CHƯƠNG ICƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KHAI THÁC CÁC NHÀ MÁY ĐIỆN TRONG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MỘT NGƯỜI MUA I.1 Cơ sở lý thuyết về thị trường điện một người mua I.1.1 Các mô hình thị trường
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các Cán bộ Nhân viên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giảng dạy và giúp đỡ Tác giả trong quá trình học tập tại trường và thực hiện Luận văn này.
Tác giả xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Thầy giáo hướng dẫn khoa học - TS …… , người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt quá trình Tác giả học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy giáo, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu được áp dụng thành công trong thực tế.
Xin trân trọng cám ơn!
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận văn này là nội dung khoa học do Tôi tự nghiên và không sao chép từ bất kỳ một luận văn hay tài liệu nào tương tự Tôi cam đoan, tất cả các trích dẫn, số liệu được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, chính xác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam kết của mình.
Trang 3
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
1 BOO Build - Owner - Operate
(Xây dựng - Sở hữu - Vận hành)
2 BOT Build - Operate - Transfer
(Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao)
3 ĐĐQG Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia
4 EPTC Electric Power Trading Company
(Công ty Mua bán điện)
5 EVN Electricity of Viet Nam
(Tập đoàn Điện lực Việt Nam)
(Nhà máy điện độc lập)
(Hợp đồng mua bán điện)
Cơ quan mua duy nhất
(Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện)
13 SMP System Marginal Price
(Giá biên hệ thống điện)
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng II-1 Tỷ trọng sản lượng các loại nguồn điện năm 2009 37
Bảng II-2 Công suất đặt các loại nguồn năm 2009 38
Bảng II-3 Giá bán điện của các loại hình phát điện 49
Bảng II-4 Các NMTĐ độc lập do tư nhân đầu tư đã vận hành 53
Bảng II-5 Các nhà máy điện có giá bán điện theo mùa 53
Bảng II-6 Các nhà máy điện có giá bán cố định trong cả năm 54
Bảng II-7 Đánh giá chỉ tiêu doanh thu mùa khô của các NMTĐ độc lập 60
Bảng II-8 Đánh giá chỉ tiêu doanh thu mùa mưa của các NMTĐ độc lập 62
Bảng II-9 Đánh giá chỉ tiêu Thời gian vận hành tương đương của các NMTĐ độc lập 63
Bảng II-10 Lượng nước xả và sản lượng điện không được huy động của các NMTĐ độc lập trong mùa lũ 66
Bảng II-11 Suất hao nước thiết kế và suất hao nước thực tế của các NMTĐ trong những năm qua 67
Bảng II-12: Tổng hợp các kết quả phân tích 70
Bảng III-1: Biểu đồ giá biên hệ thống mùa mưa và giá bán điện dự kiến 81
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình II-1 Phân vùng hệ thống điện Việt nam 35
Hình II-2 Biểu đồ phụ tải ngày hè Hình II-3 Biểu đồ phụ tải ngày đông 36
Hình II-4 Biểu đồ tỷ trọng sản lượng các loại nguồn năm 2009 37
Hình II-5 Biểu đồ tỷ lệ các loại nguồn năm 2009 38
Hình II-6 Sơ đồ liên hệ dòng tiền trong thị trường điện một người mua 43
Hình II-7 Tỉ trọng thành phần nguồn trong mùa mưa 50
Hình II-8 Phủ biểu đồ phụ tải trong mùa mưa 50
Hình II-9 Tỉ trọng thành phần nguồn mùa khô 51
Hình II-10 Phủ biểu đồ phụ tải mùa khô 51
Hình II-11 Giá bán điện của các NMTĐ có giá bán điện theo mùa 54
Hình II-12 Giá bán điện của các NMTĐ có một giá điện cố định trong năm 55
Hình II-13 Dạng biểu đồ giá biên ngày hệ thống điện Việt Nam 55
Hình II-14 Đường giá điện cao hơn đường giá biên ngày hệ thống 56
Hình II-15 Đường giá điện thấp hơn đường giá biên ngày hệ thống 56
Hình II-16 Đường giá điện thấp hơn đường giá biên ngày hệ thống 57
Hình II-17 Giá biên HTĐ và giá điện các IPP miền Bắc ngày 28/7/2009 58
Hình II-18 Giá biên hệ thống và giá điện các IPP miền Trung ngày 28/7/2009 58
Hình II-19 Giá biên hệ thống với giá điện các IPP miền Nam ngày 28/7/2009 59
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 5
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KHAI THÁC CÁC NHÀ MÁY ĐIỆN TRONG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MỘT NGƯỜI MUA 4
I.1 Cơ sở lý thuyết về thị trường điện một người mua 4
I.1.1 Các mô hình thị trường điện 4
I.1.1.1 Mô hình thị trường điện độc quyền 5
I.1.1.2 Mô hình thị trường điện một người mua 6
I.1.1.3 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh 7
I.1.1.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh 8
I.1.2 Các vấn đề lý thuyết về mô hình thị trường điện một người mua 10
I.1.2.1 Đặc điểm của mô hình 10
I.1.2.2 Ưu, nhược điểm của mô hình 11
I.1.2.3 Các vấn đề về quản lý thị trường điện một người mua 12
I.1.2.4 Phân loại các nhóm người bán trong mô hình thị trường điện một người mua 15
I.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả khai thác nhà máy điện trong mô hình thị trường điện một người mua 18
I.2.1 Các vấn đề về hiệu quả khai thác của doanh nghiệp 18
I.2.1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh 18
I.2.1.2 Các hướng nâng cao hiệu quả 22
I.2.2 Các vấn đề về hiệu quả khai thác nhà máy điện trong các mô hình tổ chức thị trường điện lực 23 I.2.2.1 Khái niệm về hiệu quả khai thác các nhà máy điện 23
I.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác nhà máy điện trong mô hình thị trường điện một người mua 26 I.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác các nhà máy điện 31
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN ĐỘC LẬP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MỘT NGƯỜI MUA Ở VIỆT NAM 35 II.1 Hiện trạng hệ thống điện và tổ chức thị trường điện một người mua ở Việt Nam 35
