiêu dùng không chỉ là thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại, mà còn là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử dụng hàng hóa, tài sản và chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại (Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa Chương V Mục II Điều 60) Và theo nguyên tắc chung thì thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là người tiêu dùng cụ thể là có thể yêu cầu ai bồi thường thiệt hại? Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất kinh doanh là người bán hàng, người sản xuất hay người nhập khẩu chưa được quy định rõ sẽ dẫn đến việc đùn đẩy trách nhiệm hoặc không xác định được trách nhiệm Đây là một điểm khuyết của luật dẫn đến người tiêu dùng sẽ lúng túng trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại
Do đó khi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa ra đời đã lấp được lỗ hỏng này của
Bộ luật dân sự 2005 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người sản xuất, người nhập khẩu, người bán hàng Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại này dựa trên nguyên tắc người có hành vi trực tiếp gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại
- Người bán hàng phải bồi thường thiệt hại cho người mua, người tiêu dùng trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng không đảm bảo chất lượng hàng hóa Trừ trường hợp pháp luật quy định người bán hàng không phải bồi thường Việc bồi thường thiệt hại thực thiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án và trọng tài
- Người sản xuất, người nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho người bán hàng hoặc người tiêu dùng khi hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của người sản xuất, người nhập khẩu không đảm bảo chất lượng hàng hóa Trừ trường hợp pháp luật quy định người sản xuất, người nhập khẩu không phải bồi thường Việc bồi thường thiệt hại thực thiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án và trọng tài
Như vậy, khi người tiêu dùng sử dụng phải hàng hóa kém chất lượng dẫn đến bị thiệt hại thì khi đó người tiêu dùng có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại, và chủ thể chịu
8
360/khai_niem_va_vai_tro_cua_chat_luong_san_pham/ truy cập ngày 28/01/2010
Trang 27http://www.doanhnhan360.com/Desktop.aspx/Kinh-doanh-360/san-xuat-trách nhiệm có thể là người sản xuất, người nhập khẩu hoặc người bán hàng tùy theo tình huống ai là người có lỗi, có hành vi trực tiếp gây thiệt hại sẽ chịu trách nhiệm bồi thường Nhưng để xác định nhân vật nào là người có lỗi trong ba nhân vật người nhập khẩu, người sản xuất, người bán hàng là một việc khó khăn cho người tiêu dùng Bởi trong thực tế việc xác định lỗi trong nhiều trường hợp rất khó xác định và người tiêu dùng chỉ là bên nghiệp dư trong mối quan hệ này thì việc xác định lỗi của ai để yêu cầu bồi thường thiệt hại lại càng khó khăn hơn Hơn nữa, một khi xảy ra tranh chấp về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, như vậy làm thế nào để xác định trách nhiệm thuộc về ai, làm thế nào để người tiêu dùng- luôn là bên yếu thế trong cuộc chơi không cân sức với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ có thể bảo vệ quyền lợi của mình? Nếu xảy ra tranh chấp về chất lượng sản phẩm, người tiêu dùng có thể chọn một trong ba con đường:
- Thương lượng giữa các bên tranh chấp về chất lượng sản phẩm hàng hóa
- Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được thỏa thuận chọn làm trung gian
- Giải quyết tại Tòa án hoặc trọng tài
Bên cạnh đó, dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng dự kiến sẽ được thông qua trong năm nay cũng có những quy định về việc xác định chế độ trách nhiệm đối với nhà sản xuất, kinh doanh khi sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng Hơn nữa, những quy định này được xây dựng rõ ràng và cụ thể hơn, chế độ trách nhiệm được áp dụng đối với nhà sản xuất, kinh doanh khá nghiêm khắc, giúp người tiêu dùng dễ dàng sử dụng công cụ này của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình Trong đó:
- Thương nhân sản xuất sản phẩm, thương nhân gắn tên thương mại lên sản phẩm hoặc sử dụng nhãn hiệu hay dấu hiệu cho phép nhận diện đó là thương nhân sản xuất sản phẩm hoặc thương nhân nhập khẩu sản phẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người tiêu dùng ngay cả trong trường hợp thương nhân đó không có lỗi
- Thương nhân trực tiếp cung cấp sản phẩm có khuyết tật đến người tiêu dùng sẽ chịu trách nhiệm về sản phẩm nếu thương nhân đó không xác định được thương nhân chịu trách nhiệm sản phẩm như đã nêu ở trên theo yêu cầu của người tiêu dùng
- Thương nhân kinh doanh nguyên vật liệu, phụ kiện hoặc bộ phận cấu thành của sản phẩm có khuyết tật phải chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp khuyết tật của sản phẩm có nguyên nhân một phần hoặc toàn bộ từ khuyết tật của nguyên vật liệu, phụ kiện hoặc bộ phận cấu thành của sản phẩm do thương nhân đó cung cấp
Tóm lại, thông qua chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng khi hàng hóa không đảm bảo chất lượng đã đề cao trách nhiệm của
Trang 28các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa của mình trước xã hội, người tiêu dùng, đồng thời bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cộng đồng người tiêu dùng
