1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên

94 514 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 6,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT --- LÊ QUANG TUẤN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ CÁC LOÀI THÚ NGUY CẤP QUÍ HIẾM TẠI KHU BẢO TỒN THI

Trang 1

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

-

LÊ QUANG TUẤN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ VIỄN THÁM VÀ HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ CÁC LOÀI THÚ NGUY CẤP QUÍ HIẾM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

XUÂN LIÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Nhận thức được giá trị to lớn của đa dạng sinh học (ĐDSH) và đứng trước sự suy thoái nghiêm trọng của nguồn tài nguyên này, trong những năm qua công tác bảo tồn ĐDSH đã được nghiên cứu tạo ra nhiều bước tiến tích cực trong hoạt động nghiên cứu và bảo tồn tài nguyên ĐDSH trên toàn thế giới

Ở Việt Nam bảo tồn ĐDSH được thực hiện từ năm 1962 với sự ra đời của Vườn Quốc Gia (VQG) Cúc Phương Tới nay nước ta đã có hệ thống khu bảo vệ ĐDSH với 30 VQG, 99 Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) [43]

Cùng với sự gia tăng về số lượng và diện tích các KBTTN thì công tác điều tra nghiên cứu, đánh giá ĐDSH ở Việt Nam (VN) cũng thu được các kết quả đáng kể, đặc biệt là các VQG

Khu hệ thú của Việt Nam , đã được nghiên cứu từ những năm 1950 Từ

đó tới nay các nhà sinh học đã không ngừng nghiên cứu, khám phá sự đa dạng, phong phú của các loài thú ở Việt Nam Từ nghiên cứu thành phần loài, tập tính sinh thái tới phân bố của loài thú bằng các phương pháp nghiên cứu truyền thống [23], [24]

KBTTN Xuân Liên có diện tích 27123 ha nằm phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa Khu bảo tồn (KBT) nằm trên vùng đồi núi, địa hình chia cắt sâu mạnh Kết quả điều tra ĐDSH ở KBT cho thấy đây là nơi sinh sống của nhiều loài thú quí hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng như: Bò tót, Gấu ngựa, Vượn đen má trắng, voọc xám…[27]

Viễn thám và Hệ thông tin địa lý (HTTĐL) ra đời từ những năm 1970 tới nay đã trở thành công cụ đắc lực cho các nhà nghiên cứu tới không gian địa

lý, đặc biệt là các nhà sinh học sinh thái Ứng dụng viễn thám trong nghiên cứu phân bố thú cũng được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và thế giới

Ứng dụng viễn thám và HTTĐL để nghiên cứu phân bố thú ở KBTTN Xuân Liên chưa được quan tâm nghiên cứu Xuất phát từ nhu cầu nắm rõ đặc

Trang 3

điểm, điều kiện sinh thái khu vực phân bố của các loài thú ở KBTTN Xuân

Liên đề tài "Ứng dụng công nghệ Viễn thám và Hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên" nhằm phục vụ công tác bảo tồn ĐDSH, bảo vệ các loài thú

nguy cấp quí hiếm ở KBT

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định thành phần loài thú nguy cấp quí hiếm của KBTTN Xuân Liên

và chỉ ra các nhân tố sinh thái chính ảnh hưởng đến phân bố của chúng Xây dựng cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm ở KBTTN Xuân Liên

Nội dung nghiên cứu:

Xác định thành phần loài thú nguy cấp quí hiếm ở KBTTN Xuân Liên theo tiêu chí Sách Đỏ Việt Nam (SĐVN) 2007, Danh lục đỏ IUCN 2011 và Nghị định 32-2006

Xác định các điều kiện sinh thái chính liên quan tới phân bố các loài thú

ở KBTTN Xuân Liên

Xác định ảnh hưởng của đai cao tới sự phân bố của thú

Xây dựng các bản đồ điều kiện sinh thái liên quan tới phân bố phân bố thú ở KBTTN Xuân Liên bằng công nghệ viễn thám và HTTĐL

Xây dựng bản đồ khả năng phân bố cho từng loài thú nguy cấp quí hiếm

ở KBTTN Xuân Liên

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thành lập bản đồ sinh cảnh và vị trí của từng kiểu trong KBTTN Xuân Liên Đánh giá phân bố từng loài thú nguy cấp quí hiếm theo sinh cảnh

Thành lập bản đồ đai cao của KBTTN và đánh giá phân bố của từng loài thú nguy cấp quí hiếm theo độ cao

Trang 4

Tổng diện tích tự nhiên: 27123ha

Giới hạn nội dung: Đề tài chỉ tập trung phân tích đặc điểm sinh thái của các loài thú nguy cấp quí hiếm; điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới phân bố của từng loài thú và định hướng vùng ưu tiên bảo tồn đa dạng sinh học ở KBTTN Xuân Liên

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

5.1 Ý nghĩa khoa học

Vận dụng cơ sở lí luận sinh thái học để phân tích đặc điểm địa lý tự nhiên, các yếu tố sinh thái động vật, sử dụng công nghệ HTTĐL, công nghệ thông tin để phân tích không gian phân bố các loài thú nguy cấp quý hiếm ở KBTTN Xuân Liên

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH ở KBTTN Xuân Liên

6 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương I: Cơ sở khoa học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương II: Đặc điểm sinh thái các loài thú nguy cấp quý hiếm và điều kiện tự nhiên ở Xuân Liên

Chương III: Kết quả nghiên cứu

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 1.1 SINH THÁI HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

1.1.1 Sinh thái học

Tiếp cận sinh thái học (STH) là nghiên cứu về quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và môi trường, sinh vật với sinh vật ở mọi tổ chức từ cá thể, quần thể, đến quần xã và hệ sinh thái Hệ sinh thái (HST) do nhà sinh thái học Anh Tansley đề xuất là “một tập hợp các vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật)

và môi trường vô cơ nơi chúng sinh sống (khí hậu, đất)”, sau đó được các nhà sinh thái học Mỹ kế thừa và phát triển Khái niệm này tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố vô sinh với các yếu tố hữu sinh Nghiên cứu của Holling cũng đưa

ra kết luận: mọi hệ sinh thái đều được điều khiển và tổ chức bởi các loài sinh vật ưu thế và các quá tình vô sinh đặc thù để tạo thành cấu trúc cảnh quan ở tỷ

lệ khác nhau Hệ sinh thái là một hệ thống bao gồm các sinh vật tác động qua lại với môi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định, đa dạng về loài và các chu trình vật chất [34], [40]

1.1.2 Đa dạng sinh học

Đa dạng sinh họccó vai trò quan trọng đối với việc duy trì các chu trình

tự nhiên và cân bằng sinh thái, là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người, sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Thuật ngữ “đa dạng sinh học” (biodiversity, biology diversity) lần đầu được Norse và McManus đưa

ra, bao hàm 2 khái niệm có liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong 1 loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật) Đến nay đã có nhiều định nghĩa cho thuật ngữ

này Theo Công ước ĐDSH (1992) “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể

sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên” [17], [34]

Trang 6

Từ góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở cả 3 mức độ: mức

độ phân tử (đa dạng di truyền), mức độ cơ thể (đa dạng loài) và mức độ HST (đa dạng HST)

1.1.3 Đa dạng sinh ở Việt Nam

Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao trên thế giới Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu… của Việt Nam góp phần tạo nên sự đa dạng về HST và các loài sinh vật Việt Nam là giao điểm của các hệ động thực vật huộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Indo - Malaysia Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong các khu vực có tính ĐDSH cao của thế giới với khoảng 10% số loài sinh vật trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền trên thế giới [2], [25]