Trang 7II.1.1 Hiện trạng hệ thống điện Việt Nam 35
II.1.1.1 Phụ tải hệ thống điện 36
II.1.1.2 Nguồn điện trong hệ thống điện 36
II.1.2 Lộ trình phát triển thị trường điện và đặc điểm của thị trường điện một người mua ở Việt Nam 39 II.1.2.1 Lộ trình hình thành và phát triển thị trường điện 39
II.1.2.2 Đặc điểm của thị trường phát điện cạnh tranh 41
II.1.3 Hiện trạng cơ cấu, mô hình thị trường điện một người mua ở Việt Nam 42
II.1.3.1 Cơ cấu mô hình thị trường điện một người mua 42
II.1.3.2 Cơ chế mua bán điện 43
II.1.3.3 Thực trạng công tác mua điện hiện nay 45
II.1.4 Nguyên tắc và thực trạng huy động các nhà máy điện trong cơ chế thị trường điện một người mua hiện nay 48
II.2 Phân tích, đánh giá hiệu quả khai thác các nhà máy thủy điện độc lập trong cơ chế thị trường điện một người mua hiện nay 52
II.2.1 Giới thiệu và phân tích nguyên tắc khai thác các nhà máy thủy điện độc lập trong cơ chế thị trường điện một người mua hiện nay 52
II.2.2 Đánh giá hiệu quả khai thác các nhà máy thủy điện độc lập trong cơ chế thị trường điện một người mua hiện nay 59
II.2.2.1 Đánh giá theo chỉ tiêu Doanh thu 59
II.2.2.2 Đánh giá theo chỉ tiêu Thời gian vận hành tương đương 62
II.2.2.3 Đánh giá theo chỉ tiêu Suất hao nước 65
II.2.3 Tổng kết đánh giá chung các kết quả phân tích về hiện trạng hiệu quả khai thác các nhà máy thủy điện độc lập trong cơ chế thị trường điện một người mua 68
II.2.3.1 Đối với người bán 68
II.2.3.2 Đối với người mua 69
II.2.3.3 Do tính chất đặc thù của sản phẩm điện và đặc thù hệ thống điện 69
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC CÁC NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN ĐỘC LẬP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MỘT NGƯỜI MUA Ở VIỆT NAM 72
III.1 Định hướng phát triển của thị trường điện một người mua ở Việt Nam 72
III.1.1 Quan điểm xây dựng thị trường điện một người mua 72
III.1.2 Các vấn đề cần chú ý khi xây dựng và triển khai thị trường điện một người mua 73
III.1.3 Định hướng phát triển của thị trường điện một người mua 74
III.1.3.1 Tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành điện 74
III.1.3.2 Tạo môi trường hấp dẫn, thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực phát điện, ngăn chặn nguy cơ thiếu điện 74 III.1.3.3 Đảm bảo cân bằng cung cầu điện năng cho nền kinh tế quốc dân theo cơ chế thị trường 75 III.1.3.4 Tiến tới mở ra các loại hình kinh doanh đa dạng ở các bước tiếp theo của thị trường điện, đảm bảo
Trang 8III.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác các NMTĐ độc lập trong cơ chế thị trường
điện một người mua ở Việt Nam 76
III.2.1 Xây dựng biểu giá bán điện phù hợp với diễn biến thủy văn của hồ chứa và đặc thù hệ thống điện Việt Nam 76
III.2.1.1 Cơ sở đề xuất 76
III.2.1.2 Nội dung của giải pháp 76
III.2.1.3 Kết quả kỳ vọng 79
III.2.2 Thiết lập kế hoạch sửa chữa phù hợp với đặc thù thủy văn và đặc thù hệ thống điện 82
III.2.2.1 Cơ sở đề xuất 82
III.2.2.2 Nội dung của giải pháp 84
III.2.2.3 Kết quả kỳ vọng 85
III.2.3 Đề xuất hỗ trợ chuyên môn các vấn đề về quản lý vận hành nhà máy điện độc lập 85
III.2.3.1 Cơ sở đề xuất 85
III.2.3.2 Nội dung của giải pháp 87
III.2.3.3 Kết quả kỳ vọng 88
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 89
PHẦN KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 10CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KHAI THÁC CÁC NHÀ MÁY ĐIỆN TRONG MÔ
HÌNH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN MỘT NGƯỜI MUA
I.1 Cơ sở lý thuyết về thị trường điện một người mua
I.1.1 Các mô hình thị trường điện
Trước đây, ở hầu hết các nước trên thế giới, ngành điện được coi là ngànhđộc quyền tự nhiên; cả ba chức năng phát điện, truyền tải và phân phối đều tậptrung trong một công ty điện lực quốc gia Tuy nhiên, cho đến đầu những năm
80 của thế kỷ 20, việc đưa cạnh tranh vào khâu phát điện và phân phối bán lẻđiện đã được nhiều nước nghiên cứu và phát triển Đó là vì những lý do sau:
- Ảnh hưởng của sự phát triển nhanh nền kinh tế thị trường và quá trình toàncầu hoá: Một trong những lý do cải tổ ngành điện là vấn đề hiệu quả của
mô hình kinh tế cạnh tranh Khi thị trường được tổ chức cạnh tranh sẽ tạo
ra động lực cho người bán nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm cholợi ích tổng thể của xã hội tăng lên Tự do hóa ngành điện vì vậy đã pháttriển ở các quốc gia mà nền kinh tế có độ tự do hóa cao như Anh, Mỹ
- Nhu cầu huy động vốn đầu tư: Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt làcác nước châu Á Thái Bình Dương, nhu cầu vốn để đại tu, cải tạo và đặcbiệt là xây dựng mới các công trình điện là rất lớn Vốn ngân sách củaChính phủ thường không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư các công trình điện.Chính vì vậy việc cải tổ ngành điện, phát triển thị trường điện cạnh tranh làgiải pháp tích cực để thu hút được đầu tư tư nhân vào ngành này
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực công nghiệp điện lực: Quy mô củacác nhà máy điện đã được thay đổi, nhờ công nghệ phát triển hiện nay đã
có thể chế tạo được những tổ máy hoạt động có hiệu suất cao và phù hợpvới cạnh tranh trong phát điện Ứng dụng công nghệ thông tin trong hệthống điện cũng góp phần làm thay đổi quan điểm trước đây về kinh doanh
Trang 11của ngành điện, công nghệ thông tin hỗ trợ các đơn vị trong việc quản lý kỹthuật và kinh doanh, giao dịch khách hàng ngay cả khi các hoạt động nàyđược tổ chức theo mô hình cạnh tranh.
