Đặc biệt là công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức chính quyền cơ sở nói chung, đào tạo, bồi dưỡng cán bộchính quyền cơ sở người dân tộc thiểu số nói riêng chưa được quan tâm chú t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cơ sở là một cấp trong hệ thống chính quyền các cấp ở nước
ta, bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở Đây là cấp hànhchính gần dân nhất, thường xuyên tiếp xúc, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần chonhân dân; là nơi tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, phápluật của Nhà nước Năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở sẽ tác độngtrực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần bảo đảm cho sự
ổn định và phát triển của địa phương, đất nước Chính quyền cơ sở không thể đảmnhận được vai trò nếu thiếu nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là đội ngũ cán bộ,công chức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”,
“Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu” Cán bộ, công chứcnói chung, cán bộ công chức làm việc ở chính quyền cơ sở nói riêng là cầu nối giữaĐảng, Chính phủ với nhân dân; là người mang chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước giải thích cho nhân dân hiểu và thi hành Đồng thời, lắng nghe, nắm bắttâm tư, nguyện vọng của nhân dân để báo cáo, phản ánh cho cấp trên nhằm xâydựng và ban hành các chủ trương, chính sách sao cho phù hợp với thực tiễn củacuộc sống
Là tỉnh miền núi khó khăn, đất rộng, người đông, có nhiều tôn giáo và dântộc (44 dân tộc anh em) cùng sinh sống, Dak Lak được coi là địa bàn có vị trí chiếnlược đặc biệt quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của TâyNguyên và cả nước Chính vì vậy, đây luôn là trọng điểm chống phá của các thế lựcthù địch, chúng triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”đặc biệt là vấn đề “dân tộc” để chống phá Trong những năm gần đây chúng lập nêncái gọi là “Tin Lành Đêga”, “Nhà nước Đêga” để quy tụ, tập hợp, phát triển lựclượng trong đồng bào dân tộc thiểu số Trong các năm 2001, 2004 chúng liên tiếp tổchức gây rối, biểu tình, bạo loạn chính trị gây mất ổn định an ninh chính trị tại địaphương Để phòng chống có hiệu quả âm mưu, hoạt động chống phá của các thếlực thù địch vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tiếp tục phát huy khối đại đoàn kết
Trang 2dân tộc; tập trung xây dựng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền
cơ sở thực sự vững mạnh đáp ứng được nhiệm vụ trong tình hình mới Trong đó,trọng tâm là nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở cơ sở nói chung, cán bộ, côngchức chính quyền cơ sở là người dân tộc thiểu số nói riêng có ý nghĩa hết sức quantrọng
Với lợi thế là người dân tộc thiểu số sinh ra và lớn lên tại địa phương, cóchung tiếng nói, am hiểu phong tục, tập quán, gần gũi, gắn bó với buôn làng, đồngbào mình, nên hơn ai hết cán bộ công chức người dân tộc thiểu số làm việc tại chínhquyền cơ sở có nhiều lợi thế trong việc truyên truyền, vận động đồng bào dân tộcthiểu số hiểu và thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước,đẩy mạnh sản xuất, xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần củagia đình và cộng đồng dân cư Thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhànước, cán bộ, công chức nói chung và cán bộ công chức chính quyền là người dântộc thiểu số ở cơ sở của tỉnh nói riêng đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh.Tuy nhiên, vì nhiều lý do cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số làm việc tạichính quyền cơ sở tỉnh Dak Lak vẫn còn nhiều bất cập, thiếu về số lượng, yếu vềchất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Đặc biệt là công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức chính quyền cơ sở nói chung, đào tạo, bồi dưỡng cán bộchính quyền cơ sở người dân tộc thiểu số nói riêng chưa được quan tâm chú trọng,việc đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với thực tế và nhu cầu đào tạo Chính vì vậy,trong thời gian tới, các cấp, các ngành trong tỉnh Dak Lak cần phải đặc biệt quantâm, chú trọng và làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển năng lực cán bộcông chức chính quyền cơ sở người dân tộc thiểu số
Xuất phát từ những lý do trên, bản thân tôi chọn đề tài: “ Đào tạo, bồi dưỡng phát triển năng lực cán bộ, công chức chính quyền cơ sở người dân tộc thiểu số tỉnh Dak Lak” làm luận văn tốt nghiệp cao học hành chính công.
Trang 32 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam, một số tác phẩm có liên quan đến nội dung này như: ThangVăn Phúc - Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên), “Cơ sở lý luận và thực tiễn Xâydựng đội ngũ cán bộ công chức”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2005;PGS-TS Nguyễn Phú Trọng (chủ biên): “ Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, NxbChính trị quốc gia, Hà Nội- 2001; PGS-TS Bùi Đình Phong: “ Tư tưởng Hồ ChíMinh về cán bộ và công tác cán bộ” , Nxb Lao Động, Hà Nội- 2002; GS-TS Lê HữuNghĩa (Chủ biên): “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốtcấp huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2001; TS Nguyên Minh Sản: “Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ởViệt Nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị- Hành chính,
Hà Nội- 2009
Ngoài ra còn có các luận án, luận văn có nội dung liên quan đến đề tài như:Trước năm 1975 có Huỳnh Văn Thanh:” Vấn đề đào tạo và sử dụng cán bộ hànhchính”, Luận văn tốt nghiệp Cao học Hành chính công, khóa II (1966-1968); PhanĐình Tịnh:” Đi tìm một đường lối sử dụng hữu hiệu nhân viên”, Luận văn tốtnghiệp Cao học Hành chính công, khóa III (1967-1969) Sau năm 1975 có NguyễnVăn Lợi: “ Góp phần xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cơ
sở từ thực tiễn tỉnh Bình Phước”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công, TP
Hồ Chí Minh 2005; Trần Minh Lý :“Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã làngười dân tộc Khme ở các tỉnh Tây Nam Bộ”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hànhchính công, TP Hồ Chí Minh 2007; Lê Duyên Hà :“Đào tạo nguồn cán bộ, côngchức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Dak Lak”, Luận văn Thạc sĩ Xây dựngĐảng, Hà Nội 2008; Vũ Xuân Khoan: “Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, côngchức xã phường, thị trấn khu vực đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2013”,Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Hà Nội 2010
Những nội dung liên quan đến cán bộ, công chức và nhất là đào tạo bồidưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở nói trên đã được một số nhà nghiên cứu
Trang 4dưới những góc độ khác nhau: Xây dựng Đảng, luật học, xã hội học, chính trị học,hành chính học Nhìn chung, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu,làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễnnhằm củng cố, tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước Đó là nguồn tư liệu quýgiá giúp tác giả luận văn kế thừa và phát huy trong quá trình nghiên cứu thực hiện
đề tài của mình Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng phát triểnnăng lực cán bộ, công chức chính quyền cơ sở là người dân tộc thiểu số dưới góc độquản lý hành chính và đặc biệt là đối với một tỉnh đặc thù, miền núi khó khăn nhưDak Lak vẫn chưa có tác giả nào thực hiện
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài.
- Mục đích của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu, đề tài mong muốn luận giải phần nào những vấn đề
mà lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra cho việc về đào tạo, bồi dưỡng phát triểnnăng lực cán bộ, công chức chính quyền cơ sở là người dân tộc thiểu số tại tỉnh DakLak nói riêng và cả nước nói chung
- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung, cơ bản về năng lực, năng lựcthực thi công việc, năng lực lãnh đạo quản lý và đào tạo, bồi dưỡng phát triển nănglực cho cán bộ, công chức dựa trên nguyên tắc đánh giá, xác định nhu cầu
+ Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cán bộ, công chứcchính quyền cơ sở và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền cơ
sở là người dân tộc thiểu số tại tỉnh Dak Lak, chỉ ra hạn chế và nguyên nhân
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đào tạo, bồi dưỡng phát triểnnăng lực cán bộ, công chức chính quyền cơ sở là người dân tộc thiểu số tại tỉnh DakLak, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Trang 5- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cán bộ, công chức người dân tộc thiểu sốlàm việc tại chính quyền cơ sở, cụ thể là nhóm cán bộ chính quyền: Chủ tịch hộiđồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân
và nhóm công chức chính quyền: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Vănphòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thịtrấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính
- kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội ở xã, phường, thị trấn trong tỉnh DakLak
- Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như:Phương pháp biện chứng duy vật; phương pháp nghiên cứu, khảo sát, thu thập sốliệu; phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp thống kê và tổng hợp; phươngpháp tổng kết thực tiễn
6 Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Ý nghĩa lý luận:
Trang 6Góp phần làm sáng tỏ lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức nói chung; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền cơ sở và ngườidân tộc thiểu số riêng; là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về đào tạo, bồidưỡng phát triển năng lực cán bộ, công chức chính quyền cơ sở người dân tộc thiểu
7 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn được chia ra làm 3 chương:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒIDƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂNNĂNG LỰC CÁN BỘ CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ NGƯỜI DÂNTỘC THIỂU SỐ TỈNH DAK LAK
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNGLỰC CÁN BỘ CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ NGƯỜI DÂN TỘCTHIỂU SỐ TỈNH DAK LAK
NỘI DUNGChương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Quan niệm chung về cán bộ, công chức
1.1.1 Cán bộ, công chức
Trang 7Thuật ngữ cán bộ được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc và được dùngphổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Ban đầu nó được dùng nhiều trongquân đội để phân biệt giữa chiến sỹ và cán bộ; cán bộ ở đây là những người làmnhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên và dần dần từ cán bộ được dùng rộng rãi đểchỉ cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân Khivào nước ta từ cán bộ đã biến đổi không còn như nghĩa gốc; tuy nhiên cái hàmnghĩa: Bộ khung, người làm nòng cốt, người chỉ huy luôn được nhận thức và lưugiữ Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly,làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, quân đội Trong quan niệmhành chính, trước đây cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự trởlên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn mức lương cán sự
Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyênmôn trong các cơ quan nhà nước (cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chínhtrị…) Hiểu theo nghĩa khác cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơquan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ (Đoàn kết giữacán bộ và chiến sĩ, họp cán bộ và công nhân nhà máy, làm cán bộ Đoàn thanhniên…)[21,tr 109]
Trong các tổ chức Đảng, đoàn thể cán bộ được dùng để chỉ những ngườiđược bầu giữ chức vụ lãnh đạo từ trung ương đến cơ sở để phân biệt với đảng viên,đoàn viên, hội viên, hoặc những người làm công tác chuyên trách trong các tổ chứcđảng, đoàn thể, hưởng lương từ các tổ chức đó Trong các cơ quan nhà nước cũng
có những người thuộc biên chế nhà nước nhưng làm công tác đảng, đoàn thể chuyêntrách được gọi là cán bộ chuyên trách Đối với lực lượng quân đội nhân dân, nhữngngười giữ chức vụ từ tiểu đội trưởng, tiểu đội phó trở lên được gọi là cán bộ tiểuđội, cán bộ trung đội, cán bộ đại đội… Trong bộ máy nhà nước cán bộ cũng được
sử dụng với nhiều các hiểu khác nhau: Những người giữ các chức vụ trong các cơquan nhà nước do được bầu cử (Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch ủy ban nhândân các cấp…) hay được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, điều hành trongcác cơ quan nhà nước (Bộ trưởng, Tổng cục trưởng, Vụ trưởng…)
Trang 8Điều 8, Hiến pháp năm 1992, đã được sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định:
“ Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tậntụy phục vụ nhân dân…” Theo Hiến pháp những người phục vụ trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ và viên chức Tuy không chỉ rõ đối tượng nào làcán bộ, viên chức, nhưng qua các quy định của Hiến pháp có thể hiểu trong bốicảnh của điều luật thì cán bộ là những người được bầu để đảm nhiệm các chức vụtheo nhiệm kỳ trong bộ máy nhà nước, những người được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉhuy, điều hành; còn viên chức là những người phục vụ nhà nước bằng chuyên mônnhất định (hoạt động của họ có tính chất nghề nghiệp); những đối tượng mà quan hệcông vụ của họ được hình thành trên cơ sở hợp đồng hành chính (hợp đồng laođộng) trong các cơ quan, tổ chức nhà nước
Cụ thể hóa Hiến pháp, năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hànhpháp lệnh cán bộ, công chức Trong đó thuật ngữ cán bộ được sử dụng với nội hàm
và ngoại biên rộng hơn thuật ngữ cán bộ được sử dụng trong Hiến pháp Pháp lệnhkhông sử dụng thuật ngữ cán bộ, công chức nhà nước mà dùng thuật ngữ cán bộ,công chức nói chung để chỉ những đối tượng làm việc trong các cơ quan nhà nước
và trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội Như vậy về hình thức giữaHiến pháp và Pháp lệnh không có sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ vàphạm vi điều chỉnh của các thuật ngữ này cũng khác nhau Bên cạnh đó, Pháp lệnhchưa đưa ra được định nghĩa cho từng đối tượng cán bộ, công chức Pháp lệnh cán
bộ, công chức được sửa đổi bổ sung năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hànhcũng không có quy định cụ thể hơn để phân biệt đâu là cán bộ, đâu là công chức.Pháp lệnh chỉ mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh đối với đội ngũ cán bộ, công chứccấp xã; cán bộ công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị- xã hội
Có thể thấy, có rất nhiều cách hiểu về cán bộ, tuy nhiên cách hiểu chungnhất có thể khái quát như sau: Cán bộ là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức
vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị-xã hội, những đối tượng mà hoạt động của họ mang nhiều tính chính trị, gắn liền
Trang 9với chính trị và bị chi phối bởi nhiều yếu tố chính trị[23,tr12] Cụ thể hơn, cán bộ đãđược định nghĩa trong Luật cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực từ năm 2010:Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chứcdanh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị- xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện,quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhànước[22].
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều nước Đây làkhái niệm mang tính lịch sử, đồng thời phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và
tổ chức bộ máy nhà nước mỗi quốc gia Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế,
xã hội và chế đội chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
mà nội dung của khái niệm công chức được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Ở cácquốc gia tồn tại nhiều đảng phái chính trị, công chức chỉ được hiểu là những ngườigiữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậccông chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Còn ở những nước chỉ có duy nhấtmột đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì quan niệm công chức được hiểu rộng hơn,không chỉ gồm những chủ thể nêu trên mà còn cả những đối tượng có dấu hiệutương tự, nhưng làm việc trong cả các tổ chức đảng, tổ chức chính trị- xã hội Do
đó, trong thực tế khó đưa ra được quan niệm chung về công chức cho tất cả cácquốc gia trong quá trình phát triển của nó; thậm chí ngay trong một quốc gia, ở từngthời kỳ phát triển khác nhau, thuật ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau
Ở Việt Nam, lần đầu tiên thuật ngữ công chức được đề cập đến trong Quychế công chức Việt Nam, ban hành kèm theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 củaChủ tịch nước Việt Nam dân chủ, cộng hòa: Những công dân Việt Nam được chínhquyền, nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ởtrong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợpriêng biệt do Chính phủ Quy định[2] Công chức tại sắc lệnh này thực chất là nhữngngười làm việc trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm những người làm việc
Trang 10trong các tổ chức sự nghiệp nhà nước, trong các cơ quan khác của nhà nước nhưviện kiểm sát, tòa án…
Hiện nay, từ công chức hiểu theo nghĩa thông thường là: Người được tuyểndụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước,hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp[21,tr207] Cụ thể hơn, tại Luật cán bộ,công chức năm 2008, công chức được xác định là: Công dân Việt Nam được tuyểndụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;trong tổ chức thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, công nhân quốc phòng; trong tổ chức thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
-xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chứctrong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảođảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật[22]
Như vậy có thể thấy theo quy định của Luật này thì công chức hiện diện ở
cả các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể chính trị từ trung ương đếntỉnh, huyện… Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy địnhrõ:
Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam Ở Trung ương:Người giữ chức vụ, chức danh cấp phó, trợ lý, thư ký của người đứng đầu và ngườilàm việc trong văn phòng, cục, vụ, cơ quan thường trực tại thành phố Hồ Chí Minh,thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Trung ương Đảng, cơ quan Ủy ban Kiểm traTrung ương và các ban đảng ở Trung ương; người giữ chức vụ, chức danh ngườiđứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan
ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng ủy khối và Đảng ủy ngoài nước trực thuộc BanChấp hành Trung ương Đảng; người làm việc trong bộ phận giúp việc của cơ quan,
tổ chức do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cơ quan do Ban Chấp hành Trung ương Đảngquyết định thành lập Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Người giữ chức vụ,
Trang 11chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trongvăn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của tỉnh ủy, thành ủy; người giữ chức
vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việctrong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của đảng ủy khối trực thuộc tỉnh
ủy, thành ủy; người làm việc chuyên trách trong văn phòng, ban tổ chức, ban tuyêngiáo, cơ quan ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sởtrực thuộc tỉnh ủy, thành ủy Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Người giữchức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việctrong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy,thành ủy thuộc tỉnh
Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểmtoán Nhà nước, gồm: Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ nhiệmVăn phòng Quốc hội, Phó Tổng kiểm toán Nhà nước; người giữ chức vụ cấptrưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệpcông lập
Công chức trong bộ, cơ quan ngang bộ và các tổ chức khác do Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ thành lập: Thứ trưởng và người giữ chức danh, chức vụ tươngđương; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng,
vụ, thanh tra và tổ chức khác không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơquan ngang bộ; tổng cục trưởng và tương đương, phó tổng cục trưởng và tươngđương, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng,
vụ, thanh tra thuộc tổng cục và tương đương; cục trưởng, phó cục trưởng, người giữchức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong văn phòng, phòng, thanh tra,chi cục thuộc cục ; người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việctrong các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải làđơn vị sự nghiệp công lập
Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện Ở cấp tỉnh:Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó vàngười làm việc trong cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và hội
Trang 12đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân; người đứng đầu, cấp phó của ngườiđứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; người giữ chức vụ cấptrưởng, cấp phó và người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệpcông lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân;trưởng ban, phó trưởng ban, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làmviệc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chứccủa ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân.
Ở cấp huyện: Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng và người làm việc trong Vănphòng hội đồng nhân dânvà Ủy ban nhân dân; chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhândân quận, huyện, chánh văn phòng, phó chánh văn phòng và người làm việc trongvăn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức hội đồng nhândân; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân: Phó Chánh án Tòa án nhân dântối cao; chánh án, phó chánh án các tòa và tòa chuyên trách; Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao; thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, vụ, ban và các tòa,tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao; chánh án, phó chánh án Tòa ánnhân dân cấp tỉnh; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách; thẩm phán Tòa ánnhân dân cấp tỉnh; thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, phòng, ban và tòachuyên trách thuộc tòa án nhân dân cấp tỉnh; chánh án, phó chánh án Tòa án nhândân cấp huyện; thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện; thư ký tòa án; người làm việctrong tòa án nhân dân cấp huyện
Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân: Phó Viện trưởng ViệnKiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong vănphòng, vụ, cục, ban và viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Việntrưởng, phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; kiểm sát viên, điều traviên; người làm việc trong văn phòng, phòng thuộc Viện Kiểm sát nhân dân cấptỉnh Viện trưởng, phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sátviên, điều tra viên và người làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện
Trang 13Công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội Ở Trung ương:Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng, trưởng ban, phó trưởng ban và người làmviệc trong văn phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức ở Trung ương của Mặt trận Tổ quốcViệt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựuchiến binh Việt Nam (tổ chức chính trị - xã hội); người làm việc trong bộ phận giúpviệc của Ủy ban thuộc tổ chức chính trị - xã hội Ở cấp tỉnh: Chánh văn phòng, phóchánh văn phòng, trưởng ban, phó trưởng ban và người làm việc trong văn phòng,ban thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tương đương Ởcấp huyện: Người làm việc trong cơ quan của các tổ chức chính trị - xã hội và tổchức tương đương
Công chức trong tổ chức của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân:Người làm việc trong tổ chức thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong tổ chức thuộc Công annhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập:Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấpphó tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy banThường vụ Quốc hội, Chính phủ Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc cácban và cơ quan tương đương của Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Vănphòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa ánnhân dân tối cao, cơ quan Trung ương các tổ chức chính trị - xã hội, bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Người đứng đầu đơn vị
sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc tổngcục, cục và tương đương trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; tỉnh ủy, thành ủy; Ủyban nhân dân cấp tỉnh; tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; huyện ủy, quận ủy, thị ủy,thành ủy thuộc tỉnh ủy; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơquan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Người giữ các vị trí việc làm
Trang 14gắn với nhiệm vụ quản lý nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập được giao thựchiện nhiệm vụ quản lý nhà nước[3].
1.1.2 Cán bộ, công chức chính quyền cơ sở
Ở nước ta, cấp xã (xã, phường, thị trấn) là chính quyền cấp cơ sở, cấp thấpnhất trong hệ thống chính quyền địa phương Chính quyền cấp cơ sở có vai trò, vịtrí đặc biệt quan trọng không chỉ trong cơ cấu quyền lực nhà nước mà còn là yếu tốchi phối mạnh mẽ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân
cư và toàn thể người dân trong địa bàn Chính quyền cấp xã theo quan niệm chungcòn được xác định là “trụ cột”, “trung tâm” của hệ thống chính trị cơ sở trong tổchức, triển khai mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước và bảo đảm cho chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống Chỉ có chínhquyền cấp xã, với chứng năng, thẩm quyền được thể chế hóa theo phân cấp, cùngvới cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, công chức mới có thể thực hiện được điều đó,
mà khó có tổ chức nào ở cơ sở có thể thay thế được
Đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọngtrong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cấp xã, trong hoạt động thực thicông vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thốngchính trị của cấp xã nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, nănglực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã Cán bộ,công chức cấp xã hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịutrách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấptrên Là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, hoạtđộng của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã so với cán bộ, công chức ở trungương, tỉnh, huyện đều hướng theo mục tiêu, nhiệm vụ chung là: Họ đều thực thicông vụ; có những yêu cầu về phẩm chất, năng lực và trình độ nhất định; có tráchnhiệm trước nhân dân, trước Đảng, Nhà nước, có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định
Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hộiquy định: Cán bộ xã, phường, thị trấn (cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cửgiữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
Trang 15dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội Côngchức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyênmôn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước Cụ thể, cán bộ cấp xã có các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảnguỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhândân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dânViệt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp
và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự;Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường,thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tàichính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội[22]
Từ quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn hay còn gọi là cấp xã(cấp cơ sở), ta có thể hiểu cán bộ, công chức chính quyền cấp xã chính là những cán
bộ, công chức làm việc tại chính quyền cấp xã, cụ thể là trong Thường trực hội
đồng nhân dânvà trong Ủy ban nhân dân Như vậy, đối chiếu theo quy định: Cán bộ chính quyền cơ sở, gồm 04 chức vụ: Chủ tịch, Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và công chức chính quyền cơ sở gồm 07
chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địachính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính -nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp -
hộ tịch; Văn hóa - xã hội
1.2.3 Cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thếgiới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữchuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít.Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa dân tộc thiểu số với dân tộclạc hậu, dân tộc chậm tiến, dân tộc kém phát triển, dân tộc chậm phát triển… Có
Trang 16nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấpthống trị trong mỗi quốc gia.
Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan
về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thìkhái niệm dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triểncủa các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dânnhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội vàlịch sử của mỗi dân tộc
-Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: ViệtNam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80triệu người Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2%dân số, được quan niệm là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân sốđược quan niệm là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Kháiniệm dân tộc thiểu số, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn đượcgọi là dân tộc ít người Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là dân tộcthiểu số, nhưng cách gọi dân tộc ít người vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung
Như vậy, khái niệm dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít,chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia
đa dân tộc Khái niệm dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan
so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Mộtdân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là
“thiểu số” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là dân tộc đa số
ở Việt Nam, nhưng lại được coi là dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là dântộc đa số ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm
tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về dân tộc thiểu số vàdân tộc đa số cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa
Trang 17thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụthể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc.Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản làtương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc họctrên thế giới[25]
Về khái niệm cán bộ, công chức dân tộc thiểu số hiện nay được dùng tươngđối phổ biến ở nước ta Trên cơ sở các khái niệm: dân tộc thiểu số, cán bộ, côngchức cho thấy: Cán bộ, công chức dân tộc thiểu số là tập hợp của ba khái niệm: Cán
bộ, công chức và dân tộc thiểu số Khái niệm cán bộ, công chức dân tộc thiểu số chỉnhững người cán bộ, công chức đang công tác trong các tổ chức thuộc hệ thốngchính trị có thành phần xuất thân là các dân tộc thiểu số Tiêu chí để phân biệt “cán
bộ, công chức dân tộc thiểu số” trong đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chínhtrị là thành phần dân tộc xuất thân của người cán bộ đó thuộc “dân tộc đa số” hay
“dân tộc thiểu số” Tiêu chí này không có ý nghĩa phân biệt trình độ, năng lực hayđịa vị xã hội của người cán bộ, công chức Khi đã trở thành cán bộ, công chức thì
dù có xuất thân từ “dân tộc đa số” hay “dân tộc thiểu số” đều phải đảm nhận nhữngcông việc được giao phó và đều phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đốivới mỗi cương vị công tác của mình Từ những phân tích như trên, có thể đi đếnmột quan niệm chung về cán bộ, công chức dân tộc thiểu số, như sau: “Cán bộ,công chức dân tộc thiểu số” là những cán bộ, công chức được quy định tại Luật cán
bộ, công chức, đang công tác, làm việc trong một tổ chức xác định của hệ thốngchính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số Việt Nam
1.2 Năng lực, năng lực thực thi công việc, năng lực lãnh đạo, quản lý
1.2.1 Năng lực
Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, conngười cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất nàyđược gọi là năng lực Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của conngười luôn gắn liền với hoạt động của chính họ Nội dung và tính chất của hoạtđộng được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của nó Tuỳ thuộc vào
Trang 18nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở chủ thể những yêu cầuxác định Nói một cách khác thì mỗi một hoạt động khác nhau, với tính chất và mức
độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm lý (điều kiện cho hoạt động
có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó
Như vậy, khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là mộtthuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sựtổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng củacác thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ramối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộctính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đápứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quảmong muốn Ở góc độ này, chúng ta có thể định nghĩa: “Năng lực là sự tổng hợpnhững thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động vàđảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”[6,tr190] Nói cách khác:
“Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện mộthoạt động nào đó”; “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khảnăng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[21,tr660.661]
Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nóiđến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc về một hoạt động
cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toánhọc, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực giảng dạy củahoạt động giảng dạy… Như vậy, có thể định nghĩa năng lực nghề nghiệp như sau:
“Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của conngười với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Nếu không có sự tương ứng này thìcon người không thể theo đuổi nghề được”[19,tr72] Ở mỗi một nghề nghiệp khácnhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, theo tác giả Mạc Văn Trang thì nănglực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố sau: Tri thức chuyên môn; kỹ nănghành nghề; thái độ với nghề [26]
Trang 19Dưới góc độ hành chính học, “năng lực” có ba cách tiếp cận sau: “nănglực” là tập hơn ba nhóm yếu tố kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử một người có và
sử dụng để đạt được kết quả trong công việc; “năng lực” là những gì một người có,biết và làm được để đạt được kết quả trong công việc; “năng lực” là những gì mộtngười phải có để hoàn thành công việc theo quy định Năng lực của mỗi người baogiờ cũng gắn liền với hoạt động của chính người đó và cả sản phẩm của chính hoạtđộng ấy Năng lực chỉ hình thành và phát triển trong hoạt động Đến lượt nó, kếtquả hoạt động lại tùy thuộc và trình độ phát triển của năng lực được hình thànhtrong hoạt động này Như vậy, tùy theo hoạt động của con người có thể chia thànhcác loại năng lực khác nhau; năng lực luôn được xác định gắn liền với việc thực thinhững loại công việc nhất định: Năng lực để đảm nhận vị trí công việc mang tínhchuyên môn; năng lực để đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý
Năng lực cán bộ, công chức (năng lực thực thi công việc được giao) luôngắn với các yếu tố: Loại công việc; quy trình thực thi công việc; kết quả Nói đếnnăng lực của đội ngũ cán bộ, công chức là nói đến năng lực chung, năng lực tổngquát và năng lực cụ thể theo từng nhóm năng lực chung Năng lực tổng quát thường
có thể chung cho nhiều loại tổ chức ; chung cho từng nhóm đối tượng như nhómcán bộ, nhóm công chức Năng lực cụ thể chính là chi tiết hóa năng lực tổng quátnhưng gắn chặt với họat động của tổ chức Cần phân biệt giữa năng lực cần có đểthực thi công việc và tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào một vị trí Tiêu chuẩn mang tínhquy định cứng, là điều kiện cần để bổ nhiệm, chủ yếu dựa trên các quy định như đòihỏi về bằng cấp, lòng trung thành, phẩm chất (khó đo lường)… Còn năng lực chỉthể hiện khi kiểm tra, đánh giá hoặc khi thực thi công việc; năng lực là điều kiệncần và đủ để làm tốt công việc được giao; năng lực có thể đo lường được thông quaviệc đánh giá thực thi được hay không được công việc được giao Trong thực thicông việc được giao nếu năng lực thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, cóthể dùng biện pháp đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực
1.2.2 Năng lực thực thi công việc
Trang 20Năng lực thực thi công việc chính là khả năng thực hiện các nhiệm vụ đượcgiao (năng lực thực thi nhiệm vụ chuyên môn) Để thực thi công việc được giao, cán
bộ, công chức phải có kiến thức về chuyên môn, kỹ năng thực hiện và thái độ thựcthi công việc:
Về kiến thức và trình độ chuyên môn
Kiến thức và trình độ chuyên môn có được do được đào tạo, bồi dưỡng ởcác trường lớp tạo nên cho con người đó một thế giới quan khoa học, óc nhận xét,khả năng tư duy, xét đoán và quyết định hành động đúng quy luật, đúng mức độ vàthời điểm Kiến thức cơ bản của một người thể hiện ở bằng cấp chuyên môn đượcđào tạo ở các trường lớp Người có bằng cấp chuyên môn thuộc lĩnh vực nào cónghĩa cá nhân đó có trình độ kiến thức ở lĩnh vực đó càng nhiều và kiến thức đóđược nhà nước công nhận qua việc cấp văn bằng
Tuy nhiên, việc đánh giá năng lực con người không chỉ qua văn bằng họ cóđược mà cần phải đánh giá một cách tổng hợp hơn về nhiều khía cạnh, chẳng hạnnhư về trình độ hiểu biết kiến thức tự nhiên, xã hội Những loại kiến thức này vôcùng phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khác nhau Và những loạikiến thức này không nhất thiết cá nhân nào cũng phải học có bằng cấp mới biết, cóngười chỉ cần tham khảo, tìm hiểu qua các sách, báo, đài, các phương tiện thông tinđại chúng và việc tự tư duy vận dụng vào thực tiễn họ cũng có đủ năng lực để pháthiện ra thế giới khách quan một cách nhanh nhạy và chính xác, xử lý các vấn đề màcuộc sống đặt ra Trên thực tế, có người học nhiều nhưng vẫn chậm nhận ra đượcbản chất của hiện thực khách quan cần xử lý
Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ theo từng lĩnh vực nghề nghiệp, từngcương vị công tác là đòi hỏi tất yếu đối với người cán bộ, công chức chuyên nghiệp.Kiến thức và trình độ chuyên môn giúp người cán bộ, công chức có năng lực tổchức thực hiện nghị quyết, chỉ thị các cấp ủy Đảng, hội đồng nhân dân các cấp vànhững quyết định, chính sách của chính quyền cấp trên Không có kiến thức và trình
độ chuyên môn cán bộ, công chức khó có thể thực thi nhiệm vụ được giao tronghoạt động thực tiễn Đối với cán bộ, công chức chính quyền cơ sở, tùy theo chức
Trang 21trách nhiệm vụ được giao, yêu cầu về kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cũng khácnhau Kiến thức, chuyên môn của các cán bộ (chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhândân và ủy ban nhân dân) sẽ khác nhau Giữa cán bộ với công chức (07 chức danhchuyên môn) cũng khác nhau…
Về kỹ năng thực hiện công việc
Kỹ năng chính là khả năng vận dụng những hiểu biết có được vào hoạtđộng thực tế, mức độ vận dụng càng thành thạo, nhuần nhuyễn thì kỹ năng càngcao Có nhiều loại kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thu tập và xử lý thôngtin, kỹ năng phân tích, kỹ năng đánh giá, kỹ năng hành chính, kỹ năng ứng dụng, kỹnăng diễn đạt, truyền đạt … Kỹ năng có được thường do quá trình làm việc thâmniên, kinh nghiệm tạo nên, ngoài ra còn có yếu tố bẩm sinh (năng khiếu) và do kinhnghiệm truyền giao Người có kỹ năng tiến hành công việc tự tin, nhanh chóng vàchất lượng, dễ thu hút sự hài lòng của mọi người có liên quan
Đối với cán bộ công chức chính quyền cơ sở cấp trực tiếp và gần dân nhấtthì kỹ năng giao tiếp là rất quan trọng Kỹ năng giao tiếp là hoạt động qua lại giữacác cá nhân, giữa cán bộ, công chức và người dân với nhau Đặc biệt trong giaiđoạn hiện nay khi thực hiện cơ chế “một cửa” ở cấp xã, kỹ năng giao tiếp là mộttrong những yếu tố giúp người cán bộ, công chức đạt được hiệu quả giải quyết côngviệc cho người dân Kỹ năng giao tiếp thể hiện ở khả năng nhận biết, phán đoán, sửdụng các phương tiện giao tiếp như: Động tác, cử chỉ, ngôn ngữ, điệu bộ, sắc tháitình cảm ánh mắt, khả năng tạo sức hút, lôi cuốn, hứng thú, tập trung…
Cùng với kỹ năng giao tiếp, người cán bộ, công chức chính quyền cơ sở cònphải có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin Kỹ năng này gồm khả năng thu thập,phân loại, sắp xếp, phân tích, kiểm tra, chọn lựa, xử lý và sử dụng thông tin Với sựphát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ như ngày nay, đặc biệt là công nghệthông tin, kỹ năng xử lý thông tin ngày càng quan trọng, có ý nghĩa rất lớn khi dựthảo và ra quyết định cũng như thực thi công việc
Trang 22Một kỹ năng quan trọng nữa mà cán bộ, công chức nói chung, cán bộ côngchức chính quyền cơ sở nói riêng cần phải có đó là kỹ năng phân tích Đây là kỹnăng đòi hỏi sự không ngừng vươn lên về năng lực, trình độ đối với cán bộ, côngchức chính quyền cơ sở Môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của ngườicán bộ, công chức luôn hàm chứa thời cơ, nguy cơ, mặt mạnh, mặt yếu… đòi hỏingười cán bộ, công chức luôn có sự phân tích để lựa chọn, đánh giá và đề ra cácphương án giải quyết thích hợp
Ngoài kỹ năng phân tích, kỹ năng đánh giá cũng rất cần thiết đối với cán
bộ, công chức chính quyền cơ sở Làm bất kỳ việc gì lớn hay nhỏ đều phải đánh giákhác quan, công bằng, không thiên vị Việc đánh giá những nhân tố mới, điển hìnhmới, mô hình mới trên địa bàn xã, phường, thị trấn gắn kết, liên quan mật thiết đếnquá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân chủ, côngbằng, văn minh Thông qua việc đánh giá người cán bộ công chức có thể đề xuấtcác giải pháp góp phần thu hút nguồn lực bên ngoài và phát huy nội lực bên trong,góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như chức trách,nhiệm vụ được giao…
Về thái độ thực thi công việc
Thái độ làm việc sự cố gắng, mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cánhân đối với công việc mà họ đang thực hiện Thái độ ảnh hưởng rất lớn đến nănglực thực thi công việc của cán bộ, công chức Nhiều cán bộ, công chức có trình độ,kiến thức tốt, kỹ năng vững chắc nhưng không hoàn thành được nhiệm vụ do có thái
độ không đúng Đó có thể là sự chủ quan, cẩu thả, bất cẩn, thiếu ý thức trách nhiệmhoặc thậm chí cố ý làm trái vì mục đích, động cơ khác
Tuy nhiên, thái độ là một phẩm chất thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân.Chúng ta có thể nhận biết được thái độ thông qua biểu hiện của nó ra ngoài bằnghành vi Do vậy, chỉ có thể đánh giá được thái độ thực thi công việc của cán bộ,công chức là tích cực hay tiêu cực thông qua việc làm cụ thể của họ Thái độ tíchcực của cán bộ, công chức trong thực thi công việc được hình thành liên quan đếnđạo đức và trách nhiệm công vụ, nó gắn liền với các yêu tố ảnh hưởng đến cả đời
Trang 23sống vật chất và tinh thần của cán bộ, công chức Do vậy, việc nâng cao thái độ tíchcực trong thực thi công việc gắn liền với việc nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của cán bộ phù hợp với công việc, vị trí, trách nhiệm mà họ phải thực hiện.
Thái độ thực thi công việc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có cảyếu tố sức khỏe Nhiều khi cán bộ công chức có thái độ thực thì công việc tốt nhữngsức khỏe lại không bảo đảm nên dù cố gắng nhưng vẫn không thể hoàn thành nhiệm
vụ được giao do sức khỏe yếu, ốm đau, bệnh tật Sức khỏe là một yếu tố tổ chứcsinh lý của đại não, tứ chi, nội tạng và các bộ phận khác của một người Sức khỏeđược thể hiện thông qua việc vận động cơ năng chỉnh thể của các tổ chức sinh lýnhư hoạt động hữu cơ, tổ chức, liên kết giữa các bộ phận trong cơ thể Sức khỏe là
cơ sở và sự bảo đảm cơ bản để cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ củamình
Sức khỏe tốt, dồi dào không chỉ đảm bảo cho cán bộ, công chức có sứckhỏe làm việc dẻo dai trong điều kiện bình thường, mà còn đáp ứng yêu cầu phảitập trung cường độ lao động cao để giải quyết những vấn đề bức bách, làm việctrong những điều kiện khó khăn, môi trường khắc nghiệt kéo dài Sức khỏe tốt còngiúp cho cán bộ, công chức luôn có tâm hồn sảng khoái, tư duy minh mẫn, giúp họthực thi nhiệm vụ trong trạng thái tinh thần tốt với sự tỉnh táo và sáng suốt, đem lạihiệu quả cao
1.2.3 Năng lực lãnh đạo, quản lý
Năng lực lãnh đạo, quản lý là khả năng dự báo, phán đoán, xử trí tìnhhuống, khả năng hành động của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý hành chính Khả năng dự báo, phán đoánthực chất là nhà lãnh đạo, quản lý có tầm nhìn về tương lai Tầm nhìn là một dạngchiến lược mà hệ thống quản lý hành chính cần hướng tới Nó chỉ ra con đường cần
đi, các giai đoạn cần vượt qua Tầm nhìn là việc huy động sức lực, trí tuệ của mỗicán bộ, công chức, mỗi tổ chức Tầm nhìn cho phép mỗi nhà lãnh đạo, quản lý biếtđược các đặc điểm của hệ thống tổ chức theo hình dung của họ Nhà lãnh đạo quản
lý cần nguồn nhân lực như thế nào cho tổ chức mình, cần các năng lực gì? Khả năng
Trang 24xử lý tình huống là việc nhà lãnh đạo, quản lý tìm hiểu để nắm bắt được những côngviệc đang diễn ra trong lĩnh vực công tác, hoạt động của mình, cũng như ngay chínhtrong hệ thống quản lý hành chính của mình Nhà lãnh đạo, quản lý phải cập nhậtthông tin một cách đầy đủ, kịp thời cho mọi thành viên trong tổ chức của mình Cònkhả năng hành động đó là việc nhà lãnh đạo, quản lý lên kế hoạch chiến lược đốivới nguồn nhân lực, cho phép huy động, sử dụng đúng người, đúng lúc và đúng chỗ.Vấn đề này phụ thuộc vào khả năng đọc và hiểu đúng môi trường cũng như hiểu rõnhững năng lực cần thiết để thực thi công việc một cách hiệu quả nhất.
Như vậy, có thể thấy ngoài năng lực thực thi nhiệm vụ chuyên môn như đãnói ở trên, người cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, cán bộ chính quyền cơ sở cònphải có thêm các năng lực khác nữa như: Năng lực tư duy dài hạn (tầm nhìn), nănglực lãnh đạo- quản lý, năng lực sáng tạo, năng lực quản lý nguồn nhân lực, năng lựcquản lý các nguồn lực khác như tài chính- vật tư, năng lực tự quản lý cá nhân…
Về năng lực tư duy
Chính khả năng tiếp thu lý luận, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nướcmột cách đúng đắn; khả năng phát hiện những mâu thuẫn, vấn đề mới nảy sinh; khảnăng tổng kết thực tiễn và học tập kinh nghiệm thực tiễn; khả năng vận dụng sángtạo lý luận, đường lối, chính sách để xây dựng chương, kế hoạch công tác, kế sáchphát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thực tế cơ sở Người cán bộ lãnh đạo, quản lýphải có khả năng lựa chọn phương pháp tuyên truyền phù hợp với đảng viên, côngchức và quần chúng để mọi người quán triệt đúng đắn và sâu sắc các quan điểm,đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về những vấn đề cốt lõi thuộc phạm vimình phụ trách Biết đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dânchúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo choĐảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng
Biết cùng tập thể vạch ra mục tiêu chiến lược lâu dài và nhiệm vụ cụ thểcho từng giai đoạn; biết đề ra chương trình, kế hoạch với những hình thức, biệnpháp tối ưu; tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kịpthời uốn nắn, bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện chủ trương làm cho đường lối,
Trang 25chính sách của Đảng, Nhà nước đi vào từng ngõ ngách của cuộc sống và đến vớimọi người dân ở cơ sở Có tầm nhìn xa, khả năng dự báo, định hướng, vạch hướng,
kế hoạch cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cơ sở Biết biến nhữngtri thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương, kế hoạch hành động làm biến đổihiện thực Có khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, liên hệ lý luận với thực tiễn;vận dụng cái chung một cách đúng đắn vào từng tình huống cụ thể Biết đưa raquyết định đúng đắn, sát hợp với thực tế của địa phương
Về năng lực lãnh đạo, quản lý
Người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng thu nhận và xử lý thông tin liênquan đến các mặt của đời sống xã hội một cách nhanh chóng và có hiệu quả Có khảnăng đưa ra những quyết định có tính chất tình huống cụ thể, chính xác và có tínhkhả thi Biết tổ chức thực hiện quyết định, tổ chức bộ máy, bố trí và phối hợp cáclực lượng trong tổ chức mình; có khả năng đoàn kết, quy tụ cán bộ, đảng viên, côngchức; có khả năng tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng; biết phát huy vàkhơi dậy sức mạnh cộng đồng để thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra
Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở (chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhândân, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn) phải có khả năng làm kinh tế và hiểu biếtpháp luật; lăn lộn trong phong trào thực tiễn ở cơ sở, xây dựng được mối quan hệmật thiết với dân, hiểu dân tôn trọng dân, học tập dân và luôn xuất phát từ lợi íchcủa dân để hành động Có như thế “dân mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là ngườilãnh đạo của họ” Biết hình thành quy chế, biết áp đặt và thực thi quy chế, biết cụthể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước thành những quyết định phù hợpvới điều kiện cụ thể của cơ sở Biết dựa vào dân để lựa chọn cán bộ và quyết địnhcác chủ trương, nhiệm vụ công tác lớn Biết tổ chức công tác kiểm tra, giám sát thựchiện các quyết định để duy trì, điều chỉnh tiến độ thực hiện quyết định, phát hiện kịpthời những vấn đề mới nảy sinh để giải quyết, biết tìm ra những sai sót, lệch lạc đểsửa chữa, hoàn chỉnh quyết định, bảo đảm quyết định được thực thi chính xác, hiệuquả
Về năng lực sáng tạo
Trang 26Là người trực tiếp đối mặt với thực tiễn cuộc sống rất phong phú và đadạng, đầy ắp các sự kiện, tình huống nên cán bộ chính quyền cơ sở phải có khảnăng sáng tạo Họ phải có năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn, vào việc giảiquyết những việc cụ thể, người cụ thể, tình huống cụ thể ở cơ sở Biết tổ chức và tậphợp lực lượng quần chúng thành phong trào để nhân dân tham gia các phong trào ở
cơ sở Đặc biệt là biết tìm ra cách thức giải quyết những vấn đề mới diễn ra ở cơ sở
mà không gò ép, không dập khuôn, không phụ thuộc vào cái có sẵn Biết phán đoánchính xác tình hình, đưa ra được quyết định chỉ đạo kịp thời, chính xác trong ngữngtình huống bất ngờ mà không có thời gian để phân tích dữ kiện hoặc chưa có đủ dữkiện cần thiết để phân tích Biết đưa ra quyết định một cách dứt khoát và chịu tráchnhiệm về quyết định của mình Có khả năng ngăn ngừa và giải quyết mâu thuẫn,xung đột trong tập thể; biết xử lý điểm nóng diễn ra trên địa bàn
Thực tiễn lãnh đạo, quản lý ở chính quyền cơ sở cho thấy, có nhiều tìnhhuống nảy sinh đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chủ động, sáng tạotrong việc giải quyết công việc Có những tình huống nảy sinh từ tình huống tàichính (thiếu kinh phí để hoạt động, kinh phí bị thất thoát, sử dụng sai mục đích …);tình huống nảy sinh khi ra quyết định có những điểm trái với văn bản của cấp trên;tình huống nảy sinh do thiên tai, dịch họa, do mâu thuẫn giữa láng giềng, dòng tộc
… Vì vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nắm vững và biết vận dụng sáng tạo đườnglối, chính sách của Đảng, Nhà nước vào thực tế ở địa phương để giải quyết đúngđắn, kịp thời các tình huống nảy sinh ở cơ sở…
1.3 Đào tạo, bồi dưỡng phát triển năng lực
1.3.1 Đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo hiểu theo nghĩa thông thường là: Làm cho trở thành người có nănglực theo những tiêu chuẩn nhất định (Đào tạo chuyên gia, đào tạo cán bộ)[21,tr289].Đối với người lao động: Đào tạo được hiểu hoạt động học tập nhằm giúp cho ngườilao động có thể thực hiện hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình Đào tạoliên quan đến quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việccủa mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao
Trang 27động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả[1,tr170] Đào tạo còn được hiểulà: Những biện pháp dài hạn nhằm trang bị cho nhân viên kiến thức, kỹ năng và thái
độ cần thiết để họ được chấp nhận hoặc đạt kết quả công việc tốt[27,tr116] Trong
cơ quan nhà nước: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những trithức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học[5]
Bồi dưỡng được hiểu là: Làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất (Bồidưỡng cán bộ trẻ, bồi dưỡng đạo đức )[21,tr82] Bồi dưỡng còn là quá trình cậpnhật hóa kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặccủng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề, đào tạo thêm hoặc củng cốcác kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề Các hoạt động này nhằm tạo điều kiệncho người lao động có cơ hội để củng cố và mở mang một cách có hệ thống nhữngtri thức, kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp sẵn có để lao động có hiệu quả hơn Nóicác khác bồi dưỡng còn được gọi là những biện pháp ngắn hạn nhằm trang bị chonhân viên những kinh nghiệm làm việc cần thiết cho tương lai Bồi dưỡng là nhân
tố quan trọng nhất giúp cho nhân viên nhận ra năng lực của họ, và 90% hoạt độngbồi dưỡng diễn ra trong công việc[27,tr116] Tóm lại, bồi dưỡng là hoạt động trang
bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc[5]
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một quá trình nhằm trang bị chođội ngũ cán bộ, công chức những kiến thức, kỹ năng, hành vi cần thiết để thực hiệntốt nhất nhiệm vụ được giao Ở nước ta hiện nay, có nhiều cách giải thích khái niệmđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Chung quy lại có hai cách hiểu cơ bản nhưsau: Trong cách hiểu thứ nhất, thì đào tạo, bồi dưỡng vừa thực hiện những nhiệm vụcủa giáo dục quốc dân - tổ chức đào tạo các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học vàsau đại học; vừa tổ chức cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việccho cán bộ, công chức Trong cách hiểu thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng là một thuậtngữ không tách rời, là hoạt động thường xuyên của các tổ chức quản lý và sử dụngcông chức nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc chocán bộ, công chức
Trang 28Đối với các nước trên thế giới hiện nay, hoạt động của các cơ quan nhằmcập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho đội ngũ công chứcđược diễn đạt bằng khái niệm huấn luyện - Training Không có nước nào hiểu sangnội dung đào tạo - Education Họ cho rằng hoạt động đào tạo - Education là việccủa giáo dục quốc dân, còn cơ quan hành chính chỉ thực hiện nhiệm vụ cập nhậtkiến thức, trang bị kỹ năng và tổ chức cho công chức gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm,phương pháp thực hiện công vụ Các cơ quan hành chính của các nước như Mỹ,Nhật Bản, Thái Lan, Singapore không đặt nhiệm vụ tổ chức đào tạo các trình độtrung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học cho công chức Điều này được giảinghĩa: khi được tuyển dụng và bổ nhiệm vào một vị trí nhất định, người công chức
đã phải đáp ứng các tiêu chuẩn của vị trí đó, trong đó có tiêu chuẩn về trình độ đàotạo Khi cần nguồn nhân lực có trình độ cao hơn, họ sẽ tổ chức tuyển dụng nhữngđối tượng đã được đào tạo trình độ họ cần mà không tổ chức hoặc cử công chức điđào tạo[28]
1.3.2 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của một người là những gì người đó cần học để
có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ.Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyệnvọng của chính người học Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay đượcnhững nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo
để có thể thấy rõ Như vậy có thể định nghĩa: Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng chính lànhững kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đápứng những nguyện vọng trong công việc và cuộc sống của họ
Xác định và phân tích nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cần được coi là mộtnhiệm vụ bắt buộc của công tác đào tạo, bồi dưỡng Trong thực tế, công việc nàythường không được tiến hành đầy đủ hoặc thậm chí hoàn toàn không tiến hành, cácchương trình đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức chủ yếu là do cảm nhận “ của ai đó”cho rằng học viên cần học những nội dung này Chính vì vậy thường xảy ra trườnghợp: Đào tạo, bồi dưỡng những nội dung học viên đã biết hoặc những nội dung
Trang 29không cần thiết cho người học, những nội dung cần biết lại không được học, ví dụ:những người đang nuôi lợn thì không được học nuôi lợn mà lại phải học kỹ thuậtnuôi dê Trên thực tế tổ chức những chương trình đào tạo, như vậy như vậy khôngmang lại hiệu quả.
Xác định và phân tích nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là bước đầu tiên tiên để
có một chương trình đào tạo, bồi dưỡng hiệu quả Đây là công việc vô cùng quantrọng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của học viên, đồng thời bảo đảm rằngđào tạo, bồi dưỡng đứng trên quan điểm “Lấy học viên làm trung tâm” Quá trìnhđánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng giúp tìm hiểu cấp độ năng lực hiện tại của mỗi
cá nhân và khả năng phản ứng của học viên đối với các nội dung đào tạo, bồidưỡng Kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng giúp thiết kế khoá đào tạo, bồidưỡng sao cho có thể đáp ứng được những nhu cầu chung và cả những nhu cầuriêng biệt của từng nhóm học viên
Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là một quá trình để hiểu rõ về ngườitham gia và năng lực của người học trước khi đào tạo, bồi dưỡng Đánh giá nhu cầuđào tạo, bồi dưỡng quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đếnviệc thích hay không thích của người học Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡnggiúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang
có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có Đánh giá và xácđịnh nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của người học đặc biệt là của cán bộ, công chức làviệc rất khó Chính vì vậy, với bất kỳ chương trình đào tạo, bồi dưỡng nào cũng cầnphải tiến hành phân tích các vấn đề liên quan để xác định đánh giá nhu cầu đào tạo,bồi dưỡng thật cẩn thận ngay từ giai đoạn đầu
Làm tốt việc đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng mang lại rất nhiều lợi ích,như: Giúp xác định xem đào tạo, bồi dưỡng có phải là giải pháp tốt nhất hay không;xây dựng được chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng;đáp ứng được nhu cầu học của học viên, kích thích được hứng thú và sự tham giacủa học viên trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng; thực hiện chủ trương đào tạo, bồidưỡng lấy học viên làm trung tâm, dựa trên kinh nghiệm và kiến thức của học viên;
Trang 30xác định được nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp cho từng đốitượng học viên, được học viên quan tâm, không theo ý muốn chủ quan “của ai đó”;nâng cao hiệu quả trong đào tạo, bồi dưỡng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng sẽ áp dụngđược ngay vào công việc và cuộc sống của học viên; tạo được sự tin tưởng của họcviên đối với giáo viên, chất lượng đào tạo của cơ sở đào tạo…
Đánh giá, xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng có thể dựa trên nhiềuphương pháp, tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là dựa trên phương pháp phân tíchkhoảng cách (Beckhard và Harris, 1987) Trong phương pháp này, các tác giả chorằng “cái hiển nhiên” thay đổi cần 3 điều kiện: Thứ nhất, tình trạng tương lai -mong muốn của tổ chức đạt được trong tương lai Thứ hai, tình trạng hiện tại - tìnhtrạng của tổ chức trong thời điểm hiện tại Thứ ba, tình trạng quá độ - các điều kiện
và hoạt động mà tổ chức cần phải trải qua để chuyển từ tình trạng hiện tại sangtương lai
Mô hình phân tích khoảng cách bắt đầu bằng câu hỏi “tại sao thay đổi”, xácđịnh nhu cầu thay đổi và mức độ lựa chọn cho việc thay đổi Có nhu cầu thay đổinếu như một hay nhiều điều kiện cơ bản của tổ chức được mô tả là có chất lượngkém Điều quan trọng là cần xác định cụ thể điều kiện nào cần thay đổi bằng cáchđặt câu hỏi: “điều gì cần phải thay đổi hoặc cần phải tốt hơn?” Thay đổi có thể bắtnguồn từ môi trường bên ngoài hoặc bên trong tổ chức Trong trường hợp “bắtnguồn từ môi trường bên ngoài” người lãnh đạo của tổ chức có ít cơ hội lựa chọn
có thay đổi hay không Thay vào đó, họ phải đi thẳng vào vấn đề “thay đổi như thếnào” Trong trường hợp “bắt nguồn từ bên trong của tổ chức ”, có thể có cơ hội đểxem xét có xúc tiến thay đổi hay không và làm thế nào quản lý được sự thay đổi
Xác định tình trạng tương lai của tổ chức nghĩa là xác định Viễn cảnh - Sứmệnh - Mục đích - Mục tiêu của tổ chức Các tác giả cho rằng Tầm nhìn và Sứmệnh rõ ràng là cực kỳ quan trọng, tuy nhiên chúng thường trừu tượng và chungchung, vì vậy rất cần thiết phải xác định cụ thể mục tiêu, đó là bước cơ bản để đạtđược Viễn cảnh Cần có một khung các ý tưởng về tổ chức hiệu quả để hướng dẫnviệc thực hiện giai đoạn này Một việc nữa là viết Hình ảnh tương lai mô tả cụ thể
Trang 31mong muốn nhìn thấy gì, nghe thấy gì và thậm chí cảm thấy gì trong một tình trạng
và trong một thời điểm cụ thể Điều này cần phù hợp với Sứ mệnh, ngoài ra nó cầnphải thực tế và có khả năng đạt được
Mô tả tình trạng hiện tại là mô tả về hệ thống của tổ chức chính thức vàkhông chính thức và các mối quan hệ với môi trường tại thời điểm hiện tại và trongthời gian gần đây Kết quả mô tả này sẽ được xem xét so với hình ảnh tương lai của
tổ chức để xác định những gì cần thay đổi và những gì không cần thay đổi Những
gì cần thay đổi cần được xem xét có giải quyết được vấn đề không và sau đó đượcphân tích xem có những tác dụng phụ không Cần xác định những cá nhân hoặcnhững nhóm mà nếu không có sự hỗ trợ của họ thay đổi khó có thể xảy ra Mộtcông việc khác nữa là khẳng định xem các tiểu hệ thống đã sẵn sàng và đủ năng lực
để thay đổi hay chưa
Giai đoạn “đi từ đây đến kia” đòi hỏi sự chuẩn bị một kế hoạch hành động
để thay đổi Hai vấn đề chính của giai đoạn này là: Xác định những việc và hoạtđộng chính cho giai đoạn quá độ (kế hoạch hoạt động) và xác định cấu trúc và cơcấu cần thiết để hoàn thành những công việc trong kế hoạch Kế hoạch hành động là
“tấm bản đồ chỉ đường” cho sự thay đổi, vì vậy nó cần thực tiễn, hiệu quả và rõràng Một kế hoạch hiệu quả có 5 đặc tính như phù hợp (các hoạt động gắn với cácmục đích thay đổi); cụ thể (các hoạt động cần được nêu chi tiết); lồng ghép (cáccông việc khác nhau được kết nối với nhau); lôgíc về thời gian (các hoạt động đượcsắp xếp lô gíc); điều chỉnh được (có các kế hoạch dự phòng)
Quản lý trong giai đoạn quá độ là quản lý việc thực hiện kế hoạch hànhđộng Những vấn đề cần được quan tâm trong giai đoạn này bao gồm những quyếtđịnh về: “cần can thiệp vào đâu trước tiên” (VD: quản lý cấp cao, nhóm mới hoặc
hệ thống mới ); “công nghệ can thiệp” (VD: dự án điểm, thử nghiệm, họp chấtvấn ); “cấu trúc quản lý giai đoạn quá độ” (giai đoạn quá độ này được quản lý nhưthế nào?) Một cấu trúc tốt là cấu trúc tạo ra ít nhất sự căng thẳng cho hệ thống đanghiện hành và tạo ra cơ hội lớn nhất cho hệ thống mới phát triển
Trang 32Lý thuyết khoảng cách có thể minh họa một cách đơn giản với những phần
cơ bản, như sau:
Hình số 01: Sơ đồ minh họa Lý thuyết khoảng cách
Trong sơ đồ trên Lý tưởng là hình ảnh học viên làm việc tốt nhất ở mỗi vịtrí công việc của mình Hình ảnh lý tưởng thể hiện học viên có đủ các kỹ năng, kiếnthức và phương pháp tiến tiến nhất, phù hợp nhất, để làm việc với hiệu quả cao nhất
có thể Họ có động cơ, thái độ làm việc tích cực, hợp tác với mọi người, vì lợi íchchung Họ có khả năng tự phân tích công việc, tự học để liên tục cải tiến phươngpháp, nội dung và môi trường làm việc Hình ảnh lý tưởng là người hoàn thànhnhững công việc của mình như mong đợi và hơn mong đợi, đáp ứng nhu cầu củađối tượng phục vụ Hiện trạng là hình ảnh con người đang có Trong những kỹnăng, kiến thức, thái độ làm việc hiện tại của họ, có những điều tốt, hiệu quả nhưmong đợi, và có những điều chưa được như mong đợi và chưa đáp ứng được nhucầu của đối tượng phục vụ Khoảng cách là những điểm cần thay đổi ở hình ảnhHiện trạng để đạt tới hình ảnh Lý tưởng So sánh giữa hình ảnh Hiện trạng và Lýtưởng ta sẽ thấy rằng để có được hình ảnh Lý tưởng, cần tăng thêm một số kỹnăng, kiến thức và thái độ phù hợp; và cũng cần bỏ bớt, hay thay đổi một số kỹnăng, kiến thức và thái độ không còn phù hợp Những điều cần thêm và cần bớt đóchính là Khoảng cách Như vậy, việc thêm những điểm phù hợp, hay bớt nhữngđiểm không còn phù hợp đều là công việc “lấp đầy các khoảng cách”
Phân tích nhu cầu đào tạo là tìm ra các khoảng cách có thể lấp đầy bằng đàotạo Có nhiều phương pháp để lấp các khoảng cách này: đào tạo và hướng dẫn, giaoviệc và hướng dẫn, tự học, thay đổi cách quản lý, cải tiến các chính sách nhân sự,
Hiện
trạng
Lý tưởng Khoảng cách
Trang 33tạo cơ hội cho việc học trong tổ chức, tạo ra văn hoá lành mạnh Để có thể lựa chọncách phát triển nguồn nhân lực đúng, cần phân tích nguyên nhân tạo ra nhữngkhoảng cách giữa hình ảnh “Lý tưởng” và “Hiện trạng” Đào tạo, bồi dưỡng là mộttrong những cách phát triển nguồn nhân lực, nhưng không phải là cách duy nhất,cũng không phải là cách luôn luôn đúng nhất Để làm được việc này, chúng ta cầntìm ra Hiện trạng và tìm ra hình ảnh Lý tưởng để xác định các khoảng cách, sau đómới biết được khoảng cách nào có thể đáp ứng bằng “đào tạo” được
1.3.3 Vai trò của đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức
Người xưa có câu:” Ngọc bất trác bất thành khí – Nhân bất học bất chi lý”đại ý có nghĩa là ngọc mà không được mài dũa thì không thể trở thành món đồ cógiá trị, cũng như người mà không học thì không hiểu biết được lý lẽ Câu nói đó đãnói lên tầm quan trọng của việc học đối với mọi người, nhất là đối với cán bộ, côngchức, những người được ví như công bộc của dân Là người sáng lập ra Đảng cộngsản Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ, công hòa, là danh nhân văn hóathế giới, là nhà văn, nhà thơ, nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việt, tiếngHán, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga… Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ
ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ Người chorằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thíchcho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáocho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng Vì vậy, cán bộ là cáigốc của mọi công việc Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc củaĐảng”[20,t12]
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ, Người chủ trương:Huấn luyện cán bộ phải thường xuyên, toàn diện thiết thực, chu đáo và phù hợp vớicông việc chuyên môn của cán bộ, phải coi trọng nhân tài, trọng dụng cán bộ, trọngdụng những người có ích cho công việc chung Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất
về công tác học tập và huấn luyện ngày 06/5/1950, sau khi xem xét các báo cáo củaNam Bộ, Khu III, Khu IV, Khu V và khu Việt Bắc về số lượng cán bộ đã được đàotạo Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “ Cứ tính đổ đồng cho mỗi khu có 50.000 thì
Trang 34toàn quốc cũng đã có đến 25 vạn người được huấn luyện, nghĩa là có 25 vạn cán bộ.Thế mà cứ kêu là thiếu cán bộ Vì sao? Vì việc huấn luyện cán bộ còn hữu danh vôthực, làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực, chu đáo” ”[20,t13]
Người cũng chỉ rõ các vấn đề cần làm trong đào tạo, huấn luyện cán bộ, cụthể là: Huấn luyện ai? Ai huấn luyện? Huấn luyện gì? Huấn luyện như thế nào? Tàiliệu huấn luyện? Để mọi người dễ hiểu, người ví cán bộ là tiền vốn của đoàn thể.Theo Người: “ Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức
có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn” ”[20,t14] Người chỉ rõ: “Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy Không nên bủn xỉn về các khoảnchỉ tiêu trong việc huấn luyện” và Đảng phải nuôi dạy cán bộ như: “Người làmvườn vun trồng những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗimột người có ích cho công việc chung của chúng ta” ”[20,t15]
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên giảng dạy, Người chorằng cần phải được tuyển chọn kỹ lưỡng, không phải ai cũng có thể làm được.Người nhấn mạnh nhiều đến vai trò của người huấn luyện, đó là: Phải lựa chọn rấtcẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó, “Không phải ai cũng huấnluyện được”; “Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạonghề rèn, nghề nguội Người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọimặt: Tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”; “Người huấn luyện phải học thêm mãi thìmới làm được công việc huấn luyện của mình” Người dẫn lời của Khổng Tử: “ Họckhông biết chán, dạy không biết mỏi” và lời khuyên của Lê Nin: ‘Học, học nữa, họcmãi” để cán bộ, đảng viên, mọi người noi theo Người tiếp tục khẳng định quanđiểm: “ Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điềuhiểu biết quý báu của các đời trước để lại”[20,t16]
Về nội dung đào tạo, huấn luyện cán bộ, Hồ Chí Minh rất quan tâm, chútrọng đến việc đào tạo, bỗi dưỡng kiến thức cho cán bộ, trước hết là về lý luận chínhtrị, Người chỉ rõ: “ Phải dạy bảo lý luận cho cán bộ Chỉ thực hành mà không có lýluận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù”[20,t17] Phải đặc biệt coi trọng côngtác giảng dạy lý luận chủ nghĩa Mác- Lê Nin, bởi vì: “ Đảng muốn vững thì phải có
Trang 35chủ nghĩa làm nòng cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa
ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không cóbàn chỉ nam Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chânchính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”[20,t18] Đồng thời,Người cũng chỉ rõ cần phải vận dụng chủ nghĩa Lênin một cách sáng tạo, phù hợpvới tình hình thực thế, không rập khuôn, máy móc Năm 1969, trong một lần trả lờiphỏng vấn một tờ báo Pháp, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chính là do cố gắng vậndụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp vớithực tế ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được thắng lợi tolớn”[20,t21]
Ngoài giảng dạy lý luận chính trị, Người cũng rất quan tâm đến công tácgiảng dạy văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ Người cho rằng: Ngoài lýluận phải dạy công tác, dạy văn hóa, dạy chuyên môn; dạy cốt thiết thực, chu đáohơn ham nhiều; huấn luyện phải từ dưới lên trên; gắn liền lý luận với công tác thựctế; huấn luyện phải nhằm đúng nhu cầu, là cốt để cung cấp cán bộ cho các ngànhcông tác Về nguồn tài liệu huấn luyện, theo Người trước hết phải lấy những tài liệu
về chủ nghĩa Mác- Lênin làm gốc, phải chọn lựa, sắp xếp lại cho hợp với trình độtừng hạng cán bộ Ngoài tài liệu chủ nghĩa Mác- Lênin, còn có những tài liệu thiếtthực, đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệmthành công cũng như kinh nghiệm thất bại, thông qua trao đổi có thể rút ra nhữngbài học quý báu; những chỉ thị, nghị quyết, luật, lệnh của Đoàn thể và Chính phủđều là những tài liệu cần học tập, nghiên cứu
Về mục đích của việc học tập, Hồ Chí Minh nhấn mạnh học là để sửa chữa
tư tưởng, hăng hái cách mạng, là để tu dưỡng đạo đức cách mạng, vì vậy: “ Phảihuấn và luyện Huấn là dạy dỗ, luyện là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trongđầu óc”[20,t22] Học là để tin tưởng vào Đảng, vào nhân dân, vào tương lai của dântộc, của cách mạng và học để hành Do đó phải tự rèn luyện, phải tích cực học tập:Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân, “ Không học nhândân là một thiếu sót rất lớn”; “ Cán bộ cùng ăn, cùng ở, cùng lao động, cùng bàn
Trang 36bạc công việc với quần chúng, thì khó khăn gì cũng khắc phục được, kế hoạch gìcũng hoàn thành tốt”[20,t23]
Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về huấn luyện, đào tạo cán
bộ, trải qua các thời kỳ cách mạng Đảng và Nhà nước ta đều đặc biệt quan tâm đếncông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã chỉ rõ:Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng và bảo vệ Tổquốc là môi trường thực tiễn để rèn luyện, tuyển chọn và đào tạo cán bộ, nâng caophẩm chất, kiến thức, năng lực của đội ngũ cán bộ Thường xuyên giáo dục, bồidưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân cho đội ngũcán bộ Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ phải gắn với yêu cầu vànội dung xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân, kiện toàn hệ thống chính trị, đổi mới cơ chế chính sách Trên cơ sở phát triển
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí để xây dựng đội ngũ cán bộ mộtcách cơ bản, chính quy, có hệ thống; đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn vàphong trào cách mạng của nhân dân để giáo dục, rèn luyện, đào tạo, đánh giá, sànglọc, tuyển chọn cán bộ Không đánh giá, sử dụng cán bộ một cách cảm tính, chủquan Mọi phẩm giá và bằng cấp, danh hiệu và chức vụ tài năng và cống hiến đềuphải được kiểm nghiệm qua hoạt động thực tiễn Phong trào cách mạng của quầnchúng là trường học lớn của cán bộ[7]
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X của Đảng về đẩy mạnh cải cáchhành chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, tiếp tụckhẳng định quan điểm: Đổi mới phương thức và nội dung các chương trình đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức phải sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thựcđặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành chính, qua đó bảo đảmtính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết cácyêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp Thực hiện cơ chế đào tạo tiền công vụ và đàotạo, bồi dưỡng trong công vụ theo định kỳ bắt buộc hàng năm; thực hiện chế độ đàotạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm Coi trọng công tác giáo dục đạo đức và phẩm
Trang 37chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức để nâng cao lòng yêu nước, yêu chế
độ, niềm tự hào dân tộc và tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của độingũ cán bộ, công chức[8]
Kết luận Hội nghị Trung ương lần thứ chín (khóa X) về tiếp tục đẩy mạnhthực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020, cũng chỉ rõ: Tạo chuyển biến sâu sắctrong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo tiêu chuẩn chức danhcán bộ, chú trọng bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý,coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ tronggiai đoạn mới Củng cố, nâng cao chất lượng về mọi mặt của hệ thống đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức Huy động mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư ngân sáchnhà nước cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả trong và ngoài nước, trong và ngoàiĐảng, trong và ngoài khu vực nhà nước Xây dựng chương trình quốc gia về đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến lược quốc gia về nhân tài đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩymạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủđộng hội nhập quốc tế[10]
Gần đây nhất, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảngnhấn mạnh, cần phải: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ Thựchiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới
tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ.Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đàotạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài Nâng cao chất lượngcông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp[11]
Có thể thấy đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cán
bộ, công chức, chính vì vậy Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề này Ở nước
ta hiện nay, do đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ nhiều nguồn; trình độchuyên môn nghiệp vụ, năng lực của cán bộ, công chức còn nhiều bất cập, chưathực sự đồng đều; có sự chênh lệch lớn giữa nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu,vùng xa với khu vực đô thị, đồng bằng, những nơi có điều kiện tự nhiên, vị trí địa lýthuận lợi; giữa cán bộ, công chức dân tộc Kinh (đa số) với cán bộ, công chức dân
Trang 38tộc thiểu số… Do đó, cùng với việc nâng cao chất lượng đầu vào qua khâu tuyểndụng, và sắp xếp bố trí lại công việc phù hợp thì đào tạo, bồi dưỡng là một trongnhững giải pháp quan trọng góp phần phát triển, nâng cao năng lực cán bộ, côngchức nói chung và cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số nói riêng Thông quađào tạo, bồi dưỡng nhằm sử dụng, phát huy tối đa nguồn nhân lực hiện có, nâng caohiệu quả của cơ quan, đơn vị; giúp cho cán bộ, công chức hiểu rõ hơn về công việc,nắng vững hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện chức trách nhiệm vụ được giaomột cách tự giác hơn với thái độ tốt hơn cũng như nâng cao khả năng thích ứng củađội ngũ cán bộ, công chức với công việc trong tương lai…
Trang 39Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ CÔNG CHỨC CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH DAK LAK
2.1 Đặc điểm, vị trí, vai trò của cán bộ, công chức chính quyền cơ sở và cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số
2.2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, kinh tế, xã hội của tỉnh Dak Lak
Dak Lak là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lượcrất quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh Phía Bắc giáp với tỉnhGia Lai, phía Nam giáp với tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp với tỉnh Đắk Nông,phía Đông giáp với tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giáp với Vương quốcCampuchia Dak Lak có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng nối liền tỉnh vớicác tỉnh trong vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung Có quốc lộ 14 chạy quatỉnh, nối Dak Lak với Gia Lai (phía Bắc) và với Đắk Nông (phía Nam); quốc lộ 26nối tỉnh với thành phố Nha Trang (Khánh Hòa) và quốc lộ 27 đi thành phố Đà Lạt(Lâm Đồng) là hai trung tâm du lịch lớn của cả nước Cùng với sân bay Buôn MaThuột và mạng giao thông liên vùng nói trên là điều kiện để Dak Lak mở rộng giaolưu với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và cả nước, tăngcường khả năng liên kết, hợp tác giữa Dak Lak với các tỉnh về mở rộng thị trường
và hợp tác quốc tế
Khí hậu tỉnh Dak Lak vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm,vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Thời tiết chia làm 2 mùa rõrệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàngnăm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể Nhiệt
độ trung bình năm 23 – 240C Dak Lak có nhiều sông suối, phân bố đều trên địabàn tỉnh, mật độ sông suối 0,8 km/km2 Dak Lak có hệ thống sông chính là Sêrêpôkvới nhiều thác, ghềnh đẹp và có tiềm năng thuỷ điện khá lớn Tài nguyên đất củaDak Lak rất phong phú với 11 nhóm và 84 đơn vị đất đai Trong đó các nhóm đất
Trang 40chính là đất xám chiếm 44,1% diện tích tự nhiên, đất đỏ bazan, chiếm 24,8% diệntích tự nhiên… Với tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng và phong phú, Dak Lakđược coi là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển.
Năm 2004, sau khi chia tách tỉnh theo Nghị quyết số 22/NQ-QH của Quốchội, tỉnh Dak Lak hiện nay có diện tích tự nhiên 13.125 km2, chiếm 3,9% diện tích
tự nhiên của cả nước và 24% diện tích tự nhiên vùng Tây Nguyên, có đường biêngiới chung với tỉnh Monduikiri, Campuchia dài 73 km Toàn tỉnh có 15 đơn vị hànhchính, bao gồm: thành phố Buôn Ma Thuột – trung tâm tỉnh lỵ, thị xã Buôn Hồ và
12 huyện là Ea H’Leo, Ea Súp, Krông Năng, Krông Bông, Krông Búk, Krông Pắc,Krông Ana, Buôn Đôn, Cư M’Gar, M’Đrắk, Ea Kar, Lắk Với 184 xã, phường, thịtrấn (152 xã, 20 phường, 12 thị trấn), có 2.434 thôn, buôn, tổ dân phố (1.524 thôn,
606 buôn, 304 tổ dân phố) Dân số toàn tỉnh (năm 2011) có khoảng là 1,76 triệudân, chiếm 36,3% về dân số vùng Tây Nguyên Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh
là 132 người/km2 Cộng đồng dân cư của tỉnh gồm 41 dân tộc đang chung sống,trong đó người Kinh chiếm 68,31%; các dân tộc ít người như Êđê, Giarai, M’Nông,Thái, Tày, Nùng,…chiếm 31,69% dân số toàn tỉnh (riêng dân tộc thiểu số tại chỗchiếm 19,5%) Có 4 tôn giáo chính là Thiên chúa giáo, Phật giáo, Tin lành và Caođài, chiếm 24,4% dân số toàn tỉnh
Được sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương, sự nỗ lực của địa phương, nềnkinh tế của tỉnh trong những năm qua đạt mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởngkinh tế của tỉnh bình quân giai đoạn 2005-2010 đạt 12,10% Riêng năm 2011 GDPtăng 13% so với năm 2010, trong đó: Nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%, Côngnghiệp – xây dựng tăng 14% Riêng công nghiệp tăng 18%; Dịch vụ tăng 23,7%
Cơ cấu kinh tế (giá so sánh năm 1994): Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 46,5%; côngnghiệp xây dựng chiếm 17,8%; dịch vụ chiếm 35,8% Thu ngân sách Nhà nước năm
2011 đạt 3.513 tỷ đồng, bằng 103,3% dự toán của tỉnh và tăng 15,1% so với năm
2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 700 triệu USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ trước
Các hoạt động văn hoá – xã hội, y tế, giáo dục, phát thanh truyền hình, địnhcanh, định cư, xoá đói giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội có nhiều cố