1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên thần sa phượng hoàng, tỉnh thái nguyên

90 739 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 686,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thành tựu đạt được đó, công tác quản lý bảo vệ rừng hiện nay lại phải đối mặt với những khó khăn bất cập xuất phát từ nhu cầu về lâm sản ngày càng gia tăng, cuộc sống của người dân

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC KINH TẾ & QTKD THÁI NGUYÊN

DƯƠNG HÀ VÂN

Tên đề tài:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH SINH KẾ CHO NGƯỜI DÂN ĐỂ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở KHU VỰC VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA –

PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã ngành: 61-31-10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mạnh Hùng

Thái Nguyên, 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để

quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu Bảo tồn Thiên nhiên Thần

Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên” được thực hiện từ tháng 8/2012 đến

tháng 8/2013 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, đa số thông tin thu nhập từ điều tra thực tế tại địa phương, số liệu đã được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Excel 2003

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi thông tin trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, cùng các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện về thời gian, tinh thần cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Mạnh Hùng đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên, Ban quản lý khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, Huyện ủy, UBND huyện Võ Nhai - Thái Nguyên, phòng Nông nghiệp

&PTNT, Chi cục Thống kê huyện, phòng Lao động Thương binh xã hội, phòng Tài Nguyên và Môi trường, cán bộ và nhân dân các xã Vũ Chấn, Nghinh Tường và Sảng Mộc đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong quá trình điều tra thực địa để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả

Dương Hà Vân

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỤC LỤC ….……….iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……….…… ….iv

DANH MỤC CÁC BẢNG……….…….……v

DANH MỤC CÁC BIỂU……… vi

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giới hạn của đề tài 4

5 Những đóng góp mới của Luận văn 4

6 Bố cục của luận văn 4

CHƯƠNG I 5

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

1.1 Một số vấn đề về sinh kế và vùng đệm 5

1.1.1 Khái niệm cơ bản về sinh kế 5

1.1.2 Vùng đệm và quan điểm quản lý bảo vệ vùng đệm 7

1.1.3 Quan điểm quản lý rừng bền vững 10

1.1.4 Mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý bảo vệ rừng 12

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13

1.2.1 Nghiên cứu về sinh kế của người dân để đảm bảo quản lý rừng bền vững trên thế giới 13

CHƯƠNG II 22

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 22

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 24

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 25

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 25

CHƯƠNG III 27

THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM KHU BTTN THẦN SA – PHƯỢNG HOÀNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG TẠI ĐỊA BÀN 27

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30

3.1.2.1 Tình hình dân cư và lao động 30

3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng 34

3.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai 35

3.2 Thực trạng sinh kế của người dân vùng đệm khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng 35

3.2.1 Thông tin chung về các hộ điều tra 35

3.2.2 Nghề nghiệp của chủ hộ 38

3.2.3 Thu nhập, chi phí của chủ hộ 39

3.2.3.1 Phân tích dòng thu chi của hộ 39

3.2.3.2 Cơ cấu thu nhập 40

3.2.4 Các nguồn lực của chủ hộ 41

3 2.5 Thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ rừng 44

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.2.6 Thực trạng tác động của người dân địa bàn nghiên cứu đến các nguồn

tài nguyên thiên nhiên 45

3.2.7.Nhận thức của người dân ở địa bàn nghiên cứu đối với vấn đề quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững 46

3.2.8 Tác động của các chính sách đến sinh kế của người dân địa bàn nghiên cứu 49

3.2.9 Những ảnh hưởng của việc duy trì sinh kế của người dân đến KBT 52

3.3 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và địa bàn nghiên cứu 53

3.4 Nguyên nhân những tác động tiêu cực của người dân đến khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng 57

3.4.2 Nguyên nhân từ chính sách của nhà nước 60

3.4.3 Nguyên nhân từ những hạn chế của chính quyền địa phương 61

CHƯƠNG IV 62

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH SINH KẾ CHO NGƯỜI DÂN ĐỂ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG KHU VỰC VÙNG ĐỆM KHU BTTN THẦN SA – PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 62

4.1 Nhóm giải pháp về phía người dân vùng đệm 62

4.2 Nhóm giải pháp về phía chính quyền địa phương 63

4.3 Nhóm giải pháp về phía Chính phủ 65

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC: PHIẾU ĐIỀU TRA

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 01: Các loại đất đai trong khu vực 29

Bảng 02: Mật độ và dân số các xã trong khu vực 31

Bảng 03: Lao động và phân bố lao động các xã 32

Bảng 04: Thành phần dân tộc sống trong khu vực 33

Bảng 05: Cơ cấu mẫu điều tra 35

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu 01: Cơ cấu tuổi của chủ hộ 36

Biểu 02: Trình độ học vấn của chủ hộ 37

Biểu 03: Cơ cấu thu nhập của hộ 40

Biểu 04: Tác động của hộ đến khu BTTN 47

Biểu 05: Đề xuất giải pháp kết hợp sinh kế và bảo vệ rừng 58

Biểu 06: Đề xuất giải pháp tăng thu nhập từ rừng 59

Biểu 07: Đề xuất giải pháp tăng thu nhập từ LSNG 60

Biểu 08: Giải pháp để hộ tham gia chế biến lâm sản 65

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, với nhiều loài động thực vật đa dạng và quý hiếm Với những vai trò của mình, rừng ngày càng khẳng định tầm quan trọng, không thể thiếu đối với môi trường cũng như sự sống trên trái đất Các quốc gia trên thế giới đều đã có nhiều chương trình xanh, bảo vệ rừng, phát triển rừng với những quy mô khác nhau Ở Việt Nam, chương trình quốc gia “Trồng mới 5 triệu ha rừng” đã được triển khai thực hiện từ năm

1998 đến 2010 với mục tiêu: cải thiện độ che phủ rừng; đảm bảo an ninh môi trường; góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cũng như đưa Lâm nghiệp trờ thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước Kết quả sau 13 năm thực hiện, độ che phủ rừng đạt 39,5%[10], tăng 7,5% so với năm 1998 Trước thành tựu đạt được đó, công tác quản lý bảo vệ rừng hiện nay lại phải đối mặt với những khó khăn bất cập xuất phát từ nhu cầu về lâm sản ngày càng gia tăng, cuộc sống của người dân trong và ven rừng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên có giá trị này Hoạt động chặt phá, khai thác rừng trái phép diễn ra từng ngày, từng giờ không những gây tác động xấu đến cuộc sống của chính chúng ta mà còn là tác nhân dẫn đến tuyệt chủng của nhiều loài động thực vật quý hiếm

Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Thần Sa – Phượng Hoàng được thành lập theo Quyết đinh số 1604/QĐ-UBND ngày 08/7/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên Nằm trên địa bàn của huyện Võ Nhai của tỉnh Thái Nguyên Khu vực này có hệ sinh thái rừng núi đá vôi độc đáo, là nơi lưu trữ

và cư trú của nhiều loài động, thực vật quí hiếm Theo số liệu thống kê nhanh, Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng có nhiều tính đa dạng sinh học về động thực vật độc đáo, ước tính có khoảng 1.096 loài Bước đầu được ghi nhận

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

được 56 loài thú, 117 loài chim, 28 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư Trong đó một

số loài nằm trong sách đỏ của Việt Nam và IUCN Ngoài ra, nơi đây còn lưu giữ các di chỉ khảo cổ học cũng như các di tích lịch sử, danh lam có giá trị

Qua nghiên cứu, các ảnh hưởng lớn đến khu bảo tồn hiện nay là do tình trạng xâm hại diện tích rừng, khai thác gỗ, săn bắn, bẫy bắt các loài động vật hoang dã trái phép và những ảnh hưởng khác của vùng giáp ranh đến các giá trị của Khu bảo tồn Những người dân sinh sống bên trong và dọc ranh giới KBT luôn tạo ra các mối đe dọa đối với các khu rừng bảo vệ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Điều này được thể hiện qua việc dung nguồn gỗ của KBT làm nhà ở và sống định cư, trồng cây lâu năm và các loại hoa màu khác bên trong và để xâm lấn đất rừng, khai thác lâm sản ngoài gỗ quá mức, săn bắn bẫy bắt động vật hoang dã và các hoạt động của họ có nhiều nguy cơ dẫn đến làm mất các loài quan trọng ở Viện Nam và trên toàn cầu Số dân tập trung đông,

cơ cấu ngành nghề đơn điệu nên đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn cùng với trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, nhận thức về môi trường còn nhiều hạn chế, đời sống còn phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm/dịch vụ từ rừng [5] Vì vậy, cần lôi kéo và huy động các cộng đồng địa phương và các bên liên quan trong KBT tham gia vào các hoạt động nâng cao nhận thức về môi trường, hiệu quả sử dụng đất cũng như xây dựng các mô hình đồng quản lý hiệu quả và bền vững ở các thôn bản ưu tiên trong KBT và vùng đệm

Với nhiều tiềm năng như vậy nhưng khu Bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa

- Phượng Hoàng chưa nhận được nhiều sự quan tâm của tổ chức đến để nghiên cứu và xây dựng dự án đầu tư Nhận thấy rằng để quản lý bảo vệ rừng một cách hiệu quả cần phải đi từ dưới lên, từ phía người dân sống trong và ven khu BTTN Muốn vậy, vấn đề sinh kế của người dân nơi đây cần phải được quan tâm để cuộc sống của họ không còn phải phụ thuộc quá nhiều vào rừng, từ đó, công tác quản lý bảo vệ rừng tại gốc mới thực sự hiệu quả Trên

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

cơ sở đó, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu Bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu sinh kế của người dân và sự tác động của vấn đề đến công tác quản lý và bảo vệ khu BTTN Thần Sa - Phượng, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao mức sống của người dân cũng như nhận thức, trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng tại địa bàn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu thực trạng sinh kế của người dân ở vùng đệm khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng để thấy được những tác động tiêu cực, tích cực của người dân đến khu BTTN; từ đó đưa ra các giải pháp góp phần ổn định sinh

ở địa bàn

3 Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng sinh kế của các hộ dân đại diện sinh sống tại 3 xã Nghinh Tường, Vũ Chấn và Sảng Mộc thuộc khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

- Công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa bàn

- Các nguồn lực tại địa bàn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

4 Giới hạn của đề tài

- Giới hạn về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi 3 xã: Nghinh Tường, Vũ Chấn và Sảng Mộc thuộc khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

- Giới hạn về thời gian: Các tài liệu tổng quan về tình hình phát triển của địa bàn nghiên cứu được thu thập từ các tài liệu đã công bố trong khoảng

từ năm 2010 đến nay, số liệu điều tra khảo sát năm 2012

- Mức độ nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng sinh kế của người dân khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, đánh giá sự tác động của họ đối với công tác quản lý bảo vệ khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

5 Những đóng góp mới của Luận văn

Đưa ra được thực trạng sinh kế của người dân khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng Đánh giá được những tác động tiêu cực và tích cực từ vấn đề đảm bảo sinh kế đến công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những giải pháp góp phần ổn định sinh kế giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của người dân địa phương, hạn chế sự phụ thuộc của người dân khu BTTN, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bố cục luận văn chia thành 4 chương cụ thể sau:

Chương I: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương II: Phương pháp nghiên cứu

Chương III: Thực trạng sinh kế của người dân vùng đệm khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng và công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa bàn

Chương IV: Một số giải pháp góp phần ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững khu vực vùng đệm khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Kết quả của sinh kế đem lại những thay đổi có lợi cho đời sống kinh tế

- xã hội của cộng đồng Với các chiến lược sinh kế cụ thể sẽ tạo ra thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, ổn định cuộc sống, đảm bảo an ninh lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên

b Sinh kế bền vững

Khái niệm về sinh kế và sinh kế bền vững hiện nay khá rộng lớn, phản ánh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng Tiếp cận sinh kế bền vững sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người dân nguồn hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo

Hướng phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia trong và ngoài nước là sinh kế bền vững

Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì: Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương tai [9]

Phát triển bền vững là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp

lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau [10]

Như vậy, một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Sinh kế bền vững phải hội đủ những nguyên tắc sau: lấy con người làm trung tâm; dễ tiếp cận; có sự tham gia của người dân; xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương; thực hiện ở nhiều cấp; tổng thể; trong mối quan hệ với đối tác; bền vững và năng động

Tiêu chí sinh kế bền vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng - xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các cú sốc

Sinh kế bền vững có thể được mô tả là (theo FAO 2001:9):

- Chống đỡ được với những cú sốc và áp lực bên ngoài

- Không phụ thuộc vào các hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc được hỗ trợ bằng các cách thức bền vững về kinh tế và thể chế)

- Được thích nghi hóa để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới các giải pháp sinh

kế của những người khác

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Để đạt tới mức độ bền vững rõ ràng là một cộng đồng, một hộ gia đình hay một cá nhân cần có một số tài sản được khái niệm hóa là “năm loại vốn cần có để có được sinh kế bền vững” (FAO 2001):

- Vốn thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên bao gồm đất đai, rừng, nước

