Như vậy, việc nuôi con nuôi là tập hợp các sự kiện pháp lý nếu thiếu đi một trong các sự kiện cấu thành nên tập hợp đó thì không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con, giữa người nhận nuô
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPKHÓA 32 (2006 – 2010)
Đề tài:
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
HUỲNH THỊ TRÚC GIANG LÊ THANH THUẬN
Bộ Môn Luật Tư Pháp MSSV: 5062289
Lớp: Luật Thương Mại 1 – K32
Cần Thơ, 4/2010
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2010
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2010
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- BLDS: Bộ luật Dân sự
- Luật HNGĐ: Luật Hôn nhân và Gia đình
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……… ……… ……….1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ CHA, MẸ NUÔI – CON NUÔI 1 1 Bản chất của việc nuôi con nuôi……… … 4
1.1.1 Bản chất xã hội lịch sử ……… … ……… 4
1.1.2 Bản chất pháp lý ……… ……… ……… 5
1.2 Lý luận chung về quan hệ cha, mẹ nuôi – con nuôi………….…… ……10
1.2.1 Khái niệm ……… ……….……….10
1.2.2 Phân loại nuôi con nuôi……… ……….11
1.2.2.1 Theo phong tục Việt Nam……… ……….11
1.2.2.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII)……… ……….……… 15
1.2.3 Nguyên tắc trong việc giải quyết nuôi con nuôi 16
1.2.3.1 Theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2000 16
1.2.3.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII)……… ……… 17
1.2.4 Những điểm giống và khác nhau về nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi giữa Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 và Dự thảo Luật Nuôi con nuôi………… ……….19
1.2.5 Nguyên nhân của việc cho và nhận con nuôi……… ……….20
1.2.5.1 Nguyên nhân của việc cho con nuôi 20
1.2.5.2 Nguyên nhân của việc nhận con nuôi 20
1.2.5.3 Những nguyên nhân khác của việc cho và nhận con nuôi 21
1.2.6 Ý Nghĩa của việc nuôi con nuôi 21
CHƯƠNG 2 XÁC LẬP QUAN HỆ CHA, MẸ NUÔI VÀ CON NUÔI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2000 VÀ DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI 2.1 Điều kiện về xác lập quan hệ cha, mẹ nuôi – con nuôi……… ……23
2.1.1 Điều kiện liên quan đến người nhận nuôi con nuôi… ……… ………… 23
2.1.1.1 Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000……… ……….23
Trang 62.1.1.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội
Khóa XII)…… ……… ……… ……… 29
2.1.2 Điều kiện liên quan đến người được nhận làm con nuôi……… 30
2.1.2.1 Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000……… ………….30
2.1.2.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII)…… ……… ……… ……….33
2.1.3 Vấn đề về quan hệ thân thuộc……… ……… ……….35
2.2 Trình tự, thủ tục nhận nuôi con nuôi 36
2.2.1 Hồ sơ nhận con nuôi……… ……… ………36
2.2.2 Trình tự, thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định của luật hiện hành….… 38
2.2.2.1 Xem xét hồ sơ……….……… ……… 38
2.2.2.2 Đăng ký và giao nhận con nuôi… ……… ………… 39
2.2.2.3 Trình tự, thủ tục nhận nuôi con nuôi ở vùng dân tộc thiểu số… …… …39
2.2.3 Trình tự, thủ tục nhận nuôi con nuôi theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII) 41
2.2.3.1 Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi ……… ……… 41
2.2.3.2 Báo cáo và theo dõi việc thực hiện nuôi con nuôi…… ……… ……….42
2.3 Hiệu lực của việc nuôi con nuôi……… ………42
2.3.1 Theo quy định của Luật hiện hành……….………… ………42
2.3.1.1 Quan hệ với gia đình người nuôi……… ……… ……… 42
2.3.1.2 Quan hệ với gia đình gốc………… ……… ………47
2.3.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII)……… ……… ……….………….49
2.3.2.1 Đối với con nuôi đơn giản….……… ……… 49
2.3.2.2 Đối với con nuôi trọn vẹn… ……… ……… 50
2.4 Chấm dứt việc nuôi con nuôi……… ………51
2.4.1 Theo quy định của luật hiện hành……… ……… 52
2.4.1.1 Điều kiện và thủ tục…… ……… ………52
2.4.1.2 Hệ quả pháp lý……….………55
2.4.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII)……… ……… ……….……….56
2.4.2.1 Điều kiện và thủ tục……….………56
2.4.2.2 Hệ quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ cha, mẹ nuôi - con nuôi… …59
Trang 7CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ NUÔI CON NUÔI ĐỐI VỚI
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI
DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI
3.1 Thực trạng về nuôi con nuôi đối với pháp luật hiện hành .61
3.1.1 Những mặt tích cực……… ……… ……… 62
3.1.2 Những tồn tại, hạn chế……… …… ……….62
3.1.3 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế……… ……… ……… 63
3.2 Giải pháp và kiến nghị đối với pháp luật hiện hành …… …… 64
3.2.1 Đối với vấn đề nuôi con nuôi thực tế……… …… ……… 64
3.2.2 Đối với việc vợ chồng nhận nuôi con nuôi……… … ……….66
3.2.2.1 Vợ chồng trong quan hệ hôn nhân thực tế……….…… ……… 66
3.2.2.2 Đối với việc vợ hoặc chồng nhận nuôi con nuôi………… …… …… 67
3.2.2.3 Đối với vấn đề lợi dụng việc nuôi con nuôi trong nước để hưởng chính sách đãi ngộ của nhà nước……… ……… 68
3.3 Những điểm mới và kiến nghị đối với Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII)……….69
3.3.1 Những điểm mới của Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ….……… … 69
3.3.2 Kiến nghị………….……… ……… 70
3.3.2.1 Đối với vấn đề bảo đảm về quyền được biết về nguồn gốc của trẻ em… 70
3.3.2.2 Vấn đề người đồng tính nhận nuôi con nuôi………71
3.3.2.3 Vấn đề hỗ trợ nhân đạo và việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài………….……….72
KẾT LUẬN……… ………74
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em luôn là tâm điểm của tất cả chúng ta trong xã hội Trẻ em là lớp măng non,
là nguồn hạnh phúc của gia đình và là tương lai của dân tộc, đất nước Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Truyền thống đó ngày càng được nhân dân ta giữ gìn, tôn trọng và phát huy Sự quan tâm đến trẻ em thể hiện rõ hơn sau khi Việt Nam phê chuẩn công ước của Liện Hiệp Quốc về quyền của trẻ em năm 1990, đó là sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đảm bảo mọi trẻ
em được đối xử bình đẳng, có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển về thể chất và trítuệ, bảo đảm được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, nhằm giúp cho trẻ em đều được hưởng các quyền cơ bản Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm các quyền lợi của trẻ em luôn được thực hiện tốt Nhất là đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những trẻ em không có mái ấm gia đình Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng trong Luật Hôn nhân và Gia đình
2000 và ngày nay nó đang được thực hiện hóa bằng Dự thảo Luật Nuôi con nuôi Góp phần vào việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em đặc biệt là trẻ em mồ côi, bị tàn tật, bị cha, mẹ bỏ rơi…Bên cạnh tạo mái ấm gia đình cho các em , việc nuôi con nuôi này cũng góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con nuôi, nhất là những là những cặp vô sinh, hiếm muộn; những người có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện cả nước vẫn còn nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó trên 2000 trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em khuyết tật; hàng vạn trẻ
em là nạn nhân của chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo cần được chăm sóc, nuôi dưỡng, chữa trị Thì việc cho trẻ em làm con nuôi được coi là biện pháp thay thế có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhưng theo báo cáo của các địa phương, thì số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi còn rất ít so với số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần mái ấm gia đình Theo thống kê của các địa phương, trong hơn
5 năm qua chỉ có khoảng 20.000 trẻ em được nhận làm con nuôi ( trên 13.000 trong nước và trên 6000 ở ngoài)
Việc nuôi con nuôi phải xuất phát từ lợi ích quan trọng là vì lợi ích của người được nhận làm con nuôi, nhằm mang lại cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi một mái ấm gia đình, được chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương và được giáo dục Việc nhận nuôi con nuôi cũng xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận nuôi con nuôi Xuất phát
Trang 9từ điều đó, đã có nhiều cá nhân xin nhận trẻ em có những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn làm con nuôi.