2.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người tiêu dùng
Người gây ra thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân…nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người có “khả năng” bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây ra thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện Bộ luật dân sự quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân (Điều 606 Bộ luật dân sự) mà không quy định về năng lực bồi thường của chủ thể khác Vì năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở năng lực hành vi dân sự và khả năng kinh tế của chủ thể Cho nên, các chủ thể khác được coi là luôn luôn có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, Bộ luật dân sự quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân
* Cá nhân
Là con người cụ thể và đang sống Cá nhân phải có hộ tịch rõ ràng, cho phép phân biệt được với cá nhân khác Mọi cá nhân không nhất thiết đều có quyền và nghĩa vụ giống nhau, dù tất cả cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật Việc xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân lệ thuộc vào kết quả đánh giá năng lực pháp luật và năng lực hành vi của
cá nhân đó9
Theo quy định tại Điều 606 Bộ luật dân sự 2005 thì người từ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường, điều này xuất phát từ việc cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều
17 Bộ luật dân sự 2005) do đó họ phải chịu trách nhiệm về hành vi bất hợp pháp của họ bằng tài sản của chính họ Theo đó, trong mối quan hệ giữa cá nhân sản xuất, kinh doanh
và người tiêu dùng điều dĩ nhiên là cá nhân sản xuất kinh doanh phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi Do đó, khi họ gây ra thiệt hại thì họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng, hay nói cách khác họ phải chịu trách nhiệm về hành vi không đảm bảo chất lượng hàng hóa
Trang 29các pháp nhân khác Pháp nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi phù hợp với mục đích tồn tại của mình10
Theo Điều 84 Bộ luật dân sự 2005 một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có
đủ các điều kiện sau:
- Được thành lập hợp pháp
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản
đó
- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lâp
Như vậy, trong mối quan hệ nghĩa vụ giữa tổ chức sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng, tổ chức sản xuất, kinh doanh là một pháp nhân sẽ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một thương nhân Và tất nhiên tổ chức sản xuất, kinh doanh sẽ có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm nghĩa vụ bảo đảm chất lượng hàng hóa gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng
2.3 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi
người tiêu dùng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự và ra đời từ rất sớm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự được đặt ra khi hành vi trái pháp luật của một người đã gây
ra thiệt hại, nghĩa là khi hành vi trái pháp luật của các chủ thể xâm phạm đến các quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác được pháp luật bảo vệ mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những cơ sở, những yếu tố để xác định trách nhiệm bồi thường, người được bồi thường, người phải bồi thường và mức độ bồi thường Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do đó căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Theo nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân
sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải bao gồm bốn yếu tố sau:
- Phải có thiệt hại xảy ra
10
TS Phan Trung Hiền, Th.S Diệp Thành Nguyên, Giáo trình pháp luật đại cương, năm 2008, trang 53
Trang 30- Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
- Có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại
- Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật
2.3.1 Có thiệt hại xảy ra
Sự hiện hữu của thiệt hại chính là điều kiện tiên quyết của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bởi vì chức năng chính của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là đảm bảo việc đền bù thiệt hại mà người gây thiệt hại đã gây ra cho người bị thiệt hại Vì vậy, nếu không có thiệt hại xảy ra thì vấn đề đặt ra khi yêu cầu bồi thường thiệt hại là bồi thường cho ai? Bồi thường cái gì? Do đó, vấn đề bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra khi có thiệt hại xảy ra Nguyên tắc cơ bản của luật là không có thiệt hại thì không
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo nguyên tắc này thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh cũng chỉ được đặt ra khi người tiêu dùng bị thiệt hại, nghĩa là thiệt hại thực tế có xảy ra cho người tiêu dùng Từ đó áp dụng chế độ trách nhiệm đảm bảo rằng những thiệt hại mà người tiêu dùng đã gánh chịu phải được cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh bồi thường Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm chứng minh thiệt hại đã xảy ra thuộc về bên bị thiệt hại, vậy người tiêu dùng trong mối quan hệ này phải chứng minh rằng thiệt hại đã xảy ra Như vậy thì thiệt hại là
gì và được hiểu như thế nào?
Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm súc về một lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ Thiệt hại là những tổn thất thực tế tính được thành tiền mà cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh đã gây ra cho người tiêu dùng (do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của người tiêu dùng) Thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần
Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm Điều 608 Bộ luật dân sự 2005; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm khoản 1 Điều 609 Bộ luật dân sự 2005; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm khoản 1 Điều 610 Bộ luật dân sự 2005
Ví dụ: A sử dụng nước tương có chứa chất gây ung thư 3-MCPD của nhà sản xuất
CBD, kết quả là A bị tổn hại về sức khỏe, trường hợp này A có thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất cụ thể là thiệt hại về sức khỏe cho mình
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm mà người đó bị thiệt hại, hoặc do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
mà người thân thích, gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất
Trang 31mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc bị mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do hiểu nhầm…và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù dắp tổn thất mà họ phải chịu11
Ví dụ: B sau khi sử dụng sản phẩm son môi có chứa sudan của hãng mỹ phẩm Y
trong một thời gian dài dẫn đến hậu quả B bị ung thư và thiệt mạng Như vậy, thiệt hại phải bồi thường trong trường hợp này ngoài những thiệt hại vật chất, hãng mỹ phẩm Y còn phải đền bù một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người thân của B
Về nguyên tắc, thiệt hại do tổn thất về tinh thần là những thiệt hại không thể định giá được bằng tiền, là những tổn thất không thể phục hồi được Tuy nhiên, với mục đích
an ủi, động viên người bị thiệt hại đồng thời giáo dục công dân ý thức tôn trọng những giá trị tinh thần không những của bản thân mà là của toàn xã hội nên theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì Tòa án có thể buột người xâm hại bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích, gần gũi của nạn nhân
2.3.2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là những xử xự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích của các chủ thể khác Chỉ những quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích đó mới là hành vi trái pháp luật12
Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nghĩa là chủ thể thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm thực hiện hoặc pháp luật quy định phải thực hiện nhưng không thực hiện
Hành vi trái pháp luật được thể hiện dưới hai dạng: hành vi trái pháp luật dưới dạng hành động và hành vi trái pháp luật dưới dạng không hành động
- Hành vi trái pháp luật dưới dạng hành động nghĩa là chủ thể thực hiện hành vi mà pháp luật không cho phép thực hiện dẫn đến gây thiệt hại, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác
- Hành vi trái pháp luật dưới dạng không hành động nghĩa là chủ thể không thực hiện hành vi mà pháp luật quy định phải thực hiện dẫn đến hậu quả là gây thiệt hại, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Về mặt lý luận, hành vi trái pháp luật thể hiện dưới dạng không hành động vẫn bị coi là hành vi trái pháp luật
Trang 32Trong mối quan hệ giữa nhà sản xuất, kinh doanh với người tiêu dùng hành vi trái pháp luật chính là hành vi gây thiệt hại cho người tiêu dùng do vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa mà luật quy định đối với nhà sản xuất, kinh doanh
Trong mối quan hệ này, tùy vào trường hợp chúng ta xác định hành vi trái pháp luật nào là hành vi trái pháp luật dưới dạng hành động và hành vi trái pháp luật dưới dạng không hành động
Hành vi trái pháp luật của nhà sản xuất, kinh doanh thể hiện dưới dạng hành động
là trường hợp nhà sản xuất, kinh doanh dù biết khi thực hiện các quy trình sản xuất, vận chuyển, bảo quản… không đúng quy cách sẽ dẫn đến việc sản phẩm không đảm bảo chất lượng và vi phạm nghĩa vụ đảm bảo chất lượng nhưng họ vẫn thực hiện chúng vì mục đích lợi nhuận và dẫn đến thiệt hại cho người tiêu dùng sản phẩm đó
Ví dụ: Các nhà sản xuất bún, phở dù biết rằng phooc môn là chất độc hại có thể gây
bệnh cho người tiêu dùng nhưng họ vẫn sử dụng chất ấy khi chế biến bún, phở
Hành vi trái pháp luật của nhà sản xuất, kinh doanh thể hiện dưới dạng không hành động là trường hợp mà nhà sản xuất kinh doanh không thực hiện việc đảm bảo chất lượng hàng hóa mà pháp luật quy định phải thực hiện dẫn đến gây thiệt hại cho người tiêu dùng
Cụ thể là có những trường hợp sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa trong quá trình kiểm tra các tiêu chuẩn về chất lượng thì không phát hiện ra các khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa Tuy nhiên, sau khi đưa vào sử dụng sản phẩm lại phát sinh khuyết tật và gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng
Ví dụ: Trong năm 2009, hàng loạt xe hơi như Toyota Camry, Toyota Lexus, Toyota
Prius của hãng Toyota bị lỗi chân ga, phanh và thảm lót chân gây thiệt hại cho người tiêu dùng Trường hợp này, với một nhà sản xuất danh tiếng như Toyota thì việc lỗi sản phẩm gây ra thiệt hại là do khuyết tật ẩn trong quá trình sản xuất không phát hiện ra sau khi đưa vào lưu thông mới bộc lộ khuyết tật Đây là hành vi gây thiệt hại dưới dạng không hành động
2.3.3 Có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại
Lỗi có thể tạm hiểu như là một sai lầm, thiếu sót trong thái độ xử xự Theo Bộ luật dân sự Điều 604 Khoản 1 “người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Như vậy, cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh phải chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại khi họ có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại cho người tiêu dùng
Mặc dù lỗi là một trong bốn yếu tố quan trọng xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu pháp luật quy định
Trang 33người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi họ không có lỗi thì người gây thiệt hại vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại (Điều 604 Khoản 2 Bộ luật dân sự) Vậy, trong một số trường hợp nhà sản, xuất kinh doanh sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng ngay cả khi họ không có lỗi nếu luật có quy định Điển hình như trường hợp được quy định tại dự thảo Luật bảo vệ người tiêu dùng về vấn đề trách nhiệm sản phẩm như sau: Thương nhân sản xuất sản phẩm, thương nhân gắn tên thương mại lên sản phẩm hoặc sử dụng nhãn hiệu hay dấu hiệu cho phép nhận diện đó là thương nhân sản xuất sản phẩm hoặc thương nhân nhập khẩu sản phẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người tiêu dùng ngay cả trong trường hợp thương
nhân đó không có lỗi
Trách nhiệm chứng minh lỗi thuộc về nhà sản xuất, kinh doanh nghĩa là nhà sản xuất, kinh doanh phải chứng minh mình không có lỗi để không phải bồi thường, hoặc chứng minh rằng mặc dù họ đã có lỗi, đã gây ra thiệt hại nhưng người tiêu dùng bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại nhằm làm giảm trách nhiệm bồi thường Người tiêu dùng không cần phải chứng minh nhà sản xuất, kinh doanh có lỗi, vì trong nhiều trường hợp nếu yêu cầu chứng minh sẽ bất lợi cho họ Tại dự thảo Luật bảo vệ
người tiêu dùng đã quy định điều này cụ thể như sau:
Trong vụ án dân sự về bảo vệ người tiêu dùng, người tiêu dùng và tổ chức bảo vệ người tiêu dùng không phải đưa ra chứng cứ để chứng minh lỗi của thương nhân Nghĩa
vụ chứng minh không có lỗi thuộc về thương nhân
Lỗi bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý Theo quy định tại Điều 308 khoản 2 Bộ luật dân
sự 2005 thì:
- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn
nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
- Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không
xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Quy định trên cho thấy, lỗi là thái độ tâm lý hay trạng thái tâm lý của người gây thiệt hại đối với hành vi Quan hệ tâm lý ở đây bao gồm hai yếu tố đó là lý chí và ý chí Yếu tố lý chí thể hiện ở nhận thức thực tại khách quan (nhận thức được hoặc không nhận thức được mặc dù đủ điều kiện thực tế để nhận thức khả năng gây thiệt hại của hành vi) Yếu tố ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành vi (khả năng kiềm chế hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng thực hiện hành vi khác phù hợp với pháp luật) Như vậy, môt người