1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”

179 577 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, sử dụng bài tập hóa học là một phương pháp dạy học quan trọng, có tác dụng lớn trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển năng lực học tập cho học sinh, giúp học sinh củng cố

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Lí lu ận và phương pháp dạy học môn Hoá học

Mã s ố : 60.14.10

LU ẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS LÊ VĂN NĂM

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

 PGS.TS Tr ịnh Văn Biều, người đã góp ý xây dựng đề cương luận văn và đồng

th ời cũng hướng dẫn tôi nhiều trong quá trình thực hiện luận văn

 Các Th ầy Cô giảng dạy lớp Cao học Khoá 21 đã truyền thụ cho tôi những kiến

th ức và kinh nghiệm quí báu

Xin chân thành c ảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp giảng dạy ở các trường THCS và THPT Nguy ễn Khuyến (Tp HCM), THPT Nguyễn Văn Cừ (Tp HCM) đã nhi ệt tình giúp tôi tiến hành thực nghiệm đề tài nghiên cứu này

Và cu ối cùng là gia đình đã động viên và dành thời gian cho tôi thực hiện luận văn

Thành ph ố Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 9 năm 2012

Trần Thu Thảo

Trang 4

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

M Ở ĐẦU……… …1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 16

1.2 Một số vấn đề về kiểm tra - đánh giá kết quả học tập 17

1.2.1 Khái niệm, chức năng của kiểm tra - đánh giá 17

1.1.2 Đổi mới việc kiểm tra - đánh giá 19

1.1.3 Phương pháp trắc nghiệm trong dạy học 20

1.1.4 TNKQ nhiều lựa chọn 22

1.2 Bài tập hóa học 24

1.2.1 Khái niệm 24

1.2.2 Tác dụng của bài tập hóa học 24

1.2.3 Phân loại bài tập hóa học 25

1.2.4 Xây dựng bài tập hóa học mới 25

1.2.5 Những chú ý khi ra bài tập 26

1.3 Một số phương pháp giải nhanh các bài tập hóa học hữu cơ 27

1.3.1 Phương pháp bảo toàn khối lượng, bảo toàn nguyên tố 27

1.3.2 Phương pháp trị số trung bình 27

1.3.3 Phương pháp tăng giảm khối lượng 28

1.3.4 Phương pháp đường chéo 28

1.3.5 Phương pháp chuỗi 29

1.4 Vài nét về kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng 30

1.4.1 Mục đích, thời gian tổ chức thi 30

1.4.2 Hình thức thi 30

1.4.3 Những lý do chưa thể bỏ kỳ thi đại học 31

Trang 5

1.5 Thực trạng việc sử dụng bài tập hoá học có PPGN trong ôn thi ĐH, CĐ ở các

trường phổ thông hiện nay 34

1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra 34

1.5.2 Kết quả điều tra 35

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TNKQ CÓ PPGN PHẦN HCHC CÓ NHÓM CHỨC DÙNG ĐỂ ÔN THI ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 39

2.1 Tổng quan về phần HCHC có nhóm chức ở THPT 39

2.2 Bài tập hóa học có phương pháp giải nhanh 42

2.2.1 Khái niệm 42

2.2.2 Đặc điểm của bài tập hóa học có PPGN 42

2.2.3 Tác dụng của các bài tập hóa học có PPGN 43

2.2.4 Một số dạng bài tập có PPGN và hướng giải 43

2.3 Các căn cứ để xây dựng và giải các BTHH có PPGN 45

2.3.1 Dựa vào điểm đặc biệt của nguyên tử khối, phân tử khối 45

2.3.2 Dựa vào việc lập sơ đồ hợp thức của các quá trình chuyển hóa 46

2.3.3 Dựa vào cách tính khối lượng muối một cách tổng quát 47

2.3.4 Dựa vào sự bảo toàn electron đối với quá trình oxi hoá - khử 48

2.3.5 Dựa vào đặc điểm của phản ứng 48

2.4 Quy trình tuyển chọn, xây dựng hệ thống BTHH có PPGN dùng để ôn thi ĐH, CĐ 50

2.5 Các dạng toán có PPGN phần HCHC có nhóm chức 52

2.5.1 Toán về ancol - phenol 52

2.5.2 Toán về anđehit – axit cacboxylic 58

2.5.3 Toán về este – lipit - cacbohiđrat 64

2.5.4 Toán về amin – aminoaxit - protein 69

2.6 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có PPGN 76

2.6.1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống câu hỏi TNKQ có PPGN phần HCHC có nhóm chức 76

2.6.2 Câu hỏi TNKQ về ancol – phenol 77

2.6.3 Câu hỏi TNKQ về anđehit – xeton - axit cacboxylic 91

2.6.4 Câu hỏi TNKQ về este – lipit - cacbohiđrat 105

Trang 6

2.6.5 Câu hỏi TNKQ về amin – aminoaxit - protein 121

2.7 Sử dụng hệ thống câu hỏi có PPGN trong dạy học và ôn thi ĐH, CĐ 134

2.7.1 Hướng dẫn HS các bước giải một câu hỏi TNKQ có PPGN 134

2.7.2 Sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ có PPGN để ôn thi ĐH, CĐ 138

2.7.3 Các biện pháp sử dụng hiệu quả các câu hỏi TNKQ có PPGN 138

2.7.4 Những điều HS ôn thi ĐH, CĐ môn hoá học cần lưu ý 140

2.7.5 Những lưu ý khi dạy cho HS các PPGN để giải bài tập 143

Tiểu kết chương 2 143

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 145

3.1 Mục đích thực nghiệm 145

3.2 Thời gian và đối tượng thực nghiệm 145

3.3.1 Thời gian 145

3.3.2 Đối tượng 145

3.5 Kết quả thực nghiệm 148

Tiểu kết chương 3 156

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 158

TÀI LIỆU THAM KHẢO 166

PHỤ LỤC 169

Trang 9

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh hai loại hình trắc nghiệm 12

Bảng 1.2 Mức độ thành thạo khi vận dụng các PPGN 25

Bảng 1.3 Mức độ thành thạo các kỹ năng giải BTHH 25

Bảng 1.4 Ý kiến GV về việc sử dụng nguồn BTHH trong dạy học 26

Bảng 1.5 Ý kiến GV về thời lượng dành cho việc dạy bài tập trên lớp 26

Bảng 1.6 Ý kiến đánh giá của GV về bài tập trong SGK và sách BTHH của NXB GD ở trường PT 27

Bảng 1.7 Tầm quan trọng của việc dạy cho HS các PPGN trong ôn thi ĐH, CĐ 27

Bảng 3.1 Danh sách các lớp TN 123

Bảng 3.2 Bảng điểm bài kiểm tra số 1 126

Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích của bài kiểm tra số 1 127

Bảng 3.4 Xếp loại học sinh sau bài kiểm tra số 1 128

Bảng 3.5 Bảng điểm bài kiểm tra số 2 129

Bảng 3.6 Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích của bài kiểm tra số 2 130

Bảng 3.7 Xếp loại HS sau bài kiểm tra số 2 131

Trang 10

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Cấu trúc và chức năng của kiểm tra 10

Hình 1.2 Vị trí của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học 10

Hình 3.1 Đồ thị đường luỹ tích điểm bài kiểm tra số 1 127

Hình 3.2 Biểu đồ xếp loại HS sau bài kiểm tra số 1 128

Hình 3.3 Đồ thị đường luỹ tích điểm bài kiểm tra số 2 130

Hình 3.4 Biểu đồ xếp loại HS sau bài kiểm tra số 2 131

Trang 11

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Để việc dạy học đạt kết quả tốt, người giáo viên với tư cách là người hướng

dẫn, tổ chức, chỉ đạo quá trình dạy học phải sử dụng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau để giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức Trong đó, sử dụng bài tập hóa học là

một phương pháp dạy học quan trọng, có tác dụng lớn trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển năng lực học tập cho học sinh, giúp học sinh củng cố, hệ thống hóa kiến thức đã học, vận dụng kiến thức để giải đáp những vấn đề liên quan đến đời sống

Bên cạnh đó, kiểm tra - đánh giá cũng là một khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học Ở trường phổ thông, loại trắc nghiệm tự luận (TNTL) đã rất quen thuộc Trong đổi mới giáo dục, chúng ta đã đưa trắc nghiệm khách quan (TNKQ) vào quá trình dạy học Mỗi loại TNTL hay TNKQ đều có ưu, nhược điểm riêng Để việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được khách quan, công bằng, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm, từ năm

2007 đến nay, Bộ Giáo dục và đào tạo đã dùng hình thức trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn cho các kỳ thi tốt nghiệp, tuyển sinh vào đại học, cao đẳng đối với

một số môn, trong đó có môn hóa học

Đặc trưng của hình thức thi trắc nghiệm là thí sinh phải làm bài thật nhanh

mới có thể làm kịp thời gian, trung bình thời gian dành cho một câu chỉ vào khoảng 1 đến 2 phút vì trong các kỳ thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, các em chỉ

có 90 phút để hoàn thành 50 câu TNKQ nhiều lựa chọn

Đối với câu trắc nghiệm là bài toán thì thí sinh phải biết cách giải nhanh

mới bảo đảm được thời gian Một bài toán nếu giải theo cách thông thường phải

mất khoảng 15 đến 20 phút, nhưng nếu biết cách giải nhanh thì chỉ cần khoảng 1 đến 2 phút là tìm ra đáp án

Mặt khác, giải bài tập hóa học (BTHH) không chỉ đơn thuần là vận dụng

kiến thức mà còn là tìm kiếm kiến thức mới và vận dụng kiến thức cũ trong những

Trang 12

tình huống mới Chính vì thế việc giải các bài toán hóa học có cách giải nhanh sẽ có tác dụng rất lớn trong việc rèn tư duy, phát triển trí thông minh cho học sinh

Là GV dạy hóa ở phổ thông, chúng tôi rất muốn có một hệ thống ngân hàng câu hỏi chất lượng, phong phú để đưa vào dạy học, rèn luyện cho HS kỹ năng giải nhanh câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn góp phần nâng cao kết quả thi vào các trường

ĐH, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn hoá học ở trường THPT

Do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ

ÔN THI ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG”

2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 M ục đích nghiên cứu

Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) có phương pháp giải nhanh (PPGN) phần hợp chất hữu cơ (HCHC) có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng làm tư liệu cho GV và HS, góp phần phát triển tư duy, rèn kỹ năng làm bài nhanh để nâng cao kết quả thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, đồng thời nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT

2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu

 Nghiên cứu tổng quan về các cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu

- Bài tập hóa học

- Các phương pháp giải nhanh bài tập hóa học hữu cơ

- Các tài liệu về trắc nghiệm (TNTL và TNKQ)

 Nghiên cứu các vấn đề về câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có PPGN hóa học

hữu cơ

Trang 13

 Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ có PPGN phần

hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng cho học sinh

 Tiến hành thực nghiệm sư phạm : Đánh giá hiệu quả của hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có PPGN phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức

 Một số đề xuất và giải pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập

3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách th ể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn hóa học ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Việc tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ có PPGN

phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng

4 Ph ạm vi nghiên cứu

- Nội dung : Các vấn đề về câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có PPGN hóa học hữu cơ; tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ có PPGN phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng

- Địa bàn nghiên cứu : Một số trường THPT tại TP Hồ Chí Minh

- Thời gian: năm học: 2011-2012

5 Gi ả thuyết khoa học

Nếu có hệ thống câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có PPGN, chính xác, khoa

học và nếu tìm ra được các đặc điểm, hướng giải nhanh các dạng bài tập và biện pháp sử dụng hiệu quả những bài tập đó thì sẽ rèn luyện kỹ năng giải nhanh các câu TNKQ, rút ngắn thời gian làm bài, góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh

THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn bản và các chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ GD và ĐT

- Nghiên cứu và phân tích các tài liệu liên quan như lý luận về KT- ĐG, về bài

tập hóa học và trắc nghiệm

- Nghiên cứu tác dụng và cách sử dụng bài tập hóa học ở trường THPT

- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá…

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra thực trạng dạy học phần bài tập hóa học ở các trường phổ thông hiện nay, thực trạng sử dụng các PPGN câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn và các sách bài

tập, nguồn bài tập dùng trong việc dạy học phần BTHH

- Trao đổi với các giáo viên về các nguồn tư liệu, các nguồn bài tập dùng trong dạy học học ở trường PT, về các phương pháp giải BTHH

- Thực nghiệm sư phạm

+ Đánh giá tính khả thi và hiệu quả sử dụng của đề tài

+ Triển khai việc dùng hệ thống bài tập TNKQ nhiều lựa chọn có phương pháp giải nhanh đã tuyển chọn, xây dựng cho HS lớp 11, 12 và sắp thi đại học

6.3 Các phương pháp toán học thống kê

Xử lí kết quả thực nghiệm bằng các phương pháp thống kê, từ đó rút ra kết

luận của đề tài

7 Nh ững đóng góp mới của đề tài

- Bước đầu nghiên cứu về BTHH có phương pháp giải nhanh: Định nghĩa,

các đặc điểm, tác dụng và hướng giải một số dạng BT có phương pháp giải nhanh;

các căn cứ để xây dựng và giải; đề xuất hướng sử dụng hiệu quả hệ thống câu hỏi TNKQ có PPGN trong d ạy học và ôn thi ĐH, CĐ

Trang 15

- Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ có PPGN phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi ĐH, CĐ

Trong các nội dung trên, phần mà đề tài đã thực hiện khá thành công là phần nghiên cứu lý luận về BTHH có PPGN và hướng sử dụng hiệu quả hệ thống câu hỏi TNKQ trong dạy học và ôn thi ĐH, CĐ

Trang 16

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 T ổng quan về vấn đề nghiên cứu

Theo xu hướng đổi mới kiểm tra thi cử theo hình thức TNKQ, hiện nay trên

tất cả các nhà sách trên toàn quốc đã xuất hiện rất nhiều sách tham khảo viết về phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm đối với các môn có thi TNKQ Riêng môn hóa học, hiện nay có rất nhiều phương pháp giải nhanh bài tập, việc giáo viên

dạy cho học sinh các cách giải nhanh và học sinh áp dụng những cách giải này để hoàn thành các bài thi dưới dạng TNKQ trong một thời gian ngắn là một điều tất

yếu và cần thiết Do đó việc nghiên cứu và vận dụng các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học từ trước đến nay đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Chúng tôi xin nêu một vài nghiên cứu gần đây có liên quan đến các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học:

- Nguyễn Đức Chính (2006), Biên soạn các bài toán hóa học hữu cơ có

phương pháp giải nhanh để làm câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn,

Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội

- Nguyễn Thị Ngọc Hải (2009), Xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ chất lượng

cao dùng để dạy học hóa học lớp 12 nâng cao trường THPT, Luận văn thạc sĩ,

ĐHSP TP.Hồ Chí Minh

- Nguyễn Thị Oanh (2008), Xây dựng và cách suy luận để giải nhanh câu hỏi

TNKQ nhi ều lựa chọ phần hiđrocacbon lớp 11 THPT-Ban khoa học tự nhiên, Luận

văn thạc sĩ, ĐHSP TP.Hồ Chí Minh

- Nguyễn Thị Tòng (2008), Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài toán hóa học có

phương pháp giải nhanh làm câu TNKQ nhiều lựa chọn-Hóa học 10(Nâng cao),

Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.Hồ Chí Minh

- Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2008), Thiết kế website về phương pháp giải nhanh

các bài t ập trắc nghiệm khách quan Hóa học vô cơ ở trường THPT, Luận văn thạc

sĩ, ĐHSP TP.Hồ Chí Minh

Trang 17

- Phan Thị Mỹ Hạnh, (2011) Xây dựng và sử dụng hệ thống bài toán trắc

nghi ệm khách quan có cách giải nhanh phần hóa vô cơ lớp 12 (ban nâng cao),

1.2 M ột số vấn đề về kiểm tra - đánh giá kết quả học tập

1.2.1 Khái niệm, chức năng của kiểm tra - đánh giá

1.2.1.1 Khái niệm kiểm tra đánh giá [5]

Trong quá trình dạy học, kiểm tra- đánh giá là giai đọan kết thúc một quá trình

dạy học, đảm nhận một chức năng lí luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được của quá trình này

Kiểm tra là sự xem xét một cách kỹ lưỡng một vật, một hiện tượng, một quá trình dựa trên những mục tiêu đã xác định trước

Kiểm tra gồm ba chức năng thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau và thâm

nhập vào nhau

- Chức năng phát hiện, điều chỉnh

- Chức năng củng cố, phát triển trí tuệ của HS

- Chức năng giáo dục

Về lí luận, kiểm tra có vai trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy học Kiểm tra

biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò, từ

đó có quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy lẫn trò HS sẽ học tốt hơn nếu

Trang 18

thường xuyên được kiểm tra-đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng, với kĩ thuật cao

Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc trên cơ sở các thông tin thu được và so sánh, đối chiếu với các mục tiêu đưa ra từ trước Từ đó đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Ở khái niệm này, đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng Vì thế, đánh giá đi liền với kiểm tra được xem là một khâu rất quan trọng, đan xen với khâu lập kế hoạch và khâu triển khai công việc

1.2.1.2 Chức năng của kiểm tra đánh giá

Kiểm tra gồm 3 chức năng bộ phận liên kêt thống nhất với nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh

Hình 1.1 C ấu trúc chức năng của kiểm tra

Hình 1.2 V ị trí của kiểm tra- đánh giá trong quá trình dạy học

Nhờ KT-ĐG GV sẽ phát hiện mặt tốt và cả mặt chưa tốt trong trình độ đạt tới

của HS, trên cơ sở đó tìm ra nguyên nhân của những lệch lạc về phía người dạy

Mục tiêu

đào tạo Trình độ xuất phát của HS

Nghiên cứu tài liệu mới

Trang 19

cũng như phía người học, hoặc từ khách quan Phát hiện những lệch lạc, nguyên nhân lệch lạc trong nhận thức của HS là rất quan trọng Thực tế kết quả học tập của

HS là điều đã dự kiến trong mục tiêu, còn những lệch lạc thường được bỏ qua, nếu

sửa chữa loại trừ chúng thì chất lượng đào tạo sẽ tốt hơn

Từ KT-ĐG, phát hiện lệch lạc, người GV sẽ điều chỉnh, uốn nắn, loại trừ

những lệch lạc đó, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đẩy chất lượng dạy học lên rất nhiều

1.1 2 Đổi mới việc kiểm tra - đánh giá

Phải xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng dạy và

học chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn là do kiểm tra và đánh giá chưa được hoàn chỉnh Vì vậy, “việc xây dựng và hoàn chỉnh các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông đến nay vẫn là một trong những vấn đề quan

trọng nhất” [17, tr 289]

Kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học là một công việc rất phức tạp và rất

cần thiết Quá trình đó, nếu được tiến hành một cách khoa học sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc điều khiển hoạt động dạy học, có tác dụng rất lớn trong việc lĩnh hội,

củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo phát triển trí tuệ cho học sinh Vì vậy phải đổi

mới cách thức kiểm tra đánh giá, sử dụng kỹ thuật tiên tiến, có tính khách quan và

độ tin cậy cao Định hướng đó được thể hiện ở các vấn đề sau:

- Về nội dung kiểm tra đánh giá: phải kiểm tra đánh giá theo mục tiêu của môn

học, đồng thời phải đánh giá theo các bậc nhận thức, các bậc năng lực tư duy và các

bậc kĩ năng kĩ xảo mà môn học phải dự kiến người học phải đạt được

- Về phương pháp kiểm tra đánh giá: cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau (viết, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, bài tập lớn, tiểu luận, luận văn )

- Cần dựa vào chuẩn kiến thức các môn học trong chương trình đào tạo đã được xây dựng thông qua chương trình chi tiết và ngân hàng câu hỏi TNKQ cho tất

cả các môn học và quy định dùng chung cho hệ thống giáo dục phổ thông, đại học

Trang 20

- Tổ chức kiểm định chất lượng theo thang bậc chất lượng

Thực tế cho thấy những năm gần đây Bộ giáo dục và Đào tạo đã từng bước đổi

mới công tác kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá cao năng lực tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề của thực tiễn cuộc sống có liên quan đến hóa học Một trong

những phương hướng cải tiến có hiệu quả hiện nay là kết hợp các phương pháp đánh giá truyền thống và từng bước áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào tất cả môn học ở các cấp học và ở cả các kỳ thi : tốt nghiệp, tuyển sinh nhằm ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu đánh giá kết quả học tập hóa học của

kĩ xảo và những đặc điểm tâm sinh lý của nhân cách” [12, tr 360]

Như vậy, trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động để đo lường năng lực

của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định Trong giáo dục trắc nghiệm được tiến hành để đánh giá kiến thức và kỹ năng của học sinh

1.1.3.2 Phân loại [5], [6], [18]

Câu hỏi trắc nghiệm có thể phân chia làm 2 loại: câu hỏi trắc nghiệm tự luận

và câu hỏi trắc nghiệm khách quan

a Tr ắc nghiệm tự luận

Trắc nghiệm tự luận là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử

dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, học sinh phải tự trình bày ý kiến của mình trong một bài viết để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra trong một khoảng thời

gian định sẵn

Trắc nghiệm tự luận đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phải biết cách sắp

xếp các vấn đề một cách hợp lý khoa học

Trang 21

b Tr ắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập

của học sinh bằng hệ thông câu hỏi trắc nghiệm gọi là “khách quan” vì cách cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm

Mỗi bài TNKQ gồm nhiều câu hỏi với nội dung kiến thức rộng, mỗi câu nêu

ra một vấn đề với những thông tin cần thiết sao cho học sinh phải trả lời vắn tắt cho

từng câu

B ảng 1.1 So sánh hai loại hình trắc nghiệm

- Học sinh tự lựa chọn câu trả lời và cách

diễn đạt

- Số câu hỏi ít, nhưng tổng quát

- Học sinh mất nhiều thời gian để suy

nghĩ và viết

- Chất lượng đánh giá ít chính xác, phụ

thuộc người chấm

- Đề thi không phủ kín chương trình

- Dễ soạn, khó chấm, chấm lâu hơn

- Học sinh phải chọn một trong những câu trả lời đã cho

- Số câu hỏi nhiều và có tính chuyên

Các chuyên gia v ề đánh giá cho rằng phương pháp tự luận nên dùng trong

nh ững trường hợp sau:

- Khi thí sinh không quá đông

- Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt

Trang 22

- Khi muốn tìm hiểu ý tưởng của học sinh hơn là khảo sát kết quả học tập

Còn TNKQ nên dùng trong nh ững trường hợp sau:

- Khi thí sinh rất đông ( thi tốt nghiệp, tuyển sinh toàn quốc)

- Khi muốn chấm bài nhanh, muốn có điểm số đáng tin cậy

- Coi trọng công bằng, chính xác và ngăn chặn sự gian lận trong thi cử

- Khi muốn ngăn chặn nạn học tủ, học vẹt và giảm thiếu sự may rủi

1.1.4 TNKQ nhiều lựa chọn [16], [18], [19], [20]

Có 4 loại câu TNKQ: ghép đôi, điền khuyết, TN đúng – sai, TNKQ nhiều lựa

chọn Loại câu TNKQ thường dùng nhất là câu TNKQ nhiều lựa chọn (4 lựa chọn)

1.1.4.1 TNKQ nhiều lựa chọn

- Đưa ra một nhận định có 4-5 phương án trả lời, thí sinh phải lựa chọn để

đánh dấu vào 1 phương án đúng duy nhất Câu hỏi gồm có 2 phần, phần dẫn và

phần lựa chọn:

+ Phần dẫn là một câu hỏi, ý tưởng phải rõ ràng giúp học sinh hiểu rõ câu

trắc nghiệm muốn hỏi điều gì

+ Phần lựa chọn gồm 4 – 5 phương án trong số đó có một phương án đúng

Những phương án còn lại được gọi là “nhiễu”

+ Phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại với nhau phải thành một câu hay đoạn văn hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp

- Các câu nhiễu cũng phải hấp dẫn với học sinh, đặc biệt với học sinh chưa

nắm kĩ bài học Các “nhiễu“ thường được xây dựng dựa trên những sai sót mà học sinh hay mắc phải, những trường hợp khái quát không đầy đủ

- Sắp xếp phương án đúng là ngẫu nhiên tránh thể hiện một ưu tiên đối với một phương án nào đó

1.1.4.2 Ưu điểm

Trang 23

- Chấm bài nhanh, chính xác khách quan

- Phản hồi nhanh kết quả học tập của học sinh giúp học sinh điều chỉnh được

hoạt động học

- Kiểm tra được nhiều kiến thức trong thời gian ngắn, chống học tủ

- Có thể đo được khả năng tư duy khác nhau

- Rèn luyện các kỹ năng: dự đoán, lựa chọn phương án giải quyết

- Ít tốn công chấm bài, khách quan trong chấm thi do áp dụng được công nghệ thông tin trong chấm và phân tích kết quả

1.1.4.3 Nhược điểm

- Không đánh giá được trình độ diễn đạt, lập luận của học sinh

- M ất nhiều thời gian biên soạn đề

- Có y ếu tố may rủi trong làm bài do thí sinh có thể tự chọn phương án

1.1.4.3 Nh ững lưu ý khi soạn câu TNKQ nhiều lựa chọn

- Câu hỏi loại này có thể dùng thẩm định trí năng ở mức biết, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp ngay cả khi khả năng phán đoán cao hơn Vì vậy, khi viết

câu này cần lưu ý:

+ Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt rõ ràng một vấn đề Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải được nhấn mạnh để học sinh không bị nhầm Câu dẫn phải là câu trọn vẹn để học

sinh hiểu được mình đang hỏi vấn đề gì

+ Các lựa chọn cũng phải rõ ràng, dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với câu

dẫn, phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn

+ Các câu nhiễu phải có tác dụng gây nhiễu với các học sinh có năng lực tốt và

tác động thu hút học sinh kém

Trang 24

+ Nên có 4-5 phương án để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu số phương án trả lời ít hơn thì khả năng đoán mò, may rủi sẽ tăng lên Nhưng nếu có quá nhiều phương án

để chọn thì giáo viên khó soạn và học sinh mất nhiều thời gian để đọc

+ Không được đưa 2 câu chọn cùng ý nghĩa, mỗi câu kiểm tra chỉ nên soạn một

nội dung kiến thức nào đó

+ Các câu trả lời đúng phải được sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên, số lần xuất

hiện ở các vị trí A, B, C, D phải gần như nhau

1.2 Bài t ập hóa học

1.2 1 Khái niệm

Bài tập hóa học (BTHH) là nhiệm vụ học tập mà giáo viên đặt ra cho người

học, buộc người học phải vận dụng các kiến thức đã học hoặc các kinh nghiệm thực

tiễn, sử dụng hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ

đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tích cực chủ động sáng tạo [17]

1.2.2 Tác dụng của bài tập hóa học [3], [7], [17]

- BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế, biến các kiến thức đó thành kiến

thức của chính mình

- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú thông

qua đó mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc nhất

- Là phương tiện để ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách sâu sắc nhất

- Rèn luyện các kỹ năng hóa học như cân bằng phản ứng, tính toán, nhận

biết

- Phát triển năng lực nhận thức, trí thông minh cho học sinh

- Phát huy tính tích cực, tự lực, hình thành phương pháp học tập hợp lý cho

HS

Trang 25

- Phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng có tác dụng rèn tính kiên nhẫn, chính xác khoa học và sáng tạo cho học sinh

1.2 3 Phân loại bài tập hóa học [3], [7], [17]

- Có rất nhiều cách phân loại BTHH Tùy vào mục đích, nội dung, tính chất

ta có thể phân các loại như sau:

- Dựa vào mức độ kiến thức: Có dạng bài tập cơ bản hay tổng hợp

- Dựa vào tính chất của bài tập: Có bài tập định tính hay định lượng

- Dựa vào mục đích dạy học: Có dạng bài ôn tập, luyện tập, kiểm tra

- Dựa vào cách tiến hành trả lời: Có dạng TNKQ hay tự luận

- Dựa vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập: Có dạng bài tập lập công thức, tính khối lượng, thể tích các chất, hiệu suất phản ứng, nhận biết

1.2.4 Xây dựng bài tập hóa học mới [3], [7], [17]

1.2.4.1 Xây d ựng BTHH theo các xu hướng hiện nay

- Loại những bài toán nghèo nàn về nội dung hóa học, nặng về thuật toán

học

- Loại những bài tập giả định rắc rối xa rời thực tiễn hóa học

- Xây dựng theo các mẫu bài tập sẵn có hoặc tương tự

- Tăng cường sử dụng bài tập TNKQ

- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm

- Xây dựng bài tập để phát triển tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn

đề

- Đa dạng hóa các loại hình bài tập như bằng hình vẽ, sơ đồ, lắp rắp dụng cụ

- Xây dụng bài tập có nội dung hóa học phong phú, sâu sắc, phần tính toán

đơn giản nhẹ nhàng

- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập định lượng

Trang 26

1.2.4.2 Các dạng bài tập mới cần chú ý xây dựng

Bài tập để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn

đề là bài tập rèn luyện tư duy sáng tạo Đây là những bài tập ngoài cách giải thông thường còn cách giải phát huy trí thông minh, độc đáo dựa vào đặc điểm của bài toán, gồm:

- Lắp rắp dụng cụ thí nghiệm

- Sử dụng đồ thị

- Vẽ đồ thị

- Quy tắc đường chéo

- Bài tập thực nghiệm định lượng

- Bài tập về các hiện tượng hóa học

- Bài tập xác định CTPT, CTCT

1.2.4.3 Cách xây d ựng một bài tập hoá học mới

Từ những bài tập hiện có, GV có thể xây dựng thêm bài tập mới bằng cách:

- Đảo ngược cách hỏi

- Thay đổi lượng chất

- Thay đổi chất phản ứng

- Thay đổi quá trình phản ứng

- Phức tạp / đơn giản hoá dữ kiện bài toán

- Tổng hợp các bài toán khác nhau

1.2.5 Những chú ý khi ra bài tập [3], [7], [17]

- Nội dung kiến thức phải nằm trong chương trình

- Các dữ kiện cho trước và kết quả tính toán được của bài tập thực nghiệm

phải phù hợp với thực tế

- Bài tập phải vừa sức với trình độ học sinh

Trang 27

- Phải chú ý đến các yêu cầu cần đạt được (thi lên lớp, thi tốt nghiệp hay thi vào đại học) để từng bước nâng cao khả năng giải bài tập của cả lớp

- Phải đủ các dạng: dễ, trung bình, khó

- Bài tập phải rõ ràng, chính xác, không đánh đố học sinh

1.3 M ột số phương pháp giải nhanh các bài tập hóa học hữu cơ

1.3 1 Phương pháp bảo toàn khối lượng, bảo toàn nguyên tố

a) Nội dung

- Trong một phản ứng hóa học tổng khối lượng các chất sản phẩm bằng tổng

khối lượng các chất phản ứng

- Khối lượng của hỗn hợp muối bằng tổng khối lượng gốc kim loại cộng tổng

khối lượng gốc axit

- Trong một phản ứng khối lượng một nguyên tố được bảo toàn (bảo toàn nguyên tố)

b) Áp dụng

- Phương pháp này được sử dụng nhiều nhất trong các bài toán vô cơ và hữu

cơ khi xác định khối lượng của các chất phản ứng hay sản phẩm hoặc để tính lượng

một nguyên tố nào đó

- Trong các phản ứng cháy của hiđrocacbon, axit, rượu khối lượng O, C,H luôn được bảo toàn dựa vào khối lượng thu được tính được số mol dựa vào tỷ lệ các chất ta xác định được CTPT, CTCT

- Định luật bảo toàn khối lượng không tính đến lượng chất dư trong phản ứng hóa học

1.3.2 Phương pháp trị số trung bình

a) Nội dung

- Dùng giải nhanh các bài toán về hỗn hợp 2 hay nhiều chất

Trang 28

- Trị số trung bình có thể là: khối lượng mol nguyên tử trung bình (A), khối lượng mol phân tử trung bình (M ), số nguyên tử C, H trung bình của một nguyên

tố trong phân tử (n C , n H )

b) Áp dụng

Phương pháp này được sử dụng để:

- Xác định CTPT của các chất kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng

- Số n C , n H trong các chất

- % thể tích các khí trong hỗn hợp

1.3.3 Phương pháp tăng giảm khối lượng

a) Nội dung

Khi chuyển từ chất A sang chất B (có thể qua nhiều giai đoạn trung gian)

khối lượng các chất có thể tăng hoặc giảm do các chất khác nhau có khối lượng mol khác nhau Dựa vào mối tương quan tỷ lệ thuận của sự tăng giảm ta tính được lượng chất tham gia hay tạo thành sau phản ứng

b) Áp dụng

Phương pháp này có các dạng sau:

- Các muối thay đổi gốc axit

- Các muối thay đổi cation kim loại

- Từ hiđrocacbon chuyển sang dẫn xuất halogen, ancol

- Từ axit chuyển sang este hoặc ngược lại

1.3.4 Phương pháp đường chéo

a) Nội dung

Trang 29

- Phương pháp đường chéo thường được dùng để giải bài toán trộn lẫn các

chất với nhau có thể đồng thể hoặc dị thể nhưng hỗn hợp cuối cùng phải là đồng

thể

- Nếu trộn lẫn các dung dịch thì phải cùng một chất hoặc khác chất nhưng do

phản ứng với nước tạo thành một chất

- Trộn 2 dung dịch của chất A với nồng độ khác nhau, ta thu được 1 dung dịch

chất A với nồng độ duy nhất Như vậy lượng chất tan trong phần đặc giảm xuống

phải bằng lượng chất tan trong phần loãng tăng lên

- Sơ đồ tổng quát của đường chéo là:

Khi gặp những bài toán có hỗn hợp gồm nhiều quá trình phản ứng xảy ra

ta chỉ cần lập sơ đồ hợp thức sau đó căn cứ vào chất đầu và chất cuối (phương pháp

bảo toàn nguyên tố) bỏ qua các phản ứng trung gian, mà vẩn tìm ra được kết quả

đúng một cách nhanh chóng

b) Áp d ụng

Phương pháp này áp dụng cho:

- Các bài tập về tổng hợp, điều chế các chất qua nhiều phản ứng

Trang 30

- Các bài tập có nhiều phản ứng, có sự liên hệ giữa chất đầu và chất cuối

1.4 Vài nét v ề kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng

1.4 1 Mục đích, thời gian tổ chức thi [38]

Kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng là một kì thi chung nhằm mục đích lấy đầu vào cho các trường đại học và cao đẳng tại Việt Nam Kì thi này do Bộ Giáo

dục và Đào tạo tổ chức hằng năm, ngay sau kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông khoảng một tháng Theo như những dự định ban đầu, hai kì thi trên sẽ được

gộp lại làm một vào năm 2010 nhưng sau đó đã không thực hiện được Vài năm gần đây, ngày thi được xếp vào đầu và giữa tháng 7 cố định theo lịch sau:

Đợt 1: Ngày 4 tháng 7 và 5 tháng 7: thi khối A, V của hệ đại học Thí sinh thi khối

V, sau khi dự thi môn Toán, Lí thì thi tiếp năng khiếu vẽ đến ngày 8 tháng 7(tùy trường)

Đợt 2: Ngày 9 tháng 7 và 10 tháng 7 thi khối B, C, D, N, H, T, R, M của hệ đại học

Thí sinh thi các khối năng khiếu, sau khi dự thi các môn văn hóa (khối H, N thi Văn theo đề thi khối C; khối M thi Văn, Toán theo đề thi khối D; khối T thi Sinh, Toán theo đề thi khối B; khối R thi Văn, Sử theo đề thi khối C; khối K thiToán, Lí theo đề thi khối A) thì thi tiếp các môn năng khiếu vẽ, thể

dục, nhạc và kĩ thuật đến ngày 14 tháng 7 (tùy trường)

Đợt 3: Ngày 15 tháng 7 và 16 tháng 7 thi tất cả các khối của hệ cao đẳng Các

trường cao đẳng có thi các môn năng khiếu kéo dài thêm đến 22 tháng 7

1.4 2 Hình thức thi [38]

Những năm trước (từ năm 2001 trở về trước), mỗi trường tự tổ chức kì thi, dưới sự giám sát của Bộ giáo dục và đào tạo Theo đó, thí sinh đăng kì dự thi bao nhiêu trường, thì phải trải qua bấy nhiêu kì thi Điều nay gây nên sự tốn kém rất lớn,

và mất công mất việc của rất nhiều các bậc phụ huynh, cũng như không thực sự cần thiết Từ sau năm 2001, Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức một kì thi duy nhất, sau đó kết quả được áp dụng sang các trường mà thí sinh đã đăng kí nguyện vọng

Trang 31

Kể từ năm 2007, hình thức thi trắc nghiệm khách quan áp dụng cho bốn môn văn hóa: Vật lí, Hóa học, Sinh học và Ngoại ngữ với thời gian làm bài là 90 phút, trong đó có 80 câu hỏi dành cho môn Ngoại ngữ và 50 câu hỏi dành cho môn Vật

lí, Hóa học, Sinh học; bốn môn văn hóa còn lại là Toán, Văn, Lịch sử và Địa

lí thi tự luận với thời gian làm bài là 180 phút

1.4 3 Những lý do chưa thể bỏ kỳ thi đại học [39]

Xuất phát từ thực tiễn giáo dục nước ta, qua theo dõi nhiều năm các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi ĐH, thực trạng giáo dục còn quá nhiều bất cập, có những lý do chưa thể bỏ kỳ thi này Đó là:

a Mạng lưới trường ĐH chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội cả về số lượng

và chất lượng

Mặc dù số lượng các trường ĐH đã tăng lên đáng kể, nó vẫn không đáp ứng được nhu cầu khi hàng năm có đến hàng trăm ngàn người muốn lọt vào cánh cửa

ĐH Trong khi đó chất lượng đào tạo ĐH đang là mối quan tâm lớn của toàn xã hội

Do đó, cần có một kỳ thi tuyển sinh hoặc một công cụ sàng lọc hữu hiệu nào đó để chọn những người có khả năng học tập tốt nhất vào học bậc đào tạo này

b Kỳ thi tốt nghiệp THPT chưa đạt hiệu quả như mong muốn để có thể trở thành một công cụ sàng lọc

Cho đến nay, kỳ thi tốt nghiệp THPT và tốt nghiệp bổ túc THPT vẫn còn tồn đọng quá nhiều điều khiến dư luận lo lắng, từ khâu ra đề đến việc tổ chức thi và chấm bài Một khi kết quả của kỳ thi này còn được coi là một "nhiệm vụ chính trị" của mỗi địa phương thì không thể hi vọng có được một kỳ thi làm nhiệm vụ sàng lọc được

c Tính chất của kỳ thi tuyển sinh và kỳ thi tốt nghiệp là hoàn toàn khác nhau

Trong khi mục đích của kỳ thi tuyển sinh ĐH là để chọn người có năng lực học tập vào học ở bậc cao thì mục đích của kỳ thi tốt nghiệp THPT là để công nhận kết quả của một quá trình học tập Do đó, kỳ thi tốt nghiệp THPT không thể là một

Trang 32

công cụ sàng lọc hữu hiệu Nếu chúng ta có ý định thay đổi mục đích của kỳ thi tốt nghiệp THPT để gom 2 kỳ thi lại thành 1 thì chúng ta phải chấp nhận kết quả rất

thấp cho kỳ thi này (giống như cách thi tú tài của Pháp - Baccalauréat)

d Kỳ thi tuyển sinh ĐH là kỳ thi "đàng hoàng" nhất trong nhiều năm qua

Do tính chất cạnh tranh khốc liệt, bản thân mỗi thí sinh dự thi đã góp phần làm cho kỳ thi nghiêm túc, chưa nói đến những biện pháp quản lý thi Vài trăm trường hợp vi phạm quy chế thi trong một kỳ thi là một con số không đáng kể so với hàng trăm ngàn lượt thí sinh dự thi Từ đó, ta có thể tin tưởng phần nào vào tính chính xác về mặt đánh giá của kỳ thi này

e Về mặt kỹ thuật, chúng ta chưa có đủ trình độ quản lý và chưa có các công

cụ đo chuẩn để tổ chức xét tuyển công bằng và hiệu quả

Nếu không có kỳ thi tuyển sinh, chúng ta phải dựa vào kết quả của kỳ thi tốt nghiệp THPT cùng với các tiêu chí xét tuyển khác dựa vào quá trình học tập của học sinh

Muốn như vậy chúng ta cần một hệ thống quản lý chất lượng khoa học và chặt chẽ từ Bộ giáo dục và đào tạo đến địa phương, từ trường ĐH cho đến các trường phổ thông Ngoài ra còn cần có các công cụ đo mang tính chuẩn hóa khác về kiến thức ngôn ngữ, ngoại ngữ, tin học, khả năng tính toán, v.v (giống như các công cụ TOEFL, GRE, SAT của giáo dục Hoa Kỳ) Đây lại chính là những điểm còn yếu

và còn thiếu trong hệ thống giáo dục ở nước ta

g Tuy ển sinh theo hình thức xét tuyển có thể là cơ hội cho những tiêu cực nảy sinh

Trong khi hiện nay kết quả thi là cụ thể và minh bạch, mà đây đó vẫn còn xuất

hiện những hạt sạn trong quá trình tuyển sinh thì chắc chắn khi xét tuyển với hàng

loạt những tiêu chí phụ không thể tránh khỏi tiêu cực

h N ếu bỏ kỳ thi tuyển sinh ĐH, làm thế nào để tuyển những người đã tốt nghi ệp THPT từ nhiều năm trước đã đi làm nay muốn quay lại học đại học?

Trang 33

Nếu không có kỳ thi tuyển sinh thì những người đã trải qua kỳ thi tốt nghiệp THPT (hoặc tú tài) từ nhiều năm trước, nay muốn học ĐH phải được xét tuyển như thế nào, khi mà chương trình học và cách thi cử qua mỗi năm, mỗi thời kỳ lại khác biệt nhau hoàn toàn và chất lượng giáo dục phổ thông thì không đồng đều ở các địa phương?

i K ỳ thi tuyển sinh ĐH hoàn toàn không lấy đi cơ hội học tập của bất cứ ai

Nhiều người cho rằng kỳ thi tuyển sinh chặn đứng cơ hội học tập của nhiều người và rằng việc học ĐH nên được phổ cập theo kiểu ai có tiền thì được đăng ký học Đây phải chăng là cách biện luận của những nhà kinh doanh trong giáo dục hoặc những ai không thể vượt qua kỳ thi tuyển sinh

Thật vậy, thực tế đã chứng minh ĐH không phải là con đường duy nhất đem lại hạnh phúc cho bản thân người học và góp phần làm phồn vinh xã hội Nếu những ai không có khả năng vào ĐH thì hoàn toàn có thể theo học một ngành nghề nào đó phù hợp với năng lực của họ với vốn thời gian và tiền bạc ít hơn nhiều Nếu

mở toang cánh cửa vào ĐH trong bối cảnh hiện nay, chúng ta không thể lường được chất lượng đào tạo sẽ đi về đâu, tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" và mất cân bằng trong cơ cấu đào tạo sẽ diễn ra phức tạp như thế nào!

k Vượt qua kỳ thi tuyển sinh ĐH là mục tiêu, là hướng phấn đấu của nhiều

h ọc sinh, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông

Thực tế cho thấy những em đỗ kỳ thi tuyển sinh đa phần là những em có học lực khá giỏi, có động cơ phấn đấu trong học tập Các em đã "tự phân ban" cho mình

và đầu tư nhiều công sức cho các môn học mình theo đuổi để có thể cạnh tranh trong kỳ thi tuyển sinh khốc liệt, trong khi vẫn thừa khả năng vượt qua kỳ thi tốt nghiệp THPT Có thể nói không quá rằng chính những em học sinh này đã góp phần làm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông

l Mu ốn thi tuyển sinh có chất lượng thì phải tốn kém và không phải cái gì

gi ống nước ngoài mới là tốt

Trang 34

Nhiều người cho rằng tổ chức kỳ thi tuyển sinh là quá tốn kém cho xã hội và rằng, đa số các nước đã bỏ kỳ thi này rồi Nhưng muốn thi tuyển sinh có chất lượng thì phải đầu tư, cho dù tốn kém đến đâu Đầu tư cho kỳ thi tuyển sinh để chọn người

có năng lực học tập thực sự còn hơn không đầu tư để ồ ạt đào tạo ra một lực lượng lao động kém chất lượng

Chưa bỏ kỳ thi tuyển sinh ĐH có nghĩa là đến lúc nào đó ngành giáo dục sẽ phải tính đến chuyện bỏ Chúng ta phải kiện toàn hệ thống giáo dục ĐH theo hướng

mở rộng quy mô và số lượng, đi kèm với nâng cao chất lượng; quản lý hệ thống kiểm định và đánh giá chất lượng giáo dục đồng bộ; phát triển hệ thống đào tạo nghề tiên tiến trước khi tính đến việc bỏ kỳ thi tuyển sinh ĐH cho giống với các nước

Chúng ta đang cần rất nhiều thời gian để nỗ lực cho những mục tiêu đó Một cách làm khác là giao việc tổ chức (hay không tổ chức) kỳ thi tốt nghiệp THPT cho từng địa phương để tập trung cho một kỳ thi quốc gia chung duy nhất

1.5 Th ực trạng việc sử dụng bài tập hoá học có PPGN trong ôn thi ĐH,

CĐ ở các trường phổ thông hiện nay

1.5.1 Mục đích và phương pháp điều tra

Nhằm nắm được thực trạng việc việc vận dụng các phương pháp giải nhanh trong quá trình giải bài tập hóa học của học sinh ở trường trung học phổ thông, chúng tôi tiến hành điều tra một số HS ở các trường THPT bằng các phương pháp sau:

- Phát phiếu điều tra cho 100 HS các trường phổ thông ở Tp HCM mà chúng tôi tiến hành thực nghiệm (phụ lục 1)

- Phát phiếu điều tra cho 50 GV các trường THPT ở Tp HCM, Bình Dương, Đồng Nai (phụ lục 2)

Trang 35

- Trò chuyện - đàm thoại với các GV để biết cụ thể hơn về vấn đề sử dụng bài

tập hóa học và tình hình vận dụng các phương pháp giải nhanh trong quá trình giải bài tập

1.5.2 Kết quả điều tra

1.5.2.1 K ết quả điều tra từ HS

B ảng 1.2 Mức độ thành thạo khi vận dụng các phương pháp giải BTHH

Phương pháp Mức độ thành thạo (số lượng - %)

Tốt khá Trung bình Yếu Kém Tính theo công

thức và pthh 40 - 40% 20 - 20% 25 - 25% 15 - 15% 0 - 0%

Bảo toàn khối

lượng 15 - 15% 25 - 25% 28 - 28% 21 - 21% 11 - 11%

Bảo toàn nguyên tố 10 - 10% 30 - 30% 22 - 22% 22- 22% 6 - 6%

Bảo toàn electron 8 - 8% 20 - 20% 35 - 35% 15 - 15% 22 - 22% Tăng giảm khối

lượng 18 - 18% 20 - 20% 48 - 48% 10 - 10%) 4 - 4% Dùng các giá trị

kinh nghiệm 38 - 38% 32 - 32% 11 - 11% 6 - 6% 0 - 0%

B ảng 1.3 Mức độ thành thạo các kĩ năng giải BTHH

Trang 36

Các kĩ năng Mức độ thành thạo (Số lượng - %)

Từ kết quả điều tra HS, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:

- Về mặt vận dụng các phương pháp giải nhanh, ta thấy:

+ Đa số HS dùng phương pháp thông thường, thể hiện khoảng 40% HS sử

dụng tốt, 20% khá

+Việc vận dụng các phương pháp giải nhanh, thông minh còn hạn chế, thể

hiện khoảng 15% HS sử dụng tốt, 20% khá Đặc biệt phương pháp quy đổi và biện

luận hầu như HS không biết sử dụng thể hiện chỉ khoảng 5% tốt, 15% khá Vì vậy trong quá trình giảng dạy, GV cần rèn những phương pháp này cho HS

- Về các kĩ năng giải bài tập, đa số HS chỉ đạt ở mức trung bình, kĩ năng phân tích đề và tìm các giải nhanh chóng, thông minh còn yếu Vì vậy, việc tăng tiết giải bài tập trên lớp là thực sự cần thiết

1.5.2.2 K ết quả điều tra từ GV

B ảng 1.4 Ý kiến GV về việc sử dụng nguồn BTHH trong dạy học

Trang 37

4 Tài liệu do cả tổ bộ môn cùng biên soạn 10 – 20%

B ảng 1.5 Ý kiến của GV về thời lượng dành cho việc dạy BT trên lớp

B ảng 1.6 Ý kiến đánh giá của GV về bài tập trong SGK và sách bài tập hóa học

c ủa NXB GD ở trường phổ thông

B ảng 1.7 Tầm quan trọng của việc dạy cho HS các PPGN trong ôn thi ĐH, CĐ

Ý kiến Không cần thiết Bình thường Cần thiết Rất cần thiết

Từ kết quả điều tra GV, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:

- Hầu hết GV đều cho rằng số lượng và dạng BT trong SGK, sách BT của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn ít, phải biên soạn thêm hoặc dùng thêm sách tham khảo

- Cũng hầu hết GV cho rằng thời lượng dành cho việc dạy BT rất ít, cần phải tăng số tiết BT thêm nữa Có đến 96% cho rằng việc dạy cho HS các phương pháp

giải nhanh là cần thiết

Qua việc tìm hiểu thực trạng dạy và học của GV và HS, chúng tôi thấy việc tuyển chọn, xây dựng và đề xuất các hướng sử dụng hệ thống câu hỏi TNKQ để dạy trên lớp và ôn thi ĐH, CĐ cho HS là cần thiết

Trang 38

Ti ểu kết chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã nghiên cứu và trình bày những vấn đề thuộc

về cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

- Tìm hiểu các tài liệu, các luận án, luận văn cùng hướng nghiên cứu với đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về KT – ĐG: khái niệm, chức năng, ý nghĩa bản

- Nghiên c ứu về các phương pháp giải nhanh trong giải bài tập hóa hữu cơ

- Nghiên cứu về kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng: Mục đích, thời gian tổ

chức, hình thức và những lý do chưa thể bỏ kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ

- Điều tra về thực trạng việc sử dụng bài tập hoá học có phương pháp giải nhanh ở trường THPT: Chúng tôi đã tiến hành điều tra trên 50 GV hóa học và 100

HS Kết quả cho thấy việc dạy cho HS các phương pháp giải nhanh để giải bài tập TNKQ cho các em HS sắp thi ĐH, CĐ là thực sự cần thiết

Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng hệ

thống bài tập TNKQ có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm

chức dùng ôn thi ĐH, CĐ

Trang 39

Chương 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG

ĐỂ ÔN THI ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

2.1 T ổng quan về phần HCHC có nhóm chức ở THPT [22], [24], [25] [30] 2.1.1 N ội dung phần HCHC có nhóm chức

Chương trình lớp 11

- Chương 8: Dẫn xuất halogen – ancol – phenol

- Chương 9: Anđehit – xeton – axit cacboxylic

Chương trình lớp 12

- Chương 1: Este – lipit

- Chương 2: Cacbohiđrat

- Chương 3: Amin – amino axit – protein

2.1.2 M ục đích, yêu cầu và các kỹ năng HS cần nắm vững trong phần HCHC

- Dựa vào cấu tạo viết đúng phương trình phản ứng của ancol với kim loại

kiềm, tách nước, axit, oxy hóa

- Nắm vững những đặc điểm cấu tạo của phenol

- Tính chất hóa học và phương pháp điều chế phenol

Rèn k ỹ năng

Trang 40

- Viết CTCT các đồng phân về ancol, tên ancol bậc 1,2,3,no, không no, đa

chức

- Dựa vào liên kết hidro so sánh nhiệt độ của một số chất

- BT về đồng phân, danh pháp

- Điều chế phenol

- BT nhận biết, tách, dãy biến hóa

b Ch ương IX: Andehit - xeton - axit cacboxylic

- Viết ptpư của andehit với các chất, pư tráng gương

- Giải thích nhiệt độ sôi, tính chất axit yếu của axit no, điều chế

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. C ấu trúc chức năng của kiểm tra - “tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”
Hình 1.1. C ấu trúc chức năng của kiểm tra (Trang 18)
B ảng 3.2. Bảng điểm bài kiểm tra số 1 - “tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”
ng 3.2. Bảng điểm bài kiểm tra số 1 (Trang 148)
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích điểm bài kiểm tra số 1 - “tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích điểm bài kiểm tra số 1 (Trang 150)
Hình 3.2. Bi ểu đồ xếp loại học sinh sau bài kiểm tra số 1 - “tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”
Hình 3.2. Bi ểu đồ xếp loại học sinh sau bài kiểm tra số 1 (Trang 151)
B ảng 3.5. Bảng điểm bài kiểm tra số 2 - “tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”
ng 3.5. Bảng điểm bài kiểm tra số 2 (Trang 152)
Hình 3.3 . Đường lũy tích điểm bài kiểm tra số 2 - “tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”
Hình 3.3 Đường lũy tích điểm bài kiểm tra số 2 (Trang 153)
Hình 3.4. Bi ểu đồ xếp loại học sinh theo bài kiểm tra số 2 - “tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan có phương pháp giải nhanh phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức dùng để ôn thi đại học, cao đẳng”
Hình 3.4. Bi ểu đồ xếp loại học sinh theo bài kiểm tra số 2 (Trang 154)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w