Nhà nước ta còn cho phép những người đã thành niên là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự được nhận làm con nuôi hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn Việc nuôi con nuôi đó là phù hợp với đạo đức xã hội
Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2000,
đã góp phần vào việc bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em được chăm sóc nuôi dưỡng
và giáo dục trong môi trường gia đình
Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, pháp luật về nuôi con nuôi hiện hành còn nhiều điểm chưa rõ ràng, cụ thể Do đó, đã góp phần làm cho người nhận nuôi con nuôi cũng như các cơ quan có thẩm quyền gặp nhiều khó khăn khi giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi Vì vậy, Dự thảo Luật nuôi con nuôi được nhà nước
ta xây dựng và hoàn chỉnh, nhằm tạo một khuôn khổ pháp lý thống nhất, ổn định và có giá trị áp dụng lâu dài, để thu hút sự quan tâm, ủng hộ và giúp đỡ của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em, nâng cao trách nhiệm của tất cả các nghành, các cấp, các cơ quan, tổ chức và xã hội trong việc bảo đảm quyền của trẻ
em là hết sức cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Từ tính cấp thiết của vấn đề này, mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm:
- Tìm hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật cho việc đăng ký nuôi con nuôi cũng như hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ khi nhận nuôi con nuôi
- Bên cạnh đó là đi sâu vào nghiên cứu và phân tích các điều luật của Dự thảo Luật Nuôi con nuôi Nhằm tìm hiểu về nội dung, những điểm mới so với pháp luật hiện hành cũng như là những thiếu sót của Dự thảo luật Để từ đó có những kiến nghị, đóng góp nhằm hoàn thiện các quy định của Dự thảo Để từ đó có thể cụ thể hóa các các quy định của Dự thảo Luật Nuôi con nuôi và đi đến mục đích cuối cùng là hoàn thiện Dự thảo Luật Nuôi con nuôi Tạo điều kiện cho việc áp dụng các quy định pháp luật về nuôi con nuôi được thuận lợi và tránh mắc phải sai lầm
- Trao dồi, củng cố và ôn tập lại những kiến thức đã tiếp thu trong suốt quá trình học tập
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về thời gian:
Đề tài này được nghiên cứu được thực hiện trong khoản thời gian từ: 20/12/2009 đến 26/4/2010
Trang 10- Nguồn thông tin và tài liệu:
Tài liệu chủ yếu thu thập từ: Internet, sách nghiên cứu, báo, tạp chí chuyên ngành
và Giáo trình của các trường đại học
- Về nội dung:
Đề tài chỉ nghiên cứu giới hạn trong phạm vi chế định nuôi con nuôi không có yếu
tố nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp phân tích truyền thống như: phương pháp phân tích luật viết, kết hợp với phân tích phát triển và phân tích lịch sử Ngoài ra còn sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh, đối chiếu… nhằm đi sâu vào từng điều luật đối với luật hiện hành và Dự thảo luật, để tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu cũng như mặt hạn chế để từ đó có những kiến nghị và hướng giải quyết cho những vấn đề đã đặt ra
5 Kết cấu đề tài
Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp truyền thống gồm 3 chương
- Chương 1: Khái quát về quan hệ cha, mẹ nuôi – con nuôi: Nêu lên bản chất
của vấn đề nuôi con nuôi Chỉ ra khái niệm nuôi con nuôi, ý nghĩa, phân loại nuôi con nuôi, nguyên tắc giải quyết của việc nuôi con nuôi của Luật Hôn nhân và Gia đình
2000 và Dự thảo Luật Nuôi con nuôi
- Chương 2: Xác lập quan hệ cha, mẹ nuôi – con nuôi theo quy định của Luật
hôn nhân và Gia đình 2000 và Dự thảo Luật Nuôi con nuôi: Nêu lên các điều kiện, thủ tục, hiệu lực của việc thiết lập quan hệ cha, mẹ nuôi - con nuôi, việc chấm dứt quan hệ cha, mẹ nuôi và con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 và Dự thảo Luật Nuôi con nuôi
- Chương 3: Thực trạng, giải pháp đối với pháp luật hiện hành và kiến nghị đối
với Dự thảo Luật Nuôi con nuôi: Nêu lên những mặt hạn chế của luật hiện hành cũng như những khó khăn trong việc áp dụng luật để giải quyết việc nuôi con nuôi, đưa ra hướng giải quyết Nêu lên một số kiến nghị đối với Dự thảo Luật Nuôi con nuôi
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ CHA, MẸ NUÔI – CON NUÔI
1 1 Bản chất của việc nuôi con nuôi
1.1.1 Bản chất xã hội lịch sử
Nuôi con nuôi là một hiện tượng mang tính xã hội lịch sử Mang tính xã hội bởi vì nuôi con nuôi là một vấn đề mang tính đạo đức xã hội sâu sắc, thể hiện tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người mà đặc biệt là trẻ em không nơi nương tựa – đối tượng cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt Nó đã tồn tại
và phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định của lịch sử
Trước đây, pháp luật của nhà nước ta dưới chế độ phong kiến Ở Việt Nam quy định chế định nuôi con nuôi thường xuất phát từ lợi ích của người nhận nuôi con nuôi như: nhận nuôi con nuôi của những người có nghĩa vụ trả nợ, để có kẻ hầu người hạ trong gia đình hay để có người phụ giúp trong gia đình, để có người làm công không phải trả tiền hoặc nuôi con nuôi để có người thừa tự hay nuôi con nuôi để đứa con đó mang lại may mắn cho gia đình…Những mục đích nuôi con nuôi vừa nêu xuất phát từ những phong tục tập quán lạc hậu của nhân dân ta lúc bấy giờ cùng với sự bóc lột nặng nề của giai cấp địa chủ phong kiến làm cho đại đa số nhân dân ta đã bần cùng
nay lại càng khổ cực hơn nữa, họ đã phải “bán” con của mình cho nhà giàu để có tiền
nộp sưu thuế, hoặc cho con đi ở đợ để gán nợ
Sau khi thoát khỏi ách thống trị của chế độ phong kiến, nhân dân ta tiếp tục chịu sự
đô hộ của thực dân và đế quốc Thì việc nuôi con nuôi lúc này tuy vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của phong kiến nhưng đã dần dần được cải thiện
Từ khi đất nước ta giành được độc lập tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa, Đảng
và nhà nước ta đã dần xóa bỏ đi những tư tưởng và quan niệm phong kiến lạc hậu Và vấn đề nuôi con nuôi cũng dần dần được đổi mới hơn Nó được xuất phát từ truyền thống văn hóa tốt đẹp của người dân, xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận nuôi và người được nhận nuôi Dưới tác động của nền kinh tế thị trường với nhiều thuận lợi và thời cơ để xây dựng và phát triển đất nước, nhưng bên cạnh đó là không ít khó khăn Một trong những khó khăn mà mặt trái của nền kinh tế thị trường mang lại
đó là sự chênh lệch giàu nghèo, lối sống buông thả của một bộ phận thanh thiếu niên, dẫn đến hậu quả là có con ngoài ý muốn Vì vậy, khi sinh con ra họ đã bỏ đứa bé lại ở nhà hộ sinh hay một cơ sở nuôi dưỡng nào đó, làm cho số lượng trẻ em bị bỏ rơi, trẻ
em mồ côi ngày càng nhiều Hơn nữa, dù chiến tranh ở Việt Nam đã lùi xa hơn ba mươi năm nhưng mà những hậu quả mà nó để lại vẫn còn tồn tại đến nhiều thế hệ sau
Trang 12này, đó là những em nhỏ bị tật nguyền do bị nhiễm chất độc Dioxin/ chất độc Da cam… Chính bản thân của các em đã bị các dị tật bẩm sinh và đó cũng chính là gánh nặng cho gia đình của các em và cho toàn xã hội
Với những nguyên nhân vừa được nêu ra như trên có thể nói việc cho và nhận con nuôi mang bản chất xã hội - lịch sử Nó tồn tại và phát triển cùng với những biến đổi của xã hội và những hoàn cảnh của lịch sử Và việc trẻ em được nhận làm con nuôi vừa đáp ứng mục đích nhân đạo vừa phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam
1.1.2 Bản chất pháp lý
Việc nuôi con nuôi chính là sự cấu thành của các sự kiện pháp lý, bao gồm: sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi; sự thể hiện ý chí của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi; sự thể hiện ý chí của bản thân người con nuôi; sự thể hiện ý chí của nhà nước Như vậy, việc nuôi con nuôi là tập hợp các sự kiện pháp lý nếu thiếu đi một trong các sự kiện cấu thành nên tập hợp đó thì không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con, giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận nuôi(1)
Do đó, dưới góc độ là sự kiện pháp lý, việc nuôi con nuôi là cấu thành sự kiện – sự kiện pháp lý phức hợp(2) Và chúng ta sẽ đi sâu vào xem xét các sự kiện pháp lý cấu thành nên bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi
- Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi
Người nhận nuôi con nuôi có thể nhận nuôi con nuôi với nhiều lý do khác nhau Nhưng trước hết là từ nhu cầu của người nuôi muốn nuôi dưỡng một đứa trẻ nhằm thiết lập quan hệ cha, mẹ và con giữa hai bên Nhu cầu đó bị chi phối trước tiên bởi yếu tố tình cảm, xuất phát từ ý chí chủ động của người nhận nuôi con nuôi Người nuôi con nuôi muốn thông qua việc nhận nuôi một đứa trẻ để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của bản thân và gia đình Bản thân người nhận nuôi con nuôi mới nhận thức được đầy đủ và hiểu rõ mong muốn của mình trong việc nhận nuôi con nuôi Nhu cầu của người nuôi là lý do chủ yếu dẫn đến việc nhận nuôi con nuôi Người nhận nuôi con nuôi thường có suy nghĩ rất kĩ trước khi quyết định nhận nuôi con nuôi Việc có nhận nuôi con nuôi hay không là do chính bản thân người nhận nuôi quyết định trên
Trang 13cơ sở hoàn toàn tự nguyện, chủ động và hiểu biết đầy đủ về những hậu quả pháp lý của nó Song, sự tự nguyện đó phải xuất phát từ nhu cầu tình cảm như đã nêu ở trên, tinh thần của người nhận nuôi con nuôi và phù hợp với lợi ích của người được nhận làm con nuôi thì mới được coi là hợp pháp Nếu nhận nuôi con nuôi với những động
cơ và mục đích trái với pháp luật, trái với đạo đức xã hội thì sẽ không có giá trị pháp
lý (3)
Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì bản chất của vấn đề được nêu ra như trên vẫn không thay đổi Cả hai vợ, chồng cùng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện của người nhận nuôi con nuôi quy định tại điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 (4), và có khác chỉ là sự thể hiện ý chí mong muốn nhận con nuôi phải là
ý chí chung của vợ và chồng Hai vợ, chồng phải thỏa thuận thống nhất được việc nhận nuôi con nuôi Trong đơn xin nhận nuôi con nuôi phải đứng tên của cả hai vợ, chồng với tư cách là cha nuôi và mẹ nuôi
Trong đơn xin nhận nuôi con nuôi thì người xin nhận con nuôi phải trình bày nguyện vọng của mình xin đích danh một đứa trẻ nào đó từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc từ một gia đình nào đó có mong muốn cho con nuôi(5) Nếu chưa xác định được đích danh trẻ em cần xin về làm con nuôi thì người nhận nuôi con nuôi có thể trình bày nguyện vọng của mình về đặc điểm của đứa trẻ mà họ mong muốn nhận làm con nuôi như: tuổi, giới tính, ngoại hình, tính cách, tình trạng sức khỏe, tình trạng gia đình của đứa trẻ là trẻ em đang sống tại gia đình hay là trẻ em mồ côi… Nguyện vọng đó của người nhận nuôi con nuôi về nguyên tắc sẽ được cơ quan có thẩm quyền tôn trọng và đáp ứng nếu như có đối tượng thích hợp (6) Như vậy, người nhận nuôi con nuôi hoàn toàn chủ động thể hiện ý chí trong việc xin nhận một đứa trẻ phù hợp với nguyện vọng
và tình cảm của mình về làm con nuôi Chỉ khi nào, người xin nhận nuôi con nuôi không bày tỏ ý chí của mình về một đứa trẻ cụ thể mà họ muốn nhận làm con nuôi mà chỉ thể hiện nguyện vọng xin nuôi con nuôi thì cơ quan có thẩm quyền có thể giới thiệu bất cứ trẻ em nào cho họ
Từ những phân tích trên, ta có thể thấy người nhận nuôi con nuôi luôn có một sự chủ động và độc lập trong việc xin nhận nuôi con nuôi Việc nhận nuôi con nuôi thể hiện rõ ý chí đơn phương từ phía người nhận nuôi Người xin nhận nuôi con nuôi thể
Trang 14hiện ý chí của mình một cách chủ động và khách quan thông qua đơn xin nhận nuôi con nuôi Họ cũng có thể đưa đơn bất cứ lúc nào mà họ muốn Hành vi đó của người nhận nuôi con nuôi chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có được người nhận nuôi phù hợp, được cha mẹ đẻ, hoặc người giám hộ đồng ý và được cơ quan có thẩm quyền công nhận Như vậy, có thể nói sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi là hành
vi pháp lý đơn phương và nó chỉ có hiệu lực khi các bên chủ thể liên quan tiếp nhận
và nhất trí
- Sự thể hiện ý chí của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được cho làm con nuôi
+ Sự thể hiện ý chí của cha, mẹ đẻ: theo quy định tại khoản 1 điều 71 Luật Hôn
nhân và Gia đình 2000 quy định: “ việc nhận con nuôi chưa thành niên, người đã
thành niên mất năng lực hành vi dân sự làm con nuôi phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ đẻ của người đó…” Việc cho con mình làm con nuôi của người khác
là việc bất đắc dĩ trong những điều kiện và hoàn cảnh gia đình gặp những khó khăn nhất định Do đó, cha mẹ đẻ luôn cân nhắc và suy nghĩ rất kỹ trước khi đưa ra quyết định cho con của mình đi làm con nuôi của người khác, với mong muốn đứa trẻ sẽ có môi trường và điều kiện sống tốt hơn, khi chính bản thân của họ không có đủ điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng cho đứa con của mình Mọi mục đích cho con làm con nuôi với mục đích trục lợi đều không phù hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi và
đó không phải là sự tự nguyện thực sự (7) Ngược lại, mọi sự tác động, dụ dỗ, lừa dối, cưỡng ép…để có được sự đồng ý của cha, mẹ đẻ trong việc cho con của mình làm con nuôi cũng không hợp pháp theo quy định của pháp luật và như thế cũng không có giá trị pháp lý (8) Sự đồng ý của cha, mẹ đẻ khi cho con mình làm con nuôi của người khác phải xuất phát từ ý chủ quan, độc lập và tự nguyện của cha, mẹ đẻ Sự đồng ý đó phải được thể hiện một cách khách quan bằng văn bản và phải được sự xác nhận của
Ủy ban nhân dân cấp cơ sở nơi cư trú của cha mẹ đẻ (9)
+ Sự đồng ý của người giám hộ: Theo quy định tại khoản 1 điều 71 của Luật Hôn
nhân và Gia đình 2000 quy định: “…nếu cha, mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi
dân sự hoặc không xác định được cha, mẹ thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ” Người giám hộ chỉ có quyền thể hiện ý chí của mình đối với
(7)
Sự tự nguyện thực sự là sự tự nguyện được hình thành trên cơ sở nhận thức được đầy đủ ý nghĩa và hệ quả pháp lý của việc cho làm con nuôi, phù hợp với mong muốn và tình cảm của cha, mẹ đẻ phù hợp với lợi ích của người nuôi.
Trang 15người mà mình giám hộ đi làm con nuôi khi cả cha, mẹ đẻ của người đó đều không xác định được, đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc đều đã chết, bị tuyên bố chết Tuy nhiên, sự thể hiện ý chí của người giám hộ phải dựa trên ý chí của cha, mẹ đẻ đã thể hiện từ trước.
Người giám hộ có thể là người giám hộ đương nhiên (10); người giám hộ được cử, trong đó người giám hộ được cử có thể là cá nhân hoặc là một tổ chức đảm nhận việc giám hộ (11)(cơ sở nuôi dưỡng) Theo quy định của pháp luật, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng chỉ có quyền đồng ý cho trẻ em đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng làm con
nuôi trong trường hợp đó là “trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có cha, mẹ đẻ là người mất năng
lực hành vi dân sự hoặc khi đưa trẻ em này vào cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp, cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em này đã có giấy tự nguyện đồng ý cho con làm con nuôi” (12) Giấy thỏa thuận đồng ý cho trẻ em làm con nuôi của người giám hộ phải có xác nhận của ủy ban nhân dân cơ sở nơi cư trú của người giám hộ
Qua những quy định trên cho thấy về nguyên tắc, ý chí của người giám hộ về việc cho đứa trẻ làm con nuôi phải xuất phát trên ý chí của cha, mẹ đẻ đã được thể hiện ra
từ trước Nếu cha, mẹ đẻ không có khả năng thể hiện ý chí của mình thì việc cho làm con nuôi phải do chính người giám hộ đưa ra quyết định
Từ những phân tích ở trên cho ta thấy sự thể hiện ý chí của người cho con nuôi là hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện ý chí độc lập của một bên chủ thể (bên cho con nuôi) Hành vi pháp lý đơn phương đó có thể do một chủ thể thực hiện ( cha đẻ hoặc
mẹ đẻ của đứa trẻ khi có một bên chết trước hoặc mất năng lực hành vi dân sự…), nhưng cũng có thể do bên chủ thể thể cùng thực hiện ( Cha, mẹ đẻ cùng thỏa thuận cho con của họ làm con nuôi) Hành vi pháp lý đơn phương này chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có sự tiếp nhận của chủ thể phía bên kia, đó là người nhận nuôi con nuôi
và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
- Sự thể hiện ý chí của người được nhận làm con nuôi
Một quyền cơ bản của trẻ em là quyền được tự do bày tỏ ý kiến, quan niệm,
nguyện vọng của mình về “những vấn đề có tác động đến chính bản thân mình” và
“những quan điểm của trẻ em được coi trọng một cách tương ứng với độ tuổi và mức
Trang 16độ trưởng thành của trẻ em”(13).Đây cũng là một trong những quyền cơ bản của công
dân quy định tại điều 69 Hiến pháp 1992, được sửa đổi bổ sung 2001: “ Công dân có
quyền tự do ngôn luận” Pháp luật có quy định về sự bày tỏ ý chí đồng ý làm con nuôi
của trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên là điều kiện bắt buộc để quan hệ nuôi con nuôi có giá trị pháp lý (14) Đứa trẻ có quyền quyết định một cách độc lập có đồng ý làm con nuôi của người khác hay không trên cơ sở tự nguyện và thực sự phù hợp với nhận thức, tình cảm của đứa trẻ đối với việc được nhận làm con nuôi Chỉ trên cơ sở đó thì sự đồng ý của đứa trẻ đó mới có giá trị pháp lý vì nó thể hiện sự minh bạch, rõ ràng Những quy định này bảo đảm sự trung thực, khách quan về ý chí, nguyện vọng, nhằm đảm bảo cho trẻ em được tự do bày tỏ ý kiến của mình và ý kiến của trẻ em phải được xem xét trong mọi vấn đề hoặc thủ tục ảnh hưởng đến chính bản thân của các em Tránh hình thức, thậm chí áp đặt của người lớn khi cho trẻ em làm con nuôi Sự đồng
ý có được do dụ dỗ, mua chuộc hay bị lừa dối, cưỡng ép, khống chế… dù từ bất cứ ai, đều làm cho quan hệ nuôi con nuôi không có giá trị pháp lý
Vì vậy, sự thể hiện ý chí của chính trẻ em được nhận làm con nuôi được coi là hành vi pháp lý đơn phương, ý chí này được thể hiện một cách độc lập và được thể hiện bất cứ thời điểm nào, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể khác trong quan hệ nuôi con nuôi như: cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ
- Sự thể hiện ý chí của nhà nước
Ý chí của nhà nước được thể hiện thông qua việc công nhận hoặc không công nhận việc nuôi con nuôi trên cơ sở xem xét ý chí tự nguyện của các bên đương sự, thẩm tra các điều kiện cần thiết từ phía người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi Sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thể hiện sự thông qua việc tiến hành đăng ký nuôi con nuôi và ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi Quyết định công nhận nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con, giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận làm con nuôi
(13)
Theo khoản 1 Điều 12 Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em ngày 20/11/ 1989 ghi nhận: “ phải đảm bảo cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích ứng với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ em”.
Theo khoản 1 Điều 13 Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em ngày 20/11/ 1989 ghi nhận:“ trẻ em
có quyền tự do bày tỏ ý kiến; quyền này phải bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin và tư tưởng không kể biên giới, hoặc qua truyền miệng, bản viết tay hay bản in, dưới bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác mà trẻ em lựa chọn”.
Điều 20 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004.
(14)
Khoản 2 điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000.
Trang 17Nói chung, việc nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý phức hợp bao gồm nhiều sự kiện cấu thành Giữa các sự kiện cấu thành có mối liên hệ linh hoạt, không ràng buộc, không chi phối, không phụ thuộc lẫn nhau Các sự kiện đó có thể phát sinh ở những thời điểm khác nhau một cách tự do và độc lập Và chúng sẽ được liên kết lại tại thời điểm cuối, cùng với sự phán quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các bên đương sự thể hiện rõ ý chí của mình, đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết của việc nuôi con nuôi Nói theo một cách khác, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chỉ có thể công nhận quan hệ nuôi con nuôi khi các sự kiện cấu thành
đã hội tụ đầy đủ và được liên kết với nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật về nuôi con nuôi
Vì vậy, có thể nói nhìn dưới góc độ là sự kiện pháp lý, việc nuôi con nuôi có bản chất là sự cấu thành sự kiện pháp lý phức hợp giản đơn (còn gọi là phức hợp tự do) Xác định rõ của bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi với tư cách là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật là cơ sở để để xây dựng những quy phạm pháp luật phù hợp, chính xác để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi
1.2 Lý luận chung về quan hệ cha, mẹ nuôi – con nuôi
1.2.1 Khái niệm
Nuôi con nuôi – một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa một người (người nuôi) nhận nuôi người khác ( con nuôi), dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ này (15) Nhằm tạo ra tình cảm gắn bó giữa hai người, đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội
Nếu như quan hệ cha, mẹ đẻ và con đẻ được xác lập trên cơ sở là quan hệ huyết thống, thì quan hệ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi được thuyết lập theo quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dựa trên cơ sở là đáp ứng những nguyện vọng của các đương sự và sự tuân thủ các quy định của pháp luật về các điều kiện xác lập quan
hệ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi Như vậy, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ ràng buộc giữa một người vào một hoặc hai người khác, những người có liên quan trong mối quan hệ này không có mối liên hệ huyết thống với nhau như cha, mẹ ruột và con ruột, nhưng người nhận nuôi vẫn được xem như là cha, mẹ của người được nhận nuôi dù không sinh ra người được nhận nuôi Người được nhận nuôi về
(15)
Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội, NXB CAND Hà Nội, 2002, trang 171.
Trang 18phần mình coi người nhận nuôi như là cha, mẹ ruột của mình (16)
Theo khoản 1 điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000: “ Nuôi con nuôi là việc
xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội” Và theo Dự thảo Luật Nuôi
con nuôi tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII thì ta vẫn có thể thấy Dự thảo luật tiếp tục kế thừa khái niệm đó nhằm xây dựng một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về nuôi con nuôi, chứ không tạo ra một cách hiểu khác về chế định nuôi con nuôi ở Việt Nam
Theo đó, “việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững
giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, vì lợi ích tốt nhất của trẻ
em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục trong môi trường gia đình”(17) khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế Như vậy, về cơ bản thì khái niệm về quan hệ nuôi con nuôi giữa Luật Hôn nhân
và Gia đình 2000 và Dự thảo Luật Nuôi con nuôi không có gì thay đổi
1.2.2 Phân loại nuôi con nuôi
1.2.2.1 Theo phong tục Việt Nam
Có ba loại con nuôi: con nuôi chính thức, con nuôi danh nghĩa và con nuôi giả vờ (18)
- Con nuôi chính thức: Có 2 loại
+ Con lập tự: Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này là do nhu cầu có con trai để
thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường Do đó, trong gia đình không có con trai, thì thường nuôi con trai của anh (em) ruột hoặc con trai của anh (em) chú, bác ruột Đây
là hiện tượng đã tồn tại từ lâu trong lòng xã hội Việt Nam và có tính phổ biến ở mọi vùng của đất nước ta, có thể phát sinh nhiều hoặc ít, phụ thuộc vào từng địa phương
Theo hình thức “con nuôi lập tự”, thì con nuôi có thể được nuôi từ khi mới lọt lòng,
hoặc lớn rồi mới được xin nuôi, thậm chí có người đã thành gia thất, có con rồi mới được nhận làm con nuôi Người con nuôi lập tự đó chịu trách nhiệm săn sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ nuôi lúc tuổi già và hương khói tang tế sau khi mất, quyền được hưởng thừa kế hơn cả những người con gái do chính cha, mẹ sinh ra Điều đặc biệt là việc (16)
Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Tập1-Gia đình , TS Nguyễn Ngọc Điện, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh 2002, trang 197.
Trang 19nuôi con nuôi này, mặc dù không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng nó lại được cộng đồng dân cư thừa nhận, được gia tộc ( họ hàng) chấp nhận và coi đó là sự cần thiết để duy trì dòng họ và hợp với đạo (19).