1.1.3.1 Đa dạng loài

Số lượng loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn, cấu trúc loài đa dạng, có loài

có nhiều dạng sống, khả năng thích ứng cao, có đặc tính chống chịu cao đối với các thay đổi của yếu tố và điều kiện ngoại cảnh, đã xác định ở Việt Nam

có hơn 1000 loài thực vật, 300 loài thú, 1000 loài chim….[17]

1.1.3.2 Đa dạng hệ sinh thái

ĐDSH ở Việt Nam còn thể hiện ở tính phong phú của các mối quan hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học, giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể cùng loài; mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng

Các HST Việt Nam phần lớn nhạy cảm, tính mềm dẻo sinh thái cao, luôn

ở trong trạng thái hoạt động mạnh, năng suất sinh học cao do đó thường rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài (kể cả tác động của thiên nhiên cũng như những tác động của con người) [34]

1.1.4 Bảo tồn ĐDSH

1.1.4.1 Khái niệm và các hình thức bảo tồn

Bảo tồn ĐDSH bao gồm các hoạt động liên quan đến bảo tồn các loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cơ quan thông qua việc bảo

Trang 7

tồn các HST và việc khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên sinh vật Các hình thức bảo tồn gồm bảo tồn nội vi (In-situ) và bảo tồn ngoại vi hoặc bảo tồn nguyên vị hoặc bảo tồn ngoại vị

Theo WWF (Wolrd Wild Fund for Nature – Quỹ hoang dã) bảo tồn ngoại vị là việc duy trì một loài bằng hình thức nuôi nhốt các loài ng bị đe dọa và sau đó thả chúng vào tự nhiên Nơi bảo tồn ngoại vị là các vườn nuôi dưỡng động vật, thực vật, các thảo cầm viên…Bảo tồn nguyên vị là quá trình duy trì trạng thái tự nhiên của các đối tượng bảo tồn ở mức độ tối đa nhất Nơi bảo tồn nguyên vị lý tưởng nhất là các khu bảo vệ Bảo tồn nguyên vị là hình thức thực tế nhất, hiệu quả nhất Trong môi trường tự nhiên của một loài, một đối tượng mới có thể phát triển thông qua các quá trình tự nhiên hoàn thành các vai trò sinh thái của chúng cũng như duy trì tính thích ứng của chúng Theo Richard P.Primark: Khái niệm bảo tồn nguyên vị hay bảo tồn tại chỗ dùng để chỉ ra chiến lược tốt nhất nhằm bảo tồn lâu dài các quần xã và quần thể ngay trong điều kiện tự nhiên Chỉ trong tự nhiên các loài mới có khả năng tiếp tục quá trình thích nghi tiến hóa đối với môi trường đang thay đổi trong các quần xã tự nhiên của chúng Bảo tồn chuyển vị (bảo tồn ngoại vị) là những khái niệm dùng để chỉ các hành động bảo tồn những loài có nguy cơ tuyệt chủng trong những điều kiện nhân tạo dưới sự giám sát của con người, vườn ươm, bể nuôi, vườn thú, gen,…

Bảo tồn các quần xã sinh vật nguyên vẹn là cách bảo tồn có hiệu quả nhất toàn bộ tính ĐDSH Có ý kiến còn cho rằng đó là cách duy nhất để bảo tồn loài bởi vì các nguồn lực và kiến thức mà chúng ta có được chỉ đủ để gìn giữ một phần nhỏ các loài trong điều kiện nhân tạo Có 3 cách bảo tồn quần

xã sinh vật, đó là xây dựng các khu bảo tồn, thực hiện các biện pháp bảo tồn bên ngoài khu vực bảo tồn và phục hồi các quần xã sinh vật tại nơi cư trú bị suy thoái [17], [25]

1.1.4.2 Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam

Ở Việt Nam bảo tồn ĐDSH được tiến hành khá sớm với 2 hình thức phổ biến là bảo tồn ngoại vị và bảo tồn nguyên vị

Trang 8

Ngày 17/9/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 192/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống KBTTN của Việt Nam đến năm 2010 Trước năm 2003 Việt Nam có 3 loại khu bảo vệ đó là: Vườn Quốc gia, KBTTN, Khu Văn hoá - Lịch sử và Môi trường (Khu bảo vệ cảnh quan) KBTTN được chia thành hai phân hạng phụ: Khu dự trữ thiên nhiên và khu bảo tồn loài/sinh cảnh [43]

Tổng diện tích bảo tồn của Việt Nam đạt khoảng 7,7% diện tích lãnh thổ Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới “tỉ lệ diện tích bảo tồn thiên nhiên của một quốc gia nên đạt ở mức lớn hơn 10% diện tích lãnh thổ” Nhiều Vườn Quốc gia, khu bảo tồn của Việt Nam là di sản thiên nhiên thế giới và Di sản thiên nhiên ASEAN

1.2 NGHIÊN CỨU THÚ

Nghiên cứu thú (Mamalia) đã được tiến hành từ lâu, nơi nay đã thống kê

288 loài có hình thái đa dạng và phong phú, từ các loài thú sống trong hang, hoạt động trên mặt đất đến các loài thú sống và hoạt động trên cây, từ các loài thú chạy nhảy trên mặt đất đến các loài thú bay liệng trên không trung, từ các loài thú ở biển đến các loài thú sống trên đất liền, chúng đều có nhiều đặc điểm hình thái phù hợp để thích nghi với môi trường sống và hoạt động [17] Khu hệ thú Việt Nam đa dạng về thành phần loài nhưng phân bố tập trung chủ yếu ở các vùng rừng núi thuận lợi cho các hoạt động và tìm kiếm các loài thức ăn Ở các vùng đồng bằng, ven biển, thành phố làng mạc thú thường gặp chủ yếu là chuột, thú ăn sâu bọ, loài chồn và một số loài dơi Thành phần loài thú khác nhau Theo từng vùng địa lý có địa hình, khí hậu và thảm thực vật khác nhau, có số lượng loài và thành phần loài thú cũng khác nhau

Theo các tài nghiên cứu KBTTN Xuân Liên có 61 loài thú thuộc 24 họ,

8 bộ

Bos gaurus Trachypithecus phayrei Hylobates leucogenys, Gấu ngựa Ursus thibetanus…[27], [58]

Trang 9

Các loài thú nguy cấp bị đe dọa của đề tài là các loài thuộc KBTTN Xuân Liên được xác định theo 3 chỉ tiêu Sách Đỏ Việt Nam (SĐVN) 2007, Danh lục đỏ IUCN 2011 và Nghị Định 32-2006 Sách Đỏ Việt Nam là danh sách các loài động vật, thực vật ở Việt Nam thuộc loại quý hiếm, đang bị giảm sút số lượng hoặc có đã nguy cơ tuyệt chủng Sách Đỏ IUCN hay gọi tắt

là Sách Đỏ (tiếng Anh là IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red

List hay Red Data List) là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các

loài động vật và thực vật trên thế giới Danh sách này được giám sát bởi Liên

minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of

Nature and Natural Resources, IUCN) Nghị định 32/2006/NĐ-CP là nghị

định của chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm Thông tin cụ thể về các tài liệu được đưa ở phụ lục 1[1], [26], [32]

1.3 VIỄN THÁM VÀ HTTĐL TRONG NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ THÚ

Theo nghĩa rộng, viễn thám là môn khoa học nghiên cứu việc đo đạc, thu thập thông tin về một đối tượng, sự vật bằng cách sử dụng thiết bị đo qua tác động một cách gián tiếp với đối tượng nghiên cứu [35]

Trong lĩnh vực ĐDSH và bảo tồn, Viễn thám được sử dụng để xây dựng bản đồ, cơ sở dữ liệu (CSDL), phân tích thảm thực vật, các hệ sinh thái, các thủy vực…Các ảnh viễn thám thường dùng hiện nay ở Việt Nam là ảnh vệ tinh LandSat, ảnh vệ tinh SPOT 5

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa hệ thông tin địa lý Nếu xét dưới góc độ hệ thống thì HTTĐL có thể được hiểu như một hệ thống gồm các thành phần: con người, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và quy trình-kiến thức chuyên gia, quản lý Dưới góc độ sinh học, HTTĐL là công cụ phân tích, lưu trữ, cập nhật xây dựng và quản lý nhiều loại thông tin nhưng có mối liên hệ tuyến tính không gian Sản phẩm của HTTĐL có thể là bộ cơ sở dữ liệu (data base) quản lý bằng phần mềm HTTĐL hoặc bản đồ chuyên đề

Trang 10

1.3.1 Nghiên cứu phân bố động vật bằng công nghệ HTTĐL và Viễn Thám trên thế giới

Ở các nước phát triển như Mỹ và châu Âu, HTTĐL được sử dụng để nghiên cứu sinh thái trong đó có xây dựng bản đồ phân bố thú từ rất lâu Hiện nay công nghệ HTTĐL cùng tư liệu Viễn thám, Hệ thống định vị toàn cầu (tiếng Anh viết tắt là GPS – Global Positioning System) trở thành công cụ đắc lực, được sử dụng trong nghiên cứu sinh thái, xây dựng bản đồ phân bố

các loài thú

Ở Thái Lan, trong chương trình bảo tồn Báo (Clouded Leopard) đã xây

dựng bản đồ “Wildlife Habitat Suitability Mapping” phân bố động vật hoang

dã tại miền bắc Thái Lan (KBTTN: Phusitan) bằng ảnh vệ tinh LANDSAT, GPS và HTTĐL [56]

Ở các nước đang phát triển công nghệ này còn hạn chế, nhưng trong nghiên cứu sinh học với lợi thế của HTTĐL việc ứng dụng trong nghiên cứu phân bố thú cũng phát triển nhanh trong thời gian gần đây Chương trình bảo tồn gorilla toàn cầu (IGCP) và các VQG nước Cộng hoà Côngô (2001) sử dụng HTTĐL để xây dựng vùng phân bố và “hành lang xanh” cho loài phát triển và tồn tại lâu dài Khi kết hợp với GPS, các thông tin thu được cho phép hiển thị sự phân bố, mối quan hệ giữa gorilla và nhiều yếu tố của hệ sinh thái (tình trạng sử dụng tài nguyên rừng và sự di chuyển của gorilla; mối quan hệ giữa cây lương thực và sự di chuyển của gorilla )

Nghiên cứu phân bố động vật nói chung, thú nói riêng là lĩnh vực khoa học liên quan đến nhiều lĩnh vực: địa lý, địa chất, các lý luận của khoc học khác ngoài sinh vật Trong nhiều trường hợp nếu không sử dụng rất khó giải thích các vấn đề về phân bố loài trên thực tế

Trang 11

Trên thế giới, việc sử dụng kết quả nghiên cứu về nơi sống, khu vực phân bố phục vụ hoạch định bảo tồn ngày càng phát triển Phân bố loài là cơ

sở cho việc hoạch định chính sách chiến lược bảo tồn quốc gia, và là cơ sở cho việc phân tích đánh giá kế hoạch bảo tồn loài [63]

Tóm lại: Trên thế giới đã phát triển việc nghiên cứu phân bố trên cơ sở phân tích đặc điểm sinh thái, điều kiện tự nhiên của khu vực với sự trợ giúp của HTTĐL, viễn thám và GPS

1.3.2 Nghiên cứu phân bố động vật bằng công nghệ HTTĐL và Viễn thám ở Việt Nam

Trước những năm 1990, việc xây dựng bản đồ phân bố của một loài sinh vật chỉ là bản đồ phân bố dạng điểm dựa trên kết quả khảo sát, điều tra, phỏng vấn Trong những năm gần đây, việc ứng dụng các công nghệ HTTĐL, viễn thám, Hệ thống định vị toàn cầu trong nghiên cứu sinh thái đã được phổ biến rộng rãi hơn, thay cho công nghệ can vẽ bản đồ trên nền các bản đồ chuyên đề như địa hình, thảm thực vật… Tuy nhiên, việc sử dụng HTTĐL để nghiên cứu phân bố, trên cơ sở phân tích tổng hợp đặc điểm sinh thái, điều kiện tự nhiên của lãnh thổ còn hạn chế, chỉ dừng lại ở phân bố dạng điểm và dựa trên kết quả điều tra

Tại ĐakLak và VQG Yok Đon, dự án PARC đã xây dựng bản đồ phân

bố loài Công (Pavo munticus) dựa trên kết quả khảo sát tính điểm Bản đồ thể

hiện các điểm bắt gặp loài, độ lớn của điểm thể hiện số lượng cá thể bắt gặp Đối với nghiên cứu các loài thú lớn, một số dự án hợp tác với nước ngoài như: Voọc mũi hếch (KBTTN Na Hang, Tuyên Quang - Dự án PARC); Voi (VQG YokDon, ĐăkLăk - Dự án PARC), Sao la (VQG Pù Mát, Nghệ An, VQG Vũ Quang, Hà Tĩnh - Dự án SFNC) đã sử dụng HTTĐL và GPS nghiên cứu phân bố ở mức chấm điểm khảo sát [6]

Trang 12

Năm 2005, Viện Sinh thái ứng dụng (Instituto Ecologia Applicata - IEA)

- Italia và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (ST&TNSV) thực hiện đề tài nghiên cứu thú lớn, có sử dụng GPS; năm 2006 Lê Xuân Cảnh cùng cộng sự

đã ứng dụng công nghệ HTTĐL và GPS nghiên cứu phân bố một số loài thú lớn ở khu vực miền Trung Việt Nam, [5]

Năm 2008, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thực hiện đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu phân bố các loài thú lớn ở Việt Nam bằng công nghệ hệ thông tin địa lý (HTTĐL) và hệ thống định vị toàn cầu (GPS)” [4]

Một số công trình bài báo nghiên cứu về phân bố thú là:

“Sử dụng Hệ thông tin địa lý (HTTĐL) để xây dựng mô hình phân bố loài, lấy ví dụ loài sao la (Pseudoryx nghetinhhensis) ở Việt Nam ”, tác giả Lê Xuân Cảnh, Hà Quý Quỳnh, Trần Thanh Tùng đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ, 2009 [4]

“Tiếp cận công nghệ Web GIS trong nghiên cứu phân bố thú, lấy ví dụ phân bố thú lớn ở miền trung Việt Nam”, tác giả Lê Xuân Cảnh, Lê Minh Hạnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh đăng trên Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lân thứ 3, 2009 [3]

Tóm lại: Ứng dụng HTTĐL và viễn thám để nghiên cứu phân bố thú ở Việt Nam mới phát triển trong 10 năm trở lại đây Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung thể hiện sự phân bố theo dạng điểm, mức độ số lượng loài;

cá thể được thể hiện theo kích thước điểm Việc nghiên cứu các loài dựa trên phân tích tổng hợp các điều kiện sinh thái và đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ chưa phát triển đặc biệt là với một khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 13

1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Kết quả khảo sát năm 2011, 2012 của Viện ST&TNSV và tổng hợp các tài liệu đã nghiên cứu trước đây cho thấy khu vực nghiên cứu có 61 loài thú thuộc 24 họ, 8 bộ

Sử dụng SĐVN 2007, danh lục đỏ IUCN 2011 và nghị định 32-2006 của Chính phủ để xác định các loài thú nguy cấp quí hiếm ở KBTTN Xuân Liên Kết quả đánh giá chỉ ra có 10 loài thú nguy cấp quí hiếm tại KBT (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Danh sách các loài thú nguy cấp quí hiếm nghiên cứu tại KBTTN

2006

Nguồn thông tin

1 Tê tê vàng Manis pentadactyla

Trang 14

10 Sơn dương Naemorhedus summatraensis

(Becsinh cảnhein, 1799) Nguy cấp VU S

Ghi chú: S là nhìn thấy, O là thu được mẫu vật, H là nghe tiếng

Trong các loài này có 8 loài xếp hạng VU, 2 loài xếp hạng E trong SĐVN 5 loài hạng VU, 2 loài hạng EN trong danh lục đỏ IUCN 5 loài bậc IIB, 4 loài bậc IB theo NĐ 32-2006 Đề tài chọn 10 loài thú nguy cấp quí hiếm nêu trên để nghiên cứu phân bố

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các số liệu về kinh tế xã hội theo Niên giám thống kê của tỉnh được xuất bản trên cổng thông tin điện tử của tỉnh

Thành phần loài động vật, thực vật chủ yếu sử dụng từ kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, số liệu xuất bản của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới

Thu thập thông tin từ các công trình, bài báo… đã có tại KBTTN Xuân Liên về các loài thú nằm trong danh lục đỏ IUCN và Sách Đỏ Việt Nam Để

Trang 15

có danh sách loài chúng tôi thừa kế nhiều tài liệu từ ban quản lý KBTTN Xuân Liên, chi cục kiểm lâm Thanh Hóa, nghiên cứu của Birdlife, VCF… các loài nguy cấp quí hiếm căn cứ vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, Danh lục đỏ

IUCN 2011 và Nghị định 32-2006

Với các loài thu được thông tin ngoài thực địa chúng tôi xác định loài dựa vào các tài liệu nhận dạng có ảnh màu của các tác giả Việt Nam và nước ngoài như của Smith et al 2008; Francis 2008 và Lekagul et al 1988 So sánh với mẫu vật của bảo tàng động vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Ngoài ra có thể nhờ sự tư vấn của các chuyên gia động vật

1.5.2 Phương pháp bản đồ

Bản đồ vừa là nội dung vừa để thể hiện kết quả nghiên cứu Phương pháp bản đồ được sử dụng để thành lập các bản đồ chuyên đề phục vụ phân tích chuyên ngành Các bản đồ được sử dụng ở mỗi VQG theo tỉ lệ 1:50.000 Bản đồ chuyên đề tham khảo theo tỉ lệ 1:100.000

1.5.3 Phương pháp viễn thám, hệ thống thông tin địa lí

Phương pháp hệ thống thông tin địa lí được sử dụng nhằm thể hiện các đối tượng, phân tích, tách chiết và tổng hợp các thông tin về đối tượng Trong quá trình thực địa, máy GPS được sử dụng để xác định tọa độ địa lý trên thực địa, sau đó tiến hành tích hợp với bản đồ nền thảm thực vật Để thành lập bản

đồ thảm thực vật chúng tôi sử dụng ảnh vệ tinh LandSat (Hình 1.1)

Trang 16

Hình 1.1 Ảnh vệ tinh LandSat KBTTN Xuân Liên

Sử dụng HTTĐL để xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ địa hình, thuỷ văn, thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật Mỗi lớp thông tin được nắn chỉnh, đồng bộ hệ tọa độ Sử dụng các phần mềm xử lý thông tin HTTĐL và Viễn thám đề phân tích, giải đoán các số liệu viễn thám, không gian Ứng dụng HTTĐL kết hợp với các phương pháp nghiên cứu truyền thống đã phát huy tối đa tác dụng của phương pháp truyền thống góp phần tự động hoá các thao tác, tiết kiệm thời gian

1.5.4 Điều tra thực địa

Điều tra thực địa gồm 2 phần là điều tra phân bố thú và đánh giá sinh cảnh

1.5.4.1 Điều tra phân bố thú

Trang 17

Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 10 năm 2012 Chúng tôi đã thực hiện 3 đợt điều tra thực địa Đợt 1vào tháng 11 năm 2011, đợt 2 vào tháng 4 năm 2012 và đợt 3 vào tháng 8 năm 2012

- Phỏng vấn người dân: Chọn phỏng vấn những người thường đi săn bắt động vật rừng hoặc thường xuyên đi rừng để khai thác các lâm sản Trong quá trình phỏng vấn ảnh màu của các loài thú được sử dụng để hỗ trợ xác định loài, ngoài ra các mẫu vật và bộ phận của thú (sừng, da, xương, động vật nhồi trang trí, ) hoặc các con vật được người dân bắt nuôi cũng sẽ được thu thập nghiên cứu Các kiểm lâm và quản lý rừng ở địa phương cũng là những đối tượng được phỏng vấn

- Điều tra theo tuyến: Các tuyến điều tra xuyên qua các dạng sinh cảnh khác nhau của mỗi khu vực khảo sát và thường có chiều dài 3-5km mỗi tuyến tùy thuộc vào điều kiện địa hình (Hình 1.2) Các dụng cụ để quan trắc chính gồm ống nhòm, máy ảnh, máy ghi âm,… Sử dụng bản đồ địa hình 1/50000 và máy định vị địa lý GPS để xác định toạ độ các khu vực điều tra cũng như các điểm quan sát được động vật hoặc dấu vết của chúng

- Khảo sát các điểm uống nước, điểm khoáng, điểm kiếm ăn: Mục đích

là quan sát trực tiếp thú và các dấu vết hoạt động (dấu chân, phân, vết ăn, tiếng kêu, ) Để xác định các điểm khảo sát đựa vào kết quả của các đợt điều tra trước đây, hoặc qua các thông tin phỏng vấn

- Sưu tầm mẫu vật thú nhỏ: Sử dụng bẫy bắt thông dụng trong nghiên cứu động vật Sử dụng lưới mờ có kích thước 12 x 3m; 18 x 3m để bắt dơi Lưới được đặt ngang các đường mòn và suối nhỏ trong rừng hay gần các hang động, Lưới được đặt riêng biệt ở nhiều địa điểm để tăng hiệu quả thu thập mẫu vật Lưới được mở từ 18:00 đến 23:00 và 4:00 - 5:00 sáng Khảo sát các hang động dùng vợt tay hay lưới mờ để bắt dơi (Hình 1.3, 1.4)

Trang 18

Hình 1.2 Các tuyến khảo sát thực địa

Thực hiện 3 đợt khảo sát thực địa Đợt 1 khảo sát tại xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân Đây là khu vực được đánh giá có mức đa dạng cao nhất trong khu bảo tồn Tại khu vực này người dân địa phương bắt được các loài thú trong đó có các loài nguy cấp quý hiếm

Hình 1.3 Bẫy lồng để bắt chuột Hình 1.4 Lưới mờ để bắt dơi

Đợt thực địa đợt 2 và 3 tại xã Vạn Xuân huyện Thường Xuân và các vùng lân cận Ở đợt khảo sát này 20 bẫy lồng, 30 bẫy kẹp được sử dụng Bẫy

Trang 19

được đặt đồng thều theo các sinh cảnh và theo độ cao Phỏng vấn người dân ở

4 thôn giáp với KBT, các mẫu vật được lưu giữ trong nhà người dân cũng được thu thập và phân tích (Hình 1.5, 1.6)

Hình 1.5 Xử lý mẫu tại điểm thực

địa

Hình 1.6 Mẫu răng thu được ngoài

thực địa 1.5.4.2 Điều tra đánh giá sinh cảnh

Sử dụng sinh cảnh bằng máy ảnh tích hợp GPS chụp các sinh cảnh trong KBT Số liệu này để đánh giá, chỉnh sửa và cập nhật kết quả giải đoán ảnh vệ tinh Trong 3 đợt thực địa đã chụp hơn 1000 điểm sinh cảnh, tại các xã Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân (hình 1.7)

Trang 20

Hình 1.7 Các điểm kiểm tra sinh cảnh

Tóm lại nghiên cứu phân bố các loài thú trên cơ sở phân tích, tổng hợp các đặc điểm sinh thái và điều kiện tự nhiên bằng công nghệ HTTĐL và viễn thám đã phát triển trên thế giới từ những năm 1990 Ở Việt Nam, lĩnh vực này mới phát triển từ những năm 2000

Công nghệ HTTĐL và viễn thám ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng trong nghiên cứu phân bố thú Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu phân

bố của 10 loài thú quý hiếm, nguy cấp ở KBTTN Xuân Liên sẽ nâng cao tính chính xác của kết quả, rút ngắn thời gian nghiên cứu so với các phương pháp nghiên cứu truyền thống

Trang 21

Tổng hợp phương pháp nghiên cứu được thể hiện ở sơ đồ sau:

Hình 1.8 Sơ đồ qui trình nghiên cứu

DỮ LIỆU ĐẦU VÀO

BẢN ĐỒ SINH

THÁI

BẢN ĐỒ ĐAI CAO

PHÂN TÍCH

MỨC ĐỘ

THÍCH HỢP

PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ THÍCH HỢP

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH HỢP CHO PHÂN BỐ THEO SINH CẢNH VÀ ĐAI CAO

GIS

Trang 22

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CÁC LOÀI THÚ QUÝ HIẾM

VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Ở XUÂN LIÊN

Để nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm ở KBTTN Xuân Liên, đề tài phân tích các yếu tố sinh thái, địa hình liên quan đến phân bố của

10 loài thú nghiên cứu

2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA CÁC LOÀI THÚ NGUY CẤP QUÝ HIẾM Ở XUÂN LIÊN

2.1.1 Tê tê vàng (Mami pentadactyla (Linneus 1758))

Phân bố ở Việt Nam: Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Bắc Giang, Vĩnh Phú, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây, Nghệ

An, Quảng Trị, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng

Đặc điểm sinh thái: Sống trong rừng ẩm nhiệt đới thường xanh nguyên sinh, thứ sinh, RHGTN gỗ Loài này phân bố thích hợp với độ cao dưới 700

m và mức độ thích hợp này giảm dần, ở độ cao trên 1200m ít thích hợp cho

Tê tê (hình 2.1)

Hình 2.1 Tê tê vàng (nguồn Internet)

2.1.2 Cu li lớn (Nycticebus bengalensis (Lecepede 1800))

Tên khác: Cu li lớn, cù lần, chỉ gió, xấu hổ, linh kè, nà nhúm (Tày, Nùng), mong lì (Mường), lình lom (Thái) (hình 2.2)

Trang 23

Hình 2.2 Cu li lớn (ảnh Trịnh Việt Cường)

Phân bố ở Việt Nam: Ở Miền Bắc và Trung Việt Nam Cu li lớn phân bố ở: Lào Cai (Văn Bàn), Yên Bái (Ta Lang), Tuyên Quang (KBTTN Bản Bung- Tát Kẻ), Bắc Cạn (Đình Cả, Bản Thi, VQG Ba Bể, Chợ Rã), Sơn La (KBTTN Sốp Khộp), Phú Thọ (VQG Xuân Sơn), Thái Nguyên (Thần Xa), Vĩnh Phúc (VQG Tam Đảo), Lạng Sơn (Hoa Thông), Hòa Bình (KBTTN Hang Kia- Pà

Cò, Đà Bắc), Ninh Bình (VQG Cúc Phương), Thanh Hóa (VQG Bến En, KBTTN Xuân Liên, Pù Luông), Nghệ An (VQG Pù Mát, KBTTN Pù Hoạt) Đặc điểm sinh thái: Khu vực sống chủ yếu là các khu: Rừng tre nứa, RNĐ TXNS, cây bụi, RNĐ TXTS thứ sinh Chúng thích các vị trí trên đỉnh núi hoặc đỉnh giông có thể cao tới 1300 so với mực nước biển Độ cao ưa thích là 700m đến 1200m

2.1.3 Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus (Bonhote 1907))

Phân bố ở Việt Nam: Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Giang, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ

An, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Kom Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh

Trang 24

Điều kiện sinh thái: Chúng thích nghi với điều kiện rừng thưa, thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm, ven rừng, trên nương rẫy Sinh cảnh ưa thích là RHGTN, RNĐ TXNS, thứ sinh

Trang 25

Điều kiện sống: Khỉ mặt đỏ thường sống trong các khu rừng nhiệt đới thường xanh nguên sinh, thường xanh thứ sinh, rừng khô và cả rừng trên núi cao tới 2000m Độ cao ưa thích của chúng là từ trên 300m

2.1.5 Khỉ mốc (Macaca assamensis (Mccleland 1840))

Phân bố ở Việt Nam: Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Tây, Hoà Bình, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Tây Nguyên

Điều kiện sinh thái: Sống trong rừng cây cao trên núi đá, núi đất, sống phần lớn ở rừng ẩm thường xanh, rừng thường xanh thứ sinh, RHGTN Khỉ mốc thường sinh sống dọc theo những con sông trong các khu rừng nhiệt đới

và cận nhiệt đới, chúng có thể được tìm thấy ở nhiều khu vực có độ cao khác nhau, độ cao ưa thích từ 200 m cho đến 4.000 m

Hình 2.5 Khỉ mốc (ảnh Đặng Huy Phương)

2.1.6 Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys (Ogilby 1840))

Phân bố ở Việt Nam: Lai Châu (Mường Lay, Mường Tè, KBTTN Mường Nhé), Thanh Hoá (Hồi Xuân, KBTTN Xuân Liên, VQG Bến En, Như Xuân, Như Thanh), Nghệ An (KBTTN Pù Hoạt, KBTTN Pù Mát, KBTTN Pù Huống, KBTTN Pù Hoạt), Hà Tĩnh (VQG Vũ Quang)

Trang 26

Hình 2.6 Vượn đen má trắng (ảnh Nguyễn Vũ Khôi)

Điều kiện sống: Vượn đen má trắng thường sống trong sinh cảnh rừng già trên đỉnh núi cao hoặc trong các khu rừng nguyên sinh như RNĐ TXNS , rừng thứ sinh, rừng trên núi đá Loài này thường ở độ cao trên 300m, ưa thích nhất độ cao trên 1200m

2.1.7 Gấu ngựa (Ursus thibetanus (Cuvier 1823))

Tên khác: Gấu đen Tây Tạng, Gấu đen Himalaya (hình 2.7)

Hình 2.7 Gấu ngựa (ảnh Nguyễn Vũ Khôi)

Trang 27

Điều kiện sống: Gấu sống chủ yếu ở rừng già, rừng đầu nguồn, rừng khộp, rừng tre nứa Ưa thích độ cao trên 1200m Chúng thường sống ở sinh cảnh RNĐ TXNS, thứ sinh, RHGTN Có thể thích nghi tốt ở độ cao 300m đến 1200m

Phân bố ở Việt Nam: Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng Gấu ngựa phân bố rộng ở các tỉnh vùng rừng núi từ Bắc tới Nam

2.1.8 Cheo cheo nam dương (Tragulus javanicus (Osbeck, 1765))

Tên khác: Cheo cheo (Việt; Chơ roi (Bana, Êđê) (hình 2.8)

Hình 2.8 Cheo cheo nam dương (nguồn Internet)

Phân bố ở Việt Nam: Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak, Đăk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh

Điều kiện sống: Điều kiện sống của Cheo cheo phụ thuộc vào nguồn thức ăn Thức ăn chủ yếu của Cheo cheo là quả các loại cây: nhội, trám chua, trám trắng, trám đen, sấu Sinh cảnh ưa thích là RNĐ TXTS, nguyên sinh Cheo cheo nam dương thường sống ở độ cao dưới 300m

Trang 28

2.1.9 Bò tót (Bos gaurus (H Sminth, 1827))

Tên khác: Bò tót, conmin (Việt), ngưu pá (Thái), tà sú (H’ Mông), zông (Cà Tu) (hình 2.9)

2.1.10 Sơn dương (Naemorhedus summatraensis (Becsinh cảnhein, 1799))

Tên khác: Sơn dương, dê rừng, con than (Việt), Khể (Mường), Tu kít, Tu đáng, tu dương (Thái, H’Mông) (hình 2.10)

Trang 29

Hình 2.10 Sừng Sơn dương do người dân thu được tại xã Vạn Xuân,

huyện Thường Xuân

Phân bố tại Việt Nam: Sơn dương phân bố rất rộng ở nhiều vùng núi đá

ở miền Bắc, miền trung và Tây Nguyên, tại các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng (đảo Cát Bà), Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế - Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Ba Vì (Hà Nội), Phước Bình (Ninh Thuận)

Điều kiện sống: Sơn dương sinh sống chủ yếu ở những vùng núi đá ở độ cao 50-2000m so với mặt nước biển, đôi khi chúng sống ở vùng núi đất, núi

đá xen núi đất Hoạt động kiếm ăn ở lưng chừng núi nơi có rừng thưa, ngay cả những nơi nhiều đá lởm chởm độ dốc lớn và trên đỉnh núi vẫn quan sát được Sơn dương, rất ít gặp Sơn dương ở thung lũng, chân núi và ven nương rẫy

2.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN Ở KBTTN XUÂN LIÊN

2.2.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên thuộc địa bàn huyện Thường Xuân, cách Thành phố Thanh Hoá 60km, về hướng Tây Nam có toạ độ địa lý:

190052' – 200002' độ vĩ Bắc

1030058' – 1050015' độ kinh Đông

Với vị trí địa lý tiếp giáp KBTTN Pù Hoạt (Nghệ An) và KBTTN Nậm

Trang 30

Xam, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã tạo ra sinh cảnh sống liên hoàn cho khu hệ động thực vật góp phần làm tăng thêm sự phong phú và đa dạng Theo quyết định thành lập tháng 12 năm 1999 KBTTN Xuân Liên có tổng diện tích là 27.123,2 hathuộc địa bàn 5 xã (Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, Lương Sơn) (hình 2.11) [20]

Hình 2.11 Vị trí KBTTN Xuân Liên (Nguồn: phòng STVT, Viện

ST&TNSV)

Nằm trong vùng núi Bắc Trường Sơn, KBTTN Xuân Liên có vị trí thuận lợi cho sự phát triển các loài cây nhiệt đới Đây là điều kiện đầu tiên và quan trọng đối với sự cấu thành sinh cảnh rừng nhiệt đới của 10 loài thú nguy cấp, quý hiếm nêu trên

Trang 31

Hình 2.12 Bản đồ địa hình, thủy văn KBTTN Xuân Liên (Nguồn: Phòng

STVT, Viện ST&TNSV)

Địa hình bị chia cắt bởi những thung lũng sâu và hẹp Các sườn dốc từ tây sang đông Địa hình phía đông đặc trưng là vùng chân núi có độ dốc vừa phải, nhiều trong số hàng loạt các sông suối trong vùng này chảy tương đối phẳng lặng mang phù sa cho các nhánh của nó [27]

Độ cao địa hình ở KBT phân bố không đều: Phần lớn KBT có độ cao dưới 300m, chiếm trên 50% diện tích Khu vực có độ cao trên 1200 chiếm diện tích nhỏ, thấp hơn 10% diện tích

Trang 32

2.2.3 Khí hậu, thủy văn

KBTTN Xuân Liên có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa tập trung theo mùa Lượng mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm hơn 70% lượng nước Mưa ít từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau, chiếm dưới 30% lượng mưa cả năm

Khu bảo tồn có địa hình đón gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Đây là điều kiện để hình thành lượng mưa lớn của vùng Ngoài gió mùa Đông Nam, khu vực còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô và nóng

Hệ thống thủy văn của KBT được đặt trưng bởi các sông: Sông Khao ở phía Bắc, Đông Bắc của KBT hợp nhau với sông Chu ở phía Nam, Đông Nam Hồ Thủy Điện Cửa Đạt chia cắt KBT thành 2 khu: Khu Bắc – Tây Bắc

và khu Nam – Đông Nam [27], [58]

Với điều kiện thủy văn nêu trên kết hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới mưa nhiều tạo cho KBT có điều kiện ẩm thuận lợi cho sự phát triển các loài thực vật, tạo nên môi trường sống thuận lợi cho các loài thú

2.2.4 Thảm thực vật

Hình 2.13 Bản đồ thảm thực vật ở KBTTN Xuân Liên (Nguồn: Phòng

STVT, ST&TNSV)

Trang 33

Theo phân loại thảm thực vật của FAO Unesco 1973 bao gồm các bậc phân loại sau [65]:

- Lớp quần hệ (Formation class)

- Phân lớp quần hệ hay phụ lớp quần hệ (Formation subclass)

- Nhóm quần hệ (Formation group)

Sinh cảnh RNĐ TXNS có các họ chiếm ưu thế gồm: Long não, Mộc lan, Sến, Thầu dầu, … Kiểu rừng này ít bị tác động, tính nguyên sinh cao có nhiều loài động vật sinh sống Diện tích 4289 ha Phân bố trên địa hình hiểm trở và rừng vẫn còn giữ được tính nguyên trạng, có nhiều loài thú lớn sinh sống Rừng có 5 tầng rõ rệt

Sinh cảnh RNĐ TXTS đặc trưng bởi các loài thuộc các họ: họ Đậu, họ Thiên lý, họ Cà Phê, họ Xoan, họ Dẻ, họ Dầu…Ở độ cao dưới 700 m các họ chiếm ưu thế gồm: họ Đậu, họ Dâu tằm, họ Cam quýt, họ Hồ đào … và 2 loài Nứa, Giang

Sinh cảnh RHGTN: Phân bố tập trung ở độ cao dưới 700 m, dọc theo hai bên sông suối Rừng tre nứa xuất hiện sau nương rẫy bỏ hoá lâu ngay với các loài: Nứa, lùng Lingnania, Giang

Trang 34

Một số loài cây gỗ mọc hỗn giao là ràng ràng, lim xẹt, bời lời, giổi, vạng, cò ke, lòng mang, lát xoan, dâu da xoan, hu… Trong kiểu rừng này không có hoặc có ít thảm tươi, dây leo, bụi rậm, ngoại trừ ven sông suối có các loài dong, ráy, sẹ, sa nhân,… mọc rải rác

Rừng thường chỉ có một tầng Nhìn chung rừng chưa có trữ lượng, đường kính nhỏ dưới 10cm, chiều cao bình quân 6 – 7m, nhiều nơi thấp chỉ cao 2,5 – 3m

Sinh cảnh RTNĐV: với nhiều hang động là nơi cư trú và sinh cảnh sống của các loài thuộc bộ Linh trưởng, sự ưu thế của các loài Chò chỉ, Đinh, Thông nàng, Thông tre

Tràng cỏ, cây bụi: Hậu quả của phương thức canh tác nương rẫy tự do từ lâu đời đã làm cho khu vực này xuất hiện nhiều diện tích trảng cỏ, cây bụi, với các loài chủ yếu là lau, chit, chè vè, cỏ tranh, thao kén, bồ cu vẽ, thảo quyết minh, cỏ lào, ké hoa vàng,… Nhìn chung thảm thực vật hiện có là những cây bụi lúp xúp mọc lẫn với cỏ Hiện tượng tái sinh của các loài cây gỗ hoàn toàn không thấy có Kiểu thảm thực vật này phân bố gần sông suối, bản [25]

Các loại sinh cảnh khác như: rừng trồng, nương rẫy, ruộng lúa… chúng tôi không đề cập Đề tài chỉ tập trung vào những sinh cảnh có tính tự nhiên cao

Tóm lại:

10 loài thú nguy cấp quí hiếm bị đe dọa ở KBTTN Xuân Liên có đặc điểm sinh thái khác nhau, có những loài phân bố phổ biến ở tất cả các loại thảm của KBT, có loài chỉ phân bố ở 1-2 kiểu Các loài phân bố khác nhau theo độ cao Có loài phân bố ở hầu hết các độ cao, có loài chỉ phân bố ở một khoảng độ cao nhất định

Dựa vào bảng phân loại của FAO Unsesco 1973 để phân loại thảm thực vật ở KBTTN Xuân Liên phục vụ nghiên cứu phân bố thú Đề tài xác định 5 kiểu lớp phủ ở KBT gồm: RNĐ TXNS, RNĐ TXTS, RHGTN, rừng trên núi đá và trảng cỏ cây bụi 5 kiểu thảm này cũng là sinh cảnh sống của 10 loài thú nguy cấp quí hiểm ở KBTTN Xuân Liên

Trang 35

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 PHÂN BỐ THEO SINH CẢNH SỐNG

Bằng công nghệ viễn thám và HTTĐL đề tài thực hiện giải đoán ảnh và khảo sát thực địa để xây dựng bản đồ sinh cảnh của Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên Kết quả của từng kiểu như sau

RNĐ TXNS tập trung vào ở các vùng như xã Bát Mọt, xã Vạn Xuân và khu vực núi cao phía Tây Bắc KBT Các tiểu khu có sinh cảnh loại này là

497, 498, 516, 512 Loại này có diện tích 7070 ha chiếm 26,1% diện tích toàn KBT

RNĐ TXTS tập trung ở xã Yên Nhân, phía Bắc và quanh hồ cửa Đạt tại

xã Vạn Xuân, phía Đông xã Bát Mọt, phía Đông Bắc xã Lương Sơn và Xuân Cẩm Các tiểu khu có RNĐ TXTS là: 484, 486, 500, 506, 507, 501, 491, 504,

510, 514 Loại này có diện tích 11088 ha, chiếm 40,9% diện tích toàn KBT RHGTN thường tiếp giáp với sinh cảnh rừng nhiệt đới thường xanh nguyên và RNĐ TXTS Các khu vực có loại này là xã Bát Mọt thuộc các tiểu khu 485, 495, 505; xã Yên Nhân thuộc các tiểu khu 487, 499; tiểu khu 502, 504; xã Lương Sơn; một chút ở phía Bắc xã Xuân Cẩm và có nhiều nhất ở xã Vạn Xuân ở các tiểu khu 516, 520, 528 Sinh cảnh RHGTN có diện tích 5640

ha, chiếm 20,8% diện tích KBT (hình 3.1)

Trang 37

Sinh cảnh RTNĐV chiếm một phần nhỏ trong khu bảo tồn Tổng diện tích sinh cảnh này là 779 ha chiếm 2,9% Chỉ có hai tiểu 489 thuộc xã Bát Mọt và tiểu khu 528 thuộc xã Vạn Xuân có loại rừng này

TCCBchủ yếu ở phía Bắc Hồ Cửa Đạt thuộc địa phận xã Yên Nhân ở tiểu khu 500 và 501, tiểu khu 515, 512 thuộc xã Vạn Xuân Tổng diện tích trảng có cây bụi của KBTTN Xuân Liên là 1156 ha, chiếm 4,3 % (hình 3.1) Các loại lớp phủ khác như dân cư, nương rẫy có diện tích 1332 ha, chiếm 4,9% Dựa vào thống kê diện tích bằng phần mềm ArcGis đề tài có biểu đồ diện tích các kiểu sinh cảnh của KBTTN Xuân Liên (hình 3.2)

Hình 3.2 Diện tích các dạng sinh cảnh trong KBTTN Xuân Liên

Đánh giá mức độ thích hợp của từng loại kiểu thảm thực vật (sinh cảnh) đối với phân bố thú ở KBTTN Xuân Liên dựa trên đặc điểm sinh thái của từng loài đã phân tích ở mục 2.1

Trang 38

Căn cứ vào sự phù hợp của các loài thú với các loại sinh cảnh, đề tài xây dựng bảng ma trận về mức độ thích hơp cho phân bố của các loài đối với các

hệ sinh thái Có 3 mức độ là: phù hợp, ít phù hợp và không phù hợp Đề tài sử dụng 3 giá trị 0, 1, 2 tương ứng với 3 mức độ: không phù hợp, ít phù hộ và phù hợp Căn cứ đặc điểm sinh thái của từng loài đề tài xây dựng chỉ tiêu cho

sự phân bố của các loài thú từ mức độ không thích hợp, thích hợp và rất thích hợp Mỗi mức độ đều có chỉ tiêu được nêu trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Chỉ tiêu mức độ thích hợp sinh cảnh với các loài thú

Loài sinh sống, phát triển ở nội bộ sinh cảnh này, không

di chuyển hoặc kiếm ăn ở các sinh cảnh lân cận Không có các ngưỡng sinh thaí tới hạn đối với động vật Khả năng tiếp cận, quấy nhiễu khó

Khó có khả năng tiếp cận, quấy nhiễu của con người, được kiểm soát và bảo vệ bởi lực lượng kiểm lâm

Trang 39

Dựa vào các tiêu chí trên đề tài có kết quả đánh giá về mức độ phù hợp của sinh cảnh đối với các loài nghiên cứu (bảng 3.2)

Bảng 3.2 Ma trận về mức độ phù hợp của các loài với các sinh cảnh

Trang 40

Sinh cảnh RNĐ TXNS được 18 điểm gồm 8 loài được 2 điểm, 2 loài được 1 điểm Đây là sinh cảnh rất thích hợp đối với các loài: Tê tê vàng, Cu

li lớn, Khỉ mặt đỏ, Khỉ mốc, Vượn đen má trắng, Gấu ngựa, Bò tót, Sơn dương

Sinh cảnh RNĐ TXTS được 17 điểm Có 7 loài được 2 điểm, 3 loài được

1 điểm Đây là sinh cảnh sống rất thích hợp của các loài Tê tê vàng, Cu li nhỏ, Khỉ mặt đỏ, Khỉ mốc, Cheo cheo nam dương, Bò tót, Sơn dương và thích hợp với các loài Cu li lớn, Vượn đen má trắng, Gấu ngựa

Sinh cảnh RHGTN được 10 điểm Đây là sinh cảnh rất thích hợp với Cu

li nhỏ và thích hợp với 9 loài còn lại

Sinh cảnh rừng trên núi đá được 10 điểm Sinh cảnh này rất thích hợp với 3 loài là: Khỉ mặt đỏ, Khỉ mốc và Sơn dương; không thích hợp với Gấu ngựa và thích hợp với 6 loài còn lại

Sinh cảnh TCCBđược 3 điểm Sinh cảnh này thích hợp với phân bố của

3 loài là: Khỉ mặt đỏ, Khỉ mốc, Bò tót và không thích hợp với 7 loài còn lại Dựa vào kết quả đánh giá mức độ thích hợp với sinh cảnh (bảng 3.2) và bản đồ các sinh cảnh (hình 3.1) đề tài có kết quả mức độ thích hợp với phân

bố theo từng loài

Ngày đăng: 01/12/2015, 18:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và môi trường (2007), Sách Đỏ Việt Nam, Phần động vật, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam, Phần động vật
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
2. Bộ Tài nguyên và môi trường (2005), ĐDSH; Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2005, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐDSH; Báo cáo diễn biến môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2005
3. Lê Xuân Cảnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh (2001), “Nghiên cứu phát triển phầm mềm quản lý ĐDSH”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái học và tài nguyên sinh vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 147-149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển phầm mềm quản lý ĐDSH”, "Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái học và tài nguyên sinh vật
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
4. Lê Xuân Cảnh (2009), Nghiên cứu phân bố các loài thú lớn ở Việt Nam bằng công nghệ thông tin địa lý (GIS) và hệ thống định vị toàn cầu (GPS), Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp Viện KH&CNVN giai đoạn 2008-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân bố các loài thú lớn ở Việt Nam bằng công nghệ thông tin địa lý (GIS) và hệ thống định vị toàn cầu (GPS)
Tác giả: Lê Xuân Cảnh
Năm: 2009
5. Lê Xuân Cảnh, Lê Minh Hạnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh (2009), Tiếp cận công nghệ WEBGIS trong nghiên cứu phân bố thú lấy ví dụ phân bố thú lớn ở miền trung Việt Nam, Hội nghị toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ III, NXB Nông nghiệp, trang 1207-1211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ III
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Lê Minh Hạnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
6. Lê Xuân Cảnh, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh, Trần Thanh Tùng (2009), Sử dụng Hệ thông tin địa lý (GIS) để xây dựng mô hình phân bố loài lấy ví dụ loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học và công nghệ, NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, trang 27-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và công nghệ
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh, Trần Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2009
7. Lê Xuân Cảnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh (2001), Ứng dụng phương pháp Viễn thám và hệ thông tin Địa lý trong nghiên cứu sinh thái khu Na Hang, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Sinh thái học và tài nguyên sinh vật. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 139-146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng phương pháp Viễn thám và hệ thông tin Địa lý trong nghiên cứu sinh thái khu Na Hang
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
8. Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh và Trần Thanh Tùng (2005), Tổng quan về ĐDSH vùng Đông Nam Á và công tác Bảo tồn ĐDSH của Việt Nam, Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội thảo Quốc gia lần thứ nhất, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 291- 300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về ĐDSH vùng Đông Nam Á và công tác Bảo tồn ĐDSH của Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh và Trần Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
9. Lê Xuân Cảnh và Hà Qúy Quỳnh (2005), Giá trị ĐDSH Vườn Quốc gia Ba Bể, yếu tố quan trọng của 1 di sản thiên nhiên thế giới, Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội thảo Quốc gia lần thứ nhất, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 301-307 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị ĐDSH Vườn Quốc gia Ba Bể, yếu tố quan trọng của 1 di sản thiên nhiên thế giới
Tác giả: Lê Xuân Cảnh và Hà Qúy Quỳnh
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
10. Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh và Trần Thanh Tùng (2005), Nghiên cứu ứng dụng GPS, phần mềm Mapsources và MapInfo trong nghiên cứu Sinh thái học và bảo tồn ĐDSH, Báo cáo khoa học toàn quốc 2005, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 890-893 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng GPS, phần mềm Mapsources và MapInfo trong nghiên cứu Sinh thái học và bảo tồn ĐDSH
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh và Trần Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
11. Lê Xuân Cảnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh (2006), Xây dựng phần mềm giám sát động vật bằng MS Access và GIS, Tạp chí Khoa học và công nghệ, 44, (4), tr 101-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng phần mềm giám sát động vật bằng MS Access và GIS
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Trần Thanh Tùng, Hà Quý Quỳnh, Lê Minh Hạnh
Năm: 2006
12. Lê Xuân Cảnh, Lê Minh Hạnh, Hà Qúy Quỳnh và Trần Thanh Tùng (2007), Xây dựng bản đồ phân bố thú bằng Hệ thông tin Địa lý, lấy ví dụ phân bố Voi ở miền Trung Việt Nam, Báo cáo khoa học toàn quốc 2007, Nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 418-421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng bản đồ phân bố thú bằng Hệ thông tin Địa lý, lấy ví dụ phân bố Voi ở miền Trung Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Lê Minh Hạnh, Hà Qúy Quỳnh và Trần Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
13. Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh (2007), ĐDSH và Bảo tồn ở Đồng bằng Sông Cửu Long (phần đất liền), Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ hai, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 179-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ hai
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
14. Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh, Lê Minh Hạnh và Trần Thanh Tùng (2007), Sử dụng công nghệ hệ thông tin Địa lý để xây dựng bản đồ phân bố Bò tót ở miền Trung Việt Nam, Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ hai, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 186-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ hai
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh, Lê Minh Hạnh và Trần Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
15. Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh và Đặng Huy Phương (2007), ĐDSH Tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ hai, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 192-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ hai
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh và Đặng Huy Phương
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
16. Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh, Lê Minh Hạnh và Trần Thanh Tùng (2008), Sử dụng Hệ thông tin địa lý (GIS) để xây dựng mô hình phân bố loài, lấy ví dụ loài Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học và công nghệ NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và công nghệ
Tác giả: Lê Xuân Cảnh, Hà Qúy Quỳnh, Lê Minh Hạnh và Trần Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
17. Lê Xuân Cảnh (2007), ĐDSH và bảo tồn bền vững, Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐDSH và bảo tồn bền vững
Tác giả: Lê Xuân Cảnh
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2007
18. Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh (2009). Phân loại học lớp thú và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học lớp thú và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Đặng, Lê Xuân Cảnh
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2009
20. Nguyễn Mạnh Hà (2008). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và bảo tồn loài Bò tót (Bos garus, Smith 1827) ở Việt Nam, luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và bảo tồn loài Bò tót (Bos garus, Smith 1827) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà
Năm: 2008
22. Trần Ngọc Hải (2008), Báo cáo đánh giá nhu cầu đào tạo, dự án của VQF và KBTTN Xuân Liên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá nhu cầu đào tạo
Tác giả: Trần Ngọc Hải
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Ảnh vệ tinh LandSat KBTTN Xuân Liên - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 1.1. Ảnh vệ tinh LandSat KBTTN Xuân Liên (Trang 16)
Hình 1.2. Các tuyến khảo sát thực địa - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 1.2. Các tuyến khảo sát thực địa (Trang 18)
Hình 1.7. Các điểm kiểm tra sinh cảnh - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 1.7. Các điểm kiểm tra sinh cảnh (Trang 20)
Hình 2.2. Cu li lớn (ảnh Trịnh Việt Cường) - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 2.2. Cu li lớn (ảnh Trịnh Việt Cường) (Trang 23)
Hình 2.6. Vƣợn đen má trắng (ảnh Nguyễn Vũ Khôi) - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 2.6. Vƣợn đen má trắng (ảnh Nguyễn Vũ Khôi) (Trang 26)
Hình 3.4. Bản đồ khả năng phân bố theo sinh cảnh của Cu li lớn - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 3.4. Bản đồ khả năng phân bố theo sinh cảnh của Cu li lớn (Trang 42)
Hình 3.5. Bản đồ khả năng phân bố theo sinh cảnh của Cu li nhỏ - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 3.5. Bản đồ khả năng phân bố theo sinh cảnh của Cu li nhỏ (Trang 43)
Hình 3.7. Bản đồ khả năng phân bố theo sinh cảnh của Khỉ mốc - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 3.7. Bản đồ khả năng phân bố theo sinh cảnh của Khỉ mốc (Trang 44)
Hình 3.15. Bản đồ khả năng phân bố theo độ cao của Cu li lớn - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 3.15. Bản đồ khả năng phân bố theo độ cao của Cu li lớn (Trang 54)
Hình 3.25. Bản đồ phân bố theo sinh cảnh và đai cao của  Cu li lớn - Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý phục vụ nghiên cứu phân bố các loài thú nguy cấp quí hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên
Hình 3.25. Bản đồ phân bố theo sinh cảnh và đai cao của Cu li lớn (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w