1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh trung học tại thành phố tam kỳ tỉnh quảng nam

103 624 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 843,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo thuộc các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên địa bàn TP.Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và toàn thể các học sinh được nghiên cứ

Trang 1

Văn Bảo Anh Trinh

BIỂU HIỆN RỐI LOẠN HÀNH VI Ở

HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI THÀNH PHỐ

TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

Văn Bảo Anh Trinh

BIỂU HIỆN RỐI LOẠN HÀNH VI Ở

HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI THÀNH PHỐ

TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn này, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh

Bằng sự biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cô

Lê Xuân Hồng Cô đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

luận văn khoa học

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý thầy cô trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô trong tổ bộ môn Tâm lý học, quý thầy cô giảng dạy lớp cao học cũng như quý thầy cô phòng Sau đại học đã tận tình dạy bảo tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo thuộc các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trên địa bàn TP.Tam Kỳ,

tỉnh Quảng Nam và toàn thể các học sinh được nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Dù rất cố gằng để hoàn thành luận văn này, song không thể tránh khỏi

những thiếu sót, do vậy, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô

Trân trọng !

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013

Học viên Văn Bảo Anh Trinh

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được

xuất phát từ nhu cầu thực tiễn giáo dục Ở học sinh có biểu hiện Rối loạn hành vi, cần có nghiên cứu cụ thể để tìm hiểu biểu hiện này, từ đó tìm ra

biện pháp phòng ngừa và khắc phục, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên

đã hình thành hướng nghiên cứu

Các số liệu này nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng và tuân thủ đúng các nguyên tắc nghiên cứu khoa học

Các kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được công bố trước đây

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN RỐI LOẠN HÀNH VI Ở

HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI THÀNH PHỐ TAM

Trang 6

sự đánh giá của học sinh4 44

Trang 8

Bảng 2.18 So sánh mối quan hệ với thầy cô giáo theo sự đánh giá

của học sinh và giáo viên4 67

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Ngày nay, Rối loạn hành vi là một trong những rối loạn tâm thần phổ

biến và có xu hướng ngày càng tăng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển

Đặc điểm chủ yếu của rối loạn hành vi là kiểu hành vi lặp đi lặp lại và kéo dài, trong đó các quyền cơ bản của người khác hay các chuẩn mực xã hội

bị vi phạm

Rối loạn hành vi là thường gặp ở các em học sinh Trung học

Nguyên nhân của các rối loạn hành vi ở các em học sinh Trung học đa phần là do yếu tố gia đình, nhà trường và xã hội tạo nên Ở đây có thể kể đến

một số yếu tố chủ yếu: áp lực học tập, thất bại trong thi cử, bạo lực gia đình, gia đình ly tán, bị bạn bè xấu lôi kéo, các tệ nạn xã hội như rượu chè, ma túy, thuốc lắc, vũ trường, phim ảnh bạo lực, khiêu dâm Đặc biệt, học sinh ngày nay được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin từ rất sớm thông qua Internet và các phương tiện hiện đại khác Mặt trái của nó là đã góp phần tạo nên các

biểu hiện của nếp sống lệch lạc, dẫn đến các rối nhiễu tâm lý và rối loạn tâm

thần Bên cạnh đó, các em chưa được trang bị nhiều kiến thức về giới, về sức

khỏe sinh sản, sức khỏe tâm thần và cách phòng tránh Nhiều em quen được

sống trong sự bao bọc nên khi rơi vào các tình huống gây stress thì không thể vượt qua Dẫn đến những hành vi sai trái, lệch lạc như: trộm cắp, trốn học, bỏ nhà qua đêm thậm chí có những hành vi khiêu khích, láo xược, gây gổ, xâm

phạm, phá hoại và nổi khùng làm ảnh hưởng xấu tới sự phát triển nhân cách

của các em, đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Trong xã hội, nếu có nhiều học sinh bị rối loạn hành vi sẽ gây ảnh hưởng đến

an toàn xã hội, tác động tiêu cực gián tiếp đến sự phát triển nói chung của xã

hội

Trang 11

Nghiên cứu về vấn đề này để biết được biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh Trung học, cũng như những nguyên nhân dẫn đến những rối loạn hành

vi Từ đó đưa ra lời khuyến cáo giúp các bậc phụ huynh cũng như cán bộ giáo

dục và các cơ quan có trách nhiệm có những biện pháp điều chỉnh và ngăn

chặn những rối loạn hành vi ở học sinh Trung học Đồng thời giúp các em có

những hành vi theo đúng chuẩn mực đạo đức và pháp luật

Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề này, và từ trong quá trình học tập trên lớp, vấn đề rối loạn hành vi ở học sinh Trung học đã tạo nên nhiều hứng thú mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn Đó cũng chính là lý do tôi tiến

hành đề tài : “Biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh Trung học tại TP Tam

Kỳ - tỉnh Quảng Nam”

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh Trung học tại TP.Tam Kỳ

- tỉnh Quảng Nam Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm giúp các em

có những điều chỉnh hành vi theo đúng chuẩn mực xã hội quy định

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về rối loạn hành vi ở học sinh Trung học

Khảo sát biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh Trung học tại TP.Tam Kỳ

- tỉnh Quảng Nam Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chúng Đánh giá các nguyên nhân của các RLHV đó

Tìm và đề xuất phương hướng khắc phục những biểu hiện của RLHV , đảm bảo sự phát triển toàn diện về nhân cách và sức khỏe tâm thần cho các

em học sinh

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh Trung học tại TP.Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam

Trang 12

4.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh và giáo viên các trường Trung học tại TP.Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam

5 Giả thuyết nghiên cứu

Biểu hiện RLHV ở học sinh Trung học tại TP Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam chiếm một tỉ lệ đáng quan tâm

RLHV ở các em này có những đặc trưng riêng của lứa tuổi và ít nhiều

phụ thuộc vào môi trường gia đình, nhà trường

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Gi ới hạn nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện bằng khảo sát thực tiễn tại một số trường Trung

học trên địa bàn TP Tam Kỳ

- Đề tài được thực hiện từ tháng 12/2012 đến tháng 9/ 2013

6.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu 600 học sinh và 60 giáo viên trên địa bàn TP.Tam Kỳ

- tỉnh Quảng Nam

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Đọc sách, tổng hợp và phân tích tài liệu lý luận

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp chính của đề tài này, nhằm tìm hiểu về mức độ

biểu hiện những rối loạn hành vi, nguyên nhân gây ra rối loạn hành vi và cách khắc phục những rối loạn hành vi Được tiến hành qua các giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Xây dựng bảng hỏi mở để thu thập ý kiến

Giai đoạn 2: Dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và ý kiến thu được từ bảng

hỏi mở của giai đoạn 1, chúng tôi tiến hành xây dựng bảng hỏi làm công cụ nghiên cứu chính thức của đề tài

Trang 13

Giai đoạn 3: Lấy ý kiến của một số chuyên gia và tổng kết ý kiến góp ý

của chuyên gia để hoàn thiện bảng hỏi

Giai đoạn 4: Phát phiếu để thu thập dữ liệu cho đề tài

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn một số phụ huynh, giáo viên, tìm hiểu sự hiểu biết của họ về các biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên, ghi nhận tâm tư, ý kiến đóng góp của phụ huynh, giáo viên đối với nhà trường để các em có được đời sống lành mạnh, vững vàng

7.2.3 Phương pháp quan sát

Quan sát học sinh có những biểu hiện RLHV nhằm giúp có cái nhìn toàn

diện và khách quan về hành vi của học sinh, đồng thời kết hợp với các phương pháp khác làm cơ sở và tăng thêm tính chân thực của kết quả nghiên

cứu

7.2.4 Phương pháp phân tích những trường hợp điển hình

Phương pháp này nhằm mô tả chính xác các vấn đề hiện tại của học sinh thông qua việc xem xét những sự kiện xảy ra với học sinh trong quá khứ và

hiện tại, các yếu tố tạo nên các vấn đề của học sinh và đưa ra các giả thuyết căn nguyên hành vi, các phương pháp can thiệp cho học sinh

7.2.5 Phương pháp toán thống kê

Dùng phương pháp thống kê để xử lý số liệu điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, định lượng chính xác cho từng nội dung, tăng tính thuyết phục

của đề tài nghiên cứu

Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu được

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên t hế giới

X.N.Miaxisshev đã có công trình nghiên cứu về RLHV và chỉ ra rằng: RLHV có căn nguyên tâm lý Sự rối loạn các quan hệ đóng vai trò xuất phát điểm và quyết định Từ những rối loạn đó dẫn đến rối loạn sự tiếp nhận và rối

loạn các chức năng tâm lý tùy theo cách tiếp nhận và xử lý hiện thực thế nào Ông nhấn mạnh nguyên nhân chính làm phát sinh RLHV ở trẻ em và con

người nói chung là do sự mâu thuẫn tâm lý nghĩa là sự mâu thuẫn nội tâm

Năm 1935, Xixon, M.M Model và L.L Galpêrin đã chỉ ra rằng: cùng với

sự gia tăng theo tuổi, những xung đột nội tâm do phát triển khả năng tự đánh giá, yêu cầu với bản thân và khả năng xử lý nội tâm cũng tăng cao

Năm 1940, Hewitt và Jenkins, khi nghiên cứu những vị thành niên phạm pháp, đã bắt đầu phân loại chúng theo những nhóm rối loạn khác nhau Đến các thập kỉ 60 và 70, Quay và cộng sự đã hoàn chỉnh việc mô tả và phân loại các RLHV của thanh thiếu niên phạm pháp Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trên được phản ánh một phần trong danh mục RLHV (321) của ICD9 (1979) gồm các mục nhỏ sau:

 312-0: RLHV riêng lẻ (khiêu khích, láo xược, gây gổ, xâm phạm, phá hoại, nổi khùng, nói dối, thô bạo, rối loạn tình dục )

 312-1: RLHV theo nhóm (trộm cắp, trốn học, bỏ nhà qua đêm )

Trang 15

 F91-0 : RLHV khu trú trong môi trường gia đình

 F91-1 : RLHV ở những người kém thích ứng xã hội

 F91-2 : RLHV ở những người còn thích ứng xã hội

Từ đây, RLHV được chính thức coi là một bệnh và cần được nghiên cứu, chăm sóc, điều trị

Trong DSM IV- tập phân loại bệnh của các nhà tâm lý học Mỹ đã đưa ra

15 tiêu chuẩn chẩn đoán và chia thành 4 nhóm chủ yếu:

 Xâm hại người khác hay súc vật

 Phá hoại tài sản (hành vi xâm hại gây tổn thất tài sản)

 Lừa đảo hay trộm cắp

 Vi phạm nghiêm trọng các luật lệ

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ sau năm 1975, RLHV xuất hiện rõ nét ở nước ta và cho đến nay, vấn

đề RLHV có chiều hướng gia tăng và trở thành mối lo ngại của từng gia đình

và cả xã hội

Theo số liệu Sở Công an Hà Nội năm 1987, trong tổng số 7824 người bị bắt vì phạm tội TTN dưới 18 tuổi có 801 người chiếm 10,2% Gần đây, hiện tượng bạo lực, chống đối người thi hành công vụ, nói năng thô tục nơi công cộng, trộm cắp, cướp giật, cưỡng dâm, đua xe máy trên đường phố đông đúc, trốn học, cờ bạc, …[26]

Năm 1989, Viện tâm thần học Việt Nam đã nghiên cứu 124.194 thanh thiếu niên thì có tới 21.960 em có biểu hiện rối nhiễu hành vi Giáo sư Nguyễn Việt đã nghiên cứu và đưa ra một số phương pháp chuẩn đoán và điều trị rối nhiễu hành vi Giáo sư Đặng Phương Kiệt cũng đã nghiên cứu nhiều về rối loạn hành vi, ông đã chỉ ra rằng: nguyên nhân dẫn đến rối loạn hành vi là stress gia đình, được hiểu là những căng thẳng trong gia đình do cha mẹ ly dị, mất người thân, do bố mẹ trộm cắp

Trang 16

Bác sĩ Nguyễn Văn Siêm, là người tham gia giảng dạy môn tâm lý học lâm sàng của khoa Tâm lý học trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng là một người có nhiều nghiên cứu về RLHV ở thanh thiếu niên Từ những công trình nghiên cứu của mình và qua tham khảo những công trình nghiên cứu khác, ông đã đưa ra những lý luận chung về RLHV ở trẻ em và thanh thiếu niên, những lý luận này hiện nay cũng được đưa vào giáo trình học môn tâm lý lâm sàng

Năm 1999, Hội tâm lý học Hà Nội cũng chủ trì một đề tài nghiên cứu nhận diện và bàn về dự phòng RLHV và tệ nạn xã hội trong TTN học sinh một số trường PTTH tại Hà Nội

Năm 2001, Viện tâm lý học Hà Nội cũng có đề tài khảo sát thực trạng Rối nhiễu hành vi của học sinh THPT Hà Nội

Mặc dù rất được quan tâm, việc nghiên cứu đánh giá thực trạng RLHV trong nước còn gặp không ít khó khăn Khó khăn thứ nhất là việc lựa chọn phương tiện nghiên cứu Trên thế giới hiện nay có một sô thang đo về hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên, về rối loạn lo âu, trầm cảm, thang đo về các hành vi vi phạm pháp luật , nhưng chưa được Việt hóa và chuẩn hóa cho nghiên cứu trên người Việt Nam

Khó khăn thứ hai là việc đánh giá chưa đúng mức sự ảnh hưởng nghiêm trọng của các biểu hiện RLHV, lệch lạc về hành vi ở thanh thiếu niên tới sự hoàn thiện nhân cách sau này

Để vượt qua những khó khăn về lý thuyết cũng như thực tiễn của việc nghiên cứu RLHV ở trẻ, đề tài xem xét khái niệm RLHV và giới hạn nghiên cứu ở việc khảo sát một số biểu hiện cụ thể ở học sinh

Trang 17

1.2 Lý luận về Rối loạn hành vi

1.2.1 Hành vi

1.2.1.1 Khái niệm hành vi

Có nhiều góc độ xem xét hành vi

Các nhà sinh học xem xét hành vi với tư cách là cách sống và hoạt động trong môi trường nhất định dựa trên sự cần thiết thích nghi tối thiểu của cơ

thể đối với môi trường Hành vi của con người bị bó hẹp trong các hoạt động

nhằm thích nghi với môi trường để đảm bảo sự tồn tại của cá thể người trong môi trường đó

Những nhà phân tâm học thì coi hành vi là cái hợp lực, cái thỏa hiệp bắt nguồn từ sự xung đột giữa nguyên tắc khoái cảm và nguyên lý thực tế, là

những xung lực “cái ấy” và những cấm kỵ của cái “siêu tôi” được thống hợp trong bản thân cái tôi Song chủ yếu thì những hành vi đều có khởi nguồn từ

vô thức và do vô thức điều khiển Các nhà phân tâm học đã nhấn mạnh tính

vô thức của hành vi

Những người theo chủ nghĩa hành vi quan niệm hành vi hết sức đơn

giản Họ coi hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trả lời các kích thích tác động vào cơ thể Về mặt nào đó quan điểm của chủ nghĩa hành vi không khác quan điểm của các nhà sinh học là bao Họ đều quan niệm hành vi là tất

cả những phản ứng hay những cách thức… để cho con người thích ứng với môi trường Song chủ nghĩa hành vi quan niệm con người không chỉ phản ứng

với các kích thích có tính chất sinh học mà con người còn phản ứng với các kích thích khác

Những người theo thuyết hành vi mới còn cho rằng con người còn có sự

lựa chọn các kích thích, con người chỉ trả lời các kích thích có lợi cho bản thân Quá trình sống thực chất là quá trình lựa chọn và trả lời các kích thích

có lợi

Trang 18

Tâm lý học Mác xít thì cho rằng, hành vi của con người bao giờ cũng có

mục đích Hành vi đó không chỉ đảm bảo cho con người tồn tại mà còn đảm

bảo cho con người ngày càng phát triển

Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện: “Hành vi là từ ứng xử

chỉ mọi phản ứng của một động vật khi bị một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích, các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình

huống, và tiến trình của ứng xử để thích ứng có định hướng nhằm giúp chủ

thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các

yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có

thể quan sát được, chứ không như tình ý bên trong, thì nó là ứng xử Khi nhấn

mạnh định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi”.[24, tr.138]

T ừ điển Tâm lý học (Nguyễn Văn Lũy- Lê Quang Sơn): Hành vi là hình

thức biểu hiện tính tích cực vận động có thể quan sát được từ bên ngoài của

những thực thế sống, bao gồm từ những thời điểm cử động đến mắt xích thực

hiện ở trình độ cao sự tác động qua lại của cơ thể với môi trường xung quanh Hành vi là một hệ thống có mục đích rõ ràng được thực hiện liên tiếp

Những hành động này tiến hành sự tiếp xúc thực tế của cơ thể với những điều

kiện xung quanh tạo ra những mối liên hệ của thực thể sống với những tính

chất của môi trường Sự bảo toàn và phát triển cuộc sống của chúng phụ thuộc vào những tính chất này Những điều kiện xung quanh chuẩn bị thỏa mãn nhu

cầu của cơ thể, đảm bảo sự đạt được những mục đích nhất dịnh

Nguồn gốc của hành vi là những nhu cầu của thực thể sống, hành vi được thực hiện như một thể thống nhất của các mắt xích tâm lý - kích thích, điều khiển, thể hiện (thể hiện trong điều kiện những đối tượng nhu cầu và đam mê của thực thể ) và những hành động thực hiện bên ngoài làm cho cơ

thể liên hệ với những đối tượng xác định hoặc làm cho cơ thể tách biệt khỏi chúng cũng như cải tạo chúng

Trang 19

Sự thay đổi hành vi trong quá trình phát sinh loài là do sự phức tạp hóa

những điều kiện tồn tại của những thực thể sống, chuyển chúng từ môi trường thuần nhất sang môi trường có đối tượng, sau đó là môi trường xã hội Những quy luật chung của hành vi - đó là những quy luật hoạt động phản xạ phân tích - tổng hợp của thực thể sống Những quy luật này dựa trên những quy

luật sinh lý hoạt động của não, nhưng không đồng nhất với chúng Hành vi

của con người luôn bị chế ước bởi xã hội và mang những đặc tính của hoạt động có ý thức, tập thể, hữu ích, chủ định và sáng tạo

Ở mức độ hoạt động bị quy định bởi đời sống xã hội, thuật ngữ “ hành vi” có nghĩa như những hành động của con người trong mối quan hệ với xã

hội, với những người khác và thế giới đối tượng Nó được xem xét như là

những hành động được điều khiển bởi những chuẩn mực xã hội về đạo đức và quyền lợi (ví dụ những hành vi đạo đức cao cả, tội lỗi và nông nổi) Những đơn vị của hành vi là những hành động, trong đó hình thành và đồng thời thể

hiện vị thế của nhân cách, niềm tin đạo đức của nhân cách

Từ những góc độ xem xét hành vi như trên thì có thể hiểu hành vi như sau: hành vi là những cử chỉ, ứng xử của con người và môi trường xung quanh do bị kích thích nhằm thích nghi với hoàn cảnh Hành vi bao gồm các

yếu tố bên ngoài và tình trạng cơ thể bên trong hợp thành một tình huống của ứng xử để thích ứng có định hướng nhằm giúp cho chủ thể thích nghi với hoàn cảnh

Trang 20

- Hành vi tự động mặc nhiên

Theo Watson, mọi việc con người làm kể cả suy nghĩ đều thuộc một trong bốn loại hành vi này

Nghiên cứu về hành vi của con người, điều ấy có nghĩa là đưa cuộc sống

của con người trở thành đối tượng của tâm lý học, Chẳng cần phải nói, ai cũng có thể thấy hành vi là cái già và nó tồn tại trong hiện thực một cách khách quan Nếu như trong tâm lý học truyền thống chỉ tìm hiểu nội quan thì tâm lý học hành vi lại là một bức tiến đáng kể, nghiên cứu nguồn gốc sinh ra

“tâm hồn”, “hồn”, “tâm lý”

Theo Watson, mọi phản ứng, hành vi được phân loại theo hai tiêu chí: đó

là phản ứng tiếp thu hay di truyền; phản ứng bên trong hay phản ứng bên ngoài Kết quả là trong hành vi được chia ra thành các phản ứng:

- Bên ngoài hay tiếp thu nhìn thấy được

- Bên trong và tiếp thu nhưng ở dạng dấu kín

- Bên ngoài nhìn thấy được và di truyền

- Bên trong dấu kín và di truyền

Watson còn phân biệt hành vi người không giống hành vi động vật:

- Một là: khác biệt hoàn toàn bẩm sinh ở trong lĩnh vực sinh vật của con người

- Hai là: ngoài thế giới vật thể mà động vật cũng có, con người còn có

thể có thế giới từ ngữ, cái có thể thay thế cho thế giới đồ vật tạm thời Chính

vì thế mà thế giới kích thích của con người rộng lớn hơn nhiều

- Thứ ba: đó là con người là “tồn tại xã hội”, vì chỉ trong môi trường xã

hội con người mới kích thích lẫn nhau làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển

Trang 21

1.2.2 R ối loạn hành vi

1.2.2.1 Khái niệm RLHV

Thuật ngữ RLHV (conduct disoder) bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên trong phân loại bệnh tâm thần của hội Tâm thần học Mỹ lần thứ 2 (DSM - II) năm

1968 Hiện nay, căn cứ theo bảng phân loại của Hội Tâm thần học Hoa Kì

(DSM - IV): “RLHV là kiểu hành vi lặp đi lặp lại và kéo dài trong đó các quyền cơ bản của người khác hay các chuẩn mực xã hội hoặc luật lệ lớn phù

hợp với lứa tuổi bị vi phạm”.[11, tr.133]

Như vậy có thể thấy RLHV có một số đặc điểm như:

- Những hành vi rối loạn là những hành vi vi phạm các chuẩn mực, quy

tắc của xã hội

- Những hành vi đó lặp đi lặp lại trong một thời gian dài

- Hậu quả của những hành vi này có ý nghĩa nhất định đối với gia đình,

xã hội, cộng đồng

- Những hành vi rối loạn mang tính chất lứa tuổi

Trong tập phân loại bệnh quốc tế 10, “Rối loạn hành vi” được định nghĩa như sau: “RLHV có đặc trưng là toàn bộ các hành vi chống đối xã hội, xâm

phạm hay khiêu khích được lặp lại và kéo dài Một hành vi như vậy trong hình thái cực độ nó sẽ đưa đối tượng đến chỗ vi phạm các quy tắc xã hội chủ

yếu tương ứng với lứa tuổi của đứa trẻ, điều này vượt quá hành vi ranh mãnh thông thường và các thái độ nổi loạn của thanh thiếu niên.” [27]

Theo từ điển tâm lý học - W.D.Frodlich - Munchen - 1993: “RLHV được

hiểu là hội chứng hành vi hay trải nghiệm đi kèm theo những khó chịu, đau đớn, những trở ngại, những hạn chế ở một hay nhiều phạm vi chức năng (ví

dụ như tri giác, tư duy, tình cảm, ghi nhớ, nói, vận động, ) gắn liền với nguy

cơ phải cam chịu nhiều hậu quả khác nhau Sự rối loạn này là những rối loạn tâm lý trong hành vi diễn ra khi cá nhân không thể đáp ứng được các chuẩn

Trang 22

mực bình thường, chẳng hạn như đái dầm, mất ngủ, mút tay, rối loạn chú ý,

bỏ học, trộm cắp, Thông thường những rối loạn này cần được phát hiện kịp

thời để hạn chế những hành vi lệch chuẩn.[11, tr.134]

Theo định nghĩa của ngành tâm thần học, RLHV theo F91 là các hành vi

rối loạn hoặc phạm pháp của thanh thiếu niên, đạt đến một mức độ nhất định,

lặp đi lặp lại nhiều lần thành một định hình, tập tính, kéo dài ít nhất là 6 tháng Các nhà tâm thần học đã liệt kê ra những triệu chứng cụ thể và nguyên

tắc chẩn đoán rối loạn hành vi

Với những định nghĩa trên, chúng ta thấy thuật ngữ RLHV có liên quan đến một số khái niệm khác trong tâm lý học, xã hội học Đó là sự liên quan

giữa RLHV với hành vi lệch chuẩn xã hội (deviance behaviour) và hành vi

bất thường (abnormal behavior)

Đối với sự liên quan giữa RLHV và hành vi lệch chuẩn xã hội Tâm lý

học Xô viết cho rằng hành vi vi phạm các chuẩn mực xã hội chính là những hành vi sai lệch chuẩn xã hội Có thể nói hành vi lệch chuẩn là hành vi không được xã hội chấp nhận Trong những xã hội có giai cấp đối kháng, chuẩn mực

xã hội là chuẩn mực của giai cấp thống trị và phục vụ lợi ích cho giai cấp đó

Vì thế, những hành vi lệch chuẩn của xã hội đó không được chấp nhận bởi giai cấp thống trị, nhưng lại được cộng đồng xã hội coi trọng (Ví dụ: những

cuộc cách mạng) Còn trong xã hội do nhân dân làm chủ thì hành vi lệch chuẩn lại đáng phê phán vì nó phá vỡ trật tự xã hội của toàn dân, và do đó không được cộng đồng chấp nhận

Như vậy, xét ở một khía cạnh nhất định, một số hành vi lệch chuẩn có

thể được xem như RLHV nếu như những hành vi này lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian xác định (ví dụ: ăn cắp, cờ bạc, hành hung người khác, ) Tuy nhiên, RLHV không thể bao hàm hành vi sai lệch chuẩn mực xã

hội bởi khái niệm chuẩn mực xã hội bao trùm lên mọi hoạt động của con

Trang 23

người trong đời sống xã hội Nó rộng hơn khái niệm vi phạm pháp luật, vì pháp luật chỉ là một loại chuẩn mực

Đối với sự liên quan giữa RLHV và hành vi bất thường Tác giả Robert

S Feldman đã tổng kết 4 cách tiếp cận chính về hành vi bất thường được sử

dụng trong những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau.[4, tr.512 -513]

Cách tiếp cận thứ nhất, coi tính bất thường là “sự lệch hướng khỏi trung bình’’ xem tính bất thường như sự lệch khỏi số đông, mang tính chất thống

kê Tuy nhiên, có một số hành vi được xem là hiếm, không thể coi là bất thường

Cách tiếp cận thứ hai, tính bất thường chỉ là “sự lệch hướng lý tưởng’’ Cách tiếp cận này còn khó khăn hơn cách tiếp cận trên, vì có một số lý tưởng

của xã hội này nhưng không phải là tiêu chuẩn của xã hội khác, hơn nữa

phạm trù này sẽ bị thay đổi theo thời gian

Cách tiếp cận thứ ba, xem tính bất thường như là “cảm giác lo lắng chủ quan“ Cách tiếp cận này coi hành vi là bất thường nếu nó tạo ra một cảm giác đau khổ, lo âu hay tội lỗi ở một cá nhân, hay bằng nhiều cách gây hại đối với

những người khác Nhưng ngay cả một định nghĩa dựa vào sự lo lắng chủ quan cũng có hạn chế, vì trong một số hình thức rối loạn tâm thần đặc biệt, con người mô tả lại cảm giác lâng lâng sung sướng mặc dù hành vi của họ đối

với người khác thật khó hiểu Chính vì thế, các nhà tâm lý học đã phát triển cách tiếp cận sau cùng

Cách tiếp cận thứ tư, phân biệt hành vi bình thường và bất thường, coi tính bất thường như sự bất lực trong “hoạt động chức năng hiệu quả’ Theo cách tiếp cận này, con người không thể hoạt động chức năng một cách hiệu

quả và thích nghi với yêu cầu xã hội được xem là bất thường

Bốn cách tiếp cận trên mới chỉ đề cập đến khía cạnh định tính của khái

niệm Còn về mặt định lượng thì quả thực rất khó thực hiện, vì ranh giới giữa

Trang 24

hành vi bất thường và hành vi bình thường rất mong manh Tuy nhiên, cũng

có thể xác định được RLHV qua các trắc nghiệm, bảng liệt kê đã được chuẩn hóa

Như vậy, có thể thấy có sự trùng lặp nhất định giữa ba khái niệm RLHV, hành vi lệch chuẩn xã hội và hành vi bất thường Mặc dù bản thân khái niệm RLHV là một thuật ngữ y học, tập trung vào cá nhân và các yếu tố sinh học

bệnh lý hơn, nhưng với niềm tin con người là tổng hòa các mối quan hệ xã

hội, là sản phẩm của 3 yếu tố tự nhiên, xã hội và tâm lý, khái niệm RLHV còn được tiếp cận dưới góc độ của khoa học xã hội học và tâm lý học

1.2.2.2 M ột số tiếp cận RLHV

a Tiếp cận RLHV từ góc độ xã hội học

Đối tượng của xã hội học là nghiên cứu những hiện tượng xã hội gắn với

cấu trúc xã hội Xã hội học nghiên cứu hành động, sự kiện không phải chỉ

nằm ở cấp độ cá nhân - những gì mà cá nhân thực hiện, mà còn ở đâu đó trong hệ thống cấu trúc xã hội- trong gia đình, thành phố, vùng, trong một tổ

chức, một đất nước Vì đặc thù của ngành này, những luận thuyết về RLHV

chỉ được rút tỉa dưới một khái niệm khác là “hành vi sai lệch chuẩn mực xã

hội”

Ví dụ, thuyết chức năng xã hội nghiên cứu hành vi lệch chuẩn đề cập đến

chức năng xã hội của nó Thuyết này cho rằng trật tự xã hội dựa trên sự tương

hợp chuẩn mực tự nguyện Ở đây hành vi lệch chuẩn cũng là hiện tượng “bình thường’’ Nó không chỉ có tác động tiêu cực, mà cũng có cả tính tích cực đối

với xã hội Hành vi lệch chuẩn sẽ là bình thường nếu tần suất tương đối của

nó còn giữ trong khuôn khổ trung bình cho tất cả các xã hội loại này và trình

độ phát triển tương ứng của chúng Tần suất tương đối của hành vi lệch chuẩn

sẽ nhắc chúng ta nhớ tới những chuẩn mực xã hội và củng cố uy tín của chúng Nó còn là tiền đề cho biến đổi xã hội.[2]

Trang 25

Tóm lại, các thuyết xã hội học cho chúng ta một cách nhìn về RLHV dưới góc độ xã hội, có tính đến cấu trúc xã hội, tổ chức văn hóa, lịch sử Lý thuyết xã hội học chỉ ra những biến số và quá trình trong một xã hội rộng lớn

và sự giải thích RLHV phải ở trong mối quan hệ với hệ thống này

b Ti ếp cận RLHV từ góc độ tâm lý học

Khác với xã hội học chỉ giải thích RLHV ở cấp độ cấu trúc xã hội, qui cái cá nhân vào cái xã hội, tâm lý học giải thích RLHV ở cấp độ cá nhân, tức liên quan đến chủ thể của hành vi - nhân cách, giá trị, mục đích, nhu cầu, xung năng, sở thích và một số khía cạnh hoàn cảnh mà trong đó cá nhân thực

hiện hành động Xã hội học dựa trên hiện tượng số đông để dự đoán những thay đổi mà chúng sẽ diễn ra trên một phạm vi nào đó, còn tâm lý học dự báo

những hành vi của cá nhân con người trong tương lai Để nghiên cứu nguyên nhân của RLHV, tâm lý học đề cập đến động cơ của hành vi Ở đây những lý thuyết về động cơ bên trong không chỉ nghiên cứu yếu tố con người mà còn nghiên cứu cả hoàn cảnh nảy sinh hành vi và cả con người trong sự tương tác

với hoàn cảnh để tạo ra RLHV đó Nó tạo nên cái gọi là cơ chế động cơ của hành vi Có thể liệt kê ra đây một số lối tiếp cận đến RLHV: đó là cách tiếp

cận đến chủ thể, đến hoàn cảnh, và đến sự kết hợp giữa chủ thể và hoàn cảnh

Nhấn mạnh đến chủ thể hành vi, cách tiếp cận này chủ yếu thuộc về

những lý thuyết nhân cách Nhiều lý thuyết về RLHV cho rằng những khác

biệt về hậu quả là do những khác biệt từ phía chủ thể hành vi Với cách tiếp

cận này tâm lý học tìm cách trả lời câu hỏi: “Loại người nào gây ra những hành vi loại này?” Nhiệm vụ của nó là tìm ra những kiểu loại nhân cách đặc trưng cho những hành vi nhất định Những kiểu loại nhân cách này được đề

cập đến qua những đặc điểm bắt nguồn từ yếu tố sinh học, đặc điểm bắt nguồn từ yếu tố môi trường, hoặc những đặc điểm tâm lý khác của nhân cách như cấu trúc nhân cách, nhu cầu, mục đích, sở thích, động cơ Tâm lý học

Trang 26

cũng quan tâm đến quá trình phát triển của chủ thể hành vi Theo các lý thuyết nhân cách thì con người trở thành một nhân cách như thế nào thường

phụ thuộc vào quá trình phát triển của nó với những đặc điểm sinh học và đặc điểm hoàn cảnh xã hội nhất định Nhân cách như thế nào sẽ quyết định hành

vi của chủ thể đó như thế ấy

(i) Nh ấn mạnh đến hoàn cảnh

Một lối tiếp cận khác là các lý thuyết nhấn mạnh đến hoàn cảnh Theo

những lý thuyết này thì mọi người nếu rơi vào hoàn cảnh nhất định cũng có

thể làm như nhau theo một cách nhất định

Họ cho rằng RLHV là kết quả của những hoàn cảnh nhất định Những hoàn cảnh này được hình thành trong các thuật ngữ như sự khiêu khích, cơ

hội, quá căng thẳng trong stress, sự tuân thủ, áp lực Đây là những vấn đề mà

một số nhà tâm lý học xã hội đề cập đến trong các công trình của mình

(ii) K ết hợp chủ thể và hoàn cảnh

Những lý thuyết này nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa các yếu tố thuộc

chủ thể hành vi và yếu tố hoàn cảnh trong việc xác định hành vi lệch chuẩn Cách tiếp cận này, mang tính tổng hợp hơn, đã giải quyết những khiếm khuyết của những cách tiếp cận phiến diện đến RLHV Trong một chừng mực

nhất định thì cả nhân cách và hoàn cảnh đều có vai trò quyết định đối với hành vi nói chung, RLHV nói riêng Ở đây cả nhân cách và hoàn cảnh là

những biến số độc lập đối với RLHV Về tổng thể, lối tiếp cận này tỏ ra hữu

hiệu trong việc dự báo những hành vi nhất định, nên được áp dụng trong nghiên cứu RLHV

1.2.3 Học sinh Trung học

1.2.3.1 Học sinh Trung học cơ sở

Học sinh THCS có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên, do vậy các em còn

có tên gọi khác là thiếu niên

Trang 27

Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, “Thiếu niên là trẻ em thuộc lứa tuổi từ 10-11 đến 14-15”.[14, tr.911]

Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mặt cơ thể Tầm vóc của các em lớn lên trông thấy Trung bình

một năm các em cao lên được từ 5-6 cm (đối với nữ) và 8-10 cm (đối với nam) Trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng từ 2,4 - 6 kg

Sự phát triển của hệ xương, mà chủ yếu là sự phát triển các xương tay, xương chân rất nhanh, nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm

Vì thế lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao gầy thiếu cân đối, các em

có vẻ lóng ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng, hay làm đổ vỡ…Điều đó gây cho các em một biểu hiện tâm lý khó chịu Các em ý

thức được sự lóng ngóng, vụng về của mình, mà cố che giấu nó bằng điệu bộ không tự nhiên cầu kỳ, tỏ ra mạnh bạo, can đảm để người khác không chú ý đến vẻ bề ngoài của mình.Chỉ một sự mỉa mai, chế giễu nhẹ nhàng về hình

thể, tư thế đi đứng của các em đều gây cho các em những phản ứng mạnh mẽ

Sự phát triển của hệ thống tim mạch không cân đối Tim phát triển nhanh hơn các mạch máu, điều đó gây ra sự mất cân bằng và thường là nguyên nhân gây ra các rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch, biểu hiện dưới dạng: tim đập nhanh, huyết áp cao, thường chóng mặt, nhức đầu, làm

Trang 28

kích động mạnh Vì vậy sự phong phú của các ấn tượng, những chấn động

thần kinh mạnh, hoặc sự chờ đợi lâu dài về những biến cố gây xúc động… đều có tác động mạnh mẽ tới lứa tuổi học sinh THCS, có thể làm cho một số

em bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, tản mạn; số khác làm những hành vi xấu, không đúng bản chất của các em

Sự thay đổi về thể chất ở lứa tuổi học sinh THCS đã làm cho các em có

những đặc điểm nhân cách khác với các em ở lứa tuổi trước Lứa tuổi này là

lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao, có nhiều dự định lớn lao

Một đặc điểm đặc trưng khác ở tuổi học sinh THCS cần phải chú ý đó là

hiện tượng dậy thì và phát dục Sự phát dục ở lứa tuổi này là một hiện tượng bình thường, diễn ra theo quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng của môi trường

tự nhiên và môi trường xã hội

Sự phát dục ở các em trai từ 13-15 tuổi, ở các em gái vào khoảng 11- 13

tuổi Trong giai đoạn này, ngực, lông ở nách, ở bộ phận sinh dục của các em gái phát triển, đồng thời xuất hiện kinh nguyệt, dấu hiệu chính của sự dậy thì đầy đủ Ở các em trai, ngực bắt đầu nở nang, những dấu hiệu phụ của bộ phận sinh dục phát triển và cuối cùng là hiện tượng xuất tinh báo hiệu sự chín muồi

chỗ các em chưa biết đánh giá, chưa biết kìm hãm và hướng dẫn bản năng, ham muốn của mình một cách đúng đắn; chưa biết kiểm tra tình cảm và hành

vi, chưa biết xây dựng mối quan hệ đúng đắn với người bạn khác giới Vì thế

Trang 29

mà các nhà Giáo dục cần phải giúp đỡ các em một cách tế nhị khéo léo để các

em hiểu đúng vấn đề, đừng làm cho các em băn khoăn lo ngại

Tình cảm của học sinh THCS sâu sắc và phức tạp hơn các em học sinh

Tiểu học Một đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột, hăng say Đặc điểm này là do ảnh hưởng của sự phát dục và sự thay đổi ở một số

cơ quan nội tạng gây nên Mặt khác, có thể do hoạt động của hệ thần kinh không cân bằng, thường là do quá trình hưng phấn mạnh hơn ức chế khiến các em không thể tự kiềm chế nổi

Tính dễ bị kích động ở học sinh THCS đôi khi dẫn đến những xúc động

mạnh mẽ ở các em, như vui quá trớn, buồn ủ rũ, hoặc lúc thì quá hăng say, lúc thì quá chán nản Nhiều em tâm trạng thay đổi nhanh chóng, dễ dàng, đang vui đấy nhưng chỉ một tác động nhỏ nào đó (lời nói hay cử chỉ của người khác) lại buồn ngay, hoặc đang buồn bực nhưng gặp một điều gì thích thú thì

lại vui vẻ ngay Do tình cảm dễ dàng thay đổi như thế nên ở các em đôi lúc có mâu thuẫn trong tình cảm (chẳng hạn như, đối với em nhỏ này thì rất yêu thương quý mến, nhưng ngay lúc đó đối với em nhỏ khác lại trêu chọc, dọa

nạt; hoặc đối với người tật nguyền nhiều khi các em tận tình giúp đỡ, nhưng

có lúc lại trêu chọc, lấy đó làm trò đùa với nhau)

Dấu ấn đặc biệt trong đời sống tình cảm của học sinh THCS là ở các

em đã xuất hiện tình bạn khác giới, những rung cảm đầu đời của tình yêu Lúc đầu, sự quan tâm của người khác giới của nhiều em trai có xu hướng tràn lan

và được biểu hiện dưới dạng hay “gây sự” với các em gái Về sau những quan

hệ này thay đổi mất tính trực tiếp, xuất hiện tính ngượng ngùng, nhút nhát, e

thẹn Ở một số em đều đó bộc lộ rõ và trực tiếp, một số em che giấu bằng thái

độ thờ ơ, giả tạo, “khinh khỉnh” đối với giới khác Hành vi của những xúc

cảm, tình cảm với bạn khác giới có tính hai mặt: vừa quan tâm đến nhau

Trang 30

nhưng lại vừa phân biệt nam, nữ

Ở lớp 7, lớp 8 các em gái thường quan tâm đến vấn đề ai thích ai Chúng

rất hay quan sát và trao đổi vấn đề trên với nhau tạo nên một bầu không khí bí

mật rất lý thú Cũng ở lứa tuổi này dễ hình thành một tình bạn gắn bó đôi bên nhiều khi rất xúc động, có thể giữ một vị trí lớn trong đời sống tình cảm của

học sinh THCS Mỗi tình cảm không được đáp lại nhiều khi là nguồn gốc của

sự rung cảm, mạnh mẽ dẫn đến tâm trạng buồn rầu, nhớ nhung Nếu ngược lại

nó gây cho các em tâm trạng phấn chấn, sự dịu dàng, quan tâm đến với nhau

một cách trong sáng Đó chính là những xúc cảm ban đầu rất kín đáo, tế nhị Hơn lúc nào hết, chính lúc này các em cần có một người bạn chân tình để tin

cậy và thông cảm Những sự can thiệp thô bạo của người lớn sẽ làm cho các

em cảm thấy dễ bị chế giễu, xúc phạm và thường dẫn đến hậu quả không tốt đẹp, thậm chí tai hại cho các em

Cùng với tình bạn khác giới, ở học sinh THCS còn xuất hiện các nhóm

hỗn hợp (cả nam và nữ cùng trong một nhóm bạn) Hứng thú đối với người

bạn cùng học khác giới có ý nghĩa không nhỏ đối với sự phát triển nhân cách các em Mối cảm tình thân thiện đã động viên nhau, gợi ý cho nhau, kích thích nhau làm điều tốt, giúp nhau bảo vệ lẫn nhau Đây là một động lực tự hoàn thiện bản thân của từng em

Tất nhiên trong quan hệ nam nữ ở lứa tuổi này cũng có thể lệch lạc Quan niệm về bạn khác giới không đúng mực, đi đến chỗ đua đòi chơi bời, bỏ

việc học tập và những công việc khác Vì thế công tác giáo dục phải thấy được điều đó, để hướng dẫn, uốn nắn cho tình bạn giữa nam và nữ ở lứa tuổi này thật lành mạnh, trong sáng và nó là động lực để giúp nhau trong học tập, trong tu dưỡng

1.2.3.2 H ọc sinh Trung học phổ thông

“Học sinh Trung học phổ thông” là thuật ngữ để chỉ nhóm học sinh đầu

Trang 31

tuổi thanh niên (từ 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi) Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi mới lớn Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi, trong

Khi xem xét nhiều yếu tố tác động hình thành các đặc điểm phát triển ở

lứa tuổi này, xuất phát từ những quan niệm, những trường phái khác nhau, có nhiều lý luận khác nhau về lứa tuổi thanh niên

Các lý luận tâm lý học tập trung xem xét những quy luật tiến hóa của tâm lý là cái cơ bản quyết định sự phát triển các nhà phân tâm học quan tâm nhiều đến sự phát triển của tính dục và sự chi phối của nó đối với sự phát triển

của lứa tuổi này

Các nhà xã hội học lại chú ý trước hết đến tính xã hội hoá của giai đoạn phát triển này và coi mức độ xã hội hoá của mỗi cá thể là tiêu chí chủ yếu quyết định sự phát triển này Nhiều nhà tâm lý học hiện đại cho rằng cần nghiên cứu lứa tuổi này một cách phức tạp, các yếu tố sinh học, phân tâm học

và xã hội học đều được xem xét và xác định rõ vai trò vị trí của nó, tìm ra

những quy luật hoạt động bên trong cũng như mối tác động qua lại của chúng

Từ 15, 16, 17 đến 18 tuổi là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của con người đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh Điều này thể hiện rõ ở chỗ:

Sự gia tăng chiều cao đã chậm lại Các em gái đạt được sự tăng trưởng

của mình trung bình vào khoảng 16, 17 tuổi; các em trai khoảng 17, 18 tuổi Điều này giúp hình thành một cơ thể cân đối, đẹp, khỏe của học sinh THPT

Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh, cân nặng của một thanh niên 16, 17

Trang 32

tuổi có thể gấp đôi cậu thiếu niên 11, 12 tuổi Các tố chất thể lực như sức

mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường Cơ bắp, sức lực phát triển mạnh

Đa số các em đã vượt qua thời kỳ phát dục và bước sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn xét cả trên các mặt hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ

thần kinh cũng như các mặt phát triển khác về thể chất

Khả năng tự ý thức phát triển khá sớm ở con người và được hoàn thiện

từng bước Đến 15, 16 tuổi thì phát triển mạnh Biểu hiện đặc trưng là học sinh THPT nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã

hội, trong cộng đồng Ở mức cao hơn đó là khả năng tự đánh giá về mình theo

những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lý, đạo đức

Học sinh THPT đánh giá về hình ảnh của bản thân một cách tỉ mỉ, nghiêm khắc Bên cạnh đó, ở học sinh THPT còn xuất hiện sự đánh giá về

phẩm chất giới tính của mình Các em thường cố gắng phấn đấu để trở thành

những nam thanh, nữ tú, trở thành người đàn ông thật thụ, trở thành những thiếu nữ dịu dàng theo tiêu chuẩn của phái đẹp,

Học sinh THPT khao khát muốn biết mình là người như thế nào? Có năng lực gì? Để khẳng định và tự đánh giá mình, các em có thể hành động theo hai cách:

Một là, tự nguyện nhận khó khăn và cố gắng hoàn thành nó Nhưng do

hạn chế về kinh nghiệm sống, nên việc tự đánh giá gặp không ít khó khăn và

Trang 33

đôi khi gây ra ngộ nhận Ví dụ: bướng bỉnh, ngang tàng được các em hiểu lầm gan dạ, không sợ nguy hiểm, sự càn quấy được hiểu như là một điểm mới lạ Hai là, ngầm so sánh mình với người xung quanh, đối chiếu ý kiến của mình với ý kiến của người lớn, nhất là người mà các em ngưỡng mộ, lắng nghe ý kiến của những người xung quanh về mình

Đôi khi các em tự quan sát, tự xem xét bản thân mình, tự phản tỉnh về

bản thân Điều này thể hiện rõ trong việc ghi nhật ký, cho ta thấy nhiều khi

học sinh THPT rất nghiêm khắc, khắt khe với bản thân, tự hối hận, tự sỉ vả mình về một ý nghĩ hoặc một hành vi sai trái nào đó Thế giới nội tâm của học sinh từ 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi rất phong phú và phức tạp Sự tự ý thức và đánh giá về cái tôi cũng vậy Nó không chỉ bao hàm một số yếu tố đơn giản nào đó mà là một sự đan xen phức tạp, biện chứng và thường thay đổi theo

những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ở đầu tuổi học sinh THPT, sự tự ý thức,

tự đánh giá có những biến chuyển và chưa thực sự ổn định Cái tôi đang có, cái tôi đang biến động và cái tôi mơ ước, lý tưởng, thậm chí cái tôi huyễn tưởng thường tồn tại trong mỗi cá nhân Điều quan trọng là xu hướng vươn lên của cái tôi đó được hướng dẫn, chỉ đạo bởi những điều kiện giáo dục, bởi môi trường xã hội thế nào sẽ quyết định phẩm chất của sự tự đánh giá, tự ý

dở Không ít thanh niên bị lôi kéo khá sâu vào những vũng bùn tội lỗi mới

tỉnh lại thì đã quá muộn

Trang 34

Thời kỳ mở cửa, giao lưu văn hóa mạnh mẽ, đa dạng hiện nay một mặt

tạo ra cho thanh niên học sinh nhiều cơ hội để mở rộng tầm mắt, mở rộng giao lưu văn hóa, nhưng mặt khác cũng gây “nhiễu” cho họ nếu không xác định rõ thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn Nhìn chung giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội cần tạo điều kiện, hướng dẫn tổ chức và giúp các em

trả lời đúng đắn các câu hỏi như: Tôi là ai? Tôi là người như thế nào? Tôi có

khả năng nào? Tôi muốn trở thành người thế nào? Làm gì để tôi trở nên tốt đẹp hơn?

Ở học sinh THPT, các em đã biết kết hợp những phẩm chất cao đẹp của

những con người ưu tú trong lịch sử, trong hiện thực để tạo nên con người lý tưởng của mình Mẫu người lý tưởng có tác dụng thúc đẩy các em vươn lên

và tự hoàn thiện nhân cách của mình

Tuy nhiên có một số em học sinh có lý tưởng xa vời hiện thực…

Khác với học sinh THCS, học sinh THPT có một diễn biến tâm lý đặc

biệt mà nổi rõ là sự băn khoản suy nghĩ để định đoạt phương hướng cuộc đời

của mình Các em hay tự hỏi: “mình sẽ làm gì?”,“mình là người như thế nào” Tính tích cực hoạt động của học sinh THPT, đặc biệt là trong lĩnh vực xã

hội được hình thành và phát triển khá sớm trong quá trình trưởng thành của nhân cách và mang những đặc điểm, sắc thái mới

- Học sinh THPT quan tâm nhiều đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới và trong nước, các em thường có sự đánh giá, trao đổi với nhau

và tỏ thái độ của mình về vấn đề đó

- Học sinh THPT sẵn sàng tham gia những hoạt động xã hội phù hợp với

hứng thú, sở trường của mình như thi học sinh thanh lịch, thi văn nghệ, TDTT, tham gia các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường

- Tâm lý chung trong công tác xã hội của học sinh THPT là các em thích tham gia những công việc lớn lao, muốn thử sức mình ở những việc có khó

Trang 35

khăn, thậm chí nguy hiểm, mà không thích những việc nhỏ đời thường Ở đây

có sự mâu thuẫn giữa sự tự đánh giá và khả năng hiện thực của các em học sinh THPT Điều này dẫn đến chỗ sau khi không thành công ở một vài việc nào đó, các em thường dễ chán nản, bàng quan với công tác xã hội Từ đó có

thể tự ti, thụ động, khép kín mình trong hoạt động

Đời sống tình cảm của học sinh THPT rất phong phú và đa dạng Đặc điểm này được thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi

mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc và

mặn nồng

Ở học sinh THPT, nhu cầu về tình bạn tâm tình tăng cao và sâu sắc hơn

ở học sinh THCS Các em cũng có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (yêu cầu

sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng, tôn trọng nhau và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau) Trong quan hệ với bạn các em cũng nhạy cảm hơn: không chỉ có khả năng xúc xảm chân tình mà còn phải có sự đồng cảm với người khác

Tình bạn của học sinh THPT rất bền vững, có thể vượt được mọi thử thách và có thể kéo dài suốt cuộc đời

Ở tuổi 15, 16, học sinh THPT đều coi tình bạn là mối quan hệ quan trọng

nhất của con người Bên cạnh tính bền vững, tình bạn của các em còn mang tính xúc cảm cao Các em thường lý tưởng hóa tình bạn Các em nghĩ về tình

bạn thường giống với điều mình mong muốn ở bạn hơn là thực tế Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít nhận thấy những đặc điểm

thực tế ở bạn

Ở học sinh THPT, sự khác biệt giữa các cá nhân trong tình bạn rất rõ rệt Quan niệm của các em về tình bạn và mức độ thân tình trong tình bạn có sự khác nhau Nguyên nhân kết bạn cũng rất phong phú (vì phẩm chất tốt ở bạn,

vì tính tình tương phản, vì có hứng thú sở thích chung…)

Trang 36

Đối với các bậc cha mẹ và người lớn, nói chung trong tình cảm của học sinh THPT thường biểu lộ rõ tính tự lập có nét riêng độc đáo của cái tôi tương đối tự do Các em hay có tâm lý cho rằng người lớn thường không đánh giá đúng đắn, nghiêm túc những điều các em nghĩ, những việc các em làm cũng như sự trưởng thành của các em Bởi vậy học sinh THPT dễ có xu hướng lạnh

nhạt, xa lánh người lớn mà tìm sự đồng tình, đồng cảm ở các bạn cùng lứa

tuổi Việc duy trì được bầu không khí tình cảm ấm áp và hiểu biết lẫn nhau

giữa cha mẹ con cái phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người lớn đối

với những con người trẻ tuổi, vào thái độ ứng xử ân cần và tử tế của người

lớn

Một loại tình cảm rất đặc trưng cũng xuất hiện ở học sinh THPT đó là tình yêu nam nữ Dễ quan sát thấy những biểu hiện của sự phải lòng, thậm chí

có sự xuất hiện của những mối tình đầy lãng mạn Những biểu hiện loại tình

cảm này nhìn chung rất phức tạp, không đồng đều

Một điều rất rõ mà khoa học và thực tiễn cuộc sống đã khẳng định là ở

học sinh THPT, sự chín mùi về sinh lý, về tình dục đã đi trước một bước, còn

sự trưởng thành về tâm lý, về xã hội, kinh nghiệm sống chậm hơn nhiều Bởi

vậy những điều kiện cần và đủ cho cuộc sống tình yêu nam nữ ở các em chưa được hội tụ Đó cũng là lý do chủ yếu giải thích tại sao nhiều mối tình đầu ở giai đoạn này dễ bị tan vỡ, dễ bị trở thành bi kịch

Đời sống tình cảm của học sinh THPT có giữ được sự trong sạch cần thiết trong mối tình đầu hay không và có là bạn tốt của nhau hay không trước

hết phụ thuộc vào giáo dục của gia đình và nhà trường

1.2.4 Phân loại rối loạn hành vi

RLHV (321) của bảng phân loại bệnh quốc tế 9 (1979) đã phân loại RLHV gồm các mục nhỏ sau:

 312-0: RLHV riêng lẻ (khiêu khích, láo xược, gây gổ, xâm phạm,

Trang 37

phá hoại, nổi khùng, nói dối, thô bạo, rối loạn tình dục )

 312-1: RLHV theo nhóm (trộm cắp, trốn học, bỏ nhà qua đêm )

 312-2: RLHV xung động (xung động, trộm cắp)

 312-3: RLHV và rối loạn cảm xúc hỗn hợp (lo âu, tuyệt vọng , sợ ám ảnh)

Trong dự thảo bảng phân loại bệnh quốc tế 10F do các nhà tâm thần có

uy tín trên thế giới nghiên cứu và phân loại, đã phân loại RLHV thành mục và lưu trong phân mục F9:

 F91-0 : RLHV khu trú trong môi trường gia đình

Trong DSM 4 - tập phân loại bệnh của các nhà tâm lý học Mỹ, đã đưa ra

15 tiêu chuẩn chẩn đoán và chia thành 4 nhóm chủ yếu:

 Xâm hại người khác hay súc vật

 Phá hoại tài sản (hành vi xâm hại gây tổn thất tài sản )

 Lừa đảo hay trộm cắp

Trang 38

1.2.5 Biểu hiện rối loạn hành vi

Theo hệ thống bảng phân loại DSM - IV, RLHV được đưa vào danh mục F91 gồm các biểu hiện sau:

- Trộm cắp không đối đầu

Trang 39

- Bắt nạt quá đáng

- Nổi cơn khùng, chống đối nhà chức trách

Theo Hội thảo quốc gia năm 1989 về RLHV thì trong số 18 RLHV kể trên, các RLHV thường gặp nhất là: trốn học(11/13 báo cáo, thấp nhất : 485 cao nhất : 89%), thường xuyên nói dối (10/13 báo cáo, thấp nhất 34%, cao

nhất: 100%), trộm cắp không đối đầu (9/13 báo cáo, thấp nhất: 49%,cao nhất: 75%), bỏ nhà sống qua đêm (6/13 báo cáo, thấp nhất 40%, cao nhất: 75%), gây gổ đánh nhau (4/13 báo cáo, thấp nhất: 24%, cao nhất : 46%) Mỗi TTN trong diện nghiên cứu thường có nhiều RLHV, trung bình là 5 ở lứa tuổi 10-11), trung bình 4 rối loạn hành vi; ở lứa tuổi 15-17, trung bình 6 RLHV) [16, tr.54]

RLHV đầu tiên thường rõ rệt ở trong gia đình Dấu hiệu sớm có thể là ăn

cắp tái diễn, nói dối, không vâng lờ hoặc hành vi hung bạo

RLHV ở ngoài gia đình như: trường học, vùng lân cận hoặc cả hai như:

trốn học, trốn nhà hoặc phá hoại các công trình văn hóa, bẻ khóa và nhà ăn

trộm Đôi khi RLHV xuất hiện ở trường thường kèm theo học kém, ghét học

Một số trường hợp, biểu hiện RLHV đầu tiên ở công cộng, có thể cùng

với biểu hiện ở trường, ở nhà

Triệu chứng “ không xã hội hóa“ của RLHV bao gồm không vâng lời, cãi cọ, tấn công, ăn trộm, nói dối, rối loạn quan hệ với người khác Rối loạn này được phân loại như là loại công kích đơn độc

- Ăn trộm là phổ biến trong RLHV, nó trở nên bất thường khi nghiệm

trọng, dai dẳng và thiếu đáp ứng với những biện pháp của bố mẹ hoặc những người khác Nó thường xảy ra ở những trẻ bị bỏ mặc, thái độ bố mẹ thời ơ, mâu thuẫn

- Hành vi công kích: Tính khí giận dữ, to tiếng, tấn công người khác

Có thể xảy ra do một nguyên nhân bên ngoài nào đó hoặc không

Trang 40

- Phá hoại công trình văn hóa thường là hoạt động mang tính chất nhóm của thanh niên Dù là nhóm hoặc cá nhân, nó biểu hiện sự thù địch với các công việc của người lớn, như cảm giác thường xuất hiện từ mối quan hệ

bị rối loạn tương tự với bố mẹ

- Gây cháy ít gặp những là một triệu chứng quan trọng

- Nghiện ma túy là đặc điểm đặc trưng thường gặp của RLHV, đặc

biệt ở thanh thiếu niên

- Hành vi tình dục sai lệch là đặc điểm đặc trưng của một số RLHV, quan hệ tình dục ở tuổi sớm hoặc ở tuổi trước khi pháp luật cho phép

Khi kết luận trẻ có bị RLHV hay không cần thiết phải dựa vào các biểu

hiện chủ yếu trên Tuy nhiên, RLHV có mang tính chất lứa tuổi (cùng một

biểu hiện, nếu xuất hiện ở lứa tuổi nhỏ có thể là bình thường nhưng nếu xuất

hiện ở lứa tuổi lớn hơn thì lại bất bình thường), vì vậy, khi đánh giá các hành

vi của học sinh Trung học cần xem xét yếu tố độ tuổi để kết luận chính thức

rằng đó có phải là một hành vi bệnh lý hay không

Các em có RLHV thường khiến cho gia đình, thầy cô, bạn bè,những người sống xung quanh phải lo lắng Như vậy, đã tạo nên sự bất an trong xã

hội

Qua tìm hiểu tài liệu về RLHV, thấy rằng có một số biểu hiện RLHV được các nhà nghiên cứu tập trung nhiều nghiên cứu hơn Và trong thực tế,

những biểu hiện này cũng xuất hiện rất nhiều trong số những hành vi bị rối

loạn Đó là những hành vi như: nói dối, ăn cắp, bỏ học,rối loạn hành vi băng nhóm, hành vi hung tính,

Từ cách tiếp cận của tâm lý học, đặc biệt là tâm lý học lâm sàng và trị

liệu tâm lý học, các nhà tâm lý học rất quan tâm đến trẻ em và thanh thiếu niên có những biểu hiện RLHV Rất hay gặp ở lứa tuổi học sinh là những rối nhiễu hành vi đơn thuần Các RLHV có thể xuất hiện như một phần triệu

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph ạm Tiến Công (2012), Th ực trạng hành vi lệch chuẩn xã hội ở học sinh trường Trung học cơ sở TP Bạc Liêu - tỉnh Bạc Liêu, Lu ận văn Thạc sỹ Tâm lý h ọc, Đại học Sư phạm, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hành vi lệch chuẩn xã hội ở học sinh trường Trung học cơ sở TP Bạc Liêu - tỉnh Bạc Liêu
Tác giả: Ph ạm Tiến Công
Năm: 2012
2. Gunter Endruweit (1999), Các lý thuy ết xã hội học hiện đại , Nxb Th ế giới, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Gunter Endruweit
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1999
3. Sigmund Freud (2007), Phân tâm học nhập môn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học nhập môn
Tác giả: Sigmund Freud
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007
4. Robert S. Feldman (2003), Nh ững điều trọng yếu trong Tâm lý học , Nxb Th ống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều trọng yếu trong Tâm lý học
Tác giả: Robert S. Feldman
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
5. Vũ Ngọc Hà (2008), “Biểu hiện khó khăn tâm lý trong việc thực hiện nội qui, n ề nếp học tập của học sinh đầu lớp 1”, Tạp chí Tâm lý học, 6(111), tr.57-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu hiện khó khăn tâm lý trong việc thực hiện nội qui, nề nếp học tập của học sinh đầu lớp 1”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Vũ Ngọc Hà
Năm: 2008
6. Ph ạm Minh Hạc (2008), “Sức khỏe tinh thần”, T ạp chí Tâm lý học, 1(106), tr.2-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe tinh thần”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Ph ạm Minh Hạc
Năm: 2008
7. Nguy ễn Thanh Hương (2010), Báo cáo chuyên đề Sức khỏe tâm thần của vị thành niên và thanh niên Vi ệt Nam, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề Sức khỏe tâm thần của vị thành niên và thanh niên Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Thanh Hương
Năm: 2010
8. Lê Như Hoa (2001), Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách tr ẻ em, Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 2001
10. Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2010) , Tâm lý h ọc lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm, Nxb Th ế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm
Nhà XB: Nxb Thế Giới
11.Tr ần Thành Nam (2007), “R ối loạn hành vi ở trẻ em vị thành niên khái ni ệm và một số nhân tố ảnh hưởng ”, H ội thảo: Can thiệp và phòng ng ừa các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Rối loạn hành vi ở trẻ em vị thành niên khái niệm và một số nhân tố ảnh hưởng"”, Hội thảo: Can thiệp và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam
Tác giả: Tr ần Thành Nam
Năm: 2007
12. Vũ Thị Nho (1999), Tâm lý h ọc phát triển, Nxb Đại học Quốc gia, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Vũ Thị Nho
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
13. Đoàn Huy Oánh (2004), Tâm lý Sư phạm, Nxb Đại học Quốc Gia, Thành ph ố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý Sư phạm
Tác giả: Đoàn Huy Oánh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2004
14. Hoàng Phê (1998), T ừ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa h ọc xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
15. Ph ạm Thị Bích Phượng (2012), Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ vị thành niên có rối loạn hành vi , Lu ận văn Thạc sĩ tâm lý học lâm sàng trẻ em và thanh thiếu niên, Trường Đại học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ vị thành niên có rối loạn hành vi
Tác giả: Ph ạm Thị Bích Phượng
Năm: 2012
16. Nguy ễn Thị Kim Quý (2003), Giáo trình tâm b ệnh học, Đại học Sư phạm, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm bệnh học
Tác giả: Nguy ễn Thị Kim Quý
Năm: 2003
17. Nguy ễn Văn Siêm (2007), Tâm b ệnh học trẻ em và thanh thiếu niên , Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên
Tác giả: Nguy ễn Văn Siêm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007
18. Vi ện Tâm lý học (2001), Kh ảo sát thực trạng Rối nhiễu hành vi của học sinh Trung học Phổ thông Hà Nội, Báo cáo tóm t ắt đề tài cấp Bộ, Trung tâm Khoa h ọc xã hội và nhân văn Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng Rối nhiễu hành vi của học sinh Trung học Phổ thông Hà Nội
Tác giả: Vi ện Tâm lý học
Năm: 2001
19. Vũ Thị Ngọc Tú (2007), “Một số biểu hiện trong giao tiếp của học sinh THCS có hành vi l ệch chuẩn ở Hà Nội”, T ạp chí Tâm lý học , 12(105), tr.24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện trong giao tiếp của học sinh THCS có hành vi lệch chuẩn ở Hà Nội”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Vũ Thị Ngọc Tú
Năm: 2007
25. U http://www.benhhoc.com/content/2384-Dai-cuong-ve-tam-than-hoc.html U 26. U http://vi.wikipedia.org/wiki/Chung_roi_loan_hanh_viU Link
27. U http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120203/giup-hoc-sinh-doi-pho-con-gian.aspxU Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Thống kê độ tuổi mẫu nghiên cứu - biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh trung học tại thành phố tam kỳ   tỉnh quảng nam
Bảng 2.2. Thống kê độ tuổi mẫu nghiên cứu (Trang 50)
Bảng 2.4. Thống kê số năm dạy học của giáo viên trong mẫu nghiên cứu - biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh trung học tại thành phố tam kỳ   tỉnh quảng nam
Bảng 2.4. Thống kê số năm dạy học của giáo viên trong mẫu nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 2.6. Mức độ xuất hiện của các biểu hiện RLHV phân theo bậc học - biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh trung học tại thành phố tam kỳ   tỉnh quảng nam
Bảng 2.6. Mức độ xuất hiện của các biểu hiện RLHV phân theo bậc học (Trang 54)
Bảng 2.10. Biểu hiện RLHV ở học sinh nam và học sinh nữ - biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh trung học tại thành phố tam kỳ   tỉnh quảng nam
Bảng 2.10. Biểu hiện RLHV ở học sinh nam và học sinh nữ (Trang 63)
Bảng 2.11. Biểu hiện RLHV ở học sinh THCS và THPT - biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh trung học tại thành phố tam kỳ   tỉnh quảng nam
Bảng 2.11. Biểu hiện RLHV ở học sinh THCS và THPT (Trang 64)
Bảng 2.14. Sự quan tâm của cha mẹ đến con cái - biểu hiện rối loạn hành vi ở học sinh trung học tại thành phố tam kỳ   tỉnh quảng nam
Bảng 2.14. Sự quan tâm của cha mẹ đến con cái (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w