- Vốn tài chính: tiền mặt như thu nhập hay tiền tiết kiệm có thể sử dụng làm vốn luân chuyển

- Vốn cơ sở vật chất: được xếp vào 3 nhóm là tài sản tư nhân như gia súc và công cụ canh tác, tài sản công cộng như đường xá, cơ sở hạ tầng xã hội như trường học và bệnh viện

1.1.2 Vùng đệm và quan điểm quản lý bảo vệ vùng đệm

- Tại Điều 8 – Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng Đặc dụng, rừng Phòng hộ, rừng Sản xuất là rừng tự nhiên quy định rõ: “Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các vườn quốc gia

và khu bảo tồn thiên nhiên; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích

hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng

và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

đặc dụng Chủ đầu tư dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với UBND các cấp và các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội ở trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt là với ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất lâm - nông - ngư nghiệp, định canh định cư trên cơ sở có

sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống của người dân”

Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài khu bảo tồn

Định nghĩa trên đã nói rõ chức năng của vùng đệm là: Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm; và tạo điều kiện mang lại cho những người sinh sống trong vùng đệm những lợi ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn

Xem xét các vùng đệm đã có hiện nay tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập các vùng đệm không theo khuôn khổ thống nhất Dù được tạo ra theo hình thức nào thì những công việc hàng ngày xảy ra, do dân cư sinh sống xung quanh khu bảo tồn, tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn

* Quan điểm quản lý vùng đệm

Một trong những vấn đề vùng đệm ở các nước trên thế giới đó là xung đột vùng đệm Theo Chandraskharan xung đột tài nguyên là xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác Vì vậy có thể hiểu xung đột trong quản lý và sử dụng tài nguyên ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên là quá trình hình thành và phát triển các mâu thuẫn giữa các nhóm xã hội khác nhau về quyền lực, lợi ích, mục tiêu, quan điểm, nhận thức trong quá trình sử dụng tài nguyên khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Xung đột vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên vô cùng đa dạng, nó thường phát sinh giữa cộng đồng vùng đệm, cộng đồng nội vi khu bảo tồn thiên nhiên với khu bảo tồn thiên nhiên và các cơ quan chức năng, có thẩm quyền Nguyên nhân thường do việc xây dựng các khu bảo tồn đã làm mất đi lợi ích và cơ hội tiếp cận tài nguyên của cộng đồng vùng đệm; không quan tâm đến vai trò, lợi ích, sự tham gia hay tạo sinh kế thay thế cho cộng đồng vùng đệm và đặc biệt là cộng đồng tái định cư

Nhận thức các bên về vai trò, lợi ích của khu bảo tồn thiên nhiên không giống nhau Vấn đề mấu chốt để giải quyết xung đột là áp dụng tiếp cận hành động có sự tham gia của cộng đồng, chính quyền địa phương; tổ chức cho các bên tham gia gặp gỡ, trao đổi, hòa giải, đàm phán, thương lượng và chia sẻ về lợi ích, phân quyền quản lý tài nguyên, xây dựng mối quan hệ đồng tác, quy hoạch và xác định rõ ranh giới, xác định các nhiệm vụ bắt buộc, cam kết giữa các bên

Đối với Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về vùng đệm các khu bảo tồn, kể cả nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Do sức ép của nhân dân sinh sống xung quanh hay trong các khu bảo tồn ngày càng mạnh

mà công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn

Để giải quyết các mâu thuẫn nói trên, nhiều khu bảo tồn đã thực hiện một số dự án về nâng cao nhận thức môi trường, cải thiện cuộc sống cho người dân, nhất là những người nghèo sống xung quanh các khu bảo tồn

Nhiều ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền thuộc các cấp (huyện và xã) có liên quan đến các khu bảo tồn và vườn quốc gia, trong nhiều năm qua, tuy chưa có sự hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, nhưng đã có nhiều

cố gắng trong tổ chức các hoạt động bằng những hình thức khác nhau và bước đầu đã thu được những kết quả khả quan Sức ép của nhân dân các địa phương này lên khu bảo tồn đã giảm đi đáng kể, như các vườn quốc gia Cúc

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Phương, Yok Đôn, Bạch Mã, Cát Tiên, các khu bảo tồn Kẻ Gỗ, Xuân Thủy, Thần Sa - Phượng Hoàng Một số dự án quốc tế cũng đã đạt nhiều kết quả trong việc hỗ trợ các khu bảo tồn về nâng cao nhận thức cho người dân, hoặc giúp người dân vùng đệm nâng cao cuộc sống để họ giảm bớt sức ép lên khu bảo tồn

Theo quy hoạch mới nhất của Bộ NN&PTNT, toàn quốc có khoảng 94 khu bảo tồn thiên nhiên trong đó có 13 vườn quốc gia Có thể nói chưa bao giờ các địa phương lại quan tâm đến công tác bảo tồn thiên nhiên như bây giờ, tuy nhiên việc xây dựng và bảo vệ khu bảo tồn mới là điều cần phải quan tâm hàng đầu

Công tác quản lý các khu bảo tồn đã cho thấy rõ một thực tế là: đời sống của dân cư sống quanh khu bảo tồn gắn liền với khu bảo tồn, 90% các hoạt động thu hái, săn bắt và khai thác các giá trị về đa dạng sinh hoạch được thực hiện bởi người ngoài khu bảo tồn hay nói cách khác là người sống ở vùng đệm Các nhà bảo tồn đã nhận thức một cách chắc chắn rằng đầu tư vào vùng đệm để nâng cao nhận thức bảo tồn, nâng cao đời sống của người dân vùng đệm làm giảm áp lực về nhu cầu khai thác tài nguyên của khu bảo tồn, làm cho hoạt động bảo tồn có hiệu quả hơn Mặc dù biết vậy, nhưng cho đến nay chưa có một chính sách cụ thể riêng biệt nào chuyên đầu tư cho vùng đệm của các khu bảo tồn, nhưng trong thực tế việc chỉ đạo với các chính sách khác nhau đã nhằm vào giải quyết những vấn đề của vùng đệm

1.1.3 Quan điểm quản lý rừng bền vững

Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh đồng thời cũng là một tiêu chuẩn

mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới Hiện tại có hai định nghĩa đang được

sử dụng ở Việt Nam:

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Theo ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), QLRBV là quá trình quản

lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội

+ Theo tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác

Như vậy, có thể rút ra được các vấn đề chính mà hai khái niệm trên đề cập đến, đó là:

- Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra (phòng hộ môi trường, chống sạt lở, bảo tồn loài )

- Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể:

+ Bền vững kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng, duy trì

và phát triển diện tích, trữ lượng rừng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng)

+ Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương

+ Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.4 Mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý bảo vệ rừng

Mối quan hệ giữa sinh kế và quản lý bảo vệ rừng được thể hiện qua ba quan hệ chính được miêu tả ngắn gọn như sau:

1 Đó là những mối quan hệ nhân quả quan trọng giữa sự biến đổi sinh

kế nông thôn và những thay đổi mạnh mẽ về độ che phủ rừng bởi hai yếu tố này xuất hiện trên cùng vị trí địa lý và cùng thời gian

2 Đời sống của người nghèo ở các vùng sâu vùng xa ở nông thôn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn hàng hóa và dịch vụ môi trường từ các rừng tự nhiên

3 Mặc dù vẫn phụ thuộc vào rừng, một số người dân nông thôn vẫn có lợi ích lớn từ việc mất rừng thông qua việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp, khai thác và bán gỗ cũng như các sản phẩm từ rừng khác lấy tiền làm vốn [11]

Thực tế là có rất nhiều người dân tộc thiểu số ở các vùng cao của Việt Nam đã và đang sống trong rừng nhiều thế kỷ nay Người dân ở các vùng này thường nghèo do khó tiếp cận thị trường, cơ sở hạ tầng yếu kém, đất đai xấu

và cũng do sự đối xử phân biệt do nguồn gốc dân tộc của họ Thực tế là công cuộc hiện đại hóa của Việt Nam sẽ đến với những vùng sâu vùng xa nhất của đất nước sau cùng Nói cách khác, những người nghèo nhất trong số người nghèo thường ở các vùng cách xa các khu vực thành thị và đường giao thông lớn; và sự tách biệt này cùng với việc thiếu những mối liên kết với các bộ phận khác của nền kinh tế có liên quan tới mức độ nghèo đói của họ Tương

tự, các khu rừng tự nhiên còn tồn tại được chính bởi vị trí tách biệt của chúng cách xa các trung tâm đô thị và các đường giao thông lớn – những nơi đầu tiên chịu nạn phá rừng và là những nơi có tốc độ phá rừng cao nhất (cho đến khi rừng giảm tới mức tối thiểu) Trừ một số ngoại lệ quan trọng, các mô hình phát triển kinh tế đã có ở Việt Nam thường có khuynh hướng tập trung người nghèo vào các vùng còn rừng tự nhiên

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng như nhiều nước khác, các vùng rừng ở vùng sâu vùng xa đã và đang là mục tiêu lấn chiếm của những người dân nghèo không có nhiều cơ hội sinh sống ở các vùng đồng bằng đông đúc Những người này không chỉ là những người dân tộc thiểu số sống ở các miền núi vùng sâu vùng xa mà còn có cả người Kinh, dân tộc chiếm đa số ở Việt Nam

Người nghèo ở các vùng sâu vùng xa thường phải sống phụ thuộc rất nhiều vào rừng; điều này không chỉ do mối liên kết về địa lý mà còn bởi các thuộc tính của tài nguyên rừng tự nhiên (đặc biệt là các lâm sản ngoài gỗ) làm chúng dễ bị người nghèo khai thác

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Nghiên cứu về sinh kế của người dân để đảm bảo quản lý rừng bền vững trên thế giới

- Dự án quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên do Tổ chức GTZ (German Agency for Technical Cooperation) thực hiện tại Camaroon thực hiện từ tháng 10/2003 đến tháng 9/2015

Nội dung

Mặc dù Cameroon với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có rất triên vọng cho việc phát triển kinh tế và giảm đói nghèo Nhưng cho đến nay, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác hiệu quả và đang trong tình trạng suy giảm chất lượng Rất nhiều chương trình và chiến lược đưa ra nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hiệu quả hơn đều không thành công Nguyên nhân là do mâu thuẫn về quyền lợi, và hơn thế là thiếu cân đối và phối hợp hài hòa giữa các chương trình

Mục tiêu:

Cộng đồng và các công ty tư nhân có thể quản lý tài nguyên hiệu quả

và đảm bảo đa dạng sinh học

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Mâu thuẫn giữa việc phát triển địa phương và quốc gia với việc bảo vệ tài nguyên được giải quyết trong phạm vi chương trình bằng việc đưa ra các giải pháp phù hợp

Người dân trong khu vực rừng cần bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên này một cách hợp lý

Một hoạt động có tính quyết định nữa trong chương trình là truyền đạt cách thức để thúc đẩy việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và tuân thủ các quy định, luật lệ cũng như nâng cao nhận thức của người dân

Ở khu vực phía Tây Nam và Tây Đông của Cameroon, GTZ phối hợp cùng các cơ quan chức năng, Quỹ Thế giới bảo vệ các loài thú hoang dã (WWF) và Hiệp hội bảo vệ thú rừng (WCS) để xây dựng một tổ chức hợp tác

kỹ thuật (UTOs) Đây là thiết bị quy hoạch không gian, được thiết kế nhằm hài hòa giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ sinh thái ở những khu vực này

Kết quả đạt đƣợc đến thời điểm hiện tại

Nhờ sự hỗ trợ của dự án GTZ, một chiến lược quốc gia có tính nhất quán cao với kế hoạch trung hạn và các mục tiêu rõ ràng đang được triển khai

Quá trình phối hợp giữa các cơ quan chức năng về lâm nghiệp và các

bộ phận khác đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong quy hoạch không gian

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

cho những khu vực riêng biệt dựa trên các nhân tố địa lý, sinh thái và phát triển kinh tế Kế hoạch quản lý ở hai khu vực này cũng đang được triển khai

Người dân địa phương nhận được rất nhiều sự hỗ trợ trực tiếp như việc giúp đỡ một tổ chức phi chính phủ để phát triển các dịch vụ du lịch sinh thái, nhờ đó mà số lượng khách du lịch đến khu vực này tăng lên gấp đôi

Những định hướng phát triển làng bản với sự trợ giúp của dự án GTZ

sẽ giúp người dân địa phương sử dụng hiểu quả hơn tài nguyên và các nguồn

hỗ trợ tài chính của quốc gia cũng như quốc tế

- Dự án Cung cấp nước sạch cho nông thôn tại Nusa Tenggara Timur

và Nusa Tenggara Barat, Inonesia Dự án được thực hiện từ tháng 7/2002 đến tháng 12/2008

hệ thống cung cấp nước cả trên phương diện khoa học và tài chính và thực hiện nó một cách độc lập Trong trường hợp này, họ trở nên tốt hơn khi nắm được tình hình về thực tế cải thiện vệ sinh và sự bảo tồn các tài nguyên Dự án cũng chuẩn bị cho lãnh đạo địa phương đối với luật để quản lý việc cung cấp nước một cách chính xác và phương pháp để bảo tồn tài nguyên

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Kết quả đạt đƣợc

Đến tháng 10/2005, trên mỗi huyện đã có 10 đơn vị quản lý và 40 tổ chức sử dụng nước tuân thủ theo luật của từng cấp tại địa phương Đơn giản việc cung cấp nước chính xác theo kế hoạch và được xây dựng với sự tham gia của người dân Người sử dụng nước máy có thể quản lý tài chính và chi phí độc lập Trung bình mỗi ngày lượng nước cung cấp tăng tới 40 lít/người/ ngày Người dân đã nhận thức tốt hơn về tầm quan trọng của việc vệ sinh cá nhân khi dùng nước Những người trong nhóm sử dụng nước thường xuyên

có những cuộc họp thảo luận về bảo tồn tài nguyên và thực thi giảm ô nhiễm đến nguồn tài nguyên nước

1.2.2 Một số nghiên cứu về sinh kế của người dân để đảm bảo quản lý rừng bền vững ở Việt Nam

- Dự án tăng cường kinh tế cho người dân địa phương sống trong và xung quanh Vườn Quốc gia Xuân Sơn để đảm bảo quản lý rừng bền vững là một trong những chương trình môi trường mà Chính phủ Đan Mạch đầu tư

Mục đích của dự án: Tăng cường sinh kế tại VQG Xuân Sơn là cải

thiện sinh kế cho bà con sống trong và xung quanh VQG Xuân Sơn, nhằm bảo vệ hệ sinh thái quan trọng của khu rừng này

Để bảo vệ hệ sinh thái quan trọng của VQG Xuân Sơn, dự án tăng cường sinh kế cho người dân địa phương tại Xuân Sơn hướng tới phát triển một vùng đệm cho VQG Xuân Sơn, xây dựng một vành đai bảo vệ bền vững cho môi trường và hệ sinh thái ở vùng lõi, cũng như giảm đói nghèo cho cộng đồng các dân tộc ít người sống ở trong vùng lõi và vùng đệm của rừng

Mục tiêu của dự án:

+ Thứ nhất, tăng cường sinh kế cho người dân địa phương ở vùng lõi và vùng đệm Điều này sẽ giúp bảo vệ nguồn gen của các loài sinh vật truyền thống có giá trị kinh tế cao và là nguồn nguyên liệu thảo dược của địa phương

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Thứ hai, truyền đạt kiến thức và tăng cường nhận thức trong cộng đồng người dân địa phương về vấn đề khai thác, sở hữu, bảo vệ rừng cũng như về môi trường sinh thái

+ Thứ ba, bồi dưỡng năng lực cho chính quyền địa phương, đội ngũ nhân viên Vườn Quốc gia Xuân Sơn cũng như người dân địa phương Điều này được thực hiện thông qua việc đào tạo và chuyển giao công nghệ về phát triển kinh tế xã hội và quản lý rừng bền vững

Dự án được bắt đầu triển khai từ năm 2007 và kết thúc vào năm 2010.[2]

- Một số chương trình của tổ chức GTZ (Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức tại Việt Nam) về vấn đề quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong

đó có đề cập đến vấn đề sinh kế của người dân tiến hành tại Việt Nam:

+ Dự án Bảo vệ Môi trường và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên tỉnh Đắc Nông với Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên Bang

Đức, do Tiến sĩ Guenter Reithmacher, Giám đốc Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức tại Việt Nam (GTZ) đại diện

Mục tiêu của dự án: Cải thiện sự tham gia của người dân nghèo ở

nông thôn, đặc biệt là người dân tộc thiểu số vào công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh Đắc Nông Hướng đi của dự án sẽ tập trung vào việc cải hiện nông nghiệp vùng cao, đưa vào áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, chú trọng phương pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng để các hộ dân và người dân tộc thiểu số cùng thực hiện Phương pháp này cũng sẽ được nhân rộng trên toàn tỉnh Không chỉ góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam cũng như chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia, dự án còn giúp xây dựng các phương pháp và các cách tiếp cận mới để thực hiện ở cấp Trung ương và tỉnh Tổng số tiền viện trợ không hoàn lại là 2 triệu Euro.[2]

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Dự án: Bảo tồn và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực VQG Phong Nha – Kẻ Bàng

Bằng các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức hội thảo, và hỗ trợ tài chính, dự án hoạt động nhằm tăng cường cơ chế lập kế hoạch cấp huyện và

xã theo đường hướng sử dụng các phương pháp thân thiện với môi trường và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhằm thúc đầy sinh kế cho vùng đệm của vườn quốc gia, dự án hỗ trợ việc lập kế hoạch của địa phương

và các cơ quan thực hiện việc lập “kế hoạch phát triển bền vững kinh tế vùng đệm”

Mục tiêu tổng thể của kế hoạch là phác thảo các cơ hội sinh kế thay

thế mang tính bền vững và thân thiện với môi trường, giảm sự phục thuộc của người dân trong vùng vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của vườn quốc gia Thêm vào đó, dự án còn xây dựng “Quy hoạch phát triển du lịch” cho vùng

dự án Nâng cao năng lực quản lý và nhận thức môi trường trong khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng, từ đó xây dựng và phát triển một ngành du lịch mang tính môi trường bền vững, đem lại lợi ích trực tiếp cải thiện sinh kế của người dân địa phương

Thời gian hoạt động của dự án là 8 năm, chia làm 3 giai đoạn, 2 giai đoạn đầu thực hiện trong 3 năm và giai đoạn cuối trong 2 năm Giai đoạn 1 của dự án tính từ tháng 10/2007 đến tháng 10/2010.[3]

+ Dự án “Kết hợn Bảo tồn và Phát triển khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang”

Dự án sẽ tập trung triển khai hoạt động tại ba trọng điểm của Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang mà đã được UNESCO công nhận năm 2006, gồm Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc và khu vực rừng Phòng hộ ven biển thuộc Kiên Lương và Hòn Chông

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Mục tiêu của dự án là quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

của tỉnh Kiên Giang và cải thiện quản lý các khu rừng Phòng hộ Giai đoạn đầu của dự án sẽ đặt trọng tâm vào quản lý hiệu quả các khu rừng Phòng hộ

và rừng ven biển Một số khảo sát ban đầu sẽ được thực hiện để điều tra động thực vật trong vùng lõi các vườn quốc gia và các khu rừng phòng hộ ven biển

Đây sẽ là cơ sở để giám sát tác động của dự án cũng như việc triển khai các chiến dịch nâng cao nhận thức Các nhóm đối tượng của dự án gồm người dân nghèo sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc rừng Phòng hộ ven biển, đất ngập nước và các khu bảo vệ cũng như cán bộ trực thuộc các vườn quốc gia, các sở, ban, ngành liên quan của tỉnh và huyện

Tham gia dự án còn có người dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ địa phương và các cơ quan đoàn thể Dự án sẽ giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo thông qua các cơ hội cải thiện và đa dạng sinh kế, đặc biệt cho người dân các dân tộc thiểu số như người Khmer và phụ nữ.[4]

+ Dự án “Phát triển rừng Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm”

Hoạt động hợp tác giữa GTZ và chính phủ Việt Nam nằm trong khuôn khổ giai đoạn 2 của dự án Phát triển rừng Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm (gồm ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên) do GTZ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện từ năm 2006 đến năm 2009

Giai đoạn 1: của dự án được thực hiện trong giai đoạn 2003-2006, phía Đức đã tài trợ 1,79 triệu Euro, được thực hiện tại 26 làng thuộc 8 huyện của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với mục tiêu phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ thiên nhiên môi trường

Giai đoạn 2: dự án Quản lý vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm – giai đoạn 2 được triển khai từ tháng 10/2006 đến tháng 9/2009

Dự án tập trung vào 3 nội dung chính như: Hoàn thiện, phổ biến các khái niệm và phương pháp luận về lập kế hoạch sử dụng tài nguyên bền vững

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và kế hoạch ngành; Nâng cao đời sống người dân thông qua việc giới thiệu các kỹ thuật bảo tồn tài nguyên thiên nhiên gắn với lợi ích kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp

và chăn nuôi; Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá đối với tác động từ các biện pháp bảo tồn tự nhiên ở Vườn Quốc gia Tam Đảo.[1]

1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ những nghiên cứu về sinh kế để đảm bảo quản lý rừng bền vững của Thế giới và Việt Nam

Qua những nghiên cứu hỗ trợ sinh kế đã và đang được triển khai thực hiện trên thế giới và Việt Nam, có thể nhận thấy rằng vấn đề quản lý bảo vệ rừng bền vững trên cơ sở hỗ trợ sinh kế cho người dân đòi hỏi nhiều thách thức Các chuyên gia đã gặp không ít những khó khăn khi thực hiện dự án, trong đó chủ yếu là những khó khăn trong công tác quản lý vùng đệm Cụ thể:

- Sức ép của số dân sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn thậm chí

cả trong khu bảo tồn lên khu bảo tồn Họ đã thực hiện các hoạt động sinh kế làm ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ rừng như: phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, khai thác gỗ, thu lượm các sản phẩm của rừng Đây là điều khó khăn nhất gặp phải với nguyên nhân xác định là từ đói nghèo, sự gia tăng dân

số, tập quán canh tác và trình độ dân trí thấp

- Việc thực hiện quy định pháp luật trong quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn Mặc dù các biện pháp ngăn chặn đã được đưa ra như: xây dựng biển báo, trạm gác, xử phạt, giáo dục cũng không thể ngăn chặn được người dân xâm phạm khu bảo tồn, hàng loạt khu bảo tồn đang trong tình trạng nguy cấp trước sự gia tăng của hiện tượng xâm phạm trái phép này

Chính quyền địa phương hầu như chưa xác định được trách nhiệm quản

lý của họ và coi đó là trách nhiệm của riêng các ban quản lý; Ban quản lý các khu bảo tồn cũng chưa có những giải pháp hữu hiệu để lôi kéo người dân vùng đệm tham gia công tác bảo tồn

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Vấn đề đặt ra là cần phải có hệ thống chính sách mới với mục tiêu vừa nhằm thỏa mãn được nhu cầu của người dân vừa bảo vệ phát triển bền vững của các khu vực này Như vậy hợp tác với người dân địa phương và giải quyết những yêu cầu cấp bách của họ sẽ hiệu quả hơn là chỉ có thực hiện ngăn cấm

và xử phạt

Có thể thấy rằng, thông qua những dự án cải tạo môi trường, phát triển kinh tế, nâng cao cuộc sống cho người dân nhằm giảm nhẹ sức ép của họ lên các khu bảo tồn đã thu được một số kết quả Các giải pháp đã được đưa ra nhưng chưa thực sự đạt được hiệu quả Để có thể giải quyết được những khó khăn và đạt được những hiệu quả như mong đợi, đòi hỏi các nhà ban hành chính sách, đơn vị thực hiện các dự án nghiên cứu cần tập trung vào đối tượng trực tiếp tác động đó là người dân với những vấn đề trọng tâm sau:

- Các hoạt động dự án thực hiện cần trực tiếp và nhanh chóng cải thiện được cuộc sống hàng ngày cho người dân Mọi hỗ trợ đều phải dựa trên cơ sở phân phối công bằng

- Tạo mọi điều kiện nâng cao nhận thức về thiên nhiên và môi trường Làm thế nào để người dân hiểu tầm quan trọng của việc giữ ổn định hệ sinh thái và vấn nạn suy thoái môi trường đối với cuộc sống của họ Bên cạnh đó, cần hướng dẫn họ có phương án sử dụng hợp lý và lâu dài các nguồn tài nguyên thiên nhiên xung quanh họ

- Tạo niềm tự hào về những đặc trưng tự nhiên của địa phương họ nhằm khơi dậy ý thức bảo tồn những giá trị tiêu biểu của khu vực họ sinh sống

- Làm việc trực tiếp với người dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân, tránh áp đặt một cách cứng nhắc; cần phải cho họ hiểu dự án hỗ trợ trực tiếp cho họ những gì

- Xây dựng được mô hình tốt làm cơ sở để học tập và nhân rộng

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Lôi kéo được sự tham gia và ủng hộ của các cấp, các ngành, các tổ chức nơi thực hiện chính sách như: Lãnh đạo địa phương, cấp sắc tôn giáo và

sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ

- Việc xây dựng quy hoạch phát triển vùng đệm cần có sự tham gia của Ban quản lý khu bảo tồn và cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và người dân địa phương

- Tập tục, văn hóa của người dân đã được duy trì một thời gian dài và qua nhiều thế hệ, cho nên để giải quyết một cách trọn vẹn cần thực hiện dự án một cách dài hạn, bằng những hoạt động thiết thực cho đến khi người dân có những hiểu biết đúng đắn về khu bảo tồn, vai trò của vùng đệm, trách nhiệm

và quyền lợi của người dân địa phương

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài

Để có căn cứ đưa ra giải pháp ổn định cho người dân vùng đệm khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên, tác giả cần tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Một là: Xác định được thực trạng sinh kế của người dân ở vùng đệm

khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng như thế nào?

- Hai là: Người dân ở địa bàn nghiên cứu tác động như thế nào đối với KBT?

- Ba là: Giải pháp nào được đưa ra để ổn định sinh kế cho người dân

nhằm quản lý bảo vệ rừng bền vững?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử dụng

để thu thập các thông tin nhằm hệ thống hóa và tóm tắt về cơ sở lý luận và cơ

sở thực tiễn có liên quan đến đề tài này Số liệu thứ cấp tại phòng Nông

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghiệp và PTNT, phòng Tài nguyên Môi trường, Chi cục Thống kê và các phòng ban khác ở huyện Võ Nhai, Ban quản lý khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng để phân tích

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra sinh kế của người dân ở các xã vùng đệm khu BTTN và sự tác động của người dân đến khu BTTN Lựa chọn điểm điều tra tại 3 xã: Vũ Chấn, Nghinh Tường, Sảng Mộc

Đây là 3 xã nằm trong khu vực trọng điểm về tình trạng xâm lấn, khai thác trái phép của người dân, dân số đông, mức độ phụ thuộc vào rừng lớn hơn các xã còn lại thuộc khu BTTN Hơn nữa, việc lựa chọn 3 xã gần nhau để tránh hiện tượng sai khác về địa lý Mặt khác các nguồn lực kinh tế, xã hội, con người ở các xã là tương đồng nhau nên có ý nghĩa trong việc đánh giá

kết quả dự án Lựa chọn mẫu điều tra trong khu vực nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ bằng câu hỏi đã

được chuẩn bị trước và in sẵn Thu thập các thông tin sơ cấp của 03 xã (Vũ Chấn, Sảng Mộc mỗi xã 30 mẫu; Nghinh Tường 40 mẫu)

*Mục tiêu của chọn mẫu điều tra: Mục tiêu của hoạt động điều tra thực

địa nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện và chính xác các thông tin về đời sống sinh hoạt, các hoạt động sản xuất - kinh doanh của các hộ dân và tư tưởng, ý thức của các hộ trong việc trồng và bảo vệ rừng thuộc địa bàn nghiên cứu để từ đó có thể chỉ ra thực trạng đời sống, sinh kế và tác động trong vấn đền quản lý và bảo vệ rừng của người dân đến khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

Số liệu điều tra sơ cấp được tác giả thu thập trên thực địa thông qua các phương pháp sau:

*Phương pháp phỏng vấn cấu trúc:

Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, đề tài tiến hành điều tra các hộ sống tại 3 xã lựa chọn làm điểm nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:

1 Nhóm thông tin về xác định hộ gia đình

2 Nhóm thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của hộ

3 Nhóm thông tin về các nguồn lực tự nhiên của hộ

4 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập của hộ

5 Nhóm thông tin về hiện trạng sử dụng các nguồn lực tự nhiên từ rừng quốc gia, rừng trồng của hộ

6 Nhóm thông tin đánh giá sự tác động của chính sách đến sinh kế của người dân

7 Nhóm thông tin đánh giá nhận thức của hộ đối với công tác quản lý bảo vệ rừng

* Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc

Để lấy thông tin theo chiều rộng, tránh cho người bị phỏng vấn cảm thấy bị ép buộc với những câu hỏi có sẵn, chúng tôi đã sử dụng các câu hỏi không có trong phiếu điều tra để hỏi thêm xen lẫn trong quá trình phỏng vấn

Phương pháp này nhằm mục đích lấy thêm những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu của tác giả, nghiên cứu sâu hơn nữa vấn đề người dân quan tâm, có ảnh hưởng tới cuộc sống của họ

* Phương pháp quan sát trực tiếp

Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế Tác giả có thêm các thông tin tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình đi điều tra phỏng vấn hộ thông qua ghi chép, chụp ảnh lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin

- Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được tác giả cập nhật và tính toán tùy theo mục đích nghiên cứu, phân tích của đề tài trên chương trình Excel 2003 của Microsoft

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

- Phương pháp thống kê mô tả: là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếu điều tra hộ

- Phương pháp phân tích so sánh: Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu

số tương đối nhằm chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này dùng để so sánh sự khác nhau về thu nhập từ các ngành ngề khác nhau, cơ cấu thu nhập của các hộ dân

* Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Phối hợp và tham gia ý kiến của các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực duy trì và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên để xây dựng phương pháp thực hiện và tổ chức điều tra đạt kết quả cao

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá về vấn đề liên quan đến sinh kế của người dân

Tính toán thu nhập năm 2012 của các hộ dân từ các nguồn khác nhau: + Nông nghiệp: thu nhập từ các hoạt động trồng trọt bao gồm: Lúa, hoa màu và thu nhập từ các hoạt động chăn nuôi như: Lợn, trâu bò, gia cầm

+ Ngành ngề tự do: Thợ xây, làm thuê,

+ Thu nhập từ nghề làm công ăn lương: Công nhân, công chức,

+ Thu nhập từ rừng: gỗ, củi đốt, các lâm sản ngoài gỗ như nấm, măng tre, cây thuốc nam, cây cảnh

Thông qua việc nghiên cứu các nguồn thu nhập của các hộ dân để thấy được thực trạng sinh kế của người dân ở địa bàn nghiên cứu Từ đó, thấy được sự cần thiết của việc phát triển kinh tế hộ gia đình kết hợp với việc nâng cao nhận thức đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng, dần loại bỏ sự phụ thuộc của các hộ dân sinh sống tại vùng đệm vào việc khai thác tài nguyên

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

rừng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày cũng như việc tiếp tay cho tổ chức,

“đầu nậu” phá hoại các tài nguyên rừng phục vụ cho kinh doanh trái phép

2.3.2 Đánh giá nhận thức của người dân về bảo vệ rừng

- Hiều biết và nhận thức về việc cần thiết phải bảo vệ tài nguyên rừng đối với việc giữ vững và tăng lên về số lượng, chất lượng của nguồn nước; chống xói mòn tài nguyên đất đai của các hộ dân

- Nhận thức về môi trường và ô nhiễm môi trường khu vực “vùng đệm”

mà hộ đang sinh sống

- Hiểu biết và nhận thức về việc cần thiết phải bảo vệ tài nguyên rừng đối với cuộc sống hiện tại và cho các thế hệ con cháu mai sau

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

CHƯƠNG III THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM KHU BTTN THẦN SA – PHƯỢNG HOÀNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ

RỪNG TẠI ĐỊA BÀN

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Khu bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc địa giới hành chính huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40km về phía Bắc, có toạ độ địa lý:

- Từ 105051’05" đến 106008’38" kinh độ Đông;

- Từ 21045’12" đến 21056’30" vĩ độ Bắc

Về ranh giới:

Phía Bắc giáp huyện Na Rì, huyện Chợ Mới Tỉnh Bắc Kạn

Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, Tỉnh Lạng Sơn

Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

Phía Nam giáp với các huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên

Phạm vi quy hoạch Khu bảo tồn nằm trong địa giới hành chính bao gồm một phần diện tích của của 6 xã và một thị trấn thuộc huyện Võ Nhai gồm: Thị trấn Đình Cả, xã Phú Thượng, xã Sảng Mộc, xã Thần Sa, xã Thượng Nung, xã Nghinh Tường, xã Vũ Chấn Tổng diện tích đất quy hoạch vùng lõi khu rừng đặc dụng là 17.121,20 ha

b Đặc điểm địa hình

Nhìn chung, địa hình Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng

bị chia cắt khá mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn hình thành

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chúng có đặc điểm chung là: núi đá có dốc lớn, bị chia cắt sâu Có 3 kiểu địa hình chính như sau:

+ Nhóm kiểu địa hình đồi núi thấp: Nhóm này chiếm điện tích khá lớn, có

độ cao dưới 800m, là nơi hoạt động sản xuất lâm nghiệp vùng đệm của KBT

+ Núi kiểu địa hình núi đá vôi: Nhóm này chiếm hầu hết diện tích khu bảo tồn, chúng có kiểu kiến trúc dễ nhận biết, độ cao trung bình trên 800m

+ Nhóm kiểu địa hình trũng nằm xen kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất: Nhóm này có địa hình thấp, bằng phẳng, ở giữa những dãy núi thường xuất hiện những con sông, suối và những cánh đồng lúa hoặc hoa màu của dân chúng thuộc vùng đệm khu bảo tồn

c Đất đai

Diện tích đất lâm nghiệp trong vùng rất lớn 45.026,38 ha chiếm 90,21% tổng diện tích đất tự nhiên Qua đó ta thấy rằng tiềm năng của hoạt động sản xuất lâm nghiệp là rất lớn trong chiến lược phát triển kinh tế vùng Đất nông nghiệp của 7 xã, thị trấn là 2.845,11 ha chiếm 5,70% tổng diện tích đất tự nhiên

Như vậy đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ thấp và phân bố không đồng đều Xã có diện tích đất nông nghiệp cao nhất là xã Phú Thượng 818,42 ha,

xã có ít nhất là xã Thượng Nung 53,49 ha Bởi xã Thượng Nung có nhiều người H’mông, Nùng, họ thường sống trên núi cao và làm nương rẫy, và chỉ trồng lúa cạn và cây cam trên núi cao, trái với việc trồng lúa nước ở các vùng thấp hơn

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 01: Các loại đất đai trong khu vực

Đơn vị tính: ha

Tên xã, thị

Đất lâm nghiệp

Đất nông nghiệp

Đất chuyên dùng

Đất thổ cƣ

Đất khác

Thần Sa 10.144 9.523,36 422,35 87,09 15,07 96,13 Thượng Nung 4.368 3.530,48 53,49 91,23 17,74 4,02 Sảng Mộc 10.756 10.453,88 665,25 258,76 20,74 23,62

Nghinh Tường 9.850 9.457,87 333,26 38,89 19,98 0 Phú Thượng 5.440 4.437,12 818,42 34,19 93,09 57,18

TT Đình Cả 1.015,66 589,87 304,58 54,64 41,8 24,94

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Võ Nhai)

d Đặc điểm thời tiết và khí hậu

Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, khá lạnh về mùa đông Mặt khác do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt nguồn từ Bắc Sơn đến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và thường có sương muối vào mùa đông Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,30C; nhiệt độ không khí tối thấp trung bình năm 19,30C, nhiệt độ không khí tối cao trung bình năm 26,90

C Lượng mưa trung bình năm từ 1400mm đến 1600 mm

Tốc độ gió trung bình năm 0,9m/s

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tình hình dân cư và lao động

a Dân số và Lao động

*Dân số:

Theo thống kê dân số tính đến hết năm 2010, dân số trong vùng là 20.411 nhân khẩu, sinh sống tại 4.446 hộ gia đình, trên địa bàn 66 thôn bản, thuộc 6 xã và 1 thị trấn Mật độ dân số trong vùng bình quân là: 42 người/km2 Phân bố dân cư không đều, đa số các thôn bản tập trung ở thung lũng, gần sông suối, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục đường giao thông

Dân số nằm trong vùng đệm và vùng lõi KBT có 4.429 hộ với 20.559 nhân khẩu Mật độ dân số phân bố tương đối đồng đều giữa các xã trong khu vực Mật độ đông nhất là xã Phú Thượng (90 người/km2), thấp nhất là xã Thần Sa (23 người/km2)

Số lượng nhân khẩu tập trung đông nhất ở 5 khu vực là Sảng Mộc, Nghinh Tường, Vũ Chấn, TT Đình Cả của huyện Võ Nhai, chiếm 70,04% tổng số dân Xã có số dân ít nhất là Thượng Nung với 2.163 khẩu chiếm 10,52% Tuy vậy, sức ép của người dân từ xã này lên rừng cũng không hề nhỏ

vì họ sống hoàn toàn trong khu bảo tồn Tính trung bình mỗi hộ gia đình có

từ 5 đến 6 người Hiện tượng này đặc biệt phổ biến trong cộng đồng người dân tộc H’mông và thường dẫn tới thiếu lương thực 3 tháng mỗi năm, khoảng

từ tháng 3 đến tháng 7

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 02: Mật độ và dân số các xã trong khu vực

(xã )

Diện tích tự nhiên (Km 2 )

Số khẩu (người )

Tỉ lệ (%)

Lực lượng lao động và sự phân bố lao động trong 6 xã và 1 thị trấn thuộc vùng đệm KBT thống kê tại biểu sau:

Ngày đăng: 01/12/2015, 20:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Các loại đất đai trong khu vực. - Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 01 Các loại đất đai trong khu vực (Trang 38)
Bảng 02: Mật độ và dân số các xã trong khu vực - Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 02 Mật độ và dân số các xã trong khu vực (Trang 40)
Bảng 03:  Lao động và phân bố lao động các xã - Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 03 Lao động và phân bố lao động các xã (Trang 41)
Bảng 04: Thành phần dân tộc sống trong khu vực - Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 04 Thành phần dân tộc sống trong khu vực (Trang 42)
Bảng 05: Cơ cấu mẫu điều tra - Một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế cho người dân để quản lý rừng bền vững ở khu vực vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên thần sa   phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 05 Cơ cấu mẫu điều tra (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm