Cấu trúc báo cáo như sau: Phần 1: Triệu chứng– bức tranh toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam đến cuối tháng 3/2011 Phần 2: Nguyên nhân – những đặc điểm đặc thù của kinh tế Việt Nam và th
Trang 1Báo cáo kinh tế vĩ mô Việt Nam – Tháng 4/2011
KHẢ NĂNG PHỤC HỒI
Đầu năm 2011, các nhà đầu tư trong nước và quốc tế đều lo ngại về khả năng nền kinh tế Việt Nam có thể sụp đổ Với lý do đó, mục đích của báo cáo là đưa đến cho nhà đầu tư thêm những cơ sở để ra quyết định, bằng việc cân nhắc về khả năng sụp đổ này, dựa trên
sự tiếp cận từ khía cạnh vĩ mô Cấu trúc báo cáo như sau:
Phần 1: Triệu chứng– bức tranh toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam đến cuối
tháng 3/2011 Phần 2: Nguyên nhân – những đặc điểm đặc thù của kinh tế Việt Nam và thế
giới, là nguyên nhân dẫn tới tình trạng hiện tại Phần 3: Định hướng điều trị - mô tả định hướng, những giải pháp chính phủ
Việt Nam đã và đang sử dụng để giải quyết tình trạng hiện tại cũng như đạt tới vị trí ổn định bền vững
Phần 4: Khả năng phục hồi –những nhân tố cản trở quá trình thực hiện chính
sách của Việt Nam
Phần 5: Kết luận - kết luận về khả năng sụp đổ của kinh tế Việt Nam, hướng đi
của lạm phát, lãi suất và khả năng việt nam đạt tới vị trí bền vững
Tác giả: Nguyễn Tiến Đức – Senior Analyst
Trang 2Tóm tắt
Năm 2010, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã đạt được sự phục hồi ấn tượng sau khủng hoảng tài chính toàn cầu Thế nhưng ở Việt Nam, tình hình kinh tế lại chuyển biến xấu và sự việc đã trở nên rất nghiêm trọng tại thời điểm kết thúc quí I/2011 Dường như Việt Nam
đã đánh mất sự ổn định và cân bằng cần thiết để phát triển kinh tế Quan trọng hơn, Việt Nam đã đánh mất vị thế cạnh tranh của mình so với các quốc gia láng giềng trên nhiều phương diện Dòng tiền đầu tư quốc tế, và thậm chí trong nước tại Việt Nam thu hẹp nghiêm trọng Giới đầu tư quốc tế quan ngại về sự sụp đổ của kinh tế Việt Nam
Trước sức ép của sự đổ vỡ, trong một thời gian ngắn, chính phủ đã quyết định áp dụng chính sách tài khóa, tiền tệ thắt chặt và một loạt biện pháp vĩ mô khác nhằm tái lập lại sự ổn định Nhóm chính sách này tạo ra phản ứng trái ngược trong cộng đồng Trong lúc nhiều thành phần của nền kinh tế nghi ngờ về hiệu quả hoạt động của chính sách thì những tổ chức lớn, đặc biệt là World Bank lại có cái nhìn lạc quan hơn
Họ cho rằng Việt Nam đang đi đúng hướng
Nhận định lạc quan trên là hoàn toàn có cơ sở nếu chúng ta nhìn sâu hơn vào nguyên nhân gây ra tình trạng hỗn loạn hiện tại Mọi việc có thể bắt nguồn từ mục tiêu trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam được đưa ra năm 2001: “bằng mọi giá phải đưa Việt Nam thoát nghèo” Để làm được điều này, chính phủ việt nam phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn là nâng mức thu nhập cá nhân lên trên 1000USD từ mức 405 USD năm 2000 Sau 10 năm, Việt Nam đã thành công, nhưng một thập kỷ đánh đổi sự ổn định và bền vững để lấy tăng trưởng nhanh