Xét về góc dộ pháp lý, thì mục đích của việc nuôi con nuôi này hoàn toàn không phù hợp với pháp luật Việc nhận nuôi con nuôi này không phù hợp với mục đích đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội,
mà chủ yếu là để duy trì người thờ cúng dòng họ, tổ tiên Người đã trưởng thành được nhận làm con nuôi, không phải là trong trường hợp làm con nuôi người già yếu cô đơn ( theo pháp luật), mà cũng chỉ để có người thờ tự Rõ ràng là, việc nuôi con nuôi này chỉ gây thêm sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, vì bản chất của nó là nhằm lập tự, củng
cố thêm cho tư tưởng trọng nam khinh nữ mà thôi
+ Con nuôi hạ phóng tử: có mấy trường hợp sau:
Con hoang thai nuôi từ lúc mới sinh: có nhà hiếm con dặn từ trước, khi sinh nở thì đón về nuôi, sản phụ được bồi dưỡng một ít tiền và sau đó không được quyền nhận hay thăm con (20) Tập quán này ở một chừng mực nhất định có thể giải quyết những khó khăn nhất thời cho các bên Nhưng khi nó trở thành phổ biến nó sẽ đi ngược lại quy chuẩn đạo đức ở chỗ người mẹ nhận được một ít tiền (đứa trẻ có thể vô tình đã trở thành một thứ hàng hóa) và sau đó không được nhận hay thăm con
Con mồ côi hay con nhà nghèo khó, đem về nuôi làm phúc, mặc dầu không hiếm hoi Nếu nuôi thực sự từ lúc con nhỏ cũng được hưởng mọi quyền lợi trong gia đình Cha mẹ nuôi cũng có trách nhiệm dựng vợ, gả chồng cho con nuôi, sống nuôi chết chôn, cũng được cha mẹ nuôi chia một phần gia tài khi ra ở riêng Trường hợp cha mẹ nuôi không có con trai cũng có thể lập người con này làm thờ tự, song không được can dự vào phần hương hỏa, tự điền cũng như việc họ Bởi lẽ khác dòng máu, không được họ hàng chấp nhận Tang chế đối với cha, mẹ nuôi cũng ba năm như đối với cha, mẹ đẻ, nhưng đối với họ hàng bên cha, mẹ nuôi thì không tang Trừ một số trường hợp con nuôi đã mang họ của cha nuôi, không biết cha đẻ ( hoang thai) và đã được họ hàng chấp nhận thì mọi lễ nghi hiếu hỷ, tang chế đều như người trong họ Song vẫn không hưởng hương hỏa, tự điền Nếu cha nuôi là tộc trưởng vẫn không được kế thừa tộc trưởng mà vai trò tộc trưởng thuộc về con trai trưởng của người
Trang 20Tập quán này rất phù hợp với pháp luật về nuôi con nuôi, vì nhà nước luôn khuyến khích việc nhận trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật làm con nuôi, việc nhận làm con nuôi này đảm bảo cho đứa trẻ có một cuộc sống tốt hơn.
Theo phong tục của một số địa phương “ vô nam dụng nữ” thì con rể cũng có
quyền lợi và nghĩa vụ như con nuôi hạ phóng tử nói trên, nhưng chỉ để tang cha, mẹ
vợ một năm, anh em ruột của vợ chín tháng, ngoài ra không để tang cho ai bên nhà vợ Lập tự thì chỉ lập tự cho cháu ngoại, không lập tự cho con rể Cháu ngoại không được làm tộc trưởng (như đã nêu ở trên)
- Con nuôi danh nghĩa: có 3 trường hợp sau
+ Nhà hiếm con qua mấy lần tảo sa, tảo lạc, hữu sinh vô dưỡng, hoặc theo số tử vi lỗi giờ sinh, xung khắc với con nên phải bán làm con nuôi cho dễ nuôi Khi sinh đẻ xong, cha, mẹ để sẵn một chai rượu, cơi trầu đến nhà cha nuôi xin cho ghé cửa nương nhờ, sau đó mời cha, mẹ nuôi đến nhà xem mặt đứa trẻ và nhường quyền cho cha nuôi đặt tên cho đứa trẻ Sau khi lớn lên thì mùng năm ( Đoan ngọ) ngày tết dắt đứa trẻ đến nhà cha, mẹ nuôi Đứa trẻ cũng xếp theo vị trí anh em ruột một nhà theo quan hệ lứa tuổi Sau này lớn lên, trong huyết thống ba đời anh em, con cháu không được quyềnlấy nhau Nếu vi phạm cũng coi như mắc tội loạn luân Chọn cha, mẹ nuôi thì chọn gia đình phúc hậu, lắm con, nhiều cháu, làm ăn thịnh vượng (22) Việc nhận con nuôi này trên thực tế không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật Con nuôi được xếp vào vị trí của anh, em cùng một nhà nên không được quyền kết hôn, nhưng pháp luật không cấm kết hôn trong trường hợp này
+ Anh em kết nghĩa với nhau thân tình, nhận cha, mẹ của anh em cũng như cha,
mẹ của mình và ngược lại cha, mẹ cũng nhận người anh em kết nghĩa với con mình như con cái trong nhà Trong trường hợp đó, người Việt thì gọi chung là con nuôi,
cha, mẹ nuôi nhưng theo tiếng Hán gọi là “ nghĩa phụ, nghĩa tử”, tang tế không quy định cho trường hợp này, nếu có gả con cho nhau thì càng tốt đẹp “ thân thượng gia
thân” (23) Việc nhận nuôi con nuôi này cũng không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người nuôi và con nuôi, nhưng làm tăng thêm nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt Nam
+ Do cảm ân đức, nghĩa tình nhận làm con nuôi(24)
(22) (23) (24)
101 điều nên biết về phong tục Việt Nam, PGS TS Hoàng Mai, NXB Văn hóa dân tộc, Hà nội –
2006, trang 54, 55.
Trang 21- Con nuôi giả vờ
Vì con khó nuôi, sợ ma tới quấy nhiễu, người mẹ đem con bỏ đường bỏ chợ, nhưng dặn người trực sẵn đưa về nuôi, sau vài giờ hoặc vài ngày đến chuộc và nhận làm con nuôi Đây là cách đánh tráo con đẻ thành con nuôi, con nuôi chính là con đẻ để lừa
ma Trường hợp này đành rằng phải thông cảm quy ước trước, nhưng cũng phải chọn người mắn đẻ, con không sài đẹn, nuôi súc vật mát tay (25)…Việc nhận nuôi con nuôi này do tập tục mê tín dị đoan, hoàn toàn không phù hợp với các quy chuẩn đạo đức hay pháp luật
Ngoài ba loại con nuôi dương trần nói trên, còn có tục “ bán khoán” con cho thần
linh Những đứa trẻ khi sinh gặp giờ xấu, sợ khó nuôi, người xưa thường làm lễ cúng giải trừ ma quỷ ám Có những cặp vợ chồng hiếm hoi muộn mằn đường con cái, cũng
sợ khó nuôi nên họ làm lễ bán con vào chùa làm con cửa phật, cửa thánh, dân gian gọi
là “bán khoán” Mục đích của bán khoán là để tà ma kiêng sợ, không làm hại đứa
trẻ…Đã là con thần thánh, có tấu, có sớ, có bùa, có dấu ấn son hẳn hoi, thì ma quỷ không dám béng mảng đến nhà đã đành, mà bố mẹ nuôi con cũng phải đặc biệt chú ý: không cho con ăn uống những thứ uế tạp, phải mặc đồ sạch sẽ, quần áo không được vá
chằng vá đúp, không để con bò lê la, không được mắng chửi, xỉ vả con, sợ “ngài gọi
con về trời” Con chỉ được gọi cha đẻ bằng thầy, bằng cậu… Gọi mẹ bằng mợ, bằng
chị, bằng u, bằng đẻ…Hai từ “cha, mẹ” chỉ được tôn xưng với thần thánh Nếu đứa trẻ
được bán vào cửa chùa thì lấy họ Mẫu, còn được bán vào cửa thánh thì mang họ Trần,
thay họ cha, mẹ Sở dĩ gọi là “ bán khoán” vì chỉ bán vào thời gian con còn nhỏ để dễ
nuôi Khi trẻ lên khoảng 10 tuổi, tức là hết tuổi đồng ấu, đến tuổi vào sổ làng xã thì làm lễ chuộc con về, không được để quá tuổi đó(26)
Chính thể mới hiện nay công nhận con nuôi cũng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang con đẻ, đó là con nuôi thực sự được chính quyền địa phương trên cở sở sự thỏa thuận giữa người nuôi và người đẻ hoặc giữa người nuôi và thân nhân đỡ đầu trong trường hợp cha, mẹ không còn
Đứa bé đến tuổi thiếu niên cũng được quyền tự nguyện xin làm con nuôi, chọn cha, mẹ nuôi Cha, mẹ nuôi có thể nuôi nhiều con tùy theo khả năng của gia đình, nhưng đứa trẻ không thể nhận làm con nuôi của nhiều gia đình Tuổi của cha, mẹ nuôi phải cao hơn tuổi con nuôi ít nhất 20 tuổi
Trang 221.2.2.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 - Quốc Hội Khóa XII)
Dự thảo luật quy định có 2 loại con nuôi: Con nuôi trọn vẹn và con nuôi đơn giản
Đây là một trong những điểm mới của Dự thảo Luật Nuôi con nuôi về việc phân chia con nuôi thành 2 loại nhằm bảo đảm cho người nhận nuôi và người cho con nuôi có
sự lựa chọn hình thức nuôi phù hợp với điều kiện và nguyện vọng nuôi của cả 2 bên
- Con nuôi đơn giản
Theo khoản 2 điều 3 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi có giải thích là “ việc nuôi con
nuôi làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhưng không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa người được nhận làm con nuôi với cha, mẹ đẻ, trừ trường hợp có quy định khác” Hình thức nuôi con nuôi đơn giản về cơ bản đây là hình thức nuôi con
nuôi theo những quy định của luật hiện hành và được đưa vào dự án luật, đã có sự phát triển và quy định chặt chẽ hơn, rõ hơn về đặc thù quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Nuôi con nuôi đơn giản không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha, mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Nuôi con nuôi trọn vẹn
Theo khoản 3 điều 3 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi có giải thích là “ là việc nuôi con
nuôi làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ và con, giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, đồng thời làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp
lý giữa người được nhận làm con nuôi với cha, mẹ đẻ” Đây là hình thức nuôi con
nuôi mới, được quy định trong Dự thảo luật, tuy rằng trên thực tế cũng đã tồn tại ở nước ta ( đó là nuôi con nuôi đối với trẻ em bị mồ côi, bị bỏ rơi), đây cũng là hình thức nuôi con nuôi phổ biến ở nhiều nước Việc nuôi con nuôi trọn vẹn làm phát sinh đầy đủ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi Đồng thời làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha, mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi Bên cạnh đó con nuôi trọn vẹn ở trong nước được thay đổi dân tộc theo dân tộc cha,
mẹ nuôi Nuôi con nuôi trọn vẹn được áp dụng đối với trẻ em 15 tuổi trở xuống thuộc trường hợp mồ côi, bị bỏ rơi và trẻ em mà cha, mẹ đẻ tự nguyện đồng ý cho làm con nuôi trọn vẹn
Như vậy, điểm khác biệt lớn nhất giữa hai hình thức nuôi con nuôi này là, nuôi con nuôi đơn giản không làm chấm dứt hoàn toàn các quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha,
mẹ đẻ và con được cho làm con nuôi Con nuôi trọn vẹn thì làm chấm dứt hoàn toàn các quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và con đã cho làm con nuôi Việc bổ sung chế định này sẽ bảo đảm tốt hơn các quyền, lợi ích tốt nhất cho trẻ em được nhận làm con nuôi trọn vẹn để trẻ em được phát triển bình thường mà không bị mặc cảm là con
Trang 23nuôi khi hòa nhập vào đời sống gia đình, cộng đồng xã hội và phù hợp với thông lệ quốc tế.
1.2.3 Nguyên tắc trong việc giải quyết nuôi con nuôi
1.2.3.1 Theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2000
Theo khoản 1 điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình có 4 nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết nuôi con nuôi
Thứ 1 - Một người có thể nhận một hoặc nhiều người làm con nuôi
Quy định này chính là cơ sở pháp lý tạo điều kiện để trẻ có nhiều cơ hội được nhận làm con nuôi, xuất phát cho mục đích bảo đảm cho trẻ em được hưởng sự nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục của gia đình, cộng với trên thực tế có rất nhiều trẻ em vì rất nhiều lý do mà không được nuôi dưỡng và chăm sóc Trong khi đó, cũng có rất nhiều gia đình không có con hoặc có điều kiện khá giả mong muốn được chăm sóc và nuôi dưỡng các em Pháp luật không hạn chế số lượng con nhận nuôi nếu như mục đích của việc nhận nuôi con nuôi được bảo đảm Và trên thực tế thì những người nhận nhiều trẻ
em làm con nuôi luôn nhận được sự quan tâm, động viên và giúp đỡ của chính quyền các cấp và các tổ chức nhân đạo trong và ngoài nước, đây là biểu hiện sự quan tâm của nhà nước và cộng đồng xã hội
Thứ 2 - Giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con
Quy định này xuất phát từ nguyên tắc hiến định: “ nhà nước và xã hội không thừa
nhận việc phân biệt đối xử giữa các con…con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú, con ngoài giá thú” (27) Việc nhận nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa các bên Vì vậy, quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng là quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con Con nuôi có đầy đủ mọi nghĩa vụ và quyền trong quan hệ với cha, mẹ nuôi như con đẻ, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa con nuôi và con đẻ Đồng thời cha, mẹ nuôi cũng cũng có đầy đủ mọi nghĩa vụ và quyền đối với con nuôi như là cha mẹ đẻ đối với con do mình sinh ra
Thứ 3 - Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ tàn tật làm con nuôi
Nhà nước ta khuyến khích nhận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (bị mồ côi, bị bỏ rơi,
bị tàn tật, hoàn cảnh kinh tế gia đình quá khó khăn…mà không có người nuôi dưỡng, chăm sóc) làm con nuôi, là xuất phát từ chính mục đích của việc nuôi con nuôi , đồng thời cũng là thể hiện tính nhân đạo của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tạo điều (27)
Điều 64 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 và điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000.
Trang 24kiện cho những trẻ em không nơi nương tựa có được một mái ấm gia đình, được hưởng sự nuôi dưỡng, giáo dục tốt để phát triển lành mạnh cả về thể chất và trí tuệ Quy định này là sự kế thừa và phát triển quy định tại điều 38 Luật Hôn nhân và Gia
đình 1986 đó là “ nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận các trẻ em mồ côi làm
con nuôi Con liệt sĩ được nhận làm con nuôi vẫn hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ” Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 không chỉ khuyến khích nhận trẻ em mồ côi làm
con nuôi mà tất cả trẻ em khác không được hưởng sự yêu thương, chăm sóc và giáo dục của gia đình như trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật đều được nhà nước khuyến khích nhận làm con nuôi Dù rơi vào hoàn cảnh nào thì các em cũng là những người thực sự cần tình yêu thương và bàn tay chăm sóc của cha, mẹ Hơn nữa, do hậu quả của chiến tranh để lại, đặc biệt do tác động của chất độc màu da cam và các nguyên nhân khác, cho nên còn rất nhiều trẻ em sinh ra không có sự nguyên vẹn về thể chất và trí não, bố
mẹ các em vì đều kiện kinh tế quá khó khăn không thể chăm sóc, chạy chữa cho các
em được, việc khuyến khích nhận những trẻ em này làm con nuôi để có cơ hội cho các
em được chữa bệnh, chăm sóc giáo dục tốt hơn là chủ trương nhân đạo của đảng và nhà nước ta
Thứ 4 - Nghiêm cấm việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác
Đây là quy định mới của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 so với Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 Quy định này nhằm đảm bảo mục đích của việc nuôi con nuôi Thực tế thời gian qua, ở một số địa phương, do buông lỏng việc quản lý và lợi dụng những kẻ
hở của pháp luật, nên đã phát sinh những tiêu cực trong quá trình giải quyết cho và nhận con nuôi
Một số trường hợp khác người nhận nuôi con nuôi đã lợi dụng việc nuôi con nuôi,
có hành vi bóc lột sức lao động của con nuôi, xâm phạm tình dục đối với con nuôi Những việc làm đó hoàn toàn trái với mục đích của việc nhận con nuôi, trái với pháp luật và đạo đức xã hội Quy định này của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chính
là cơ sở để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hiện tượng tiêu cực đó Trên cơ sở quy định này, pháp luật có các chế tài hành chính và hình sự tương ứng
1.2.3.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội Khóa XII)
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đưa ra một số quy định có tính nguyên tắc, nhằm điều chỉnh quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi ở Việt Nam Như đã phân tích ở trên, mục tiêu cơ bản của Dự thảo luật là điều chỉnh việc nuôi con nuôi làm phát sinh quan
hệ pháp lý lâu dài giữa cha, mẹ và con Nói cách khác, bất kỳ quan hệ nuôi con nuôi
Trang 25nào do pháp luật điều chỉnh cũng phải hướng đến mục tiêu thiết lập mối quan hệ pháp
lý gắn bó, ổn định, lâu dài giữa cha, mẹ và con
Nguyên tắc xuyên suốt của Dự thảo Luật Nuôi con nuôi là bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ trẻ em,
vì lợi ích tốt nhất của trẻ em
Thứ 1 - Tôn trọng quyền của trẻ em
Ở đây, theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi tôn trọng quyền của trẻ em chính là khi giải quyết việc nuôi con nuôi phải tôn trọng quyền trẻ em là được sống trong môi trường gia đình của chính mình (gia đình gốc).Và việc nuôi con nuôi chỉ là biện pháp thay thế gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em Gia đình là cái nôi đầu tiên của trẻ em,
là nơi các em được chăm sóc và nuôi dạy tốt nhất về cả vật chất lẫn tinh thần Trong
lời nói đầu của Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em cũng khẳng định: “ gia
đình là nhóm xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em” Do vậy, việc trẻ em được sống chung với cha mẹ
được ghi nhận là một trong những quyền của trẻ em Quyền này được ghi nhận tại điều 9 Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em và tại điều 13 Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004: “ trẻ em có quyền chung sống với cha mẹ Không
ai có quyền cách ly trẻ em với cha mẹ, trừ trường hợp việc cách ly như thế là vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em” Nguyên tắc này đã thỏa mãn về một trong những quyền của trẻ
em, tạo điều kiện cho trẻ em nếu khi gia đình gốc muốn cho trẻ em đi làm con nuôi nhưng nếu trẻ em không đồng ý thì không thể bắt buộc trẻ em tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi đó
Thứ 2 - Cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài chỉ là giải pháp cuối cùng
Đây là mục tiêu chủ đạo, là quan điểm xuyên suốt của Dự thảo luật, là các quy định
đảm bảo “ tăng cường việc nuôi con nuôi trong nước đối với trẻ em, ưu tiên giải quyết
cho trẻ em làm con nuôi trong nước, việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chỉ là giải pháp cuối cùng” Như vậy, việc trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chỉ
là biện pháp thay thế cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thu xếp được cho các em làm con nuôi ở trong nước Việc tăng cường nuôi con nuôi trong nước là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: mồ côi,
bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn…có cơ hội được người trong nước nhận làm con nuôi, được nuôi dưỡng và lớn lên ngay trong đất nước mình Từ đó, bảo đảm cho trẻ em có điều kiện hòa nhập vào đời sống cộng đồng dân tộc Việt Nam của mình Bởi
lẽ, tìm được mái ấm gia đình cho các em ở ngay trên quê hương của mình sẽ góp phần làm dịu đi nỗi đau bị bỏ rơi, mồ côi, hoặc có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt và như vậy
sẽ giúp các em trở thành công dân tốt cho xã hội Và để tăng cường việc nuôi con nuôi
Trang 26trong nước, Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đã quy định biện pháp tìm gia đình thay thế ngay trong nước như là một biện pháp bắt buộc đối với trẻ em trước khi giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài Và việc tìm gia đình thay thế được thực hiện liên thông ở ba cấp (xã, tỉnh, trung ương) với tổng thời gian là 90 ngày, so với trước đây là
30 ngày
Thứ 3 - Ưu tiên giải quyết làm con nuôi cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những trẻ em mà theo quy định tại khoản 1 điều 3
Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004 thì “ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
được hiểu là có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình và cộng đồng” Từ định
nghĩa này điều 40 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004 đã quy định: “ trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, trẻ em phải làm việc xa gia đình, trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em vi phạm pháp luật” Nguyên tắc này xuất phát từ tính
nhân đạo trong pháp luật của nước ta, vì những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được nêu
ra đây là những trẻ em có những thiếu thốn, mất mát về thể chất và tinh thần hơn một
số trẻ em khác cùng đang có nhu cầu cần có cha, mẹ nuôi Việc ưu tiên này sẽ tạo cho các em có cơ hội được bù đắp những thiếu thốn vật chất và tinh thần mà các em đã phải nhận lấy Các em sẽ có nhiều điều kiện vượt qua số phận và trở thành những công dân tốt cho xã hội
1.2.4 Những điểm giống và khác nhau về nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi giữa Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 và Dự thảo Luật Nuôi con nuôi
- Giống nhau
+ Về nguyên tắc của Dự thảo Luật Nuôi con nuôi cũng như Luật Hôn nhân và Gia
đình 2000 đều hướng đến mục tiêu là giúp cho những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật…có được một gia đình thay thế, để bù đắp những mất mát mà các em đã trãi qua Phù hợp với chủ trương, đường lối của đảng và pháp luật của nước ta về công tác bảo
vệ trẻ em, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em
+ Bên cạnh đó, cả Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 và Dự thảo Luật Nuôi con nuôi cùng hướng đến mục tiêu thiết lập mối quan hệ pháp lý gắn bó, ổn định, lâu dài giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi
Trang 27- Khác nhau
+ Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, thì các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi chỉ chú trọng vào việc tìm gia đình thay thế cho các em Chưa chú ý đến nguyện vọng được sống trong gia đình gốc của các em
+ Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi thì khi giải quyết việc nuôi con nuôi phải tôn trọng quyền của trẻ em là được sống trong môi trường gia đình gốc; việc nuôi con nuôi chỉ là biện pháp thay thế gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; ưu tiên giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trong nước, việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài chỉ là giải pháp cuối cùng
1.2.5 Nguyên nhân của việc cho và nhận con nuôi
1.2.5.1 Nguyên nhân của việc cho con nuôi
- Nguyên nhân thứ nhất
Do sinh đẻ nhiều và dầy, nên nhiều gia đình nhất là những gia đình có khó khăn về kinh tế lại càng gặp khó khăn nhiều hơn trong việc giáo dục và chăm sóc con cái Nên một trong những cách để họ giải quyết khó khăn đó là phải cho con đẻ của mình làm con nuôi người khác Cũng có một số trường hợp tuy gia đình không sinh đẻ nhiều, nhưng gia đình quá túng thiếu nên buộc lòng họ phải cho con của mình đi làm con nuôi người khác Những trường hợp cho con nuôi nói trên chủ yếu xảy ra ở những vùng nông thôn nghèo hoặc miền núi
- Nguyên nhân thứ hai
Đó là do lối sống buông thả của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay, dẫn đến hiện tượng là một số người con gái tuy chưa có chồng, nhưng do lầm lỡ đã trót mang thai và khi họ vì lý do nào đó không kịp phá thai được, nên sau khi sinh con, họ muốn
bỏ hay cho đi đứa con mà họ đã sinh ra để có điều kiện xây dựng một gia đình cho mình sau này Trường hợp này thì lại thường xảy ra ở thành thị Sau khi sinh con, họ
có thể mang con đến các trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em để nhờ những cơ
sở này tìm hộ bố mẹ nuôi cho con mình, nhưng cũng có trường hợp, sau khi sinh con
họ bỏ con lại nhà hộ sinh và trốn đi không để lại một tin tức gì
1.2.5.2 Nguyên nhân của việc nhận con nuôi
- Nguyên nhân thứ nhất
Vợ chồng khi sau khi lấy nhau mà trong một thời gian dài mà họ không sinh được con do vợ hoặc chồng ( đôi khi cũng có thể cả vợ và chồng) không có khả năng sinh con
- Nguyên nhân thứ hai
Có những gia đình tuy đã có con, có điều kiện kinh tế khá giả và có lòng hảo tâm nên khi bắt gặp những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như: trẻ em mồ côi cha mẹ,
Trang 28khuyết tất, gia đình đông anh em nên cha, mẹ đẻ không có đầy đủ điều kiện chăm sóc Nên họ xin những đứa trẻ này về làm con nuôi.
- Nguyên nhân thứ ba
Có những người vì một lý do nào đó mà họ không có ý định lập gia đình, nhưng họ không muốn khi về già sống hiu quạnh một mình, không người yêu thương, chăm sóc Nên họ nhận con nuôi để có thể chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục những đứa trẻ này cũng như khi về già họ sẽ không cô quạnh
1.2.5.3 Những nguyên nhân khác của việc cho và nhận con nuôi
- Việc cho và nhận con nuôi nhằm mục đích để hợp pháp hóa việc chuyển hộ khẩu
từ nông thôn lên thành phố Trường hợp này tuy không xảy ra nhiều nhưng cũng đã có
và việc cho và nhận con nuôi này xảy đối với những người có quan hệ họ hàng với nhau
- Việc cho và nhận con nuôi nhằm mục đích hợp pháp hóa việc xuất cảnh ra nước ngoài cho đứa trẻ Việc này cũng thường xuyên diễn ra và diễn ra giữa những người
có quan hệ họ hàng với nhau
1.2.6 Ý Nghĩa của việc nuôi con nuôi
Ý nghĩa cơ bản nhất của việc nuôi con nuôi đó là đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho phù hợp với đạo đức, truyền thống văn hóa của dân tộc, với bản chất xã hội mà nhân dân ta đang gìn giữ và xây dựng
Hiện nay, có rất nhiều trẻ em khi được sinh ra đã bị cha, mẹ bỏ rơi, nhiều em bị dị tật bẩm sinh, hoặc bị ảnh hưởng do hậu quả của chiến tranh để lại… Các em đã phải sớm lăn lộn với đời, phải bươn chải để kiếm sống, không được sống trong một môi trường giáo dục tốt, một mái ấm gia đình với tình thương yêu chăm sóc của cha, mẹ
và người thân để các em có thể phát triển toàn diện về thể chất cũng như là về tinh thần, và còn có rất nhiều gia đình vì quá nghèo nên không có đầy đủ những điều kiện
để chăm sóc và giáo dục các em thật tốt Nếu như các trẻ em đó được nhận làm con nuôi, được hưởng sự chăm sóc và nuôi dưỡng tốt từ phía gia đình người nhận nuôi như: cha nuôi, mẹ nuôi, và những người thân thuộc trong gia đình cha, mẹ nuôi thì sẽ bảo đảm được sự phát triển toàn diện cho trẻ em, tránh được việc các em bị sa ngã đi vào con đường sai trái Vì vậy, trong bất cứ điều kiện và hoàn cảnh như thế nào thì việc nuôi con nuôi đều phải được bảo đảm cho mục đích là làm cho người được nhận làm con nuôi, được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục tốt Nhà nước phải quan tâm đến vấn đề này một cách thường xuyên, liên tục để phòng tránh hiện tượng về tệ nạn buôn bán trẻ em, xâm phạm sức khỏe và bóc lột sức lao động của trẻ em
Trang 29Bên cạnh việc khuyến khích nhận trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em
bị bỏ rơi, bị tật nguyền làm con nuôi nhà nước còn tạo những điều kiện thuận lợi để người đã thành niên là thương binh, người tàn tật, người bị mất năng lực hành vi dân
sự được làm con nuôi Hoặc những người có điều kiện nhận nuôi dưỡng những người già yếu, cô đơn
Pháp luật Việt Nam ghi nhận và khuyến khích việc nuôi con nuôi trong nước giữa công dân Việt Nam với nhau Nhưng nếu giải pháp nuôi con nuôi trong nước không thực hiện được (không hoặc không thể tìm được gia đình nuôi thích hợp tại quốc gia mình) thì mới tính đến nuôi con nuôi quốc tế Bởi vì, việc di chuyển các em tới một môi trường sống với các điều kiện về văn hóa, ngôn ngữ, điều kiện sống…không phải
là một giải pháp tốt cho sự phát triển về tâm sinh lý của trẻ em, nhất là đối với những trẻ em lớn tuổi đã nhận thức được một phần nào đó về môi trường sống xung quanh
Do vậy, giải pháp nuôi con nuôi quốc tế là giải pháp cuối cùng và giải pháp này có điểm thuận lợi là đem lại một gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm ra được gia đình thích hợp cho trẻ ngay tại nước mình Và để bảo vệ quyền lợi cho những trẻ em này luật pháp Việt Nam đã xây dựng một hành lang pháp lý khá hoàn chỉnh để bảo vệ quyền lợi cho các em Bên cạnh đó nước ta cũng tích cực tham gia ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế về bảo vệ trẻ em và các hiệp ước song phương trong lĩnh vực nuôi con nuôi
Trang 30CHƯƠNG 2 XÁC LẬP QUAN HỆ CHA, MẸ NUÔI – CON NUÔI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2000
VÀ DỰ THẢO LUẬT NUÔI CON NUÔI
Để việc nuôi con nuôi được pháp luật công nhận và là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi, thì việc nhận nuôi con nuôi phải tuân theo các điều kiện và thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi
2.1 Điều kiện về xác lập quan hệ cha, mẹ nuôi - con nuôi
Việc nuôi con nuôi chỉ có thể được xác lập do sự bày tỏ ý chí của người nhận nuôi
và được người được nhận nuôi hoặc người đại diện của người được nhận nuôi trong một khuôn khổ theo quy định của pháp luật về thủ tục nuôi con nuôi tiến hành dưới sự giám sát của nhà nước
2.1.1 Điều kiện liên quan đến người nhận nuôi con nuôi
Người nhận nuôi con nuôi phải là thể nhân, không thể có trường hợp một người là con nuôi của một pháp nhân, một tổ hợp tác hay là một hộ gia đình Theo khoản 1
điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 “ Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ
giữa cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được chăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức
và xã hội” Từ đó ta có thể thấy rằng chỉ có thể nhân mới có thể xác lập được quan hệ
cha, mẹ nuôi và con nuôi
Vì Vậy, người nhận nuôi con nuôi đó có thể là một cá nhân độc thân hoặc là một cặp vợ chồng Về mặt lý thuyết thì một cá nhân đang có vợ hoặc chồng có thể nhận con nuôi mà không cần có sự tham gia hoặc sự đồng ý của người chồng hay người vợ còn lại Tuy nhiên, đây là một trường hợp khá đặc biệt, Luật Hôn nhân và Gia đình
2000 không có quy định cụ thể về việc vợ chồng nhận nuôi con nuôi phải có sự thỏa thuận của hai vợ, chồng Dẫn đến thực tiễn hiện nay người nhận nuôi con nuôi có vợ (chồng) vẫn được nhận con nuôi, mà không nhất thiết phải có sự đồng ý của người chồng ( vợ) còn lại
2.1.1.1 Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000
- Điều kiện đối với người nuôi là cá nhân độc thân
Theo điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, người nuôi phải có đầy đủ các điều
kiện sau đây: “ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở
lên; Có tư cách đạo đức tốt; Có điều kiện bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi
Trang 31dưỡng, giáo dục con nuôi; Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội” Việc quy định
như vậy, nhằm đảm bảo người nhận nuôi con nuôi thực hiện tốt chức năng làm cha, làm mẹ của mình Người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về: năng lực hành vi, tư cách đạo đức tốt, điều kiện để bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, mức chênh lệch về độ tuổi, và có hạnh kiểm về tư pháp tốt
+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
Từ đủ mười tám tuổi trở lên;
Không phải là người bị mất năng lực hành vi Và không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (28)
Điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người nhận nuôi con nuôi là quy định mới của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 so với Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 Quy định này rất cần thiết cho việc đảm bảo cho người con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng và hưởng một cuộc sống hạnh phúc, trọn vẹn…Nếu người nhận nuôi con nuôi không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Thì họ sẽ không nhận thức được trách nhiệm làm cha, làm mẹ của mình, không thể bày tỏ ý chí của mình một cách đúng đắn trong việc nhận nuôi con nuôi, và trong suốt quá trình nuôi dưỡng thì không thể bảo đảm được cuộc sống bình thường, đầy đủ, hạnh phúc cho người con nuôi Như thế, mục đích của việc nhận nuôi con nuôi không đạt được
Tuy nhiên, trong trường hợp người nhận nuôi con nuôi là người “ già yếu, cô đơn”
thì vấn đề năng lực hành vi dân sự không được pháp luật nhắc tới Và theo tôi thì
người được nhận làm con nuôi của người “già yếu, cô đơn”, mới phải là người cần có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Vì ở đây mục đích của việc nuôi con nuôi đã “ngược
lại”, người cần được sự chăm sóc, nuôi dưỡng mới chính là những người nhận con
(28)
Theo khoản 1 điều 23 BLDS 2005 : “ người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tóa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.
Trang 32nuôi Việc chăm sóc này chỉ có thể được đảm bảo khi con nuôi đã trưởng thành và nhận thức rõ được trách nhiệm của mình trong quan hệ nuôi con nuôi.
+ Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên:
Đây là quy định kế thừa quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 1986, đây là điều kiện cần thiết cho cha, mẹ nuôi có thể đảm bảo nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi đối với con nuôi Về mặt sinh học, giữa hai thế hệ kế cận nhau luôn phải có một khoảng cách nhất định về tuổi tác mới đảm bảo được sự tôn trọng của con cái, cũng như để đảm bảo khả năng nuôi dưỡng của cha, mẹ đối với con cái Đồng thời, quy định này được đặt ra cũng nhằm hạn chế và ngăn chặn việc nhận nuôi con nuôi để lạm dụng tình dục đối với con nuôi (29) Do đó, nếu một người làm con nuôi của cả hai vợ, chồng thì cả cha nuôi lẫn mẹ nuôi phải hơn con hai mươi tuổi trở lên
+ Có tư cách đạo đức tốt, có điều kiện thực tế để bảo đảm trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi:
Đây là điều kiện hết sức quan trọng để đảm bảo cho người con nuôi, nhất là con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt, được sống trong môi trường lành mạnh, thuận lợi cho phát triển về thể chất, trí tuệ và đạo đức Quy định này là điểm mới của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 so với Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 Do trên thực tế, nhiều người nhận con nuôi về đã không thể hiện trách nhiệm làm cha, làm mẹ của mình mà có hành vi ngược đãi con nuôi, có sự phân biệt đối xử giữa con nuôi với con ruột, làm cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc Người nhận nuôi con nuôi đã không tạo ra một mái ấm thực sự cho con nuôi, cho nên mục đích của việc nhận nuôi con nuôi đã không được đảm bảo
Tuy nhiên, trong trường hợp người già yếu, cô đơn nhận nuôi con nuôi thì quy định này khó được bảo đảm, bởi vì chính họ là người đang cần sự trông nom, chăm sóc nên khó đáp ứng yêu cầu do pháp luật đã đặt ra Vì vậy, có thể thấy rằng điều kiện này không áp dụng đối với người già yếu, cô đơn nhận người trên mười lăm tuổi làm con nuôi
+ Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con
chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con , cháu, người đã có công nuôi dưỡng mình;
dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh
(29)
Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (tập thể tác giả), Nxb CTQG, 2004, trang 368.
Trang 33tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Đây là những quy định mới được bổ sung của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 so với Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 Đối với những cá nhân đã có những hành vi đã nêu trên thì không thể có đủ tư cách để nhận và nuôi dạy con nuôi, khi chính bản thân
họ đã có những hành vi xâm hại đến những người thân của họ, không có gì đảm bảo rằng họ sẽ cư xử tốt đối với những người con nuôi, và họ không thể là tấm gương cho người con nuôi noi theo Quy định này đảm bảo cho người con nuôi được sống trong môi trường lành mạnh, hạnh phúc, được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt về thể chất, tinh thần và nhân cách để có thể phát triển một cách bình thường
- Điều kiện đối với người nuôi là vợ chồng
Thứ nhất, Quan hệ hôn nhân của người nhận nuôi con nuôi
Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nên vợ, chồng cũng có quyền như nhau trong việc nhận nuôi con nuôi Đây là quyền nhân thân quan trọng của vợ, chồng Quyền nhận con nuôi vừa bảo đảm lợi ích của vợ, chồng, vừa bảo đảm lợi ích của trẻ em được nhận làm con nuôi nên được nhà nước khuyến khích thực hiện Vợ, chồng có thể cùng nhận nuôi con nuôi hoặc có thể chỉ người vợ hoặc chồng nhận nuôi con nuôi Vì vậy, với tính chất đặc thù của quan hệ hôn nhân, sự thể hiện ý chí của vợ, chồng trong việc nhận nuôi con nuôi của vợ, chồng xem ra phức tạp hơn việc người độc thân nhận nuôi con nuôi Bởi vì sự thể hiện ý chí của vợ, chồng trong việc nuôi con nuôi có ý nghĩa rất quan trọng đối với trẻ em được nhận làm con nuôi Do đó, cần phân biệt trường hợp nào là vợ, chồng hợp pháp và trường hợp nào không được công nhận, từ đó có thể xác định được đó là con nuôi chung hay riêng để dễ dàng đảm bảo quyền và lợi ích của con nuôi
Vợ, chồng là quan hệ giữa hai bên nam, nữ có hôn nhân hợp pháp
Theo quy định tại khoản 6 điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì “ hôn
nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Từ đây, ta có thể hiểu quy định
này là vợ chồng là quan hệ giữa hai bên nam và nữ có kết hôn và việc kết hôn đó được xác lập một cách hợp pháp Hôn nhân hợp pháp là hôn nhân tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Nếu việc xác lập quan hệ vợ, chồng có đăng ký kết hôn, nhưng vi phạm những điều kiện kết hôn do pháp luật quy định tại khoản 3 điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 thì việc kết hôn đó trái pháp luật, hôn nhân đó không hợp pháp, không làm phát sinh quan hệ vợ, chồng giữa hai bên nam, nữ Theo từ điển
giải thích từ ngữ luật học thì “Vợ, chồng là một nam và một nữ, có đủ điều kiện kết
hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình kết hôn với nhau theo thể thức
Trang 34phù hợp với pháp luật ” (30) Vậy ta sẽ hiểu khái niệm vợ chồng theo hướng sau: “ vợ,
chồng là quan hệ hôn nhân được xác lập một cách hợp pháp theo quy định của pháp luật giữa hai người có giới tính khác nhau”, vì một trong những điều kiện kết hôn
được quy định tại khoản 5 điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 là cấm kết hôn
“giữa những người cùng giới tính” Tuy nhiên, trong những năm trước đây vẫn tồn tại những trường hợp nam nữ “chung sống với nhau như vợ, chồng” (31) và không có đăng
kí kết hôn theo quy định của pháp luật Những trường hợp đó vẫn được pháp luật công
nhận là có giá trị pháp lý, đó là “ hôn nhân thực tế”
Quan hệ chung sống như vợ chồng
Quan hệ chung sống như vợ, chồng giữa nam và nữ không đương nhiên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên chung sống Chỉ khi nào việc chung sống đó được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận là “ hôn nhân thực tế ” thì mới làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên nam, nữ trong quan hệ vợ chồng kể từ thời điểm chung sống Vì vậy, hôn nhân thực tế được công nhận là có giá trị pháp lý như hôn nhân hợp pháp(32) Vấn đề “hôn nhân thực tế” được điều chỉnh trong từng giai đoạn
khác nhau với những quy định về điều kiện công nhận khác nhau Vấn đề này được luật điều chỉnh thông qua các văn bản như: Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000, Thông tư số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001, Nghị định số 77/2001/NĐ – CP ngày 22/10/2001 Và việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và hệ quả quả pháp lý của nó đối với việc nhận nuôi con nuôi được phân thành những trường hợp sau:
Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 có hiệu lực)có các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước
ngày 03/01/1987 ( Ngày Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng
ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn Nhà nước khuyến khích và tạo
(30)
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học- Thuật ngữ Luật Hôn nhân và Gia đình, Trường đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, trang 164.
(31)
Điểm 2d Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001: Được coi
là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng nếu họ có đủ đều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sốn với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình ( một bên hoặc cả hai bên chấp nhận);
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đõ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
(32)
Một số ý kiến về việc vợ, chồng nhận nuôi con nuôi, ThS Nguyễn Phương Lan, Tạp chí luật học số 2/2005.
Trang 35điều kiện thuận tiện cho đăng ký kết hôn và việc đăng ký kết hôn đối với những trường này không bị hạn chế thời gian Nếu họ không đăng ký kết hôn thì vẫn được pháp luật công nhận Nếu họ đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ, chồng được xác định kể
từ thời điểm bắt đầu chung sống với nhau
Trường hợp 2: Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng từ
03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày Luật Hôn nhân và gia đình 2000 có hiệu lực đến hết ngày 01/01/2003 Và quan hệ vợ, chồng được xác định kể từ thời điểm bắt đầu chung sống Sau ngày 01/01/2003 mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng
Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi ( ngày Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 có hiệu lực), thì không được pháp luật công nhận là vợ, chồng Vì theo khoản 1 điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy
định “ Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì
không được pháp luật công nhận là vợ chồng” Vậy, kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2001, những trường hợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng, mặc dù không
vi phạm bất cứ điều kiện kết hôn nào mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp
luật coi đó là quan hệ vợ chồng mà chỉ được coi là “ chung sống như vợ, chồng”
Trong trường hợp này, nếu một bên vợ hoặc chồng có nguyện vọng nhận nuôi con nuôi, thì sẽ được giải quyết như đối với trường hợp người độc thân nhận nuôi con nuôi Nếu hai người cùng muốn nhận một trẻ em làm con nuôi thì không giải quyết vì
họ không phải là vợ chồng theo quy định của pháp luật
Thứ hai, Sự thể hiện ý chí của hai vợ chồng trong việc nhận nuôi con nuôi
Dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng, thì vợ, chồng được nhận nuôi con nuôi như nhau, vì đây là quyền nhân thân quan trọng của vợ, chồng như đã nêu ở trên
Vợ, chồng có thể cùng nhận nuôi con nuôi hoặc có thể chỉ một người nhận nuôi mà không phụ thuộc vào ý chí của người kia…
Trước đây, theo điều 36 Nghị định số 83 – CP ngày 10/10/1998: “nếu người nhận
nuôi con nuôi có vợ hoặc chồng, thì đơn xin nhận nuôi con nuôi có chữ ký cả vợ và chồng” Có thể hiểu rằng, chữ ký đó thể hiện ý chí của người đó trong việc chấp nhận
cho vợ hoặc chồng của mình nhận nuôi con nuôi, hoặc đó là sự đồng ý chấp nhận nuôi con nuôi của cả hai vợ, chồng Tuy nhiên, nghị định này được ban hành trong thời điểm của Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 và quy định trên cũng phù hợp với quy
định tại điều 36 Luật Hôn Nhân và Gia đình 1986 “ Việc nhận nuôi con nuôi phải
được sự thỏa thuận của hai vợ, chồng người nuôi”.
Trang 36Khi Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 ra đời, không có quy định nào về vấn đề này
và sau này trong nghị 158/2005/NĐ – CP Về đăng ký và quản lý hộ tịch không còn tồn tại quy định này nữa và không nhắc đến sự đồng ý trong việc nhận nuôi con nuôi của vợ chồng Đây là điểm mới của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, bởi vì quyền nhận nuôi con nuôi là quyền nhân thân của mỗi con người Do vậy họ có quyền tự do nhận hay không nhận con nuôi mà không phụ thuộc vào ý chí của người khác Tuy nhiên, với tính đặc thù trong quan hệ vợ, chồng thì việc thể hiện ý chí của vợ, chồng trong việc nhận nuôi con nuôi có ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ em được nhận làm con nuôi Và thực tiễn cho thấy những trường hợp này khó chấp nhận bởi vì người con nuôi khi được vợ hoặc chồng nhận nuôi, thì khi chung sống với gia đình thì người chồng hoặc người vợ của người nhận nuôi có thể tỏ thái độ không vui, thờ ơ hay gây khó khăn cho cuộc sống của người con nuôi Thì việc đó ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của người con nuôi và như vậy thì một phần mục đích của việc nuôi con nuôi chưa được đảm bảo
Vợ, chồng cùng nhận nuôi con nuôi theo quy định tại điều 70 Luật Hôn nhân và
Gia đình 2000: “ trong trường hợp vợ, chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì vợ chồng
đều phải có đủ các điều kiện quy định tại điều 69 của luật này” Quy định này hết sức
cần thiết nhằm khẳng định tư cách đạo đức, ý thức pháp luật, điều kiện về kinh tế của người nhận nuôi con nuôi Bảo đảm cho người con nuôi được chăm sóc, giáo dục vànuôi dưỡng tốt, lớn lên trong một môi trường lành mạnh Trường hợp này có nghĩa cả hai vợ, chồng người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng được các điều kiện về: năng lực hành vi, năng lực pháp luật, độ tuổi, tư cách đạo đức, điều kiện về kinh tế Nếu một bên vợ hoặc chồng không đủ điều kiện theo quy định tại điều 69 thì cũng không được nhận nuôi con nuôi
Theo khoản 1 điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 thì việc cho, nhận nuôi con
nuôi phải bảo đảm nguyên tắc“ một người có thể nhận một hoặc nhiều người làm con
nuôi” Quy định này cũng là một trong những nguyên tắc của việc nhận nuôi con nuôi
Nó thể hiện tính nhân đạo của nhà nước ta
2.1.1.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, Kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội khóa XII)
- Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi đơn giản
Theo điều 19 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi thì các điều kiện của người nhận con
nuôi như sau: “Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
Có tư cách đạo đức tốt; Có điều kiện thực tế để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi chưa thành niên; Không phải là người bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án về một trong các tội cố xâm phạm
Trang 37tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; Ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; Dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; Mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; Các tội phạm tình dục đối với trẻ em; Có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”
Như vậy, điều kiện về năng lực hành vi, năng lực pháp luật, độ tuổi, tư cách đạo đức, điều kiện thực tế của người nhận con nuôi đơn giản vẫn kế thừa các quy định về điều kiện của người nhận con nuôi theo điều 67, 69 và 70 Luật Hôn nhân và Gia đình
2000 mà vẫn chưa có những sửa đổi bổ sung
- Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi trọn vẹn
Theo điều 22 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi quy định “ Ngoài các quy định tại điều
19 của luật này, người nhận nuôi con nuôi trọn vẹn cần phải có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở ổn định bảo đảm cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi và chưa bị kết án” Quy định này để đảm bảo rằng việc nuôi con nuôi trọn vẹn
được thực hiện chặt chẽ hơn, vì người nhận nuôi con nuôi trọn vẹn không những phải
có đầy đủ các điều kiện như người nhận con nuôi đơn giản, mà còn phải có thêm một
số điều kiện về kinh tế, sức khỏe và không có tiền án nói chung Vì so với con nuôi
đơn giản thì con nuôi trọn vẹn làm “chấm dứt hoàn toàn quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa
người được nhận làm con nuôi với cha, mẹ đẻ” Như vậy, đối với hình thức con nuôi
trọn vẹn thì mối quan hệ pháp lý giữa người được nhận làm con nuôi với gia đình gốc chấm dứt hoàn toàn Do đó, đòi hỏi cha, mẹ nuôi khi nhận con nuôi trọn vẹn phải có thêm một số điều kiện so với hình thức nhận nuôi con nuôi đơn giản
Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo cho con nuôi được nhận nuôi theo hình thức con nuôi trọn vẹn sẽ được đảm bảo tốt, quyền lợi của người con nuôi trọn vẹn sẽ được đảm bảo một cách cao nhất
2.1.2 Điều kiện liên quan đến người được nhận làm con nuôi
2.1.2.1 Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000
Theo điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện của người được nhận làm con
nuôi:“ Người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống; Người trên
15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn; Một người có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng”.
- Điều kiện về độ tuổi
Giữa người nhận con nuôi và con nuôi phải tuân theo những điều kiện nhất định về tuổi, để đảm bảo có sự chênh lệch và khoảng cách cần thiết giữa hai thế hệ Có như vậy thì việc nuôi con nuôi mới đảm bảo được mục đích là: xác lập quan hệ cha, mẹ và
Trang 38con, đảm bảo cho người con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và nhận được sự giáo dục đúng và phù hợp với đạo đức xã hội.
+ Người được nhận làm con nuôi phải là “ người từ 15 tuổi trở xuống”
Quy định này xuất phát từ cơ sở là những người chưa thành niên từ 15 tuổi trở xuống là người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, họ chưa nhận thức được đầy
đủ hành vi của mình, quan hệ nuôi con nuôi sẽ đảm bảo cho người con nuôi có được
sự giám hộ của cha, mẹ Hơn nữa, những người trên 15 tuổi có thể tự lập kiếm sống để nuôi bản thân Và thông thường những người nhận nuôi con nuôi cũng mong muốn được nhận nuôi và chăm sóc cho những trẻ em nhỏ, tạo cho các em một mái ấm gia đình Như vậy, nếu việc nhận nuôi con nuôi là người đã thành niên hoặc là người trên
15 tuổi thì mục đích của việc nhận con nuôi ít nhiều không còn nguyên giá trị
Luật Hôn nhân và Gia đình 1959 chưa có quy định về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi, đến Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 điều kiện này mới được quy định, nhằm đảm bảo một khoảng cách cần thiết nhất định giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi, khuyến khích việc nhận trẻ em làm con nuôi Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 đã kế thừa quy định về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi Quy định về độ tuổi như vậy là hợp lý, vừa đảm bảo sự kế thừa vừa phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia (33)
+ Người trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi trong các trường hợp sau:
Thứ nhất: Người được nhận làm con nuôi là thương binh, người mất năng lực
hành vi dân sự Những người thuộc dạng này nếu phát triển bình thường thì họ có thể
tự chăm sóc cho bản thân, chăm lo cho cuộc sống của mình Nhưng do những hạn chế
về thể chất hoặc tinh thần, và cơ bản về bản chất thì những người này cũng gần giống với những người từ 15 tuổi trở xuống, thì họ thật sự cần sự chăm sóc và giúp đỡ So với Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 thì Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 có nhiều tiến bộ hơn; nếu trước kia chỉ có người có nhược điểm về thể chất trên 15 tuổi mới được nhận làm con nuôi, thì nay Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định không những người có nhược điểm về thể chất mà cả những người có nhược điểm về tinh thần cũng được nhận làm con nuôi mà không giới hạn tuổi tác của họ
Thứ hai: Người trên 15 tuổi làm con nuôi cho người già yếu cô đơn Đây là
trường hợp ngoại lệ vì việc nuôi con nuôi không phải xuất phát từ việc mang lại lợi ích cho người được nhận làm con nuôi mà xuất phát từ lợi ích của người nhận nuôi con nuôi Mục đích đó là chăm sóc, giúp đỡ cho người nhận nuôi con nuôi Trong
(33)
Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Tập thể tác giả), Nxb Chính trị quốc gia, 2004, Trang 362.
Trang 39trường hợp này thì người được nhận làm con nuôi ( người nhận cha, mẹ nuôi) là người trên 15 tuổi, không những có đủ khả năng để chăm lo cho chính mình, mà còn muốn đem lại sự chăm sóc, nuôi dưỡng cho những người già yếu cô đơn, giúp đỡ họ vượt qua khó khăn trong cuộc sống và tình cảm Quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình
2000 là sự kế thừa của Luật Hôn nhân và Gia đình 1986, đó chính là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, tinh thần nhân đạo sâu sắc của đảng và nhà nước
ra nếu mối quan hệ nuôi con nuôi được xác lập mà khoảng cách về độ tuổi giữa người được nhận nuôi và người nuôi quá lớn Thì cuộc sống của người được nhận nuôi khó
có thể được đảm bảo Vì tình trạng sức khỏe của người nuôi về lâu dài khó có thể được đảm bảo hoặc không loại trừ là họ có thể chết Như vậy, người con nuôi nếu còn
ở độ tuổi nhỏ, chưa thành niên thì như vậy các em lại một lần nữa rơi vào cảnh mồ côi
và mục đích ban đầu của việc nuôi con nuôi sẽ không được đảm bảo Do đó, về phía người làm luật cũng sẽ rất khá dè dặt khi xác lập việc nuôi con nuôi giữa những người
có độ tuổi quá chênh lệch Và điểm b khoản 1 điều 19, điều 22 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi đã kế thừa điều này
- “ Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là
vợ chồng”
Đó là quy định tại khoản 2 điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 Quy định này nhằm đảm bảo về nơi ăn, chốn ở, về sự hòa hợp và ổn định trong cuộc sống, chăm sóc
và giáo dục Nếu một người làm con nuôi của nhiều người khác nhau thì sẽ khó có sự
ổn định cho người con nuôi Bởi vì, nếu như vậy thì người con nuôi nay ở với người này, mai ở với người kia chịu ảnh hưởng của các cách giáo dục không giống nhau của người nhận nuôi Đồng thời, cũng nhằm phòng tránh sự lạm dụng việc nuôi con nuôi
để buôn bán trẻ em
Theo quy định này thì luật đòi hỏi rằng người con nuôi chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng, và pháp luật Việt Nam không cấm làm con nuôi nhiều lần Do đó, một người đã từng làm con nuôi thì vẫn có thể làm con
Trang 40nuôi của người khác, nếu tại thời điểm đó, người con nuôi đã chấm dứt quan hệ với người nuôi trước đây
Riêng đối với việc nhận nuôi con nuôi của “người già, yếu, cô đơn” Thì trên tinh
thần, ta có thể nói rằng, sẽ không áp dụng quy định này Bởi ở đây ta chỉ xem xét đến lợi ích của người cần được chăm sóc và trong trường hợp này người cần chăm sóc là người nhận nuôi con nuôi Vậy, việc nuôi con nuôi trong trường hợp này cần được khuyến khích nếu như người con nuôi có khả năng và việc không áp dụng quy định đối với trường hợp làm con nuôi của người già yếu, cô đơn có lẽ sẽ rất phù hợp với thực tế hiện nay
2.1.2.2 Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi ( Dự thảo lần 5, Kỳ họp thứ 7 – Quốc Hội khóa XII)
Do Dự thảo Luật Nuôi con nuôi có phân chia 2 hình thức nuôi con nuôi đó là: nuôi con nuôi đơn giản và nuôi con nuôi trọn vẹn Nên về điều kiện liên quan đến những người được nhận làm con nuôi theo các hình thức khác nhau thì sẽ có những điều kiện khác nhau gắn liền với đặc điểm của từng loại hình thức con nuôi
- Đối với người được nhận làm con nuôi giản đơn
Theo quy định tại điều 20 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi về người được nhận làm
con nuôi đơn giản “ người được nhận làm con nuôi đơn giản là trẻ em từ đủ 15 tuổi
trở xuống, không thuộc trường hợp trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi và cha, mẹ đẻ , người giám hộ, người nuôi dưỡng đồng ý cho trẻ em đó làm con nuôi đơn giản; người trên
15 tuổi có thể là thương binh, bệnh binh, người khuyết tật , người mất năng lực hành
vi dân sự, nạn nhân của chất độc hóa học hoặc làm con nuôi của người già yếu, cô đơn”.
Về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi đơn giản thì vẫn tiếp tục kế thừa đối với những quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 và có một số sửa đổi bổ sung đó là về trường hợp trẻ em từ đủ 15 tuổi trở xuống chỉ có thể trở thành
con nuôi đơn giản nếu như không thuộc các trường hợp “trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, cha,
mẹ đẻ, người giám hộ và người nuôi dưỡng đồng ý cho trẻ em làm con nuôi đơn giản” Điều kiện này đối với đối tượng được nhận làm con nuôi đơn giản căn cứ vào
đặc điểm của hình thức nuôi con nuôi đơn giản đó là: “ nuôi con nuôi đơn giản là việc
nuôi con nuôi không làm chấm dứt hoàn toàn quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa người được nhận làm con nuôi với cha, mẹ đẻ” (34) Vì, những trẻ em không bị mồ côi hay bị
bỏ rơi thì các em vẫn còn cha, mẹ Các em vẫn còn những mối quan hệ pháp lý nhất định đối với cha, mẹ của mình Vì vậy, các em sẽ chỉ có thể được nhận làm con nuôi (34)
Điều 14 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi