1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mô hình tổ chức của ngân hàng nhà nước việt nam

86 547 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 885,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

8 1.3.1 Các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.... Tuy nhiên do giới hạn của Luận văn n

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 2

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Bố cục Luận văn 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 4

1.1 Giới thiệu sơ lược các mô hình ngân hàng trung ương hiện nay 4

1.2 Khái niệm, đặc điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 6

1.3 Chức năng của ngân hàng Nhà nước Việt Nam 8

1.3.1 Các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng 8

1.3.2 Các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi thực hiện chức năng là ngân hàng Trung ương 11

1.4.Giới thiệu khái quát về cơ cấu tổ chức, bộ máy lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 14

1.4.1 Giới thiệu khái quát cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 14

1.4.2 Giới thiệu khái quát bộ máy lãnh đạo, điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 18

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC; LÃNH ĐẠO ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 20

2.1 Cơ cấu tổ chức ngân hàng Nhà nước Việt Nam 20

2.1.1 Quy định của pháp luật về một số Vụ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 20

2.1.1.1 Vụ chính sách tiền tệ 20

2.1.1.2 Vụ Quản lý ngoại hối 24

2.1.1.3 Vụ tài chính kế toán 30

2.1.2 Quy định của pháp luật về một số cơ quan ngang Vụ trực thuộc ngân hàng Nhà nước Việt Nam 34

Trang 4

2.1.2.2 Cục Công nghệ tin học 39

2.1.3 Quy định của pháp luật về tổ chức sự nghiệp và Văn phòng đại diện trực thuộc ngân hàng Nhà nước Việt Nam 41

2.1.3.1 Viện chiến lược Ngân hàng 41

2.1.3.2 Văn phòng đại diện tại TP HCM 44

2.2 Bộ máy lãnh đạo, điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 46

2.2.1 Thống đốc, phó Thống đốc 46

2.2.1.1 Thẩm quyền của Thống đốc trong việc đảm bảo chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của ngân hàng Nhà nước Việt Nam 47

2.2.1.2 Thẩm quyền của Thống đốc trong việc đảm bảo chức năng là ngân hàng trung ương của ngân hàng Nhà nước Việt Nam 50

2.2.2 Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 53 CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC; LÃNH ĐẠO, ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 56

3.1 Nhận xét về cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và một số định hướng hoàn thiện 56

3.1.1 Thành tựu trong quá trình hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức của ngân hàng Nhà nước Việt Nam 56

3.1.2 Những hạn chế của quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức của ngân hàng Nhà nước Việt Nam và định hướng hoàn thiện 57

3.2 Nhận xét về lãnh đạo, điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và định hướng hoàn thiện 68

3.2.1 Thành tựu trong quá trình hoàn thiện pháp luật về lãnh đạo điều hành của ngân hàng Nhà nước Việt Nam 68

3.2.2 Hạn chế của quy định pháp luật về lãnh đạo điều hành của ngân hàng Nhà nước Việt Nam và định hướng hoàn thiện 68

KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 32 (NĂM 2006-2010)

ĐỀ TÀI:

MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.s Lê Huỳnh Phương Chinh Lê Thị Hồng Hà

Bộ Môn: Luật Thương mại MSSV: 5062393

Lớp: Luật Thương mại 1-K32

Cần Thơ, 5/2010

Trang 6

 Văn bản pháp luật

1.Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003)

2 Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004)

3 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005

4 Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1990

5 Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã-Tín dụng và công ty tài chính năm 1990

6 Nghị định 52/2003/NĐ-CP ngày 19.5.2003 Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

7 Nghị định 96/2008/NĐ-CP ngày 26.8.2008 Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

8 Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17.8.1998 của Chính phủ về Quản lý ngoại hối

9 Nghị định 86/1999/NĐ-CP ngày 30.8.1999 của Chính phủ về Quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

10 Quyết định 83/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

11 Quyết định 30/2005/QĐ-NHNN ngày 12.1.2005 ban hành quy chế làm việc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

12 Quyết định 31/2008/QĐ-NHNN ngày 26.8.2008 ban hành quy chế làm việc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

13 Quyết định 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12.8.2003 quy định về chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

14 Quyết định 1131/2004/QĐ-NHNN ngày 9.9.2004 ban hành Quy chế tổ chức

và hoạt động của Vụ Chính sách tiền tệ

15 Quyết định 2201/2008/QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ

16 Quyết định 1676/2004/QĐ-NHNN ngày 23.12.2004 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Vụ Tài chính kế toán

17 Quyết định 2236/2008/QĐ-NHNN ngày 7.10.2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Tài chính kế toán

Trang 7

và hoạt động của Vụ Quản lý ngoại hối

19 Quyết định 2232/2008/QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Quản lý ngoại hối

20 Quyết định 2871/2008/QĐ-NHNN ngày 25.11.2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản trị

21 Quyết định 2852/2008/QĐ-NHNN ngày 25.11.2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện chiến lược ngân hàng

22 Quyết định 2214/2008/QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Công nghệ tin học

23 Quyết định 1050/2004/QĐ-NHNN ngày 23.8.2004 ban hành Quy chế tổ chức

và hoạt động của Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh

24 Quyết định 2221/2008/QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phong đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh

25 Quyết định 1440/2004/QĐ-NHNN ngày 8.11.2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

4 Trần Thanh Hải, Quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước-thực trạng và giải pháp

5 Ngô Quốc Kỳ, Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Tư pháp

6 Tạp chí Ngân hàng số 19 năm 2006

7 Tạp chí Ngân hàng số 21 năm 2007

Trang 8

2 www.luatvietnam.com.vn

3 www.thuvienphapluat.com.vn

4 www.tuoitre.com.vn

5 www.google.com.vn

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng quốc gia-thể chế tài chính đặc biệt không thể thiếu của một Quốc gia

Vì vậy ngày nay tất cả các nước trên thế giới dù lớn hay nhỏ đều tổ chức cho mình một Ngân hàng quốc gia Ngân hàng quốc gia có các chức năng đặc biệt như: phát hành tiền, làm chủ ngân hàng cho Chính phủ và là ngân hàng của các tổ chức tín dụng Các hoạt động của Ngân hàng quốc gia đều ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế

Ở Việt Nam ngân hàng trung ương được thành lập vào năm 1951 với tên gọi là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đến năm 1960 thì được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng có địa vị pháp lý là cơ quan của Chính phủ và là ngân hàng trung ương của cả nước Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có hai chức năng chính

là quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng là ngân hàng trung ương

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế đất nước Tầm quan trọng đó thể hiện qua việc Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền trên phạm vi cả nước, Ngân hàng còn là cố vấn và đại lý cung ứng các dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ, là ngân hàng của tất cả các ngân hàng trung gian Với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, Ngân hàng tham gia điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hoạt động xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia

Có thể nói, các hoạt động của Ngân hàng Nhà nước đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến

sự phát triển của nền kinh tế đất nước Do vậy để có được một nền kinh tế phát triển tốt và bền vững, trước hết Ngân hàng Nhà nước phải hoạt động tốt Để Ngân hàng Nhà nước hoạt động tốt, bản thân Ngân hàng Nhà nước phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, cơ chế lãnh đạo điều hành hiện đại và hiệu quả Có như vậy Ngân hàng Nhà nước mới không bị tụt hậu so với sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời giữ được vai trò là ngân hàng trung ương của cả nước trong thời kỳ hội nhập

Trên thực tế, sau 59 năm thành lập và đi vào hoạt động cơ cấu tổ chức cũng như lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn chưa thật sự đáp ứng được các mục tiêu nói trên Mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã và đang bọc

lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập Chính điều này đã ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 10

luật về vấn đề này, đây cũng là lý do người viết chọn đề tài nghiên cứu:

“Mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề về cơ cấu tổ chức và

cơ chế lãnh đạo điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phát hiện thực trạng, những mặt còn hạn chế trong cơ cấu tổ chức, lãnh đạo điều hành Ngân hàng Từ đó mà

đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được cấu thành bởi nhiều Vụ,

cơ quan ngang Vụ, hệ thống chi nhánh, văn phòng đại diện và các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Tuy nhiên do giới hạn của Luận văn nên đề tài chỉ đi sâu phân tích nhiệm

vụ, quyền hạn của các cơ quan có tính chất điển hình trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm: Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Quản lý ngoại hối, vụ Tài chính-kế toán, cục Công nghệ tin học, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Viện chiến lược ngân hàng và văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh Đối với phần lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước, đề tài sẽ tập trung phân tích nhiệm vụ, quyền hạn của Thống đốc, phó Thống đốc, thủ trưởng các đơn vị Từ việc phân tích này đề tài sẽ nêu những hạn chế của cơ cấu tổ chức và lãnh đạo điều hành Ngân hàng hiện nay, sau đó đề xuất các biện pháp hoàn thiện

3 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp tổng hợp nhằm nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện

Phương pháp phân tích luật viết để làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành về cơ cấu tổ chức và lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Phương pháp so sánh giữa lý luận và thực tiển về cơ cấu tổ chức và lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

4 Bố cục Luận văn:

Đề tài có kết cấu gồm ba chương

Chương 1: Khái quát chung về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 2: Quy định của Pháp luật về cơ cấu tổ chức, lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 3: Nhận xét về cơ cấu tổ chức, lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và định hướng hoàn thiện

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu về

mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhưng do vẫn còn hạn chế về khả năng cũng như thời gian nên chắc chắn đề tài không thể tránh khỏi những sơ suất

Trang 11

được hoàn thiện hơn

Nhân đây em xin chân thành cảm ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để Luận văn được hoàn thành đúng kế hoạch đề ra

Cần thơ, 5/2010

Trang 12

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam1:

1 Tham khảo từ trang web: http//www.sbv.gov.vn giới thiệu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam/ mô hình

tổ chức

Trang 13

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng trung ương của Việt Nam được thành lập vào năm 1951 với tên gọi là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đến năm 1960 thì được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có địa vị pháp lý là cơ quan của Chính phủ và

là ngân hàng trung ương của cả nước Ngân hàng có hai chức năng chính là quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng là ngân hàng trung ương Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế đất nước Tầm quan trọng đó thể hiện qua việc Ngân hàng Nhà nước là

cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền trên phạm vi cả nước, Ngân hàng còn là

cố vấn và đại lý cung ứng các dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ, là ngân hàng của tất cả các ngân hàng trung gian Với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ Ngân hàng tham gia điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hoạt động xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia

Có thể nói, các hoạt động của Ngân hàng Nhà nước đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước Do vậy để có được một nền kinh tế phát triển tốt và bền vững, trước hết Ngân hàng Nhà nước phải hoạt động tốt Để Ngân hàng Nhà nước hoạt động tốt, bản thân Ngân hàng Nhà nước phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, cơ chế lãnh đạo điều hành hiện đại và hiệu quả Có như vậy Ngân hàng Nhà nước mới không bị tụt hậu so với sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời giữ được vai trò là ngân hàng trung ương của cả nước trong thời kỳ hội nhập

Trên thực tế, sau 59 năm thành lập và đi vào hoạt động cơ cấu tổ chức cũng như lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn chưa thật sự đáp ứng được các mục tiêu nói trên Mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã

và đang bọc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập Chính điều này đã ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vì vậy người viết nhận thấy cần tìm hiểu, nghiên cứu những quy định của pháp luật về vấn đề này, đây cũng là lý do người viết chọn đề tài nghiên cứu:

Đề tài sẽ đi sâu phân tích những ưu điểm, hạn chế của mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước, từ đó xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 14

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu:

Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề về cơ cấu tổ chức

và cơ chế lãnh đạo điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phát hiện thực trạng, những mặt còn hạn chế trong cơ cấu tổ chức, lãnh đạo điều hành Ngân hàng

Từ đó mà đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được cấu thành bởi nhiều

Vụ, cơ quan ngang Vụ, hệ thống chi nhánh, văn phòng đại diện và các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Tuy nhiên do giới hạn của Luận văn nên đề tài chỉ đi sâu phân tích cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có tính chất điển hình trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm: Vụ Chính sách tiền

tệ, Vụ Quản lý ngoại hối, vụ Tài chính-kế toán, cục Công nghệ tin học, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Viện chiến lược ngân hàng và văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh Đối với phần lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước, đề tài sẽ tập trung phân tích nhiệm vụ, quyền hạn của Thống đốc, phó Thống đốc, thủ trưởng các đơn vị Từ việc phân tích này đề tài sẽ nêu những hạn chế của cơ cấu tổ chức và lãnh đạo điều hành Ngân hàng hiện nay, sau đó đề xuất các biện pháp hoàn thiện

3 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp tổng hợp nhằm nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện

Phương pháp phân tích luật viết để làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành về cơ cấu tổ chức và lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phương pháp so sánh giữa lý luận và thực tiển về cơ cấu tổ chức và lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

4 Bố cục Luận văn:

Đề tài có kết cấu gồm ba chương

Chương 1: Khái quát chung về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 2: Quy định của Pháp luật về cơ cấu tổ chức, lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 3: Nhận xét về cơ cấu tổ chức, lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và định hướng hoàn thiện

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu

về mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhưng do vẫn còn hạn chế

về khả năng cũng như thời gian nên chắc chắn đề tài không thể tránh khỏi những sơ

Trang 15

suất Người viết mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và bạn đọc để

đề tài được hoàn thiện hơn

Nhân đây em xin chân thành cảm ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để Luận văn được hoàn thành đúng kế hoạch đề ra

Cần thơ, 5/2010

Trang 16

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Ở chương này, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, chức năng và giới thiệu mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Do đề tài nghiên cứu về mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên trước khi đi vào phân tích những nội dung trên, đề tài sẽ giới thiệu sơ lược các

mô hình Ngân hàng quốc gia hiện nay để thuận tiện cho việc so sánh với mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.1 Giới thiệu sơ lược các mô hình ngân hàng trung ương hiện nay1

Ngân hàng quốc gia (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, ngân hàng trung ương hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia, nhóm quốc gia hoặc vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ Mục đích hoạt động của Ngân hàng quốc gia là ổn định giá trị của tiền

tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ

đổ vỡ Hầu hết các Ngân hàng quốc gia đều thuộc sở hữu của Nhà nước

Ngân hàng quốc gia ra đời chính thức đầu tiên ở Châu Âu, vào thế kỷ XVII là ngân hàng Thụy Điển (Bank of Sweden) được thành lập năm 1668 Ngân hàng Anh (Bank of England) ra đời tiếp sau đó vào năm 1694; Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ được thành lập năm 1913 Ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới dù lớn hay nhỏ đều có một Ngân hàng quốc gia Ở mỗi nước khác nhau thì Ngân hàng quốc gia lại

có tên gọi khác nhau xuất phát từ các yếu tố như lịch sử hình thành, hình thức sở hữu, hay thể chế chính trị Chẳng hạn như, theo hình thức sở hữu Ngân hàng quốc gia có tên gọi là Ngân hàng Nhà nước (Việt Nam), Ngân hàng Quốc gia (Mônđôva, Iran, Hunggari) Theo tính chất, chức năng ngân hàng quốc gia có thể được gọi tên

là Ngân hàng trung ương (Liên bang Nga), ngân hàng dự trữ (Nam Phi), hệ thống

dự trữ liên bang (Mỹ) Theo lịch sử hình thành Ngân hàng quốc gia có thể được gọi

là ngân hàng Anh, ngân hàng Pháp, ngân hàng Nhật Bản…Và tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành, cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước mà Ngân hàng quốc gia sẽ có những đặc điểm riêng, nhưng căn cứ vào mối quan hệ với Chính phủ, Ngân hàng quốc gia thường tồn tại dưới hai dạng chính như sau: Ngân hàng quốc gia độc lập với Chính phủ và Ngân hàng quốc gia trực thuộc Chính phủ

1 Tham khảo từ trang web: http/www.google.com.vn.vi.wikipedia.org/ngân hàng trung ương

Trang 17

 Mô hình Ngân hàng quốc gia độc lập với Chính phủ:

Theo mô hình này Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của Ngân hàng quốc gia, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ

Mô hình này được xây dựng trên quan điểm cho rằng nếu để Ngân hàng quốc gia trực thuộc Chính phủ, sẽ bị Chính phủ lợi dụng công cụ phát hành để bù đắp bội chi

ngân sách nhà nước, từ đó dễ gây ra tình trạng lạm phát

Các quốc gia áp dụng mô hình này bao gồm: Hệ thống Dự trữ liên bang Hoa

Kỳ, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sỹ, Ngân hàng trung ương Đức

 Mô hình Ngân hàng quốc gia trực thuộc Chính phủ:

Theo mô hình này Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với Ngân hàng quốc gia Thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành Ngân hàng quốc gia, Chính phủ can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ Mô hình này dựa trên quan điểm cho rằng Chính phủ là cơ quan hành pháp, thực hiện chức năng quản lý kinh tế vĩ mô Do đó Chính phủ phải nắm trong tay các công cụ kinh tế vĩ mô để sử dụng và phối hợp một cách đồng bộ, hiệu quả các công cụ đó

Mô hình này áp dụng ở nhiều nước, tiêu biểu cho mô hình này là: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Anh Quốc, Ngân hàng Nhật Bản

Ngân hàng quốc gia dù tên gọi có khác nhau, dù được tổ chức khác nhau nhưng nhìn chung các Ngân hàng quốc gia đều có các chức năng chính sau:

 Chức năng phát hành tiền tệ:

Ở phần lớn các nước, Ngân hàng quốc gia là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền tệ Phát hành tiền là hoạt động sản xuất ra tiền, bao gồm các khâu như: thiết kế mệnh giá, trọng lượng, hoa văn, phát hành, in đúc, bảo quản, vận chuyển và cung tiền vào nền kinh tế Phát hành tiền là chức năng đặc biệt của Ngân hàng quốc gia Chức năng này thể hiện được tầm quan trọng của Ngân hàng quốc gia đối với toàn bộ nền kinh tế và đối với xã hội

 Chức năng xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia:

Ở hầu hết các nước, ngân hàng quốc gia thường có chức năng xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ

Đối với mô hình ngân hàng quốc gia độc lập với Chính phủ, ngân hàng quốc gia sẽ hoàn toàn độc lập trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Đối với mô hình ngân hàng quốc gia trực thuộc Chính phủ, ngân hàng quốc gia xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ theo sự chỉ đạo của Chính phủ

Trang 18

 Chức năng là ngân hàng của các tổ chức tín dụng:

Ngân hàng quốc gia thực hiện công việc tái chiết khấu các hối phiếu đối với các tổ chức tín dụng, cấp vốn thông qua cho vay đối với các tổ chức này Ngân hàng quốc gia có quyền yêu cầu các ngân hàng thương mại mở tài khoản tại chỗ mình và các ngân hàng phải gửi vào tài khoản của họ một lượng tiền nhất định để thực hiện yêu cầu của chính sách tiền tệ quốc gia Thông thường lượng tiền này được quy định tương đương với một tỷ lệ nào đó tiền gửi vào ngân hàng thương mại, gọi là tỷ

lệ dự trữ bắt buộc

Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hưởng đến

cả hệ thống tài chính của Quốc gia, Ngân hàng quốc gia sẽ tái cấp vốn để cứu các tổ chức tín dụng này Vì thế, Ngân hàng quốc gia được gọi là người cho vay cuối cùng (hay người cho vay cứu cánh)

Ở nhiều nước, Ngân hàng quốc gia là người quản lý tiền cho Chính phủ Chính phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại Ngân hàng quốc gia Ngoài ra Ngân hàng quốc gia còn làm đại diện cho Chính phủ khi can thiệp vào thị trường ngoại hối

1.2 Khái niệm, đặc điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được hiểu như sau:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Đồng thời đây còn là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng

và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ Hoạt động Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng

và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng XHCN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có tư cách pháp nhân và vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước và có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.2

Từ khái niệm trên có thể nhận thấy:

 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ:

Theo quy định tại Luật tổ chức Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là

cơ quan ngang bộ, trực thuộc Chính phủ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mang hàm Bộ trưởng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo quy định tại các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động

2 Điều 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997, sửa đổi, bổ sung 2003

Trang 19

của Chính phủ Qui trình bổ nhiệm, miễn nhiệm Thống đốc theo quy định pháp luật hiện hành trong luật tổ chức Quốc hội và luật tổ chức Chính phủ

 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ

và hoạt động ngân hàng:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không tham gia quản lý ở tất cả các lĩnh vực

mà Ngân hàng chỉ tham gia quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.Với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện một số chức năng như: tham gia xây dựng chiến lược,

kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây dựng chính sách tiền tệ Quốc gia; ban hành các văn bản theo thẩm quyền để quản lý các hoạt động ngân hàng trong toàn bộ hệ thống ngân hàng…

 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là Ngân hàng Trung ương của nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

Đây là điểm khác biệt giữa Ngân hàng Nhà nước với các cơ quan khác của Chính phủ Với chức năng là Ngân hàng trung ương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được độc quyền thực hiện một số hoạt động nhất định mà các cơ quan, các tổ chức khác không được thực hiện như Ngân hàng Nhà nước được độc quyền phát hành tiền; cung ứng các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho Chính phủ và các tổ chức tín dụng; kiểm soát dự trữ quốc tế và quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước…

 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có tư cách pháp nhân:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam Tư cách pháp nhân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thể hiện ở các mặt sau3:

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập hợp pháp và thuộc

sở hữu Nhà nước, do Nhà nước thành lập theo văn bản quy phạm pháp luật được thừa nhận chính thức

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Từ khi thành lập đến nay, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng có sự thay đổi qua các thời kỳ sau:

Từ năm 1951 đến năm 1987: Ngân hàng Nhà nước được tổ chức theo mô hình một cấp Cả hệ thống Ngân hàng là một pháp nhân duy nhất

Từ năm 1987 đến năm 1990: Đây là giai đoạn thí điểm cải cách hệ thống ngân hàng từ mô hình một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp trong phạm vi cả nước

3 Đại học luật Hà Nội, giáo trình luật Ngân hàng, NXB công an nhân dân, 2005, Tr31

Trang 20

Từ năm 1990 đến nay: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước chính thức được tổ chức theo mô hình ngân hàng hai cấp Ngân hàng Nhà nước được tổ chức thành một hệ thống tập trung, thống nhất và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính mình Theo đó, Ngân hàng Nhà nước có vốn pháp định thuộc sở hữu Nhà nước, được Nhà nước giao vốn và các tài sản khác

để hoạt động Theo quy định tại điều 43 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì vốn pháp định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do ngân sách cấp Mức vốn pháp định của Ngân hàng do Thủ tướng Chính phủ quyết định

Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước nhân danh chính mình khi tham gia vào các quan

hệ pháp luật một cách độc lập

1.3 Chức năng của ngân hàng Nhà nước Việt nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có hai chức năng cơ bản gồm: chức năng quản

lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng và chức năng là ngân hàng trung ương của cả nước Các chức năng cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được

cụ thể hóa thành những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1.3.1 Các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng 4

Ngân hàng Nhà nước Việt nam tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của nhà nước

Các hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đều có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển nền kinh tế và đời sống xã hội Do đó, sự tham gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào việc xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh

tế xã hội là việc làm hết sức cần thiết

Theo đó, Bộ Kế hoạch đầu tư là cơ quan chủ quản có nhiệm vụ hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm Bộ Kế hoạch đầu tư kết hợp với Bộ Tài chính xác định các khoản chi tiêu cụ thể cho từng kế hoạch, từng mục tiêu Để đạt được mục tiêu đề ra Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch đầu tư cần có sự phối hợp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Điều này xuất phát từ việc ngân hàng Nhà nước là chủ thể có chức năng phát hành tiền, quyết định và kiểm soát lượng tiền tệ lưu thông của cả nước Nếu có sự phối hợp của Ngân hàng Nhà nước kế hoạch phát triển kinh tế xã hội mới có thể vận hành hiệu quả, trên cơ sở đó yêu cầu ổn định kinh tế xã hội của đất nước được đảm bảo

4 Khoản 1, điều 5 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997, sữa đổi, bổ sung 2003

Trang 21

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có nhiệm vụ xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, mức lạm phát dự kiến hàng năm để Chính phủ xem xét, trình Quốc hội quyết định Sau khi Chính sách tiền tệ được thông qua, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện chính sách này

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng các công cụ sau để thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia: Công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái, tái cấp vốn

tế (International Investment Bank – IBEC); Ngoài ra Ngân hàng Nhà nước còn làm đầu mối phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan trong việc thực hiện các chính sách của IMF, WB, ADB, IIB, IBEC và các chương trình kinh tế vĩ mô do IMF,

WB, ADB thực hiện tại Việt Nam

Ngân hàng còn đại diện cho nhà nước ký kết, tham gia vào các Điều ước quốc

tế về hoạt động ngân hàng và tiền tệ Bằng cách phối hợp với các cơ quan chuẩn bị nội dung, tiến hành đàm phán, ký kết hoặc gia nhập các Điều ước quốc tế theo ủy quyền của Chính phủ về ODA với Ngân hàng Thế giới (Worlt Bank-WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Develoment Bank-ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund-IMF)

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh, Nghị định và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền tham gia xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh, Nghị định và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Ngoài ra Ngân hàng Nhà nước còn được phép ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Trong các dự án luật có sự tham gia của Ngân hàng Nhà nước điển hành nhất

là pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh Hợp tác xã và công ty tài chính 1990 Cũng với sự đóng góp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà sau đó hai văn bản này được nâng lên thành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật

Trang 22

Hợp tác xã Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn là cơ quan có nhiều đóng góp trong việc xây dựng dự thảo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp, thu hồi giấy phép thành lập, hoạt động cho các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép thành lập cho các tổ chức tín dụng trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác Quyết định giải thể, chia tách, hợp nhất các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật

Không chỉ có thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng, mà các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng còn phải chị sự kiểm tra, thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Các nội dung thanh tra bao gồm: thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, thanh tra việc thực hiện các quy định trong giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức này Hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn cho cả hệ thống ngân hàng bằng việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm Đồng thời hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ quản lý hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng trong cả nước

Theo đó, ngoại hối bao gồm: ngoại tệ, các phương tiện thanh toán như ngoại tệ: sec, thẻ thanh toán, các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như cổ phiếu, trái phiếu, các loại giấy tờ có giá khác; vàng theo tiêu chuẩn quốc tế Kinh doanh vàng là hoạt động sản xuất, gia công các sản phẩm bằng vàng; mua, bán, xuất nhập khẩu vàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện công việc quản lý của mình đối với hai hoạt động này thông qua việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng của các tổ chức tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức

và điều hành thị trường tiền tệ liên ngân hàng, kiểm soát hoạt động kinh doanh ngoại hối trong cả nước Tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối, kinh doanh vàng; kiểm soát việc xuất nhập khẩu ngoại hối

Trang 23

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện

cán cân thanh toán quốc tế

Theo đó, cán cân thanh toán quốc tế là bản kết toán tổng hợp giá trị bằng tiền của tất cả các giao dịch quốc tế của cả nước bao gồm: giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa, thu nhập từ các dịch vụ và đầu tư Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ thu thập, tổng hợp, lập, theo dõi bản kết toán này Ngân hàng còn làm đầu mối cung cấp số liệu cán cân thanh toán quốc tế cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Đồng thời định kỳ báo cáo tình hình thực hiện cán cân thanh toán quốc tế cho Chính phủ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý hoạt động vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp

Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, các tổ chức khác thuộc khu vực công Bằng cách phối hợp với Bộ tài chính xây dựng hạn mức vay nợ nước ngoài hàng năm, hướng dẫn và

tổ chức việc đăng ký các khoản vay nước ngoài các tổ chức ở khu vực này

Bên cạnh việc quản lý nhà nước đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của các tổ chức của khu vực công Ngân hàng Nhà nước còn giám sát, theo dõi việc vay, trả nợ nước ngoài của khu vực tư nhân Hướng dẫn và kiểm tra việc bảo lãnh vay nước ngoài của các tổ chức ở khu vực này quy định của Thủ tướng chính phủ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm giám sát các luồn tiền tệ liên quan đến hoạt động vay, trả nợ nước ngoài nhằm phục vụ cho việc tổng hợp cán cân thanh toán quốc tế và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia Ngoài ra Ngân hàng Nhà nước còn định kỳ tổng hợp tình hành vay, trả nợ nước ngoài hàng năm của các doanh nghiệp thuộc cả hai khu vực công và tư để báo cáo với Chính phủ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng, tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua các đơn vị sự nghiệp như các Học viện Ngân hàng (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Phú Yên, Bắc Giang), trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, trường bồi dưỡng cán bộ ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng có hiệu quả lực lượng cán

bộ cho hệ thống ngân hàng Bên cạnh việc đào tạo cán bộ thì Ngân hàng Nhà nước còn tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động ngân hàng

1.3.2 Các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi thực hiện chức năng là ngân hàng Trung ương 5

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ phát hành tiền

5 Khoản 2, điều 5 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997, sữa đổi, bổ sung 2003

Trang 24

Chức năng là ngân hàng Trung ương thể hiện rõ nhất thông qua hoạt động phát hành tiền Ngân hàng là cơ quan duy nhất có quyền tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu hủy tiền

Điều 23,24,25,26 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997 quy định: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ cung ứng đủ số lượng và cơ cấu tiền mặt cho nền kinh tế, thiết kế mệnh giá, kích thước, hoa văn, hình vẽ và các đặc điểm của tiền

để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển, xử lý tiền rách và thu hồi tiền

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành thị trường tiền tệ; thực hiện nghiệp vụ thị trường mở

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua bán ngắn hạn tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ để thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia Bên cạnh đó, Ngân hàng còn là chủ thể trực tiếp điều hành thị trường tiền tệ thông qua các công cụ của mình để bơm hoặc rút tiền ra khỏi nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định để phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ kiểm soát quỹ dự trữ quốc tế và quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

Dự trữ ngoại hối Nhà nước là lượng ngoại tệ mà ngân hàng Trung ương hoặc

cơ quan quản lý tiền tệ của một quốc gia nắm giữ Đây là một loại tài sản của Nhà nước được cất giữ dưới dạng ngoại tệ nhằm mục đích thanh toán quốc tế hoặc hổ trợ gía trị đồng tiền quốc gia.6

Dự trữ ngoại hối nhà nước bao gồm: ngoại tệ tiền mặt, số dư ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ở nước ngoài, hối phiếu các loại giấy nhận nợ của nước ngoài bằng ngoại tệ, chứng khoán nợ do Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước phát hành hoặc bảo lãnh; vàng và các loại ngoại hối khác

Dự trữ ngoại hối nhà nước chỉ là một bộ phận của dự trữ quốc tế Theo đó, dự trữ ngoại hối nhà nước là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước cùng với Bộ Tài chính là hai chủ thể có chức năng quản lý nguồn dự trữ này Việc quy định Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ quản lý dự trữ ngoại hối nhằm giúp Ngân hàng thực hiện tốt chính sách tiền tệ Quốc gia, đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế cũng như sự an toàn cho quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước Tuy nhiên, đối với quỹ dự trữ quốc tế Ngân hàng Nhà nước chỉ có chức năng kiểm soát mà không có chức năng quản lý Bởi vì, ở khối dự trữ này có cả nguồn dự trữ ngoại hối của các

6 Ngô Hướng, xây dựng cơ chế quản lý ngoại hối phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế thế giới,

NXB Thống kê, 2003, Tr 26

Trang 25

tổ chức tín dụng, cho nên Ngân hàng không có chức năng quản lý mà chỉ có nhiệm

đó Ngân hàng Nhà nước còn cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác như mở tài khoản và cung cấp các phương tiện thanh toán cho hai chủ thể trên

Ngoài chức năng mở tài khoản và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Chính phủ và Kho bạc nhà nước Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn có nhiệm vụ tổ chức

hệ thống thanh toán qua ngân hàng, thực hiện các dịch vụ thanh toán và quản lý việc cung ứng các phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng Ngân hàng Nhà nước không trực tiếp mở tài khoản trực tiếp cung ứng các dịch vụ thanh toán cho các cá nhân và tổ chức khác ngoài các tổ chức tín dụng Việc tổ chức thanh toán liên ngân hàng và việc thực hiện cung ứng các dịch vụ thanh toán nhằm mục đích thực hiện chức năng ngân hàng Trung ương của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng Hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước thực chất là biện pháp hỗ trợ tạm thời sự thiếu hụt về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng

Là những khoản vay ngắn hạn, do đó các khoản vay theo hình thức này thường được hoàn trả ngay trong năm tài chính Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho các Ngân hàng thông qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các lọai giấy tờ có giá khác, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các loại giấy tờ có giá

Ngân hàng nhà nước còn tổ chức hệ thống thông tin và làm các dịch vụ thông tin ngân hàng

Bằng cách thu, nhận, phân tích và dự báo thông tin trong và ngoài nước về kinh tế, tài chính, tiền tệ, các hoạt động ngân hàng nhằm phục vụ việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia Ngân hàng còn trao đổi và làm dịch vụ thông

Trang 26

tin về tiền tệ, hoạt động ngân hàng cho các tổ chức tín dụng, các tổ chức và cá nhân khác

1.4.Giới thiệu khái quát về cơ cấu tổ chức, bộ máy lãnh đạo điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.4.1 Giới thiệu khái quát cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng trung ương của Việt Nam được tổ chức theo mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ Mô hình này được xác định ngay khi ngân hàng trung ương được thành lập vào năm 1951 thông qua Sắc lệnh 15 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Tuy sắc lệnh không trực tiếp quy định mô hình tổ chức, vị trí pháp lý cho Ngân hàng trung ương nhưng Sắc lệnh đã xác định một cách gián tiếp về mô hình của ngân hàng Theo đó, người lãnh đạo điều hành Ngân hàng

là Tổng giám đốc, có danh vị như một Bộ trưởng Qua cách xác định gián tiếp này Sắc lệnh 15 đã bước đầu xác lập mô hình ngân hàng trực thuộc Chính phủ cho ngân hàng trung ương Việt Nam

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, vị trí pháp lý của Ngân hàng trung ương ngày càng được xác định cụ thể hơn Theo quy định tại khoản 1, điều 1

Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1997, sửa đổi bổ sung 2003: “Ngân hàng nhà

n ước Việt Nam sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước là cơ quan của Chính phủ

và là ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như

vậy, cho đến thời điểm hiện nay, pháp luật Việt Nam luôn khẳng định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoạt động theo mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ

Với vai trò đặc biệt trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức khác biệt so với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành ở các lĩnh vực khác Theo quy định tại điều 10 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997, sửa đổi bổ sung 2003, Ngân hàng Nhà nước được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất gồm bộ máy điều hành hoạt động tại trụ sở chính Ngoài ra còn có các chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị sự nghiệp giúp việc khác

Cụ thể, cơ cấu tổ chức của ngân hàng Nhà nước Việt Nam bao gồm các đơn vị sau7:

7 Điều 3 nghị định 96/2008/NĐ-CP ngày 26.8.2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 27

 Vụ, cơ quan ngang vụ

1 Vụ Chính sách tiền tệ;

2 Vụ Thanh toán;

3 Vụ Hợp tác quốc tế;

4 Vụ Quản lý ngoại hối;

5 Vụ Dự báo và thống kê tiền tệ;

6 Vụ Kiểm toán nội bộ;

7 Vụ Thi đua khen thưởng;

 Các Chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước, chịu sự lãnh đạo và điều hành tập trung thống nhất của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có tổng cộng 64 chi nhánh, được đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên phạm vi cả nước Các chi nhánh này thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh, thành phố

Cơ cấu tổ chức của các chi nhánh bao gồm: Giám đốc, các phó giám đốc, trưởng phòng, phó phòng và ban giúp việc cho lãnh đạo chi nhánh

 Văn phòng đại diện của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền của Thống đốc Ngân hàng Văn phòng chỉ có chức năng đại diện mà không được trực tiếp tiến hành các hoạt động nghiệp vụ

ngân hàng khác

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ có một Văn phòng đại diện ở trong nước là Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều văn phòng đại diện khác ở nước ngoài

Trang 28

 Các tổ chức sự nghiệp:

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn có các đơn vị sự nghiệp giúp việc để thực hiện các nhiệm vụ như: đào tạo, nghiên cứu, thông tin, báo chí,… Các đơn vị sự nghiệp của Ngân hàng Nhà nước bao gồm:

1 Thời báo Ngân hàng;

2 Tạp chí Ngân hàng;

3 Viện chiến lược ngân hàng;

4 Trường bồi dưỡng cán bộ ngân hàng;

5 Trung tâm Thông tin tín dụng

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể được khái quát theo

sơ đồ sau:

Trang 29

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 8 :

8 Tham khảo từ trang web: http//www.sbv.gov.vn giới thiệu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam/ mô hình tổ chức

Trang 30

1.4.2 Giới thiệu khái quát bộ máy lãnh đạo, điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thống đốc

Cơ chế lãnh đạo điều hành các ngân hàng trung ương trên thế giới hiện nay thường được thể hiện dưới hai dạng chính sau đây9:

Dạng thứ nhất: Lãnh đạo điều hành Ngân hàng trung ương là một tập thể Theo

mô hình này, ngoài Thống đốc hoặc chủ tịch là người đại diện cho Ngân hàng trung ương Bên cạnh, Ngân hàng còn có Hội đồng quản trị, Hội đồng Chính sách tiền tệ hay Hội đồng ngân hàng trung ương, những Hội đồng này mới là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Ngân hàng trung ương

Các nước áp dụng mô hình lãnh đạo, điều hành này bao gồm: Hệ thống dự trữ liên bang Hoa Kỳ, Ngân hàng quốc gia Hugary, Ngân hàng trung ương Pháp, Ngân hàng trung ương Hàn Quốc…

Dạng thứ hai: Lãnh đạo, điều hành Ngân hàng trung ương là một cá nhân, theo chế độ thủ trưởng Với mô hình lãnh đạo, điều hành này Thống đốc hoặc Chủ tịch là người lãnh đạo cao nhất tại Ngân hàng trung ương Đồng thời cũng là người duy nhất chịu trách nhiệm trước Nhà nước về toàn bộ hoạt động của Ngân hàng trung ương Điển hình áp dụng mô hình này là Trung Quốc,…

Đối với Việt Nam, trước khi luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được ban hành, lãnh đạo, điều hành ngân hàng trung ương là một tập thể Việc quản trị Ngân hàng trung ương do Hội đồng quản trị đảm nhận, còn việc điều hành hoạt động của Ngân hàng lại đặt dưới quyền của Giám đốc Ngân hàng10 Sau khi Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được ban hành, cơ chế lãnh đạo tập thể không còn được áp dụng nữa, mà thay vào đó là cơ chế lãnh đạo một cá nhân-cơ chế thủ trưởng

Vì vậy, về nguyên tắc Thống đốc ngân hàng là người lãnh đạo và điều hành mọi hoạt động của ngân hàng Nhà nước Việt Nam Thống đốc chỉ đạo, điều hành công việc của Ngân hàng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Thống đốc có quyền

bổ nhiệm, miễn nhiệm thủ trưởng các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đồng thời Thống đốc cũng là người chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ và Quốc hội về các lĩnh vực mình phụ trách

Trang 31

 Phó Thống đốc

Để Thống đốc thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình dưới quyền Thống đốc còn có các phó Thống đốc giúp việc Mỗi Phó Thống đốc được Thống đốc phân công phụ trách một số lĩnh vực công tác và phụ trách một số đơn vị Phó Thống đốc được sử dụng quyền hạn của Thống đốc, nhân danh Thống đốc khi giải quyết các công việc thuộc lĩnh vực được phân công Phó Thống đốc chịu trách nhiệm trước Thống đốc và trước pháp luật về những quyết định của mình Tuy nhiên Thống đốc có thể trực tiếp giải quyết các công việc tuy đã giao cho Phó Thống đốc, nhưng thấy cần thiết vì nội dung quan trọng, do Phó Thống đốc vắng mặt, hoặc những việc liên quan từ hai Phó Thống đốc trở lên nhưng các Phó Thống đốc có ý kiến khác nhau Thống đốc có quyền phân công một Phó Thống đốc làm nhiệm vụ phó Thống đốc thường trực, giúp Thống đốc điều hành công việc chung của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

 Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là người đứng đầu các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Chủ thể này gồm các Vụ trưởng, giám đốc cơ quan ngang Vụ, giám đốc các Chi nhánh, trưởng Văn phòng đại diện, thủ trưởng các tổ đơn vị sự nghiệp thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước

Những nội dung trên đã phần nào giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Để tìm hiểu rõ hơn về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là về cơ cấu tổ chức, lãnh đạo điều hành ở góc độ pháp lý chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu chương 2 của Luận văn này

Trang 32

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC; LÃNH ĐẠO ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được cấu thành từ các bộ phận: Vụ, cơ quan ngang Vụ, các tổ chức sự nghiệp, Văn phòng đại diện và hệ thống chi nhánh ở các tỉnh thành trong cả nước

Trong giới hạn của Luận văn, tác giả chỉ đi sâu phân tích nhiệm vụ, quyền hạn một số Vụ, cơ quan ngang Vụ, văn phòng đại diện và tổ chức sự nghiệp sau:

Vụ Quản lý ngoại hối; Vụ Chính sách tiền tệ; Vụ Tài chính kế toán; cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng; Cục Công nghệ thông tin; Viện Chiến lược ngân hàng và Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh Đây đều là những bộ phận

có tính chất điển hình trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đồng thời đây cũng là các cơ quan có những thay đổi cơ bản trong quá trình hoàn thiện bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2004 đến nay

2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.1.1 Quy định của pháp luật về một số Vụ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.1.1.1 Vụ chính sách tiền tệ

Vụ chính sách tiền tệ là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Vụ Chính sách tiền tệ là đơn vị có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tầm quan trọng đó thể hiện qua việc Vụ Chính sách tiền tệ có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia và sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ theo quy định của pháp luật Xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia là chức năng quan trọng nhất thể hiện vai trò quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, để thực hiện tốt chức năng của mình vì thế mà cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không thể thiếu Vụ Chính sách tiền tệ

Theo Quyết định 2201/2008 QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ Cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ hiện nay chỉ gồm 4 phòng chuyên trách Tên các phòng, ban cũng được thay đổi cho phù hợp với tình hình cũng như nhiệm vụ mới của Vụ trong hiện tại Cụ thể cơ cấu tổ chức của Vụ chính sách tiền tệ gồm có các phòng chuyên trách sau11:

11 Điều 3 Quyết định 2201/2008 QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ

Trang 33

Phòng Tổng hợp;

Phòng Nghiên cứu kinh tế;

Phòng Chính sách tiền tệ và quản lý vốn khả dụng;

Phòng Cơ chế tín dụng và lãi suất

So với trước đây, cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ gồm có 5 phòng chuyên trách là: phòng Tổng hợp; phòng chính sách tiền tệ và quản lý vốn khả dụng; phòng chính sách tín dụng và lãi suất; phòng phân tích kinh tế và dự báo; phòng cán cân thanh toán quốc tế và phòng thống kê12

Theo đó, phòng cán cân thanh toán quốc tế và phòng thống kê đã được hủy bỏ cho phù hợp với nhiệm vụ mới của Vụ hiện nay Thực chất nhiệm vụ quản lý cán cân thanh toán quốc tế hiện nay đã được chuyển giao cho Vụ Quản lý ngoại hối đảm nhận Nhiệm vụ của phòng Thống kê thì được chuyển giao cho phòng Tổng hợp phụ trách Do đó cơ cấu tổ chức của Vụ cũng được sắp xếp lại cho gọn nhẹ hơn, phù hợp hơn với nhiệm vụ mới

Một là, Vụ chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thống đốc trình cấp

có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật thuộc những lĩnh vực sau: chính sách tiền tệ; hoạt động điều hành các công cụ chính sách tiền tệ; cơ chế, chế độ chung về hoạt động tín dụng…Vụ là đơn

vị chủ trì trong việc tổ chức thực hiện các văn bản trên sau khi được phê duyệt Hai là, Vụ chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thống đốc xây dựng

kế hoạch cung ứng tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm và xây dựng các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ quốc gia Do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành trực tiếp xây dựng và tổ chức thực hiện dự án chính sách tiền tệ quốc gia Cho nên, Ngân hàng Nhà nước cũng có nhiệm vụ xây dựng mức lạm phát dự kiến, hoạch định lượng tiền cung ứng cho lưu thông hàng năm, các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ cho phù hợp với mục tiêu kinh tế và định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước Trong đó Vụ chính sách tiền tệ

là cơ quan chuyên trách có chức năng giúp Thống đốc thực hiện các nhiệm vụ trên

Vụ có nhiệm vụ xây dựng cơ chế và giải pháp điều tiết lượng tiền trong lưu thông hàng năm, xây dựng cơ chế sử dụng các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái, tái cấp vốn và nghiệp vụ thị trường mở để giúp Thống đốc thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia

12 Điều 3 Quyết định 1131/2004/QĐ-NHNN quy định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Vụ Chính sách tiền tệ

hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ

Trang 34

Theo đó, lãi suất là tỷ lệ % trên khoản tiền người vay trả cho người cho vay trên tiền vốn trong khoản thời gian nhất định Ngân hàng Nhà nước công bố mức lãi suất cơ bản, và từ mức lãi suất mà Ngân hàng công bố, các tổ chức tín dụng mới được ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình Vụ chính sách tiền tệ xây dựng cơ chế sử dụng công cụ lãi suất bằng cách: xác định thời điểm nào sẽ áp dụng mức lãi suất thấp nhằm bơm tiền vào nền kinh tế, khi nào sẽ nâng mức lãi suất lên để rút tiền về

Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các Tổ chức tín dụng buộc phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Vụ Chính sách tiền tệ có thể thông qua công cụ dự trữ bắt buộc để điều tiết lượng tiền tệ có trong lưu thống bằng cách: xác định trực tiếp mức dự trữ mà các tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước hoặc thực hiện gián tiếp bằng cách bán chứng khoán để thu tiền về- làm giảm lượng tiền có trong lưu thông Mua chứng khoán để cung ứng tiền cho nền kinh tế-làm tăng lượng tiền có trong lưu thông

Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của đồng Việt Nam với các loại ngoại tệ khác Vụ Chính sách tiền tệ xây dựng cơ chế sử dụng công cụ này bằng cách xác định tỷ lệ giữa đồng Việt Nam với từng loại ngoại tệ cụ thể Thông qua việc tăng hay giảm giá của đồng tiền nội địa Vụ Chính sách tiền tệ đã trực tiếp làm thay đổi việc cung ứng tiền cho nền kinh tế

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và các công cụ thanh toán cho các ngân hàng Vụ chính sách tiền tệ có nhiệm vụ xác định khi nào sẽ cho vay theo hình thức tái cấp vốn, khi nào không cho vay theo hình thức này để điều tiết lượng tiền cho phù hợp Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua, bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá do Ngân hàng Nhà nước thực hiện nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Vụ chính sách tiền tệ xác định khi nào thì tiến hành bán các loại giấy tờ có giá để rút tiền ra khỏi lưu thông và ngược lại khi nào sẽ mua lại các loại giấy tờ này để đưa tiền vào lưu thông Dựa trên cơ chế và giải pháp điều tiết tiền tệ mà Vụ Chính sách tiền tệ xây dựng, Thống đốc xem xét ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành cơ chế, giải pháp điều tiết lượng tiền tệ hàng năm của cả nước

Bên cạnh việc xây dựng cơ chế sử dụng các công cụ để điều tiết lượng tiền tệ

có trong lưu thông Vụ Chính sách tiền tệ còn xây dựng, trình Thống đốc phê duyệt

kế hoạch cung ứng tiền bổ sung cho lưu thông hoặc rút bớt tiền từ lưu thông về, trong hạn mức kế hoạch cung ứng tiền đã được duyệt Phối hợp với vụ Quản lý ngoại hối, vụ Tín dụng, Sở giao dịch, Vụ Chính sách tiền tệ tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, tái chiết khấu,

Trang 35

cho vay qua đêm và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Xác định mức lãi suất cơ bản, mức lãi suất tái cấp vốn, chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay qua đêm, tỷ lệ dự trữ bắt buộc định kỳ mà các tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Ba là, Vụ Chính sách tiền tệ còn là đơn vị chủ trì trong việc tổng hợp diễn biến kinh tế, tài chính, tiền tệ trong và ngoài nước, nhằm phân tích và dự báo mức vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng Theo đó, vốn khả dụng là số tiền dự trữ mà các

tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước bao gồm: tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi dịch vụ thanh toán liên ngân hàng Mức vốn khả dụng càng lớn đồng nghĩa với việc lượng tín dụng mà tổ chức tín dụng đó có thể cung cấp cao Chính vì vậy vốn khả dụng được coi là thước đo mức độ bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng, là một trong các căn cứ quan trọng để Vụ chính sách tiền tệ thực hiện nghiệp vụ thị trường mở

Ngoài việc phân tích và dự báo mức vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng,

Vụ chính sách tiền tệ còn tổng hợp các diễn biến kinh tế để phân tích tỷ lệ lạm phát của tiền tệ Bởi tỷ lệ lạm phát tiền tệ chính là tốc độ tăng mặt bằng giá cả, nó cho thấy mức độ lạm phát của nền kinh tế Tỷ lệ lạm phát là một trong những dấu hiệu cho thấy hiệu quả của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước Do việc dự báo mức vốn khả dụng, tỷ lệ lạm phát tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Vậy nên Vụ chính sách tiền tệ có nhiệm vụ tổng hợp diễn biến kinh tế, tài chính tiền

tệ trong và ngoài nước để có thể dự đoán được các chỉ số này Nếu các chỉ số trên được dự đoán chính xác sẽ góp phần không nhỏ trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngoài ra Vụ chính sách tiền tệ còn xây dựng và trình Thống đốc phê duyệt cơ chế chung về hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng nhằm ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng Chủ trì, phối hợp với các đơn vị hướng dẫn các tổ chức tín dụng thực hiện sau khi được phê duyệt

Bốn là, Vụ chính sách tiền tệ có nhiệm vụ dự thảo bản báo cáo tình hình thực hiện chính sách tiền tệ hàng tháng, quý, năm để trình Thống đốc Trên cơ sở báo cáo do Vụ chính sách tiền tệ trình, Thống đốc sẽ trình Thủ tướng chính phủ xem xét, phê duyệt Không những vậy Vụ còn là cơ quan chủ trì trong việc biên soạn và phát hành bản báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Bản báo cáo này được phát hành hàng năm để đánh giá chung về tình hình kinh tế thế giới và của Việt Nam; diễn biến tình hình lạm phát của năm, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và định hướng phát triển trong năm tiếp theo Ngoài ra vụ Chính

Trang 36

sách tiền tệ còn thực hiện chế độ thông tin trong lĩnh vực mình phụ trách cho các tổ chức tín dụng, cá nhân khi có nhu cầu Đồng thời thực hiện chế độ báo cáo định kỳ cho Thống đốc ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và của pháp luật Sau khi phân tích nhiệm vụ, quyền hạn của Vụ Chính sách tiền tệ, tác giả nhận thấy: Nhiệm vụ và quyền hạn của Vụ đã có nhiều thay đổi so với trước, theo

đó nhiệm vụ của Vụ được chuyên môn hóa hơn Các nhiệm vụ như lập, theo dõi và thực hiện cán cân thanh toán quốc tế; quản lý quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước; quản

lý hệ thống thanh toán liên ngân hàng hiện đã được giao cho Vụ Quản lý ngoại hối đảm nhận Vì những hoạt động này đều là những hoạt động chuyên biệt của Vụ Quản lý ngoại hối Nếu Vụ Chính sách tiền tệ cũng đảm nhận sẽ tạo ra sự chồng chéo trong hoạt động của cả hai Vụ

Việc chuyển giao các hoạt động này cho Vụ Quản lý ngoại hối là việc làm hết sức cần thiết Việc phân định này giúp tránh được tình trạng chồng chéo, mâu thuẩn, đồng thời hạn chế được tình trạng đùn đẩy công việc cho nhau, mang lại hiệu quả cao trong khi thực hiện công việc

2.1.1.2 Vụ Quản lý ngoại hối

Là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Vụ Quản

lý ngoại hối có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngoại hối theo quy định của pháp luật Điều hành hoạt động của Vụ là

Vụ trưởng, giúp việc cho Vụ trưởng là các phó Vụ trưởng Vụ trưởng và phó Vụ trưởng đều do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bổ nhiệm Tổ chức và hoạt động của Vụ Quản lý ngoại hối thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ theo chế độ thủ trưởng

Cơ cấu tổ chức của Vụ Quản lý ngoại hối bao gồm các phòng chuyên trách sau14:

Phòng Nghiên cứu và tổng hợp

Phòng Quản lý Dự trữ ngoại hối Nhà nước

Phòng Quản lý các giao dịch vãng lai

Phòng Quản lý các giao dịch vốn

Phòng Thị trường và Tỷ giá

Đây là những phòng, ban chuyên trách giúp việc cho Vụ trưởng trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Vụ Quản lý ngoại hối Hiện nay cơ cấu tổ chức của Vụ Quản lý ngoại hối đã có những thay đổi nhất định so với quy định trước đây Theo quy định tại Quyết định 1132/2004/QĐ-NHNN quy định về chức năng, nhiêm

14 Điều 3 Quyết định 2201/2008 QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ

Trang 37

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Quản lý ngoại hối, cơ cấu tổ chức của Vụ chỉ gồm 4 phòng chuyên trách là: phòng Nghiên cứu và tổng hợp; phòng Quản lý

Dự trữ ngoại hối Nhà nước; phòng Quản lý các giao dịch vãng lai; và phòng Quản

lý các giao dịch vốn Đến khi quyết định 2232/2008/QĐ-NHNN được ban hành cơ cấu tổ chức của Vụ Quản lý ngoại hối được thành lập thêm một cơ quan chức năng

là phòng Thị trường và tỷ giá Nhiệm vụ chính của phòng Thị trường và tỷ giá là đề

ra các biện pháp nhằm ổn định tỷ giá của đồng Việt Nam với các loại ngoại tệ khác,

đề ra các biện pháp nhằm ổn định thị trường tỷ giá trong nước Nếu hoạt động này được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến chính sách tiền tệ quốc gia, giúp Ngân hàng Nhà nước kiềm chế tốt tình trạng lạm phát, điều tiết có hiệu quả lượng tiền tệ

có trong lưu thông Tỷ giá là một trong các lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động quản lý ngoại hối của Vụ Quản lý ngoại hối Vì vậy việc bổ sung này giúp cho Vụ Quản lý ngoại hối có thêm một bộ phận làm việc, đồng thời đáp ứng được nhu cầu hoạt động của Vụ trong hiện tại và xu hướng chung của nền kinh

tế thị trường

 Vụ Quản lý ngoại hối có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây 15 :

Đầu tiên, Vụ Quản lý ngoại hối có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thống đốc trình cấp có thẩm quyền hoặc trực tiếp ban hành theo thẩm quyền các văn bản bản quy phạm pháp luật về ngoại hối bao gồm:

Các văn bản liên quan đến hoạt động quản lý thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ liên ngân hàng Theo đó, Thị trường ngoại hối là thị trường tiền tệ quốc tế diễn ra các hoạt động giao dịch ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị như ngoại tệ Do thị trường ngoại hối là công cụ đắc lực giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia, đồng thời thị trường ngoại hối còn là nơi cung cấp công cụ để Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu các vấn đề về ngoại hối từ đó đề ra các biện pháp nhằm ngừa rủi ro hối đoái trong trao đổi ngoại

tệ Nếu thị trường ngoại hối được quản lý tốt sẽ là nhân tố quan trọng góp phần đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi ngoại tệ, phục vụ quá trình chu chuyển, thanh toán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại của cả nước Do thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ liên ngân hàng có tầm quan trọng đặc biệt, liên quan mật thiết đến chính sách tiền tệ quốc gia nên Vụ Quản lý ngoại hối có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thống đốc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh có hiệu quả hai hoạt động trên Có như vậy các văn bản do Ngân hàng Nhà nước ban hành mới có thể phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất khi áp dụng vào thực tiễn

15 Điều 2 Quyết định 2201/2008 QĐ-NHNN ngày 6.10.2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Chính sách tiền tệ

Trang 38

Bên cạnh việc tham mưu, giúp Thống đốc ban hành các văn bản quy phạm để quản lý thị trường ngoại hối, Vụ Quản lý ngoại hối còn tham mưu, giúp Thống đốc ban hành các văn bản để quản lý trạng thái ngoại hối của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối trong cả nước Trạng thái ngoại hối chính là tỷ giá giữa các loại ngoại tệ mà tổ chức tín dụng được phép kinh doanh so với giá trị của đồng Việt Nam Các văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính là cơ sở để các tổ chức tín dụng điều chỉnh trạng thái ngoại hối của tổ chức mình cho phù hợp với các quy định do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề ra Đồng thời các văn bản này còn

là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước xác định hành vi vi phạm cũng như đề ra các biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực này cho phù hợp

Vụ Quản lý ngoại hối còn tham mưu, giúp Thống đốc ban hành các văn bản quy phạm nhằm điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu vàng; dự trữ ngoại hối Nhà nước, kiểm soát dự trữ quốc tế; thanh toán, chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai; vay, trả nợ; cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của các doanh nghiệp.Theo đó, giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú với người không cư trú về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập từ đầu tư trực tiếp, thu nhập từ đầu tư vào các giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nước ngoài, các giao dịch tương tự khác theo quy định của pháp luật Trong đó thanh toán, chuyển tiền đối với các vãng lai chính là hoạt động thu - chi của các giao dịch trên

Vay và trả nợ nước ngoài là việc Người cư trú vay và trả nợ đối với Người không cư trú Còn cho vay và thu hồi nợ nước ngoài là việc Người cư trú cho vay và thu hồi nợ đối với Người không cư trú dưới mọi hình thức được hạch toán bằng ngoại tệ

Vì vụ Quản lý ngoại hối là cơ quan chuyên môn quản lý về ngoại hối của cả nước, cho nên khi ban hành các văn bản điều chỉnh hoạt động này Thống đốc cần có

sự tham mưu của Vụ Quản lý ngoại hối Có như vậy các văn bản do Thống đốc ban hành mới có thể phù hợp với các hoạt động thực tế mà các cơ quan chuyên trách đang đảm nhận

Qua việc phân tích nhiệm vụ đầu tiên của vụ Quản lý ngoại hối người viết nhận thấy so với Quyết định 1132/2004/QĐ-NHNN, Quyết định 2232/2008/QĐ-NHNN đã bổ sung nhiều quy định mới theo hướng mở rộng thẩm quyền cho Vụ Quản lý ngoại hối Vụ Quản lý ngoại hối không chỉ được phép tham mưu cho Thống đốc ban hành các văn bản quản lý hoạt động vay, trả nợ nước ngoài, quản lý hoạt động ngoại hối, xuất nhập khẩu vàng mà Vụ còn được quyền tham mưu, giúp Thống đốc ban hành nhiều văn khác để quản lý các hoạt động như thị trường tiền tệ liên ngân hàng, quản lý trạng thái ngoại hối của các tổ chức tín dụng, kiểm soát dự

Trang 39

trữ quốc tế hay quản lý hoạt động thanh toán, chuyển tiền đối với các giao dịch vãng lai và lĩnh vực đầu tư của cả nước

Song song với nhiệm vụ trên Vụ Quản lý ngoại hối còn phối hợp với các đơn

vị thuộc Ngân hàng Nhà nước trong việc đàm phán, ký kết, thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động ngoại hối với nước ngoài và các tổ chức quốc tế như ngân hàng quốc tế WB, quỹ tiền tệ IMF… theo sự ủy quyền của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Với tư cách là cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước, Vụ Quản lý ngoại hối là cơ quan chủ trì, cùng phối hợp với các đơn vị như Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Tổng kiểm soát tham mưu, giúp Thống đốc trong việc điều hành tỷ giá, can thiệp thị trường ngoại hối, thị trường vàng trong nước; Vụ còn có nhiệm vụ thông báo tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam với các ngoại tệ khác trong từng giai đoạn nhất định Vụ Quản lý ngoại hối còn xây dựng kế hoạch phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng trình Thống đốc phê duyệt Phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức và kiểm tra việc thực hiện sau khi được phê duyệt Thứ hai, Vụ Quản lý ngoại hối có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thống đốc trong công tác quản lý Dự trữ ngoại hối Nhà nước, thông qua các hoạt động cụ thể sau: Định kỳ xây dựng tổng mức Dự trữ ngoại hối Nhà nước, hạn mức ngoại hối của Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định Chủ trì, phối hợp với Sở Giao dịch đánh giá cơ cấu quỹ dự trữ hiện có, xây dựng cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối cho phù hợp với tình hình cụ thể Xác định khối lượng vàng tiêu chuẩn quốc tế cần xuất hoặc nhập khẩu để trình Thống đốc quyết định

Định kỳ xây dựng, trình Thống đốc ban hành các quy định về cơ cấu, tiêu chuẩn và hạn mức đầu tư của quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước Trực tiếp theo dõi, giám sát việc tuân thủ các quyết định của Thống đốc về các tiêu chuẩn và hạn mức trên Vụ Quản lý ngoại hối còn phải định kỳ báo cáo với Thống đốc về tình hình sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối Chủ trì trong việc cung cấp số liệu của quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước theo quy định của pháp luật

Ngoài ra Vụ Quản lý ngoại hối còn Tham gia với tư cách là thành viên của Ban điều hành quản lý dự trữ Nhà nước Ban điều hành có nhiệm vụ tham mưu cho Thống đốc về các vấn đề như: xây dựng mức dự trữ ngoại hối Nhà nước dự kiến hàng năm; đề xuất mức ngoại hối cho quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng; tham mưu các hình thức, nghiệp vụ đầu tư dự trữ ngoại hối; hay tham mưu cho Thống đốc trong việc trích tạm ứng từ quỹ dự trữ ngoại hối cho ngân sách Nhà nước; quyết định xuất, nhập khẩu vàng

Trang 40

Khi nghiên cứu về chức năng quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước của Vụ Quản

lý ngoại hối, tác giả nhận thấy Quyết định 2232/2008/QĐ-NHNN đã nêu đầy đủ và chi tiết tất cả các nhiệm vụ mà Vụ có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tham mưu, giúp Thống đốc trong việc quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước Trong khi

trước đó Quyết định số 1132/2004/QĐ-NHNN chỉ nêu: “Vụ Quản lý ngoại hối là

thành viên Ban điều hành quản lý dự trữ Nhà nước, có trách nhiệm báo cáo Thống đốc hoặc tham mưu giúp Thống đốc báo cáo các cơ quan có thẩm quyền về tình

hình d ự trữ ngoại hối Nhà nước”

Việc quy định cụ thể hơn về hoạt động của Vụ trong lĩnh vực dự trữ ngoại hối Nhà nước đã xác lập căn cứ pháp lý cụ thể để Vụ thực hiện tốt hơn chức năng và nhiệm vụ của mình Đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi để Thống đốc tiện theo dõi, giám sát hoạt động quản lý ngoại hối của Vụ, nhằm đảm bảo tính tương thích giữa cơ chế vận hành, lưu thông ngoại hối ngoài thị trường với định hướng ngoại hối của Nhà nước

Thứ ba, Vụ Quản lý ngoại hối có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện công tác quản lý ngoại hối trong lĩnh vực đầu tư:

Theo đó Vụ Quản lý ngoại hối có nhiệm vụ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan như Bộ Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ chế, chính sách đầu tư Đồng thời tổ chức thẩm định các dự án đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài Sau khi thẩm định các dự án đầu tư Vụ còn trực tiếp tham gia xây dựng

cơ chế theo dõi, giám sát việc luân chuyển và sử dụng nguồn vốn đầu tư của các dự

án này

Vụ Quản lý ngoại hối còn là cơ quan có thẩm quyền quy định điều kiện, trình

tự, thủ tục và việc sử dụng ngoại hối để đầu tư ra nước ngoài Vụ phối hợp với Bộ, ngành trong việc xây dựng cơ chế, chính sách quản lý hoạt động phát hành chứng khoán ra nước ngoài của đối tượng là người cư trú, không cư trú phát hành tại Việt Nam

Thứ tư, Vụ Quản lý ngoại hối có chức năng tham mưu, giúp Thống đốc quản

lý Nhà nước đối với việc vay, trả nợ; cho vay, thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ,

tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng bao gồm các hoạt động như sau:

* Đối với hoạt động vay, trả nợ; cho vay thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ:

Vụ Quản lý ngoại hối có nhiệm vụ tham mưu, giúp Thống đốc quản lý việc vay, trả

nợ vay; cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ Cụ thể, Vụ sẽ phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định hạn mức, nguồn vốn, hình thức, đối tượng, cơ chế quản lý cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của Chính phủ

Ngày đăng: 01/12/2015, 23:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1 : - mô hình tổ chức của ngân hàng nhà nước việt nam
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1 : (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w