đã tạo ra tình trạng mất thăng bằng trầm trọng trong nhiều lĩnh vực như Công nghiệp, tín dụng, thị trường vàng và ngoại hối và nghiêm trọng hơn cả là đánh mất niềm tin của dân chúng vào đồng nội tệ Những đặc điểm này tạo ra hệ thống tạo lạm phát kép đặc biệt theo hai chu trình trong đó một chu trình là lạm phát chi phí đẩy và một chu trình đặc biệt diễn ra trong hệ thống tín dụng – tiền tệ - tiết kiệm Biến động tiêu cực của thời kỳ khủng hoảng kinh tế và hậu khủng hoảng kinh
tế toàn cầu trở thành tác nhân kích hoạt và khuếch đại chuỗi tạo lạm phát, đưa an ninh kinh tế việt nam vào trạng thái bị đe dọa
Dựa vào những gì đã thực hiện, có thể thấy rằng Chính phủ Việt Nam đã nhận ra sự yếu kém trong cấu trúc kinh tế hiện tại từ rất lâu Nhiều hành động mang tính chất dài hạn đã được thực hiện từ rất sớm với mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng nhằm đạt tới một vị thế ổn định hơn Những biện pháp hiện tại tập trung nhằm mục đích bẻ gãy vòng xoáy lạm phát bằng việc kiểm soát thị trường ngoại hối, vàng và tiết kiệm Trên phương diện lý thuyết
Trang 3giải pháp chống lạm phát trên là hợp lý nhưng mới chỉ ở giai đoạn định hướng và thực thi bước đầu
Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng rằng Chính phủ Việt Nam sẽ thành công trong việc bẻ gãy chuỗi lạm phát hiện tại trong ngắn hạn nếu
họ thực hiện kế hoạch trên một cách kiên trì và dứt khoát Nếu thành công, mức lạm phát tại Việt Nam trong ngắn hạn có thể sẽ được đưa trở
về mức trung bình cao so với các quốc gia trong khu vực Thế nhưng, thực hiện đến cùng kế hoạch này không phải là một công việc đơn giản
Có rất nhiều nhân tố cản trở đang hiện hữu phía trước và nhiều người đang hoài nghi về việc liệu Việt Nam có thực hiện đến cùng cải cách của mình không
Tóm lại, định hướng hợp lý và những hành động bước đầu thuyết phục, chính phủ Việt Nam cho chúng ta cơ sở để hi vọng về việc quốc gia này
sẽ không sụp đổ Nhưng những bằng chứng hiện tại chưa đủ để dẫn tới bất cứ một kết luận nào về khả năng hoặc thời điểm tái lập sự cân bằng,
ổn định hoặc dài hạn Mặc dù vậy, có một điều có thể chắc chắn đó là nếu Việt Nam không nhanh chóng cải tạo hệ thống ngân hàng thương mại, tình trạng hỗn loạn sẽ nhanh chóng tái diễn Chúng ta cần quan sat tiếp hành động của Chính phủ Việt nam để có thể đánh giá xa hơn về tương lai của đất nước này Ngoài ra, chắc chắn tình hình sẽ tồi tệ hơn trước khi những dấu hiệu đầu tiên của sự phục hồi xuất hiện
Trang 4PHẦN 1 TRIỆU CHỨNG
Trong tháng 2 và đầu tháng 3/2011, hơn 12 công bố điều chỉnh chính sách được thực hiện Đây có lẽ là giai đoạn đáng nhớ nhất trong lịch sử quản lý kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thế kỷ 21 Những điều chỉnh chủ yếu bao gồm:
Tăng tỷ giá USD/VND chính thức lên 9% (State Bank of Vietnam – SBV)
Tăng lãi suất tái cấp vốn lên 9%/năm(SBV)
Giá điện tiêu dùng tăng 15% (Bộ Tài Chính – MOF)
Giá xăng tăng 17.7% (MOF)
Nghị Quyết 11/NQ-CP: Thực thi chính sách tài khóa, tiền tệ thắt chặt
kể từ quý II/2011
Thông báo về việc hạn chế tăng trưởng tín dụng dưới 20% và giảm tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, tập trung tín dụng cho khu vực sản xuất (SBV)
Công bố về việc thực thi quản lý thị trường ngoại hối, vàng tự do
Lãi suất tái cấp vốn tăng lên 11% năm (SBV)
Lập trần lãi suất huy động 14% (SBV)
Lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn lên 12%/Năm (SBV)
Bộ giao thông vận tải: ngừng mua xe, sắm tài sản cố định có giá trị lớn từ nguồn ngân sách
Tất cả điều chỉnh trên được đưa ra với mục đích duy nhất là tái ổn định lại nền kinh tế Việt Nam vốn đang trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm Chúng ta cùng xem xét tình hình thông qua một số chỉ tiêu lớn:
1 Lạm phát cao nhất trong khu vực:
Giá tiêu dùng năm 2010 được ghi nhận tăng 11,75% so với thời điểm kết thúc 2009, trong lúc tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,5% Nếu đem
so sánh với lạm phát tại các quốc gia khác trong khu vực thì con số này
là quá lớn Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi chỉ số CPI có dấu hiệu mất kiểm soát từ giữa năm 2010 Tháng 3/2011, CPI được ghi nhận tăng 2.17% so với tháng 2 Đây là mức cao nhất trong 34 tháng Việc không kiểm soát được lạm phát sẽ kéo theo một loạt tác động trong nền kinh tế (Chart 1 & 2)
Chart 1: Inflation Annualy – Asean countries (Source: JSI)
22.97
9.19
-5 0 5 10 15 20 25
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Vietnam Indonesia Thailand Malaysia Philipines
Trang 5Chart 2: CPI growth rate – Month to date – Vietnam (Source: GSO)
2 Thị trường tín dụng hỗn loạn
Lãi suất cơ bản của Việt Nam cao nhất trong khu vực Sau khủng hoảng tài chính thế giới, trong lúc mức lãi suất tại các quốc gia khác có
xu hướng hạ hoặc ổn định thì lãi suất cơ bản tại Việt Nam là 9%/năm Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng ở mức 13% Lãi suất tiền gửi trên 14% và lãi suất cho vay trên 18% Đặc biệt, sãi suất tín dụng phi sản xuất được đẩy lên tới mức 21%/năm Nhiều ngân hàng thương mại
có dấu hiệu mất thanh khoản trầm trọng Rõ ràng, mức lãi suất này cao hơn tỷ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu tình trạng này kéo dài, hậu quả của nó gây ra trong nền kinh tế sẽ là vô cùng nghiêm trọng (Chart 3
& 4)
Chart 3: Basic interest rate – Year end – Asean country (Source: JSI)
Chart 4: Interbank Interest rate – Vietnam (Source: SBV)
2.17
-0.50 0.00 0.50 1.00 1.50 2.00 2.50 %
6.75
2.75 4.00
9.00
0
2
4
6
8
10
12
2006 2007 2008 2009 2010 2011 Indonesia Thailand Malaysia Philipines Vietnam
0.00 2.00 4.00 6.00 8.00 10.00 12.00 14.00 16.00
Over night 1 Week
3 Month 12 Month
Trang 63 Thị trường tiền tệ đảo lộn
Trong lúc đó, đồng bản tệ của đa số các quốc gia trong khu vực đều
có xu hướng tăng so với USD Đồng bản tệ của Việt nam mất giá nghiêm trọng so với Đôla Mỹ Chỉ trong vòng chưa đến 3 năm, tỷ giá USD/VND
đã tăng tới 28.6% Tình trạng người dân chạy trốn khỏi đồng bản tệ khiến cung ngoại tệ mất cân đối, kỳ vọng lạm phát ra tăng và đồng nội tệ ngày càng mất giá mạnh hơn so với các ngoại tệ khác Nếu một nhà đầu
tư nước ngoài chuyển tiền đầu tư vào Việt Nam, họ nghiễm nhiên chịu
lỗ khi VND mất giá so với đồng bản tệ Với thực tế như vậy, dòng vốn vào Việt Nam giảm rất nhiều so với các năm trước đây (Chart 5)
Chart 5: USD exchange rate at month end – Asean Countries (Source: JSI)
4 Nợ nước ngoài tăng nhanh:
Đến cuối, 2010, nợ nước ngoài của Việt Nam vào khoảng 42.2% GDP trong đó dư nợ của Chính phủ ước tính khoảng 29 tỷ USD Dư nợ chính phủ đã gấp đôi so với 5 năm trước đây Nếu đem so sánh với các quốc gia trong khu vực thì Việt Nam đã leo lên đứng đầu về tỷ lệ này (Chart 6) Theo tiêu chuẩn của IMF tỷ lệ này vẫn nằm trong mức an toàn Bên cạnh đó, vấn đề nợ có phải là xấu hay không còn tùy thuộc vào khả năng trả nợ của quốc gia Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là hiệu quả đầu tư công
ở Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất trong khu vực
Chart 6: Gross external debt as % of GDP – Asean countries (source: JSI)
20,688.00
0 10 20 30 40 50 60
0 5,000 10,000 15,000 20,000 25,000
Vietnam Dong
Indonesia Rupiah
Philippine Peso
Thailand Bath
20.0 25.0 30.0 35.0 40.0 45.0 50.0 55.0 60.0
2005 2006 2007 2008 2009 2010
Trang 75 Dự trữ ngoại hối sụt giảm nghiêm trọng
Dự trữ ngoại hối sụt giảm từ 23 tỷ USD năm 2008 xuống còn
khoảng 17 tỷ USD cuối năm 2010 Tỷ lệ dự trữ so với nợ ngắn hạn cũng đang diễn biến theo hướng xấu đi Dự trữ của Việt Nam đi xuống trong lúc dự trữ của các quốc gia khác được cải thiện đáng kể trong 5 năm trở lại đây Trường hợp điển hình là Thái Lan và Malaysia Hiện thực này càng khiến thị trường tiền tệ trở nên căng thẳng hơn
Chart 7: Intenational reserve – Asean countries (Source: JSI)
6 VINASHIN – quả bom hẹn giờ:
Tháng 9/2010, những tin đồn đầu tiên về việc tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam có thể rơi vào tình trạng mất khả năng trả nợ Đến tháng 12, chính phủ Việt Nam chính thức xác nhận sự việc Tập đoàn này đang không có khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn đầu tiên có giá trị 60 triệu USD Tổng nợ của Vinashin có giá trị 4,4 tỷ USD tương đương 4% GDP Việt Nam 2010 (Tương đương tỷ lệ giữa giá trị nợ của Lehman Brothers sới GDP của Mỹ năm 2008) Cân nhắc lại là hiện Việt Nam chưa có hành lang pháp lý cho phép chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp trong tình trang phá sản Cho dù Chính phủ có thể đưa ra hành lang pháp lý đi nữa thì câu hỏi tiếp theo sẽ là lấy nguồn tiền ở đâu? Chỉ riêng quả bom hẹn giờ này cũng đủ các nhà đầu tư quốc tế lo ngại khi đầu tư vào Việt Nam Vinashin không phải là tổ chức tài chính nên ảnh hưởng của nó sẽ không lớn như Lehman Brothers đối với nền kinh tế
Mỹ nhưng chắc chắn tác động sẽ không nhỏ
7 Đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính suy giảm nhanh chóng:
Mặc dù tổng đầu tư toàn xã hội trong những năm gần đây vẫn được báo cáo tăng, nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh Vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm năm 2010 chỉ đạt 1,8 tỷ USD, giảm 14% so với 2009 và chỉ bằng 30% so với 2008 Chúng ta có thể đổ lỗi cho khủng hoảng tài chính toàn cầu về vấn đề này, thế nhưng sự sụt giảm trong đầu tư trực tiếp nước ngoài còn thể hiện sự kỳ vọng của giới đầu tư quốc tế vào sự phát triển kinh tế trong tương lai Minh chứng rõ hơn chính là giá trị đầu tư trên thị trường chứng khoán Dường như giới đầu
tư đang chạy trốn khỏi các kênh đầu tư tài chính tại Việt Nam (Chart 8)
0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200
2005 2006 2007 2008 2009 2010 Feb 2011
Malaysia reserve (RM Billions)
Other countries (US$Billions)
Vietnam Thailand Philippine Malaysia
Trang 8Chart 8 : Vietnam stock market – Total trading value monthly
Chúng ta có thể thấy rõ ràng về việc Việt Nam đã đánh mất vị thế cạnh tranh của mình so với các quốc gia trong khu vực Đây là vấn đề rất nghiêm trọng vì vị thế cạnh tranh giảm cũng đồng nghĩa với dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài vào sẽ bị co hẹp Việt Nam là một nước đang phát triển, không có lợi thế đặc biệt về tài nguyên, do đó nước này cần dòng chảy vốn đầu tư như một tài nguyên quan trọng bậc nhất để phát triển kinh tế trên cả 2 phương diện là Vốn và công nghệ Như vậy, Việt Nam buộc phải hành động khẩn cấp là điều dễ hiểu Vấn đề còn lại ở đây là tính hiệu quả của những giải pháp Chính phủ sử dụng
0 10,000 20,000 30,000 40,000 50,000 60,000
VND Billions
Hochiminh Stock Exchange Hanoi Stock Exchange
Trang 9PHẦN 2 NGUYÊN NHÂN
10 NĂM PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG DI CHỨNG:
1 Tăng trưởng thay cho ổn định:
Đây không phải là lần đầu tiên tình trạng này diễn ra ở Việt Nam Năm 2008 lạm phát tại Việt Nam cao nhất trong khu vực với kỷ lục xấp
xỉ 23% Bên cạnh đó, năm 2010 CPI bắt đầu tăng cao từ tháng 9/2010 Với kinh nghiệm “sống chung với lạm phát” thì Chính Phủ Việt Nam đương nhiên phải hiểu được tình hình sẽ dẫn đến đâu nếu không có hành động ngăn chặn sớm Thế nhưng mọi thứ vẫn được coi là “chưa nghiêm trọng” cho đến tận tháng 2/2011, sau khi kết thúc Đại hội đảng toàn quốc 11 Tại sao lại như vậy?
Vị thế “Quốc gia có mức thu nhập trung bình”, đây là mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế hàng đầu mà Việt Nam đã theo đuổi trong suốt
10 năm (Báo cáo chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam 2001 - 2005 và 2006 - 2010) Đối với Việt Nam cũng như bất kỳ một quốc gia nào khác, đây là mốc phát triển cực kỳ quan trọng bởi khi không còn là quốc gia có mức thu nhập thấp, khả năng tiếp cận nguồn vốn vay phát triển kinh tế sẽ có bước nhảy quan trọng, đồng thời vị thế quốc gia và sức hấp dẫn của thị trường cũng được nâng lên rất nhiều Tại thời điểm cuối năm 2006, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam mới chỉ đạt 745 USD (theo ước tính của IMF) Năm 2007, chính phủ Việt Nam tuyên bố sẽ đạt mục tiêu trong năm 2008, thế nhưng đến tận cuối năm 2010 thì Ngân hàng thế giới (WB) mới chính thức nâng mức xếp hạng Thu nhập bình quân tăng 50% trong 5 năm không phải là một nhiệm vụ dễ dàng
Một cá nhân hoặc một tổ chức có thể không hoàn thành kế hoạch phát triển, còn một quốc gia thì không Mục tiêu trên chính là lý do vì sao trong suốt một thập kỷ phát triển, Chính phủ Việt Nam luôn lựa chọn “tăng trưởng” thay cho “ổn định”
2 Nền sản xuất phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu nhập khẩu:
Năm 2010, tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu đạt 84 tỷ USD tương đương 80,3% GDP Phần hàng hóa nhập khẩu này đa số là nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất trong nước Các ngành công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu, công nghiệp phụ trợ rất yếu kém và không thể đáp ứng được nhu cầu đầu vào của nền sản xuất với mục đích xuất khẩu
Có thể nói đây là di chứng của chiến lược phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu mà Việt Nam đã và đang sử dụng trong suốt hơn một thập kỷ qua Khi không chủ động được nguyên liệu đầu vào thì dễ bị tác động của biến động giá nguyên liệu thế giới
3 Hệ thống tín dụng dễ bị tổn thương:
Việt Nam hiện tại có 47 Ngân Hàng thương mại cổ phần Tính đến cuối năm 2010 có tới 41 Ngân hàng có vốn điều lệ dưới 180 triệu USD,
Trang 1026 trong số đó có vốn điều lệ dưới 150 triệu USD Theo quy định về an toàn vốn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (SBV) thì mức vốn điều lệ
an toàn được quy định ở 150 triệu USD Quá nhiều ngân hàng có mức vốn điều lệ không an toàn Ở một khía cạnh khác, chỉ trong vòng 3 năm
từ 1991 đến 1993 có tới 27 trong số 47 ngân hàng trên được thành lập trong Trong giai đoạn 1994-1996 có 8 ngân hàng được thành lập Năm
2003 có 1 và số còn lại được thành lập từ 2006 đến 2008 Với số lượng ngân hàng quá lớn tập trung thành lập trong thời gian ngắn, liệu bộ máy lãnh đạo của những ngân hàng này có đủ năng lực quản lý?
Quá nhiều Ngân hàng nhỏ cho một quốc gia nhỏ bé Một ngân hàng nhỏ hơn và ra đời sau sẽ phải cạnh tranh với những đối thủ lớn Trên thực tế, nhóm này thường phải khai thác khu vực thị trường có mức rủi
ro cao hơn rất nhiều so với đối thủ cũ trên thị trường, thêm vào đó, khả năng chịu rủi ro của những ngân hàng này rõ ràng thấp hơn rất nhiều so với đối thủ cạnh tranh Khi gặp rủi ro hệ thống, đây sẽ là những mắt xích
dễ mất thanh khoản nhất và đưa cả hệ thống tín dụng vào rối loạn
Thực tế, trạng thái sức khỏe của nhiều ngân hàng nhỏ tại Việt Nam vẫn đang trong trạng thái “nguy kịch” do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính 2008
Những nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu mối đe dọa của sự tồn tại của những ngân hàng nhỏ và yếu lên nền kinh tế cũng như vai trò xúc tác của nhóm Ngân hàng này Gói giải pháp đầu tiên đã được đưa ra từ khá lâu:
Năm 2006, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra lộ trình 5 năm buộc các ngân hàng phải nâng vốn điều lệ lên tối thiểu 3,000 tỷ VND (tương đương 150 triệu USD tại thời điểm hiện tại) Hạn cuối của lộ trình được xác định là 31/12/2010 Theo kế hoạch này, nếu ngân hàng nào không đáp ứng được yêu cầu tăng vốn thì sẽ phải giải thể hoặc sáp nhập một cách bắt buộc vào một ngân hàng lớn hơn theo sự chỉ định của NHNN
Để đảm bảo kế hoạch thành công, Chính phủ Việt Nam đồng thời thực hiện lộ trình tăng vốn của 04 Ngân hàng Thương Mại Nhà nước là Ngân hàng Đầu tư phát triển, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng Công thương và Ngân hàng Nông nghiệp lên quy mô đủ để thâu tóm những ngân hàng không đủ điều kiện trong trường hợp cần thiết Rất tiếc, kế hoạch tăng vốn của 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh bị gián đoạn
do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Cuối năm
2010, chính phủ Việt Nam cho phép dời hạn tăng vốn của ngân hàng nhỏ đến hết năm 2011
Cũng trong năm 2010, Luật Ngân Hàng và các tổ chức tín dụng và Thông tư 13/2010/NHNN quy định về tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại có hiệu lực cũng là một bước tiến quan trọng trong việc cải thiện an ninh hệ thống Khi sự vận hành của khối ngân hàng bị thắt chặt, những ngân hàng có vấn đề chắc chắn sẽ rơi vào tình