1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở việt nam hiện nay

57 425 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 768,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ pháp lý, dân chủ trực tiếp được thể hiện ở ba nhóm quyền năng cơ bản của nhân dân là: Các quyền năng thể hiện, xác lập ý chí trực tiếp của nhân dân đối với các vấn đề quốc gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

HOÀN THIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TRẦN THỤY QUỐC THÁI TRƯƠNG THANH TÌNH

Trang 2

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời đánh dấu một bước chuyển biến vô cùng trọng đại của dân tộc ta Nó đập tan ách thống trị thực dân tàn bạo, xoá bỏ chế độ phong kiến lỗi thời đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân được làm chủ đất nước, làm chủ xã hội Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là một nội dung quan trọng Phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực để nhân dân ta vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, vừa là bản chất và đặc trưng của chế

độ mới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã khẳng định:

"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình"

Trong quá trình xây dựng đất nước, quyền dân chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng, nhân dân thực hiện quyền làm chủ đất nước trước hết và chủ yếu thông qua các cơ quan dân cử Trong những năm 80 - 90 của thế kỷ XX tình hình vi phạm quyền dân chủ, tệ quan liêu tham nhũng diễn ra trầm trọng dẫn đến tình trạng khiếu kiện tập thể, sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền

Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 30/CT-TƯ về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Cụ thể hoá một bước Chỉ thị này, ngày 15/5/1998, Chính phủ ra Nghị định số 29/ND-CP về thực hiện dân chủ ở xã Đây là những văn bản quan trọng do Đảng và Nhà nước ban hành nhằm tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân, từng bước đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, chuyên quyền độc đoán, hống hách, xa rời quần chúng, tạo động lực mạnh mẽ trong nhân dân, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng XHCN

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã, ngoài những mặt tích cực đạt được đã bộc lộ những điểm chưa hoàn chỉnh như: Tính dân chủ hoá, công khai hoá trong việc cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân ở cơ sở còn hạn chế Việc thực hiện chế độ lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành chủ trương chính sách của chính quyền còn mang tính hình thức, kém hiệu quả, chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của chính quyền trong việc thực hiện Quy chế dân chủ Còn thiếu các phương thức cụ thể để thực hiện phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" một nội dung quan trọng của việc thực hiện quyền dân chủ ở cấp xã

Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước Việc triển khai

nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay" là

Trang 3

việc làm cần thiết có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu bức xúc hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quy chế dân chu là một vấn đề lớn đã có nhiều công trình nghiên cứu như:

"Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"

của Học Viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Dương Xuân Ngọc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2000;

"Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện

nay" của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh do TS Nguyễn Văn Sáu - GS

Hồ Văn Thông chủ biên;

"Dân chủ và việc thực hiện QCDC ở cơ sở" do TS Lương Gia Ban chủ biên,

Nxb Chính trị quốc gia năm 2003;

"Hướng dẫn triển khai quy chế dân chủ cơ sở" của Bộ Nội vụ, Nxb Chính trị

về thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Từ mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Trang 4

- Tìm hiểu, phân tích một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu: Khái niệm, đặc điểm nền dân chủ, bản chất, vai trò của dân chủ ở cơ sở; khái niệm, nội dung, vai trò và tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thực hiện dân chủ và thực trạng thi hành pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã hiện nay

- Đối chiếu, liên hệ với những yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước, trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, bước đầu đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy chế về thực hiện dân chủ ở cấp xã trong điều kiện mới

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Pháp luật về thực hiện dân chủ hiện nay có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng bao gồm việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, cơ quan hành chính, doanh nghiệp, trường học… Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn Trong đó tập trung phân tích những vấn đề lý luận chung về dân chủ, về pháp luật thực hiện dân chủ ở

cơ sở, về thực trạng thi hành pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến nay (Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 29/NĐ-CP ngày 11/5/1998) Trên cơ sở

đó đề ra giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã trong điều kiện mới

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền dân chủ XHCN, về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung và về lý luận xây dựng pháp luật nói riêng

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Lịch sử - cụ thể; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: Thống kê, so sánh, điều tra xã hội học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay đang đặt ra đối với hoạt động thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở

Trang 5

- Luận văn thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy trong các trường pháp lý cũng như nghiện cứu hoàn thiện pháp luật thực hiện quyền dân chủ ở Việt Nam trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Chương 2: Tình hình triển khai và thực hiên quy chế dân chủ ở cơ sở

Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiên quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN QUY CHẾ

DÂN CHỦ Ở XÃ 1.1 Nhận thức chung về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.1.1 Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ XHCN

1.1.1.1 Dân chủ và quyền dân chủ

Một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu về lý luận và có ý nghĩa thực tiễn cấp bách trong việc mở rộng và phát huy quyền dân chủ của công dân đó chính là việc nghiên cứu một cách có hệ thống, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.1.1.1.1 Dân chủ

*Tiền đề của dân chủ

Dân chủ là khái niệm xuất hiện từ thời cổ đại Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ

là do 2 từ hợp thành Demos (dân chúng) và Cratos (quyền lực hay cai trị) Như vậy, với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân, dân chủ là sự cai trị của nhân dân Từ điển Bách khoa Việt Nam định

nghĩa: "Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc

thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định" 1

Dân chủ không chỉ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản phẩm của sự vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế xã hội

mà dân chủ còn là thành tựu của nền văn hoá nhân loại, là thước đo về trình độ giải phóng con người và xã hội mà loài người đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử Mỗi bước tiến của dân chủ và mỗi trình độ phát triển của dân chủ là những nấc thang khác nhau của tiến bộ xã hội Phản ánh những kết quả khác nhau theo xu hướng ngày càng cao hơn và hoàn thiện hơn của tổ chức xã hội, của quản lý Nhà nước và quản lý xã hội nói chung Sự phát triển của dân chủ đồng thời là nhân tố kích thích và cũng là kết quả sự mở rộng và nâng cao tính tích cực chính trị của quần chúng Việc quần chúng nhận được nhiều hay ít những khả năng và điều kiện

để tham gia vào các hoạt động của Nhà nước, các công việc quản lý xã hội, các hoạt động chính trị, điều đó phụ thuộc vào mức độ phát triển thực tế của dân chủ xã hội

1 Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995, +.I, trang 653

Trang 7

Của pháp luật dân chủ và tiến bộ xã hội Với dân chủ, con người chuyển từ thế bị động, lệ thuộc bởi giai cấp bóc lột, thống trị tới chỗ xác lập vai trò chủ thể, tích cực trong xã hội mà mình trở thành người chủ Việc nhân dân lao động giành lấy dân chủ thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội để thay thế chế độ xã hội cũ bằng chế độ xã hội mới tiên tiến hơn, dân chủ hơn có ý nghĩa tích cực về chính trị

và văn hoá

Để có quan niệm đúng đắn và toàn diện về bản chất của dân chủ XHCN cần phải khắc phục tính chất phiến diện trước đây thường dẫn tới đồng nhất giản đơn giữa dân chủ với Nhà nước, với chế độ Nhà nước và từ đó quan niệm rằng sự tiêu vong của Nhà nước (đến một lúc nào đó trong tiến trình phát triển của lịch sử) cũng đồng thời là sự tiêu vong của dân chủ Điều đó đem lại cảm giác rằng, dường như dân chủ là một vấn đề tạm thời, vấn đề quyền lực của giai cấp thống trị gắn liền với

tổ chức và bộ máy Nhà nước Cũng do đó, trong quan niệm truyền thống dân chủ

chỉ được xem như một phạm trù lịch sử

* Nội dung của dân chủ

Dân chủ bao giờ cũng được biểu hiện trong đời sống của nhân dân, là nguyện vong, là lợi ích cuả nhân dân Các khái niện “nhân dân ”, “quyền lực”và “dân chủ” đều gắn liền với nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hân dân và mang tính lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, của nhà nước và pháp luật, những quan điểm về nhân dân, quyền lực và dân chủ cũng biến đổi, phát triển theo

Dân chủ trong đời sống hiện thực là một hiện tượng phức tạp và đa diện, được biểu hiện khác nhau trong các lĩnh vực của đời sông và thực sự có vô số con đường phương thức thực hiện Nó hoàn toàn không chỉ được quy về lĩnh vực sinh hoạt chính trị của xã hội hay nhà nước, mà còn được phổ biến sang các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học và hệ tư tưởng…

Giá trị của dân chủ còn thể hiện ở chỗ, nó là yếu tố quan trọng làm sáng tỏ ý chí của quần chúng, là cơ chế hình thành, tích tụ và thực hiện dân chủ một cách thích hợp Dân chủ là phương thức tốt nhất để đặt các đại biểu của nhân dân có phẩm chất chính trị - đạo đức, chuyên môn xứng đáng nhất vào địa vị lãnh đạo Nhà nước, vào cơ quan lãnh đạo của các tổ chức chính trị - xã hội

Một nhân tố không kém phần quan trọng cho việc thực hiện dân chủ là nhờ

có nền kinh tế cao mà đạt được sự phát triển tương ứng của các phương tiện truyền thông đại chúng Thông tin đại chúng không chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng dân chủ của nhân dân, mà chính quần chúng nhân dân còn sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để đấu tranh giành lấy giá trị dân chủ cần thiết cho cuộc sống

Trang 8

của mình Nhờ các phương tiện này, công dân của nước đó có được sự giám sát chính trị một cách có hiểu biết

Có thể nói, quá trình dân chủ hóa luôn đòi hỏi những tiền đề tất yếu của nó Với sự tạo lập những tiền đề ấy, khả năng thực hiện dân chủ sẽ diễn ra một cách thuận lợi và nhanh chóng

*Phương thức hoạt động dân chủ

Phương thức thực hiện quyền dân chủ là cách thức, phương pháp để đưa các giá trị dân chủ vào cuộc sống, làm cho nó trở thành hiện thực trực tiếp và phổ biến trong đời sống cộng đồng và của quản lý xã hội Vai trò quyết định đối với việc thực hành dân chủ thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước

thông qua hai hình thức là dân chủ đại diện (dân chủ gián tiếp) và dân chủ trực tiếp

Thứ nhất: Dân chủ đại diện là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp từ

chủ thể quyền lực mà thông qua đại diện có thẩm quyền do chủ thể bầu ra Chủ thể quyền lực (tức nhân dân) vẫn giữ cho mình quyền và chức năng tác động, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan đại diện Dân chủ đại diện đã được khẳng định ngay trong Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) và tiếp tục khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp sau này Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định: "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra va chịu trách nhiệm trước nhân dân" Như vậy, hình thức chủ yếu của dân chủ đại diện ở nước ta

là thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Ngoài ra nhân dân còn làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp của nhân dân được

lập nên theo nguyên tắc tự nguyện

Tuy nhiên, dân chủ đại diện dù có ý nghĩa quan trọng đến mấy vẫn không thể khắc phục được những hạn chế của chế độ Nhà nước với tính cách là chủ thể quyền lực được uỷ quyền nhưng lại trực tiếp thực hiện quyền năng của người uỷ quyền là nhân dân Do vậy, trong một phạm vi, mức độ đáng kể nhân dân vẫn bị tách khỏi quyền lực Nhà nước và không phải lúc nào những uỷ quyền của nhân dân cũng được thực thi đúng Vẫn có nguy cơ về căn bệnh tha hoá quyền lực, quan liêu hoá

bộ máy Nhà nước, sự cồng kềnh, kém hiệu quả của các thiết chế quyền lực, sự xuất hiện một bộ phận cán bộ đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy Nhà nước sẽ khó khắc phục nổi nến thiếu các nổ lực của các lực lượng quần chúng nhân dân Để khắc phục tình trạng đó cần phải có sự tham gia tích cực và chủ động của nhân dân với tư cách là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực Nhà nước - Đó chính là chế độ dân chủ trực tiếp

Trang 9

Thứ hai: Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền

lực về những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộng đồng Cơ quan quản lý có trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đưa nó vào thực thi trong cuộc sống

Dân chủ trực tiếp có vị trí, vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với toàn bộ đời sống dân chủ của đất nước được thể hiện trên những điểm chính sau đây:

Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, dân cư Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động nhạy cảm nhất, những thông tin phản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm lại đường lối, chính sách của mình một cách nhanh nhất, kịp thời sửa chữa, bổ sung, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, xa với thực tế, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Dưới góc độ pháp lý, dân chủ trực tiếp được thể hiện ở ba nhóm quyền năng

cơ bản của nhân dân là: Các quyền năng thể hiện, xác lập ý chí trực tiếp của nhân dân đối với các vấn đề quốc gia, dân tộc (đưa ra các sáng kiến, thỉnh nguyện, trưng cầu ý dân…); các quyền năng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong khuôn khổ phạm vi được uỷ quyền theo luật định (quyền lập ra bộ máy nhà nước; quyền giám sát các hoạt động của bộ máy Nhầ nước; quyền bãi miễn các đại biểu do nhân dân bầu vào cơ quan đại diện và quyền lực Nhà nước…); Các quyền năng của nhân dân trực tiếp giải quyết các công việc của cộng đồng mà không cần

có sự can thiệp trực tiếp của công quyền

Tăng cường và hoàn thiện các chế độ thực hiện dân chủ của nhân dân là việc làm lâu dài và thường xuyên của Đảng và Nhà nước để bảo đảm mỗi bước phát triển của dân chủ phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật có tính chất mở đường định hướng cho sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Nhưng việc phát huy

và mở rộng dân chủ phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân chủ đi đôi với

kỷ cương, quyền hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ

*Nguyên tắc thực hiện dân chủ

Điều 2 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn số 34/ UBTVQH ban hanh ngày 02/4/2007 có hiệu lực ngày 01/7/207 nói:

2007/PL-Nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cơ xã

Trang 10

1 Bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật

2 Bảo đảm quyền của nhân dân dược biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã

3 Bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và

cá nhân

4 Công khai minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã

5 Bảo đảm sự lãnh đạo của đảng, sự quả lý của nhà nước

*Bảo đảm pháp lý cho hoạt dộng dân chủ

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cấp xã trong việc triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã:

Là một trong những nhân tố cơ bản tạo thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân và một bộ phận quan trọng quá trình thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ mới, bảo đảm bản chất của chế độ xã hội Trong cuộc vận động thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể là tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong các tầng lớp nhân dân, xây dựng môi trường chính trị - xã hội lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi để động viên người dân tích cực phát huy quyền làm chủ của mình thông qua các hoạt động

Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, xây dựng sự đoàn kết nhất trí

về chính trị trong đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, chủ động giải quyết những điểm nóng chính trị - xã hội

Phối hợp cùng chính quyền quán triệt, tuyên truyền và triển khai Quy chế, từng bước đưa Quy chế vào cuộc sống

Cùng cấp uỷ, chính quyền kiểm tra, giám sát, tổng kết việc thực hiện Quy chế

1.1.1.1.2 Quyền dân chủ

Quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước XHCN ban hành và bảo đảm thực hiện quy định các quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… bảo đảm cho nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước

Trang 11

Theo tôi quyền dân chủ XHCN hiện nay của nhân dân ta được phân thành các nhóm sau:

1 Quyền chính trị:

Đây là nhóm quyền quan trọng và trước hết đối với nhân dân ở mỗi quốc gia

nó xác định tư cách hay địa vị của công dân trong xã hội ở Việt Nam, nhân dân là chủ thể chân chính và duy nhất của quyền lực xã hội; Nhà nước, pháp luật và các thiết chế công quyền chỉ là đại diện thừa hành, hay công cụ tiện dụng của nhân dân, nhằm thực hiện quyền lực ấy một cách có tổ chức và hiệu quả Quyền chính trị là các quyền xác định khả năng của công dân vào việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội nó bao gồm: Quyền có quốc tịch, là quyền được sống trong một nước độc lập,

có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; các quyền bầu cử là quyền được lựa chọn hay bãi nhiệm những đại biểu đại diện cho mình để thiết lập nên các cơ quan đại diện (cơ quan quyền lực Nhà nước), hay tự mình ứng cử để tham gia vào các cơ quan quyền lực Nhà nước Quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, xâm phạm đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích chính đáng của công dân; các quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, lập hội, hội họp, biểu tình

2 Quyền dân sự:

Quyền dân sự là các quyền tự nhiên, gắn liền với mỗi con người đượck pháp luật ghi nhận và bảo vệ bao gồm: Các quyền nhân thân (quyền đối với họ, tên, hình ảnh, quyền đối với quốc tịch, nơi cư trú, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, bí mật đầu tư, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đi lại…); các quyền sở hữu, thừa kế

và các quyền khác đối với tài sản; quyền tham gia quan hệ pháp luật dân sự… Quyền dân sự cho phép con người bảo vệ được cá tính là chính mình trong quan hệ với Nhà nước và người khác Các quyền dân sự là tiền đề để xây dựng một chế độ Nhà nước dân chủ

3 Quyền kinh tế:

Với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức Tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,

sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng

Các quyền kinh tế gắn liền với việc bảo đảm cho cá nhân tự do sử dụng các

đồ dùng và các yếu tố cơ bản của hoạt động sản xuất - các điều kiện sản xuất và sức

Trang 12

lao động là một trong các điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của xã hội công dân với tư cách là cơ sở xã hội của chế độ dân chủ và cho sự bảo đảm tự do của cá nhân

Các quyền kinh tế ngày càng được mở rộng cho cá nhân, đó là việc Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, các cá nhân có quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh trong cơ chế bình đẳng, công bằng, công khai giữa các thành phần kinh tế

4 Các quyền xã hội, văn hoá

Các quyền xã hội, văn hoá và sinh thái bao gồm quyền được bảo đảm có các điều kiện vật chất, tinh thần và môi trường trong sạch cho sự tự do và cuộc sống xứng đáng của mỗi người

Việc thực hiện các quyền này của nhân dân không chỉ bằng pháp luật và sự bảo vệ của Nhà nước, mà còn đòi hỏi phải tạo ra hàng loạt các phúc lợi xã hội khác Nhóm các quyền này quy định nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm cho mỗi người những điều kiện sinh tồn xứng đáng, những phúc lợi và dịch vụ vật chất tối thiểu để duy trì cuộc sống của con người, phát triển tinh thần trong một môi trường bao quanh lành mạnh Khi đó, các quyền xã hội sẽ bao gồm việc bảo đảm cho mỗi người một mức sống và bảo đảm xã hội xứng đáng (các quyền Bảo hiểm xã hội, nơi

ở, lao động, bảo vệ sức khoẻ…) Các quyền văn hoá có nhiệm vụ bảo đảm sự phát triển tinh thần của cá nhân (quyền học tập, tự do sáng tạo, tận hưởng các giá trị văn hoá…); Các quyền sinh thái là quyền có một môi trường bao quanh tốt lành, có thông tin đáng tin cậy về thực trạng của nó Nhà nước cần quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ môi trường sinh thái

Trên đây là những quyền dân chủ cơ bản của cá nhân cần được bảo đảm và thực hiện trong chế độ Nhà nước dân chủ Mức độ thực hiện chúng trên thực tế là thước đo tính dân chủ của mỗi nhà nước

Mở rộng và thực hiện các quyền dân chủ chính là mục đích mà Nhà nước XHCN đang cố gắng đạt tới nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân

1.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh dân chủ phải được thực hiện đồng thời trên ba mặt gắn bó hữu cơ với nhau: Nâng cao dân trí, thực hiện dân quyền và bảo đảm dân sinh Dưới sự lãnh đạo của Người những tư tưởng đó đã dần đi vào cuộc sống thông qua việc thực hiện những đường lối, chủ trưởng, chính sách của Đảng và Chính phủ được thể hiện như sau:

Trang 13

1 Nâng cao dân trí:

Chủ trương của Hồ Chí Minh về "diệt giặc dốt", xoá nạn mù chữ là nhất quán và xuyên suốt trong quá trình thực hành dân chủ, khi bắt đầu cách mạng

XHCN ở miền Bắc Người khẳng định "Dốt thì dại, dại thì hèn Vì không chịu dại,

chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan

trọng của nhân dân các nước dân chủ mới" Người nói: "Thanh toán nạn mù chữ

là bước đầu nâng cao trình độ văn hoá Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" vì vậy Hồ

Chí Minh cùng với Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nhân dân về kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật và cả về giáo dục chính trị, tư tưởng Giáo dục kiến thức văn hoá - khoa học kỹ thuật có tác- dụng tạo ra cơ sở cho việc thực hiện dân chủ Trên cơ sở đó mới có thể nâng cao đời sống nhân dân, mặt khác, giáo dục văn hoá còn có tác dụng nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân

Có trình độ văn hoá còn có tác dụng nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân Mục

tiêu của giáo dục văn hoá là: "Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ,

biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm"

Giáo dục chính trị, tư tưởng có tác dụng nâng cao ý thức làm chủ của nhân dân Muốn làm chủ trong quá trình cách mạng Thì nhân dân phải được giác ngộ, tập hợp, đoàn kết thành sức mạnh Để thực hiện quyền làm chủ nhân dân không những phải có quyền mà điều quan trọng phải có năng lực làm chủ Người cho rằng

"Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải

có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà

2 Thực hiện dân quyền:

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh dân chủ không phải là cái gì cao siêu cả, mà rất

rõ ràng, cụ thể Người chỉ rõ: "Có việc gì, thì ai cũng được bàn, khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn là được ấy là dân chủ Đã bỏ thăm rồi thì giao cho hội uỷ viên làm, khi ấy thì tất cả hội viên phải theo mệnh lệnh hội ấy ấy là tập trung" Tinh thần của các bản Hiến pháp do Hồ Chí Minh xây dựng là: Bảo đảm được các quyền tự do, dân chủ cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở công nông liên minh và do giai cấp công nhân lãnh đạo Nó phải thật sự bảo đảm nam nữ bình

quyền và dân tộc bình đẳng Chính người đã chỉ ra rằng: "Công dân nước Việt Nam

dân chủ Cộng hoà:

Có quyền làm việc

Trang 14

Có quyền nghỉ ngơi

Có quyền học tập

Có quyền tự do thân thể

Có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình

Có quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào

Có quyền bầu cử, ứng cử…"

Và các quyền đó phải đi đôi với nghĩa vụ "Tuân theo hiến pháp, pháp luật,

kỷ luật lao động, trật tự công cộng và những quy tắc sinh hoạt xã hội - công dân có nghĩa vụ tôn trọng tài sản công cộng, đóng thuế theo luật pháp, làm nghĩa vụ quân

sự, bảo vệ Tổ quốc"

Để có thể làm trọn chức năng của dân, do dân, vì dân, ngoài việc xây dựng

và thi hành Hiến pháp và luật, Nhà nước cần phải tạo ra các điều kiện vật chất và tinh thần giúp nhân dân thực hiện các quyền dân chủ, hướng dẫn nhân dân phát huy

các quyền làm chủ của mình Người cho rằng, đối với một Nhà nước dân chủ có 3

điều phải chống là "Nạn tham ô, nạn lãng phí, bênh quan liêu" và "Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng" Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra

cách chữa bệnh quan liêu: "Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều:

- Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết

- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân

- Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ

- Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan ngênh nhân dân phê bình mình

- Sẵn sàng học hỏi nhân dân

- Tự mình phải làm gương cần, kiện liên chính để nhân dân noi theo"

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân gắn với công bằng xã hội, được thực hiện trong thực tế, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với nhiều cấp độ khác nhau, được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm Dân chủ là một mặt của quá trình hoàn thiện thể chế quản lý xã hội Đó là Nhà nước pháp quyền dựa trên một nền dân chủ phát triển Dân chủ bao gồm cả 2 mặt: Quyền lợi và nghĩa vụ Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân

3 Bảo đảm dân sinh:

Trang 15

Ngay những ngày đầu của chính quyền cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp, Người thường nêu khẩu hiệu "Chống giặc đói" lên hàng đầu Suốt cuộc đời Người thường mong muốn và phấn đấu thực hiện để mọi người Việt Nam được

no ấm, đời sống của nhân dân ngày một được nâng cao Không thể nói đến dân chủ

và thực hành dân chủ khi dân không có cơm ăn, áo mặc Không thể có dân chủ trong đói nghèo, lạc hậu và không thể phát triển dân chủ nếu đời sống của nhân dân không được nâng cao Hồ Chí Minh cho rằng, điều quan trọng bậc nhất của các kế

hoạch kinh tế là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân và "Tăng gia sản xuất và

thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên CNXH Mặt khác, người nhắc nhở: Chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự" 2

Hồ Chí Minh đã triển khai tư tưởng này trong thực tế, người luôn quan tâm đến việc làm sao để tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, cải tiến quản lý, hợp lý hoá sản xuất; chăm lo giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, việc làm cho nhân dân và thực hiện cải cách xã hội khác nhằm làm cho đời sống của nhân dân ngày một nâng cao, góp phần thực hiện dân chủ thực sự

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HCM cho thấy, nguồn gốc của mọi thắng lợi là sức mạnh của nhân dân Thực tiễn ngày càng khẳng định quan điểm khoa học, cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Dân chủ là bản chất của chế độ, của Nhà nước ta

1.2 Quy chế thực hiện dân chủ ở xã - khái niệm, phạm vi điều chỉnh, vai trò 1.2.1 Khái niệm, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã

Quyền dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật khác Để thực hiện quyền dân chủ của công dân đòi hỏi các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các nhân viên Nhà nước, các cán bộ, công chức và mọi công dân phải triệt để tuân thủ pháp luật

Quy chế thực hịên dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chính quyền cơ sở với công dân trong việc phải thông tin kịp thời và công khai những việc để dân biết; những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan Nhà nước quyết định; những việc dân giám sát kiểm tra và việc xây dựng cộng đồng dân cư thôn

2 Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995,Trang 653

Trang 16

1.2.2 Phạm vi điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã chỉ điều chỉnh trong giới hạn xác định hoạt động của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn liên quan đến quyền dân chủ của công dân

Hiện nay Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ban hành kèm theo nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ có phạm vi điều chỉnh gồm:

Thứ nhất: Những việc cần thông báo để nhân dân biết:

Đây là những nội dung rất quan trọng đối với nhân dân nó liên quan đến các quyền và lợi ích thiết thân của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá,

xã hội

Chính quyền cấp xã có trách nhiệm phối hợp với uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên của MTTQ Việt Nam cùng cấp và trưởng thôn để thông báo cho nhân dân biết những nội dung này bằng nhiều hình thức

Thứ hai: Những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:

Đây là những nội dung liên quan đến quyền lợi trực tiếp của nhân dân, nhân dân có quyền quyết định trực tiếp những công việc này, phù hợp với pháp luật Chính quyền cấp xã có trách nhiệm xây dựng phương án, chương trình, kế hoạch để nhân dân xem xét, bàn bạc và quyết định UBND cấp xã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo trưởng thôn và trưởng ban công tác mặt trận tổ chức thực hiện những vấn đề do nhân dân tự quyết định đã được UBND xã công nhận

Thứ ba: Những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, chính quyền xã quyết

định

Đây là những công việc thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp

xã hoặc của cơ quan nhà nước cấp trên nhưng có liên quan đến việc phát triển kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở địa phương Nhân dân được bàn bạc, tham gia ý kiến Chính quyền cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân công khai để dựa vào đó mà ban hành quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định

Thứ tư: Những việc nhân dân giám sát kiểm tra

Đây là những nội dung liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền cấp xã, nhân dân có quyền giám sát, kiểm tra đối với các hoạt động ấy bằng nhiều hình thức khác nhau Chính quyền cấp xã có trách nhiệm giải quyết và trả lời những nội dung mà nhân dân quan tâm theo thẩm quyền

Thứ năm: Xây dựng cộng đồng dân cư thôn:

Trang 17

Nhằm thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và là nơi tổ chức cho nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm

vụ cấp trên giao Thôn xây dựng hương ước, quy ước về công việc nội bộ cộng đồng dân cư, kế thừa và phát huy thuần phong, mỹ tục của cộng đồng, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành nhằm bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh

1.2.3 Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã

1.2.3.1 Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định Đồng thời Quy chế thực hiện dân chủ đã thể chế hoá các chủ trương lớn của Đảng là: Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiều hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được.Phương châm

"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống… phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng" 3

Trong phạm vi điều chỉnh của mình, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã góp phần nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác như: "Luật tổ chức HĐND - UBND, luật giải quyết khiếu nại, tố cáo; luật bầu cử: Quốc hội, Luật bầu

cử HĐND các cấp" Có thể xem Quy chế thực hiện dân chủ ở xã như một văn bản

"tố tụng" về dân chủ nó đã thúc đẩy các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ pháp lý để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân theo quy định của pháp luật

Như vậy Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam "nó" không chỉ là công cụ thể chế hoá một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước mà còn đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác

3 Chỉ thị 30/CT-TW Ngày 18/2/1998

Trang 18

1.2.3.2 Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã trong đời sống xã hội

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ra đời đã có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội thể hiện trên các lĩnh vực

* Trong lĩnh vực chính trị:

Dân chủ trong lĩnh vực chính trị, theo Lênin "áp dụng chế độ dân chủ Xô Viết, tức là chế độ dân chủ vô sản một cách cụ thể nhất… trước hết các cử tri đều phải là quần chúng cần lao và bị bóc lột… Hai là: Mọi thủ tục và những hạn chế có tính quan liêu đều bị xoá bỏ, quần chúng tự quy định lấy thể thức và thời hạn bầu

Nhân dân có nhu cầu ổn định chính trị, an ninh, trật tự ở nơi mình sinh sống làm điều kiện tiên quyết để an tâm sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, đời sống mọi mặt Thực tiễn đã chỉ ra rằng, khi dân được cung cấp đầy đủ thông tin, hiểu đúng đắn và đầy đủ chính sách pháp luật của Nhà nước và các quyền cơ bản của mình, thì khi đó nhân dân giác ngộ và quyền dân chủ mới được phát huy một cách lành mạnh và đúng hướng

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đã cho nhân dân thấy được vai trò làm chủ thực sự của mình, họ thực sự là chủ thể của quyền lực Nhà nước, là đối tượng kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước Được tham gia tổ chức và tự giác trong bầu

cử trực tiếp ra các cơ quan Nhà nước của mình (bầu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp)

* Trong lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội:

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ra đời phù hợp với ý Đảng, lòng dân, nâng cao hơn quyền làn chủ trực tiếp của nhân dân, nhân dân được bàn bạc và quyết định những công việc trong sản xuất, lưu thông phân phối, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh

tế - xã hội; nhân dân phấn khởi, tự giác và tích cực xây dựng nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu Thực tế cho thấy trong những năm qua trên phạm vi cả nước nhân dân đã dốc công, dốc của để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng "Điện, đường, trường, trạm", tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo, hiến tặng đất đai, tài sản cho các công trình quan trọng của quốc gia Được quyền làm chủ trên lĩnh vực kinh tế nhân dân

tự giác hơn trong việc thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước, nhất là nghĩa vụ thuế Như vậy, nhiều vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội trước đây giải quyết rất khó khăn, phức tạp, nhưng nhờ Quy chế thực hiện dân chủ mà phát huy quyền làm chủ

4 V.I Lê nin toàn tập, tập 27, NXB Tiến Bộ năm 1971, Trang 343

Trang 19

của nhân dân, mọi người được biết, được bàn dân chủ, chính quyền các cấp nâng cao trách nhiệm và công khai hoá nên đã giải quyết các vấn đề kinh tế một cách thuận lợi, không phát sinh khiếu kiện đông người, kéo dài Không nảy sinh mâu thuẫn lớn; nhiều công trình kinh tế, văn hoá, xã hội đòi hỏi sự đóng góp sức dân rất lớn, nhờ vận dụng phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", nên đã đem lại những thành tựu rất lớn cho nền kinh tế, xã hội của đất nước

* Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước:

Quy chế thực hiện dân chủ thực sự là công cụ cho hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở Quy chế đã xác định rõ những nhiệm vụ và phương thức thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cơ sở một cách khá cụ thể mặt khác nhân dân cũng xác định được phạm vi, nội dung những nghĩa vụ mà chính quyền phải thực hiện đối với nhân dân; tránh được những đòi hỏi, yêu sách quá đáng, thiếu

cơ sở gây rối loạn trật tự xã hội cũng như cản trở hoạt động đúng đắn của chính quyền

Sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là phù hợp với tình hình lịch

sử của đất nước Nhân dân rất phấn khởi về "Quy chế" vừa giải quyết được những bức xúc của nhân dân, phát huy quyền làm chủ, tính sáng tạo của nhân dân, vừa nâng cao được vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, sự vận động của mặt trận và các đoàn thể trong phát triển kinh tế xã hội Niềm tin đối với Đảng được tăng cường, mối quan hệ gắn bó giữa người lãnh đạo và đông đảo quần chúng được củng cố đã thúc đẩy sự tích cực, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân

1.3 Các tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã

Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là xây dựng hoàn chỉnh, phù hợp nâng cao chất lượng, tính khả thi và lâu bền của "Quy chế" trong thực tiễn tôi nghiên cứu và định ra các tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã trên

cơ sở xem xét những tiêu chí cơ bản của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, từ đó định ra những tiêu chí cụ thể cho việc hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nói riêng

1.3.1 Những tiêu chí chung

1.3.1.1 Tiêu chí về tính toàn diện

Trang 20

Tính toàn diện là tiêu chí đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện của một văn bản luật hoặc của cả một hệ thống pháp luật Tiêu chí này có ý nghĩa trong việc

"định lượng" một văn bản quy phạm pháp luật cũng như một hệ thống pháp luật Tính toàn diện thể hiện ở hai cấp độ:

- Ở cấp độ chung đối với hệ thống pháp luật đòi hỏi hệ thống pháp luật phải

có đủ các ngành luật theo cơ cấu nôi dung lô gíc và thể hiện thống nhất trong hệ jthống văn bản quy phạm pháp luật tương ứng

- Ở cấp độ cụ thể đối với mỗi ngành luật, mỗi văn bản quy phạm, pháp luật phải có đủ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là một chế định pháp luật có tính độc lập tương đối trong hệ thống pháp luật Việt Nam, do vậy về mặt "định lượng" Quy chế thực hiện dân chủ ở xã phải chứa đựng đầy đủ các quy phạm pháp luật quy định cách thức, biện pháp thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát kiểm tra" và các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm

kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và tham nhũng

1.3.1.2 Tiêu chí về tính đồng bộ

Tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật Tính đồng bộ được đặt ra

để tránh các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn ngay trong các quy định của ngành luật hoặc giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật

Để tạo ra tính đồng bộ, đòi hỏi phải vừa có quan điểm tổng quát, vừa có quan điểm cụ thể Quan điểm tổng quát để xác định tính chất chung của mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật; quan điểm cụ thể để dự kiến chính xác các tình huống và hoàn cảnh cụ thể để đề ra các quy phạm phù hợp

Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã phải dựa trên tiêu chí về tính đồng bộ Trên cơ sở tiêu chí này, kết cấu cũng như các quy định ở mỗi chương, mục, điều, khoản các Quy chế thực hiện dân chủ ở xã được đảm bảo về tính thống nhất cũng như tránh trùng lắp, chồng chéo với nhau và với quy định của ngành luật khác có liên quan

1.3.1.3 Tiêu chí về tính phù hợp

Tính phù hợp thể hiện sự tương quan giữa trình độ của văn bản pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội Hệ thống pháp luật, ngành luật, văn bản quy

Trang 21

phạm pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, chứ không được cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó Tính phù hợp của hệ thống pháp luật, của ngành luật thể hiện ở nhiều mặt, trong đó đặc biệt chú ý sự phù hợp của pháp luật với các quy luật khách quan, nhất là các quy luật phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước; phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, phù hợp với văn hoá, đạo đức, phong tục tập quán và các quy phạm xã hội khác

Tính phù hợp là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã trên thực tế Tiêu chí này đặt ra yêu cầu "Quy chế" phải được xây dựng trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, phù hợp với Hiến pháp

và thống nhất với các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật tổ chức HĐND

và UBND, luật bầu cử Quốc hội, Luật bầu cử HĐND các cấp; luật giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân… sự phù hợp và thống nhất này không chỉ bảo đảm tính khả thi của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã mà còn bảo đảm tính hiệu quả của các văn bản pháp luật kể trên, đặc biệt là khắc phục hiện tượng trùng lắp, chồng chéo giữa các văn bản luật

1.3.1.4 Tiêu chí về quy tắc kỹ thuật pháp lý

Tiêu chí về các quy tắc kỹ thuật pháp lý là tiêu chí quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật Thông thường tiêu chí này được thể hiện ở ba điểm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất: Thể hiện ở những nguyên tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, chẳng hạn như xác định mục đích

và yêu cầu của văn bản, các quan điểm của Đảng về vấn đề này, sưu tầm, tập hợp các tài liệu, văn bản pháp luật có liên quan đến văn bản dự định sẽ biên soạn…

- Thứ hai: Thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu pháp luật

- Thứ ba: Thể hiện ở cách biểu đạt thông qua ngôn ngữ pháp lý Yêu cầu của cách biểu đạt thông qua ngôn ngữ pháp lý là phải bảo đảm tính cô đọng, lôgíc, chính xác và một nghĩa

Trên đây là những tiêu chí cơ bản có ý nghĩa chung đối với việc hoàn thiện pháp luật nói chung và Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nói riêng Bên cạnh những tiêu chí chung này, vấn đề hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã còn phải dựa trên những tiêu chí riêng và cụ thể của nó dưới đây

1.3.2 Những tiêu chí riêng của hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã 1.3.2.1 Tiêu chí về hình thức

Trang 22

Hình thức của văn bản quy phạm pháp luật là tiêu chí đảm bảo cho văn bản

đó có tính pháp lý, tính khuôn mẫu và dễ áp dụng trong cuộc sống Trước hết lựa chọn hình thức văn bản để ban hành là nội dung quan trọng của tiêu chí này Hình thức văn bản hay tên gọi của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã phải phù hợp với thẩm quyền ban hành, phạm vi điều chỉnh, nội dung thể hiện

Pháp luật thực hiện dân chủ ở xã của Nhà nước ta hiện nay được ban hành dưới dạng Nghị định kèm theo Quy chế như: Nghị định số 29/1989/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 về việc ban hành kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, nhìn chung hình thức này đã được sử dụng phù hợp với nội dung văn bản, bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản trong giai đoạn lịch

sử hiện nay

Qua thực tiễn thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã trong thời gian qua cho thấy vẫn còn nhiều địa phương chưa thực sự coi trọng nhiệm vụ triển khai Quy chế ở địa phương mình, nhiều cán bộ còn đánh giá thấp về tính pháp lý của Quy chế Trên thực tế Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là một văn bản pháp lý, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, phản ánh bản chất của Nhà nước, của chế độ ta Tuy

nhiên, ở mức độ Quy chế thì chưa tương xứng với tầm vóc của vấn đề Đã đến lúc cần phải nâng Quy chế thực hiện dân chủ thành pháp lệnh hoặc bộ luật về thực hiện

quyền dân chủ của nhân dân Có như vậy tính hiệu lực mới cao, đáp ứng được những đỏi hỏi của thực tế khách quan và có tính khả thi

Ngoài ra tiêu chí về hình thức của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã còn đòi hỏi về tính rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, lôgíc, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân

1.3.2.2 Tiêu chí về nội dung

Đây là tiêu chí quan trọng và cần thiết để xem xét về mức độ hoàn thiện của Pháp luật nói chung cũng như Pháp luật thực hiện dân chủ ở xã nói riêng Nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã là những quy định tạo nền tảng pháp lý cho việc hiện thực hoá các quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được pháp luật quy định

Tiêu chí này đặt ra yêu cầu: Nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã phải phản ánh được nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội, có như vậy sự tác động của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã đối với các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của nó mới đạt được hiệu quả mong muốn Nhu cầu khách quan của sự

Trang 23

phát triển xã hội mà các quy định của pháp luật thực hiện dân chủ ở xã phản ánh được đó là:

+ Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày ở cơ sở

+ Có quy chế và hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến và các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ… của chính quyền; kết quả ý kiến đóng góp phải được xem xét, cân nhắc khi chính quyền ra quyết định

+ Hoàn thiện cơ chế để nhân dân ở cơ sở trực tiếp và thông qua Mặt trận, các đoàn thể, Ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền; kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được tiếp thu nghiêm túc

+ Mở rộng các hình thức tự quản để nhân dân tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật những công việc mang tính xã hội hóa, có sự hỗ trợ của chính quyền

+ Xác định rõ trách nhiệm và tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại,

tố cáo và trả lời thắc mắc của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành vi trù dập người khiếu nại, tố cáo

+ Xác định trách nhiệm của tổ chức chính quyền định kỳ báo cáo công việc trước dân, phải tự phê bình và tổ chức để nhân dân góp ý kiến, đánh giá, phê bình; nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp đó

Trên đây là những vấn đề có tính lý luận về hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, là cơ sở cho việc đề ra những phương hướng và các giải pháp hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ở Việt Nam hiện nay

Trang 24

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN

QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ 2.1 Thực tiễn công tác dân chủ ở xã

2.1.1 Quá trình hình thành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước, là chủ trương của Đảng, là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới Trong 4 bản Hiến pháp nước ta, trước sau vẫn khẳng định quyền lực Nhà nước là thuộc về nhân dân Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực Nhà nước Điều này không chỉ được làm sáng tỏ về mặt lý luận mà còn thể hiện ở cách

tổ chức và hoạt động của Nhà nước trên thực tiễn sao cho ý tưởng về một Nhà nước của dân, do dân, vì dân trở nên hiện thực, hiệu quả

Nhận thức rõ dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, nên trong những năm đổi mới, Đảng ta đã không ngừng nâng cao chất lượng dân chủ đại diện và bước đầu tìm tòi các hình thức dân chủ trực tiếp Nhờ đó, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu thì nền dân chủ xã hội càng được mở rộng, từ dân chủ về kinh tế, chính trị đến dân chủ trên lĩnh vực ý thức, tư tưởng Trong tiến trình đổi mới đất nước những năm qua chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ nhất là dân chủ về kinh tế, quyền tự do làm ăn, kinh doanh, tham gia quản lý Nhà nước Bên cạnh đó tình trạng quan liêu, mất dân chủ trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền và đoàn thể, với những biểu hiện của sự xa dân, lộng quyền, hách dịch, sống xa hoa, lãng phí Đảng ta đã chỉ rõ: "Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại, tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện

ra hiện tượng quan liêu, mất dân chủ ở một bộ phận cán bộ, Đảng viên, nhất là chính quyền địa phương ở nhiều nơi trong cả nước, có nơi rất nghiêm trọng Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành pháp luật Một số cán bộ chính quyền đã lợi dụng kẽ hở trong quá trình chuyển đổi cơ chế đã lợi dụng việc bán đất, đấu thầu, thực hiện dự án huy động dân đóng góp quá sức vào xây dựng cơ sở hạ tầng, lập quỹ trái phép, lạm dụng công quỹ, tham ô, hối lộ, mưu lợi cá nhân, quản lý lỏng lẻo gây thất thoát công quỹ Trong khi đó, nhiều đòi hỏi của dân về công bằng, dân chủ, công khai không được thực hiện, nhân dân hầu như không được tham gia, bàn bạc, thảo luận và quy định những công việc cụ thể liên quan đến đời sống của dân, vì vậy đã làm dân bất bình,

5 ĐCSVN:Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996

Trang 25

phản ứng gay gắt Do đó, mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách đúng hướng là cách tốt nhất để khắc phục, hạn chế tình trạng trên Ngày 18/2/1998 Bộ chính trị, ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã ra chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Chỉ thị nêu rõ: "Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống"6 Nhằm khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng, chỉ thị nhấn mạnh: "Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất

Muốn vậy, Nhà nước cần ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện"

Như vậy, Đảng ta đã xác định dân chủ phải bắt đầu từ cơ sở, bởi vì cơ sở là nơi trực tiếp gắn bó với nhân dân, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; mọi sự đổi mới của hệ thống chính trị ở cơ sở dù lớn hay nhỏ đều tác động trực tiếp và nhanh chóng đến quyền và nghĩa vụ của nhân dân

Thực hiện và thể chế hoá các quan điểm của Đảng, ngày 26/2/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 45 - 1998/NQ-UBTVQH 10 giao cho Chính phủ khẩn trương ban hành Quy chế dân chủ ở xã, thị trấn, phường Quán triệt tinh thần đó, ngày 11/5/1998, chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (kèm theo Quy chế); Để tổ chức đưa Quy chế vào cuộc sống ngày 15/5/1998 Thủ tướng Chính phủ

ra chỉ thị số 22/1998/CT-TTg về việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở xã và Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ nội vụ) ban hành Thông tư số 03/1998/TT-TCCP ngày 6/7/1998 hướng dẫn áp dụng "Quy chế thực hiện dân chủ ở xã" đối với phường và thị trấn

Thực tiễn quá trình triển khai, nội dung Quy chế đã bộc lộ những điểm chưa hoàn chỉnh như: Tính dân chủ hoá, công khai hoá trong việc cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân ở cơ sở cũng như trong việc lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành chủ trương, chính sách còn hạn

6

Các văn bản của đảng và nhà nước về quy chế dân chủ ở cơ sở, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội năm2004, trang 9

Trang 26

chế Mức độ tham gia của dân trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân còn hạn hẹp tính trách nhiệm của chính quyền xã và những người đứng đầu trong việc thực hiện Quy chế chưa quy định rõ là; Một số nội dung, phương thức thực hiện "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" còn thiếu và chưa phù hợp với thực tiễn, khó thực hiện

Xuất phát từ các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và qua thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở xã nêu trên Ngày 7/7/2003, Chính phủ đã ra Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (kèm theo Quy chế) thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998

Như vậy, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ra đời trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể xuất phát cả từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan Đó

là những bức xúc, đòi hỏi thực tế và cấp bách của xã hội, của nhu cầu dân chủ của người dân trước nguy cơ của bệnh quan liêu, tham nhũng, cựa quyền, hách dịch, xâm phạm nghiêm trọng quyền dân chủ của nhân dân do các cấp chính quyền, đoàn thể ở cơ sở gây ra Quy chế bước đầu thể chế hoá phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" của Đảng thành các quy định cụ thể của pháp luật Sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã chính là bước đột phá, một nấc thang mới trong tiến trình thực thi nền dân chủ

2.1.2 Các nội dung cơ bản của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ

số 29/1998/ND-CP ngày 11/5//1998 và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định của Chính phủ số 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 Với tinh thần xuyên suốt là thể chế hoá quan điểm của Đảng về dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương châm "Dân biết, dân, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã gồm 7 chương với 25 điều của Quy chế, đã quy định các vấn đề cụ thể theo nội dung, phạm vi: Những việc cần thông báo để nhân dân biết; những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến chính quyền xã quyết định, những việc nhân dân giám sát, kiểm tra và phương thức, biện pháp cụ thể để thực hiện từng nội dung, vấn đề được quy định trong Quy chế cũng như các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư thôn

- nơi sinh sống của cộng đồng dân cư

2.1.2.1 Nội dung, phạm vi những việc dân biết, dân bàn, dân quyết định và dân giám sát, kiểm tra

* Những việc cần thông báo để nhân dân biết:

Trang 27

Một trong những quyền trước tiên của nhân dân đó là quyền được biết về tình hình chung đang diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của đất nước, của địa phương và những vấn đề cụ thể có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân mỗi người dân, cũng như của gia đình và cộng đồng dân

Điều 5: Quy chế quy định:

Chính quyền xã có trách nhiệm thông tin kịp thời và công khai để nhân dân biết những công việc chính sau:

1 Chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân trong xã, bao gồm:

a) Các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của UBND xã và các cấp trên liên quan đến địa phương;

b) Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các côngviệc liên quan đến dân;

c) Những quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về đối tượng, mức thu các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân theo quy định của pháp luật hiện hành;

2 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của xã;

3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai;

4 Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm;

5 Dự toán, quyết toán thu chi các quỹ, chương trình, dự án, các khoản huy động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng của xã, thôn, làng, ấp, bản, khóm (thôn, làng, ấp, bản, khóm sau đây gọi chung là thôn) và kết quả thực hiện;

6 Các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã;

7 Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo;

8 Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chính liên quan đến xã'

9 Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ xã, thôn;

10 Công tác văn hoá, xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của xã;

Trang 28

11 Sơ kết, tổng kết hoạt động của Hội đồng nhân dân Uỷ ban nhân dân xã;

12 Phương án dồn điền, đổi thửa phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã;

13 Bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà tình thương, thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thẻ bảo hiểm

y tế;

14 Kết quả lựa chọn, thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện các công trình thuộc các chương trình, dự án của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã;

* Những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:

"Dân bàn" là khâu thứ hai bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Bàn là tôn trọng quyền tự do ngôn luận của nhân dân, người dân được phát ngôn, biểu phát biểu ý kiến, nguyện vọng của mình đối với cộng đồng cũng như với chính quyền Không có cơ chế dân chủ thì nhân dân sẽ không có điều kiện "bàn" các vấn đề họ quan tâm Việc nhân dân được bàn bạc và quyết định những vấn đề thuộc lĩnh vực pháp luật cho phép đã giúp cho nhân dân nâng cao nhận thức, phát huy trí tuệ, tạo động lực thúc đẩy nhân dân tham gia, hưởng ứng nhiệt thành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng việc đóng góp sức lực, của cải vật chất để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng

Xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế Như vậy vấn đề

"Dân biết" để "bàn", để "làm" là nhu cầu hết sức cấp bách và khách quan của mọi người dân

Điều 7 Quy chế quy định:

Nhân dân ở xã, thôn bàn và quyết định trực tiếp những công việc sau:

1 Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hoá, thể thao);

2 Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, nếp sống văn minh, giữ gìn

an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội;

3 Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành;

4 Thành lập ban giám sát các công trình xây dựng do dân đóng góp;

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ cán bộ  lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân đánh  giá những nội dung cần được thông báo cho dân biết là thực sự cần thiết - Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở việt nam hiện nay
Bảng 1 Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân đánh giá những nội dung cần được thông báo cho dân biết là thực sự cần thiết (Trang 37)
Bảng 2: Đánh giá của người dân về mức độ chính quyền tạo điều kiện cho họ - Hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở việt nam hiện nay
Bảng 2 Đánh giá của người dân về mức độ chính quyền tạo điều kiện cho họ (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w