- Hiệu ứng dây chuyền: Thực tế cho thấy rằng việc xây dựng bước đầu đượcxem là thành công thị trường điện ở một số nước cũng có tác động đến cácnước khác Các nước đi sau có thể rút ra bài học kinh nghiệm về thành côngcũng như thất bại trong quá trình xây dựng thị trường điện của các nước đitrước, tác động tích cực đưa cạnh tranh vào ngành điện để nâng cao hiệuquả hoạt động, giảm gánh nặng ngân sách đầu tư, giảm giá bán điện
Tất cả những lý do trên đã thúc đẩy các nước nghiên cứu và phát triển việccạnh tranh hoá mạnh mẽ trong ngành điện, dẫn tới sự ra đời của những mô hìnhthị trường điện theo lộ trình với từng cấp độ cạnh tranh: cạnh tranh một ngườimua, thị trường bán buôn, thị trường bán lẻ Dưới đây tác giả sẽ hệ thống hóa cácvấn đề cơ bản của các mô hình tổ chức thị trường điện lực
I.1.1.1 Mô hình thị trường điện độc quyền
Hình I-1 Mô hình thị trường điện độc quyền
(Nguồn: Thực hiện bởi tác giả)
Truyền tải điện
Phân phối Bán lẻ
Khách hàng
Tiền điện
Điện năng
Công ty điện lực Quốc gia
Nhà máy
điện
Nhà máy điện
Điện năng Tiền điện
Trang 12Trong mô hình thị trường điện độc quyền, Công ty điện lực quốc gia quản
lý toàn bộ bao gồm các nhà máy phát điện (là nơi sản xuất ra điện năng), hệthống truyền tải điện, phân phối điện Trong mô hình này, các nhà máy điệnhạch toán phụ thuộc hoàn toàn vào Công ty điện lực quốc gia, việc có bán đượcđiện hay không không ảnh hưởng nhiều đến doanh thu của nhà máy Chính vìvậy, có thể thấy cơ chế này không khuyến khích các đơn vị phát điện giảm chiphí, tìm đầu ra cho sản phẩm của mình Khách hàng không có cơ hội lựa chọnnhà cung cấp điện cho mình
I.1.1.2 Mô hình thị trường điện một người mua
SHAPE \* MERGEFORMAT
Công ty phát
Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Cơ quan mua
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phát
Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Cơ quan mua
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Hình STYLEREF 1 \s I- SEQ Hình \* ARABIC \s 1 2 Mô hình
thị trường điện một người mua
Trang 13(Nguồn: Thực hiện bởi tác giả)
Thị trường điện một người mua (còn gọi là thị trường phát điện cạnh tranh)
là cấp độ đầu tiên trong 3 cấp độ của một thị trường điện lực hoàn chỉnh Đây là
Hình thái thị trường với cơ chế người mua trung gian (ban đầu có thể chỉ cần
một người mua duy nhất cho đơn giản - còn gọi là Cơ quan mua duy nhất).Trong thị trường điện này, Cơ quan mua duy nhất có trách nhiệm mua điện từcác công ty phát điện ở mức chi phí thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu điện quốcgia sau đó bán lại cho các công ty phân phối điện để phân phối cho khách hàng
mà không đặt ngành điện trước rủi ro thị trường không đáng có do cạnh tranh.Chính vì vậy thị trường này được coi là giai đoạn quá độ giữa mô hình thị trườngđộc quyền và một thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn toàn
a Ưu điểm của mô hình
- Cần ít thay đổi lớn từ tình hình hiện tại.
- Tăng cường năng lực trong các lĩnh vực chủ chốt, cơ hội thành công cao.
- Trong thời gian trước mắt, không có tác động lớn đối với các công ty phân
phối điện đang tồn tại, vì vậy cho phép các công ty này có thêm thời giancải thiện năng lực tài chính và quản lý cũng như chuẩn bị cho cạnh tranhtrong tương lai
b Nhược điểm của mô hình
- Cạnh tranh ban đầu bị hạn chế bởi các yêu cầu phát điện mới, ít động lực và
áp lực đối với các đơn vị phát điện về cải thiện hiệu năng và giảm chi phí
- Đòi hỏi cơ quan mua duy nhất phải có vị thế tín dụng mạnh hoặc phải có
bảo lãnh của Chính phủ đối với các hoạt động mua điện
- Các công ty phân phối không có cơ hội lựa chọn đối tác cung cấp điện cho
mình để giảm chi phí
- Cắt giảm các chi phí cung cấp điện sẽ bị hạn chế.
Trang 14I.1.1.3 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Công ty phân phối
Hình I-2 Mô hình thị trường bán buôn điện cạnh tranh
(Nguồn: thực hiện bởi tác giả)
Trong mô hình này, các công ty phân phối điện (thay thế cho cơ quan muaduy nhất) có thể mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện (thông qua các Hợpđồng mua bán điện song phương) hoặc mua điện từ thị trường điện giao ngaythông qua quy trình đấu thầu cạnh tranh Mô hình bán buôn điện cạnh tranh gaygắt hơn và vận hành phức tạp hơn mô hình thị trường điện một người mua,nhưng sẽ đạt được hiệu năng cao hơn Mô hình này cũng có độ rủi ro thị trườngcao hơn
a Ưu điểm của mô hình
- Các công ty phân phối có cơ hội lựa chọn đơn vị cung ứng điện với chi phí
thấp nhất
- Cạnh tranh mở rộng sẽ gây áp lực lớn khiến các đơn vị phát điện phải nâng
cao hiệu năng và giảm chi phí
- Các khách hàng lớn đủ điều kiện có thể lựa chọn các đối tác cung cấp điện
cho mình
- Hiệu quả hơn và tiết kiệm chi phí nhiều hơn so với mô hình thị trường điện
một người mua
Trang 15b Nhược điểm của mô hình
- Sẽ có các thay đổi lớn so với tình hình hiện tại Ngành điện sẽ phải nâng
cao năng lực đáng kể để vận hành thị trường này một cách hiệu quả
- Các khách hàng vừa và nhỏ có thể không thu được lợi ích trực tiếp từ việc
tiết kiệm chi phí điện năng và hiệu năng thị trường
- Xây dựng và vận hành thị trường này sẽ tốn kém và phức tạp hơn mô hình
thị trường điện một người mua
I.1.1.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
Mô hình cạnh tranh đầy đủ - thị trường bán lẻ điện cạnh tranh là một lựachọn cho xem xét dài hạn Cạnh tranh bán lẻ mở rộng quy mô của thị trườngcạnh tranh bằng cách loại bỏ độc quyền cuối cùng còn lại ở khâu phân phối / bán
lẻ Trong một thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, các khách hàng tiêu thụ điện bán
lẻ sẽ được phép mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện Cạnh tranh thị trường
và tính phức tạp của vận hành sẽ tăng thêm nữa
Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Lưới truyền tải & Thị trường bán buôn
Lưới phân phối & Thị trường bán lẻ
Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát Công ty phát
Lưới truyền tải & Thị trường bán buôn
Lưới phân phối & Thị trường bán lẻ
Hình I-3 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh
(Nguồn: thực hiện bởi tác giả)
a Ưu điểm của mô hình
Trang 16- Cho phép từng bước tiến tới một thị trường cạnh tranh hơn, với cạnh tranh
bán lẻ điện theo từng giai đoạn, bắt đầu với các khách hàng lớn, sau đó mởrộng đến các khách hàng nhỏ hơn
- Cơ hội thực hiện thành công cao hơn vì các thành phần tham gia thị trường
sẽ được chuẩn bị tốt hơn cho cạnh tranh đầy đủ trong giai đoạn dài hạn
- Tất cả các khách hàng (cả khách hàng vừa và nhỏ) có thể thu được lợi ích
trực tiếp từ cạnh tranh hoàn toàn và mở rộng quyền lựa chọn
b Nhược điểm của mô hình
- Các khách hàng vừa và nhỏ sẽ mất nhiều thời gian hơn để hiện thực hóa tiết
kiệm chi phí và hiệu năng thị trường
- So với mô hình cạnh tranh bán buôn, cần đầu tư bổ sung nhiều hơn về mặt
tài chính, công nghệ để xây dựng thị trường cạnh tranh bán lẻ
- Cho phép cạnh tranh bán lẻ điện làm phát sinh các chi phí bổ sung do sự
tăng lên đáng kể các điểm đo đếm điện
- Yêu cầu thông tin khách hàng rộng rãi và gia tăng chi phí đào tạo.
I.1.2 Các vấn đề lý thuyết về mô hình thị trường điện một người mua.
I.1.2.1 Đặc điểm của mô hình
Mô hình một người mua được coi là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới
tự do hoá trong kinh doanh điện mà thực chất là mô hình thị trường phát điệncạnh tranh Mô hình này cho phép các nhà đầu tư tư nhân xây dựng, sở hữu vàquản lý các nhà máy điện độc lập Các công ty phát điện phải cạnh tranh để bánđiện cho Cơ quan mua duy nhất Như vậy cơ quan mua duy nhất sẽ độc quyềnmua điện từ các nguồn phát cạnh tranh và bán điện đến các công ty phân phốiđiện
Khác với mô hình độc quyền liên kết dọc, thị trường điện một người muacho phép cạnh tranh trong lĩnh vực phát điện trong khi chưa có điều kiện để thiếtlập các thiết chế của thị trường cạnh tranh cho đến tận khâu bán buôn và bán lẻđiện Thị trường điện cạnh tranh một người mua đòi hỏi phải chia tách chứcnăng của các khâu truyền tải và phát điện trong mô hình liên kết dọc
Trang 17Việc cho phép các nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài đầu tư vàxây dựng nguồn điện sẽ giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho ngân sách của Chínhphủ đầu tư vào ngành điện, chia sẻ bớt các rủi ro khi xây dựng nhà máy điện.Việc đa dạng hoá thành phần trong phát điện cũng là động lực để nâng cao hiệuquả hoạt động, giảm giá thành sản xuất điện của các nhà máy điện
Như vậy so sánh với mô hình truyền thống liên kết dọc, mô hình một ngườimua này đã đưa được cạnh tranh vào khâu phát điện Tuy nhiên, cơ quan muaduy nhất vẫn độc quyền mua điện từ các công ty phát điện và độc quyền phânphối cho các khách hàng
Trong giai đoạn đầu hình thành thị trường điện cạnh tranh, có nhiều nước
đã trải qua mô hình này, chủ yếu là các nước Đông Âu thuộc Liên Xô cũ, cácnước Hàn Quốc, Nam Mỹ và một số nước Đông Nam Á
I.1.2.2 Ưu, nhược điểm của mô hình
a Ưu điểm:
- Không gây ra những thay đổi đột biến và xáo trộn lớn trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và cơ cấu tổ chức của ngành điện hiện tại
- Cơ hội thực hiện thành công cao do có đủ thời gian để các đối tượng tham
gia thị trường dần tăng cường năng lực của mình đáp ứng nhu cầu của thịtrường
- Hình thành được môi trường cạnh tranh trong khâu phát điện, chủ yếu là
cạnh tranh phát triển nguồn mới và một phần cạnh tranh trực tiếp trên thịtrường ngắn hạn, ổn định được giá điện, giảm áp lực tăng giá
- Thu hút được vốn đầu tư vào các nguồn điện mới, giảm gánh nặng cho
ngân sách đầu tư của Chính phủ vào ngành điện, là mô hình thích hợp chothời kỳ có nhu cầu cao về điện năng và đầu tư nguồn điện mới
- Không gây ảnh hưởng lớn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty phân phối điện hiện tại
- Hệ thống quy định cho hoạt động của thị trường chưa phức tạp do mô hình
đơn giản
Trang 18- Nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường không lớn.
b Nhược điểm:
- Đơn vị mua duy nhất được độc quyền mua buôn điện từ các đơn vị phát
điện nên có nhiều điều kiện cho các tiêu cực trong điều hành thị trường
- Mức độ cạnh tranh chưa cao, chỉ giới hạn trong cạnh tranh phát điện Sức
ép đối với các đơn vị phát điện giảm chi phí, tăng hiệu quả chưa lớn.Không có cơ hội cho các công ty phân phối được lựa chọn nhà cung cấp
- Đơn vị mua duy nhất phải có năng lực tài chính đủ mạnh để đảm bảo thực
hiện các hợp đồng mua điện đã ký và đủ uy tín để thu hút các nhà đầu tưmới
- Chưa có lựa chọn mua điện cho các khách hàng.
I.1.2.3 Các vấn đề về quản lý thị trường điện một người mua
Sự thay đổi quan trọng nhất trong quản lý thị trường điện khi chuyển sang
mô hình một người mua là phải hình thành Đơn vị mua duy nhất và đơn vị điềuhành giao dịch thị trường điện Các đơn vị phát điện, đơn vị mua duy nhất, công
ty truyền tải, cơ quan vận hành hệ thống và vận hành thị trường đóng vai tròquan trọng đối với hoạt động của thị trường Các đơn vị này cần phải được táchbiệt nhau về tài chính nên mô hình thị trường cần được thiết kế để tránh nhữngmâu thuẫn lợi ích nhằm tiến tới một thị trường cạnh tranh minh bạch, công bằng
và hiệu quả Những quy định về chống phi cạnh tranh cần phải được ban hànhchặt chẽ để tránh được những hoạt động liên kết lũng đoạn thị trường Các thànhphần tham gia thị trường điện một người mua và hoạt động của nó bao gồm:
a Các công ty phát điện cạnh tranh
Các công ty phát điện giờ đây là những người bán, các công ty này sẽ cạnhtranh với nhau để có thể bán điện cho người mua duy nhất Khi có sự tham giacủa các công ty phát điện độc lập, mỗi công ty nên sở hữu vài nhà máy điện, lýtưởng nhất là các công ty có thể sở hữu cả nhà máy nhiệt điện và thuỷ điện để cóthể hỗ trợ lẫn nhau trong quản lý và hoạt động thị trường Kinh nghiệm các nướctrên thế giới cho thấy trong giai đoạn đầu hình thành thị trường điện cạnh tranh,
Trang 19các nhà máy điện thuộc công ty liên kết dọc sẽ tách ra khỏi công ty và hình thànhcác công ty phát điện lớn
Các nhà máy thuỷ điện đa mục tiêu vẫn có thể cạnh tranh một cách hiệuquả nếu có một quy định phù hợp Các nhà máy thuỷ điện bậc thang nên thuộcquyền sở hữu của một công ty phát điện, giúp cho việc quản lý và khai thác bậcthang hiệu quả hơn, tối ưu hoá thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà máy
Để tránh hiện tượng lũng đoạn thị trường, tỉ lệ công suất đặt của một đơn vị phátđiện phải nhỏ hơn 25% tổng công suất đặt toàn hệ thống
b Truyền tải điện.
Khâu truyền tải điện mang tính độc quyền tự nhiên như đã phân tích ở trên.Đơn vị truyền tải sẽ là một đơn vị hoạt động phi lợi nhuận, cung cấp các dịch vụtruyền tải và được hưởng phí Chức năng của đơn vị truyền tải như sau:
- Ký các hợp đồng cung cấp dịch vụ truyền tải, thực hiện việc đấu nối cho
các đơn vị phát điện và đơn vị phân phối Đảm bảo việc tham gia lướitruyền tải điện công bằng cho các đơn vị phát điện
- Quản lý, vận hành thiết bị truyền tải đảm bảo vận hành an toàn, tin cậy.
- Đầu tư phát triển lưới truyền tải phù hợp với quy hoạch điện lực.
c Phân phối điện.
Cấp độ thị trường này các công ty phân phối chưa tham gia nên không có gìthay đổi so với mô hình thị trường liên kết dọc
d Vận hành hệ thống và vận hành thị trường.
Đối với chức năng vận hành hệ thống điện thực hiện theo các điều khoảntheo luật qui định và không thay đổi nhiều Các chức năng chính của vận hành
hệ thống điện bao gồm:
- Lập kế hoạch vận hành hệ thống điện ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
- Lập phương thức huy động nguồn và vận hành thời gian thực, thực hiện các
dịch vụ phụ trợ
- Thực hiện các phối hợp sửa chữa, thí nghiệm nguồn, lưới.
Trang 20- Thực hiện các thao tác và xử lí sự cố trên hệ thống điện.
Đối với chức năng vận hành thị trường, đơn vị điều hành giao dịch thịtrường sẽ hoạt động theo Quy định thị trường do Cơ quan điều tiết điện lực quyđịnh Chức năng chính như sau:
- Điều hành và quản lý hoạt động mua bán điện giao ngay Quản lý việc thực
hiện mua bán công suất, điện năng trong các hợp đồng có thời hạn và cáchợp đồng cung cấp dịch vụ phụ trợ trong thị trường điện lực
- Lập kế hoạch huy động công suất, điện năng của các nhà máy điện trên cơ
sở công suất, điện năng trong các hợp đồng có thời hạn, đăng ký mua bánđiện giao ngay của các đơn vị tham gia mua bán điện trên thị trường và cácràng buộc kỹ thuật của hệ thống điện để giao cho đơn vị vận hành hệ thốngđiện Quốc Gia và các đối tượng tham gia thị trường thực hiện
- Xác định nhu cầu sử dụng các dịch vụ truyền tải điện, phân phối điện, các
dịch vụ phụ trợ để ký hợp đồng với các Đơn vị truyền tải điện, phân phốiđiện, các đơn vị cung cấp dịch vụ phụ trợ
- Tính toán giá điện tức thời, lập hoá đơn thanh toán đối với lượng công suất,
điện năng mua bán giao ngay và các phí sử dụng dịch vụ phụ trợ
e Đơn vị mua duy nhất.
Trong thị trường phát điện cạnh tranh một người mua sẽ hình thành đơn vịmua điện duy nhất với các chức năng chính như sau:
- Dự báo phụ tải trung và dài hạn để cân đối lượng nguồn cần bổ sung mới
phù hợp với quy hoạch
- Tổ chức lựa chọn nhà đầu tư phát triển các nguồn điện mới theo nguyên tắc
cạnh tranh theo quy hoạch nguồn chi phí tối thiểu dưới sự giám sát của cơquan điều tiết điện lực
- Thương thảo, ký và quản lý các hợp đồng mua điện với các nhà đầu tư
nguồn điện, các hợp đồng song phương với các đơn vị phát điện, các hợpđồng truyền tải với công ty truyền tải, các hợp đồng dịch vụ vận hành
Trang 21- Cân đối các yêu cầu mua điện trong thời kỳ ngắn hạn chuyển cho đơn vị
điều hành giao dịch thị trường điện thực hiện tổ chức mua bán giao ngay
f Điều tiết điện lực.
Khi thực hiện cải tổ ngành điện theo hướng mở ra thị trường cạnh tranh cầnphải có Cơ quan điều tiết điện lực nhằm phân tách rõ chức năng hoạch địnhchính sách và chức năng điều tiết Điều tiết được định nghĩa là việc thiết lập,giám sát và tổ chức thực hiện chính sách, bảo đảm hiệu lực thi hành các luật lệnhằm thúc đẩy hiệu quả và tối ưu trong vận hành thị trường Để đảm bảo thànhcông của việc đưa cạnh tranh vào ngành điện, cần thiết phải có một thể chế điềutiết rõ ràng, minh bạch, có một cơ quan điều tiết độc lập được trao đầy đủ quyềnlực để thực hiện các chức năng của mình Cơ quan điều tiết cần phải độc lập vềquyền lợi với các bên tham gia thị trường
Cơ quan điều tiết có chức năng sau:
- Quản lý cấp phép hoạt động điện lực trong phạm vi toàn quốc Sửa đổi, bổ
sung và thu hồi giấy phép hoạt động điện lực khi đối tượng tham gia hoạtđộng điện lực vi phạm các quy định về cấp phép
- Xây dựng các quy định chi phối các hoạt động của thị trường điện và
hướng dẫn thực hiện
- Giám sát và điều tiết quan hệ cung cầu.
- Xây dựng, giám sát và phê duyệt biểu giá điện.
- Giám sát thực hiện thi hành luật và các quy định, giải quyết tranh chấp, xử
phạt và cưỡng chế thi hành
- Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực điều tiết điện lực và phát triển thị
trường điện, liên kết lưới điện khu vực và thị trường điện khu vực
- Tiếp nhận và quản lý các dự án có liên quan đến việc hoàn thiện cơ chế,
chính sách điều tiết điện lực
- Tổ chức đào tạo cán bộ, chuyên gia điều hành thị trường, chuyên gia quy
hoạch hệ thống, tính toán giá điện
Trang 22I.1.2.4 Phân loại các nhóm người bán trong mô hình thị trường điện một
người mua
a Nhóm người bán được hình thành từ việc tái cơ cấu ngành điện.
Hình I-4 Sơ đồ nguyên tắc tái cơ cấu của ngành điện
(Nguồn: Tổng hợp của Tác giả)
Với việc chuyển đổi từ mô hình độc hình quyền tự nhiên sang mô hình thịtrường điện một người mua thì tất yếu phải thực hiện tái cơ cấu ngành điện dođây là một trong những điều kiện tiên quyết bắt buộc cho việc hình thành và pháttriển thị trường điện Các nguyên tắc chính cho tái cơ cấu ngành điện được xácđịnh cụ thể như sau:
- Tách biệt về sở hữu các công ty phát điện (bên bán điện) với Công ty Mua
bán điện (bên mua điện) để xoá bỏ mâu thuẫn quyền lợi trong mua bánđiện, tránh tình trạng Công ty Mua bán điện dùng vị thế của mình để manglại lợi nhuận cao hơn cho các đơn vị phát điện cùng chung sở hữu và gâythiệt hại cho các đơn vị phát điện độc lập khác
- Tách biệt các khâu cung cấp dịch vụ độc quyền với các khâu sẽ hoạt động
cạnh tranh nhằm đảm bảo đối xử công bằng, minh bạch của đơn vị này vớimọi đối tượng khác khi tham gia thị trường Các đơn vị cung cấp dịch vụđộc quyền cần có vị trí hoàn toàn độc lập với các đơn vị sẽ tham gia hoạtđộng cạnh tranh để tránh tình trạng các đơn vị này sẽ gây khó khăn cho các
KHỐI BÁN BUÔN, PHÂN PHỐI & BÁN LẺ
(Hiện thuộc sở hữu Nhà nước,
sẽ cổ phần hóa)
Cạnh tranh trong WCM
CÁC NGUỒN CHIẾN LƯỢC, TRUYỀN TẢI &
Trang 23đơn vị không chung sở hữu trong việc sử dụng các dịch vụ do các đơn vịnày cung cấp
- Tái cấu trúc lại khâu phát điện thành các Đơn vị phát điện có quy mô và
năng lực cạnh tranh tương đương nhau để tạo nên cạnh tranh thực sự trongkhâu phát điện
Như vậy việc tái cấu trúc để xây dựng thị trường điện cạnh tranh sẽ hìnhthành nhóm người bán là các đơn vị phát điện nằm trong mô hình độc quyền liênkết dọc trước đây mà vốn dĩ là các nhà máy điện có cùng một chủ sở hữu đượchuy động vào lưới không theo cơ chế thị trường
b Nhóm người bán được hình thành từ các nguồn vốn đầu tư phi truyền thống vào ngành điện.
Nhóm người bán là các BOT
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: “Phương thức đầu tư BOT là hình
thức Nhà đầu tư tiến hành đầu tư xây dựng công trình, sau khi hoàn thành sẽ tiến hành kinh doanh khai thác trong một thời gian nhất định đảm bảo thu hồi được vốn và có lợi nhuận hợp lý sau đó chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước.”
BOT (Build - Operate - Transfer) là một phương thức đầu tư được áp dụngriêng trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, theo phương thức này, nhà đầu tư sẽ tiến hànhxây dựng và sau đó khai thác kinh doanh công trình đó trong một thời gian hợp
lý tùy thuộc vào từng lĩnh vực đầu tư và từng dự án cụ thể Tuy nhiên khoảngthời gian này phải đủ để nhà đầu tư thu hồi được vốn và các khoản chi phí đãtrang trải đồng thời có một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý Sau khoảng thời gian đó côngtrình sẽ được chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước để tiếp tục vận hành,kinh doanh
Hợp đồng BOT là văn bản được ký kết đầu tiên của dự án BOT, là thỏa
thuận của cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà cho phép công ty BOT đượchưởng các quyền và ưu đãi như: quyền sử dụng đất, quyền sử dụng các dịch vụ
và các công trình công cộng, các ưu đãi về thuế, các biện pháp hỗ trợ khác
Trang 24thường khác Hợp đồng BOT cũng là nền tảng quan trọng nhất cho việc đàmphán và ký kết các hợp đồng sau đó Các điều khoản trong hợp đồng BOT sẽđược áp dụng cho tất cả các hợp đồng khác ký giữa công ty BOT và bên thứ ba.
Hợp đồng bao tiêu sản phẩm là một trong những hợp đồng quan trọng bậc
nhất của một dự án BOT, đặc biệt đối với các nhà đầu tư vì nó quyết định khảnăng tiêu thụ sản phẩm của công ty, cũng có nghĩa là quyết định khả năng tạo radoanh thu từ việc vận hành dự án Hợp đồng này thường được ký kết giữa công
ty BOT và doanh nghiệp nhà nước được chỉ định bởi cơ quan có thẩm quyền đã
ký kết hợp đồng BOT Theo hợp đồng này, doanh nghiệp nước chủ nhà cam kếtmua và công ty BOT cam kết bán lại sản phẩm sản xuất ra từ dự án theo các điềukhoản thỏa thuận trong hợp đồng
Nhóm người bán là các IPP
Khác với các dự án đầu tư dạng BOT, việc đầu tư phát triển các dự án dạngIPP (nhà máy điện độc lập) hoàn toàn do các chủ đầu tư chủ động trên cơ sở phùhợp với Qui hoạch phát triển điện và được Chính phủ chấp thuận Việc mua bánđiện giữa chủ đầu tư và bên mua điện được thực hiện trên cơ sở Hợp đồng mua
bán điện được ký kết giữa hai bên mà không cam kết bao tiêu toàn bộ sản
lượng điện sản xuất từ nhà máy, điều này dẫn tới chủ đầu tư phải chấp nhận
cạnh tranh để bán điện cho bên mua
I.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả khai thác nhà máy điện trong mô hình thị trường điện một người mua
I.2.1 Các vấn đề về hiệu quả khai thác của doanh nghiệp
I.2.1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
a Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường ngày nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và pháttriển thì phải làm ăn có hiệu quả Có nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, tuy nhiên khái niệm mang tính tổng quannhất về hiệu quả sản xuất kinh doanh là nó phản ánh khả năng sử dụng cácnguồn lực của doanh nghiệp
Trang 25Giáo trình “Kinh tế học” của P.Samueleson và W.Nordhaus viết: “hiệu quảtức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏamãn nhu cầu mong muốn của con người” Giáo sư kinh tế học N.GregoryMankiw của đại học Harvard cho rằng: “hiệu quả có nghĩa là xã hội thu được kếtquả cao nhất từ các nguồn lực khan hiếm của mình” Cũng đồng quan điểm này,
từ điển kinh tế của Manfred Kuhn viết: “tính hiệu quả được xác định bằng cáchlấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”
Như vậy có thể khái quát rằng nghiên cứu về hiệu quả sản xuất kinh doanh
là các nghiên cứu so sánh giữa một bên là các chỉ tiêu phản ánh kết quả đầu ravới một bên là các nguồn lực đầu vào, đồng thời các tính toán này được so sánhvới các “chuẩn” để có thể đưa ra những đánh giá rằng hoạt động của doanhnghiệp là hiệu quả hay không hiệu quả Trong thực tế, đối với nhiều hoạt độngsản xuất kinh doanh, có nhiều yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra có thể đolường được, tuy nhiên có nhiều yếu tố việc định lượng là không dễ dàng Do đó,
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải thể hiện cả về mặt định tính và định lượng.”
Nếu xét về định lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh doanh khi nàokết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao và ngượclại Khi đánh giá về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao phản ánh sự cốgắng, nỗ lực, trình độ quản lí của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống và sự gắn bócủa việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mụctiêu chính trị - xã hội Hai mặt định tính và định lượng của phạm trù hiệu quả cóquan hệ chặt chẽ với nhau
Đặc biệt khi doanh nghiệp là đơn vị cơ bản của mọi nền kinh tế nên hoạt động của doanh nghiệp nằm trong tổng thể chung của nền kinh tế tổng thể Vì vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải luôn có sự gắn kết giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.”
Quan điểm này không những phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệuquả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả sản xuất với chi phí sản xuất, mà còn biểuhiện sự tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí Nó được biểu hiện
Trang 26cụ thể dưới dạng tổng hợp nhiều chỉ tiêu kinh tế khác nhau trong quá trình sảnxuất.
Hiệu quả kinh tế là hiệu quả xét về mặt kinh tế, được so sánh, tính toán, dựatrên giá trị và được đo bằng đồng tiền Còn hiệu quả xã hội được so sánh dựatrên bảo đảm lợi ích cho con người, được đo bằng hệ thống các chỉ tiêu về pháttriển con người và xã hội như sức khỏe, học vấn, trình độ văn hóa, quan hệ conngười, quan hệ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
Trong thực tế đời sống kinh tế - xã hội hai loại hiệu quả này có mối quan hệchặt chẽ với nhau, chúng vừa là kết quả vừa là điều kiện cho nhau, vừa thốngnhất, vừa mâu thuẫn với nhau Khi xem xét hai loại hiệu quả này phải đặt trongmột mối quan hệ cả về không gian, thời gian, về chất và lượng Xét trên quanđiểm hệ thống thì hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội cần được giải quyết hàihòa đối với các doanh nghiệp
Có thể thấy rõ mối quan hệ này giữa hiệu quả doanh nghiệp và hiệu quảtổng thể của toàn xã hội trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện lực.Trên phương diện của ngành điện, rõ ràng là nếu chỉ coi ngành điện là mộtngành kinh tế thông thường thì sẽ không có chuyện giá điện bán thấp hơn so vớigiá thành sản xuất Tuy nhiên, lợi ích của ngành điện khi xem xét trong tổng thểnền kinh tế quốc dân, ngành điện buộc phải thực hiện nhiệm vụ công ích, bánđiện ở khu vực nông thôn thậm chí còn thấp hơn cả giá thành Như vậy, hiệu quảcủa doanh nghiệp và hiệu quả tổng thể vừa thống nhất và vừa mâu thuẫn
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có mốiquan hệ với tất cả các yếu tố của quá trình như: Lao động, tư liệu lao động, đốitượng lao động…nên các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả khi sử dụngcác yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả Hiệu quả sản xuất kinhdoanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh một cách khái quát nhất kếtquả sản xuất kinh doanh và lợi ích thu được cả về mặt kinh tế cũng như xã hội
b Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là một phạm trù rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội,chính trị… Hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh lại được biểu hiện ở
Trang 27nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện đặc trưng ý nghĩa cụ thể riêng Việcphân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tácdụng thiết thực trong công tác quản lý Đây chính là cơ sở các chỉ tiêu và hiệuquả sản xuất kinh doanh để từ đó đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Ta có thể phân hiệu quả thành những loạisau:
- Hiệu quả kinh doanh riêng biệt, hiệu quả xã hội
- Hiệu quả chi phí bộ phận, hiệu quả chi phí tổng hợp
- Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối
Hiệu quả kinh doanh riêng biệt, hiệu quả phương diện xã hội
Hiệu quả sản xuất kinh doanh riêng biệt
Là hiệu quả sản xuất kinh doanh thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanhcủa từng doanh nghiệp, biểu hiện ở lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được,bao gồm:
- Hiệu quả kinh doanh: Là tỷ số giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phí
bỏ ra cho việc sản xuất kinh doanh khối lượng sản phẩm hàng hóa đó, nóphụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Hiệu quả thu được do các nghiệp vụ tài chính: Là tỷ số giữa thu và chi
mang tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Hiệu quả hoạt động liên doanh liên kết: Là tỷ số giữa thu nhập được phân
chia từ kết quả hoạt động liên doanh liên kết với chi phí bỏ ra để liên doanhliên kết
- Hiệu quả các hoạt động khác: Là kết quả của các hoạt động kinh tế khác
ngoài các hoạt động đã nêu trên so với chi phí đã bỏ ra cho các hoạt độngnày
Hiệu quả phương diện xã hội
Là sự đóng góp của các doanh nghiệp vào sự phát triển chung của nền kinh
tế dưới hình thức là nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước Khi doanh nghiệp kinh
Trang 28doanh có hiệu quả đạt được lợi nhuận cao sẽ đóng góp cho nền kinh tế xã hội cáckhía cạnh:
- Thuế cho nhà nước.
- Tăng sản phẩm quốc nội.
- Nâng cao chất lượng hàng hóa dịch vụ.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thất ngiệp
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tốt hơn…
Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả xã hội chỉ mang tính chấttương đối vì ngay trong một chỉ tiêu nó cũng phản ánh cả hai mặt hiệu quả Hiệuquả kinh doanh tăng lên sẽ làm tăng hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh doanhgiảm đi cũng sẽ làm hiệu quả xã hội giảm theo
Hiệu quả chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh lại có những điều kiện
cụ thể về trình độ quản lý, vốn, kỹ thuật hay trang thiết bị riêng… Cũng như vậysản phẩm khi đưa ra thị trường cũng có các mức chi phí khác nhau, do vậy màhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung là dựa trên cơ sở sảnxuất hiệu quả của các chi phí bộ phận cấu thành Khi đánh giá hiệu quả sản xuấtkinh doanh ta không những đánh giá tổng hợp mà còn cần đánh giá ở từng bộphận, giai đoạn hay công đoạn riêng
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
- Hiệu quả tuyệt đối: Là hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể,
xác định mức thu được và chi phí bỏ ra để có thể đi đến quyết định có thựchiện hay bỏ qua dự án này không
- Hiệu quả so sánh: Được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối của các phương án với nhau, mục đích là để lựa chọn cách làmhiệu quả nhất
Trang 29I.2.1.2 Các hướng nâng cao hiệu quả
Từ khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, các hướng để nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh như sau:
a Biện pháp tăng doanh thu khi chi phí giữ nguyên hoặc mức tăng chi phí chậm hơn mức tăng doanh thu:
Quan tâm đến chất lượng sản phẩm nhằm đảm bảo uy tín của doanh nghiệptrên thị trường Mở rộng các hoạt động tiếp, mở rộng thị trường tiêu thụ nhằmtạo ra điều kiện mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu và tăng lợi nhuận
b Biện pháp giảm chi phí khi doanh thu không giảm hoặc mức giảm doanh thu ít hơn:
Khi nền kinh tế rơi vào khó khăn việc cắt giảm chi phí là điều rất quantrọng Tuy nhiên, cần phân loại đúng các chi phí để cắt giảm cho hiệu quả, phântích tỉ trọng để đánh đúng vào trọng tâm Muốn làm được điều đó doanh nghiệpcần có một tầm nhìn tổng thể về tình hình kinh doanh của mình Ngoài ra, cần cómột cái nhìn hướng về tương lai và đặt niềm tin mình vào đó Khi chọn đúngcách thì chắc hẳn tự các doanh nghiệp sẽ thực hiện tốt chiến lược giảm chi phí
c Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:
- Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động của công ty
- Chủ động khai thác và sử dụng nguồn vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu
động nói riêng một cách hợp lý và linh hoạt
- Tăng cường công tác quản lý các khoản phải thu, hạn chế tối đa lượng vốn
bị chiếm dụng
- Có biện pháp sử dụng có hiệu quả vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi
- Tổ chức tốt việc tiêu thụ nhằm đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Có biện pháp phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra
d Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực:
Trong phạm vi một doanh nghiệp, sử dụng lao động được coi là vấn đềquan trọng hàng đầu vì lao động là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản
Trang 30xuất Nhưng sử dụng lao động sao cho có hiệu quả cao nhất lại là một vấn đềriêng biệt đặt ra trong ra trong từng doanh nghiệp Việc doanh nghiệp sử dụngnhững biện pháp gì, những hình thức nào để phát huy khả năng của người laođộng nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh là mộtđiều hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bạicủa doanh nghiệp đó Mặt khác biết được đặc điểm của lao động trong doanhnghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, thời gian và công sức vìvậy mà việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp dễ dàng hơn.
Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động là cơ sở để nâng cao tiền lương, cảithiện đời sống cho công nhân, giúp cho doanh nghiệp có bước tiến lớn trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh
I.2.2 Các vấn đề về hiệu quả khai thác nhà máy điện trong các mô hình tổ
chức thị trường điện lực
I.2.2.1 Khái niệm về hiệu quả khai thác các nhà máy điện
Khi nhà máy điện được định nghĩa như một doanh nghiệp, hiệu quả khaithác các nhà máy điện hoàn toàn phụ thuộc vào mô hình tổ chức thị trường điệnlực mà nhà máy điện nằm trong mô hình đó Tuy nhiên về phương diện tổngquan, hiệu quả khai thác các nhà máy điện có thể hiểu là khi đảm bảo các yêucầu về kỹ thuật của hệ thống, các nhà máy điện được gọi là khai thác hiệu quảkhi các nguồn đầu vào xác định được sử dụng và mang lại kết quả đầu ra là lớnnhất Các kết quả đầu ra có thể là sản lượng điện năng phát vào lưới hoặc doanhthu bán điện mà nhà máy điện thu được
a Hiệu quả khai thác nhà máy điện trong thị trường độc quyền liên kết dọc
- Đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật hệ thống, chất lượng điện năng, an toàn, tin
cậy…
- Trong mô hình này, các nhà máy điện đều trực thuộc công ty điện lực quốc
gia, được huy động phát điện lên lưới theo cách thức điều động của trungtâm điều độ hệ thống điện quốc gia Bản thân nhà máy điện không phảicạnh tranh để được phát điện, hiệu quả khai thác các nhà máy điện là hiệuquả của toàn hệ thống
Trang 31b Hiệu quả nhà máy điện trong thị trường điện một người mua
Khác biệt lớn nhất trong việc đánh giá hiệu quả của nhà máy điện trong môhình này so với mô hình độc quyền liên kết dọc đó là các nhà máy điện phảicạnh tranh với nhau để được phát điện lên lưới Vì thế ngoài việc phải chịunhững ràng buộc về các điều kiện kỹ thuật hệ thống, các nhà máy điện đã cómức độ tự do hơn trong việc cạnh tranh bán điện để đảm bảo lợi ích riêng củanhà máy điện là lớn nhất
Như đã phân tích ở trên, một thị trường điện đã và đang được hình thànhvới các bên tham gia là các nhà máy điện, Công ty mua bán điện, các Công tyTruyền tải điện và các Công ty Phân phối điện Thông qua Đơn vị vận hành hệthống điện và thị trường điện (SMO) sẽ đảm bảo cho hoạt động của thị trườngđiện đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế cho toàn xã hội và mặt khác vẫn đảm bảocác tiêu chuẩn về chất lượng điện năng, an toàn, tin cậy và liên tục
Kết quả của cải cách cơ cấu và xây dựng thị trường điện ở nhiều nước trênthế giới cho thấy đây là một tiến bộ của khoa học quản lý trong ngành kinh tếnăng lượng Nó tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng giữa cácdoanh nghiệp và là giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp kinh doanh điện
Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu khi tái cơ cấu ngành điện
và chuyển đổi mô hình từ cơ chế độc quyền sang cơ chế thị trường là tạo ra môitrường cạnh tranh rõ ràng trong khâu phát điện nhằm giảm chi phí và nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như trách nhiệm đối với chủ sở hữu của cácnhà máy điện
Thông qua hoạt động của thị trường điện, qui luật cung cầu và cạnh tranh
sẽ được phản ánh thực chất hơn Trong cơ chế thị trường điện, chủ sở hữu củacác nhà máy điện phải quan tâm đúng mức đến việc nâng cao hiệu quả vận hànhnhằm mục tiêu giảm thiểu chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh trong thịtrường bằng giá bán hợp lý nhằm mục tiêu bán được nhiều sản phẩm, tăng doanhthu trong thị trường
Trang 32Trong cơ chế độc quyền, quản lý tập trung trước đây của ngành điện ViệtNam thì trách nhiệm đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh và phát triển của cácnhà máy điện còn nhiều hạn chế do các nhà máy điện đều là đơn vị hạch toánphụ thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam, việc có bán được điện hay khôngkhông ảnh hưởng đến doanh thu của nhà máy, không khuyến khích được các nhàmáy điện giảm chi phí, tìm đầu ra cho sản phẩm của mình Khi chuyển sang thịtrường phát điện cạnh tranh, các công ty phát điện sẽ phải tự cân bằng thu chi tức
là phải chịu trách nhiệm bảo quản tài sản, chi tiêu tiền vốn, phát triển và nângcao chất lượng dịch vụ khách hàng, kết quả hoạt động kinh doanh sẽ gắn liền với
sự tồn tại của doanh nghiệp, thu nhập của các thành viên
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty phát điện, xét một cách địnhlượng được xác định bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, chênh lệch nàycàng lớn thì hiệu quả càng cao và ngược lại Thông thường, đối với một doanhnghiệp điện lực không thực hiện chức năng công ích và trong điều kiện hạchtoán độc lập, chỉ tiêu quan trọng nhất, tổng quan nhất để đánh giá hiệu quả sảnxuất kinh doanh thường xuyên được sử dụng là chỉ tiêu lợi nhuận Đây là cáchthức so sánh tuyệt đối kết quả đầu ra với chỉ tiêu tổng quan là doanh thu và cácyếu tố đầu vào là tổng chi phí Lợi nhuận ở đây được xác định như sau:
Lợi Nhuận = Tổng Doanh Thu - Tổng Chi Phí (1.1)
Như đã phân tích ở trên, do tính đặc thù trong cơ chế độc quyền, doanh thu
và lợi nhuận của các nhà máy điện bị điều tiết và cân đối giữa các đơn vị trongtoàn Tổng công ty Điện lực Việt Nam nên ta không đi sâu vào phân tích về hiệuquả khai thác các nhà máy điện trong cơ chế độc quyền
Trong cơ chế thị trường điện một người mua, để nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh, các công ty phát điện bằng nguồn lực của mình phải tìm cách nângcao doanh thu và giảm thiểu chi phí Để tăng doanh thu thì các công ty phát điệnphải có một giá bán hợp lý nhằm mục tiêu bán được nhiều sản phẩm Tuy nhiênviệc đạt được mức giá bán đảm bảo mức lợi nhuận biên (lợi nhuận đơn vị) không
có nghĩa nhà máy điện sẽ đạt được doanh thu cực đại vì doanh thu của nhà máyphụ thuộc đồng thời vào mức giá bán và thời lượng bán tức là thời gian nhà máy
Trang 33được phép phát điện vào lưới Do đó khi đánh giá hiệu quả khai thác các nhàmáy điện, các chỉ tiêu cơ bản thường xuyên được xem xét.
I.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác nhà máy điện trong mô hình
thị trường điện một người mua
Với đặc điểm của các nhà máy điện là (i) vốn đầu tư ban đầu rất lớn, đặcbiệt là các nhà máy thủy điện; (ii) phần chi phí cố định trong cấu trúc chi phí làlớn, và đối với nhà máy thủy điện là rất lớn Do đó, rõ ràng là thời gian khai thácnhà máy điện càng nhiều sẽ càng hiệu quả một khi giá điện bán vào lưới cạnhtranh là chấp nhận được Để hoạt động của nhà máy điện là hiệu quả (trên quanđiểm của nhà máy điện hạch toán độc lập và không thực hiện nhiệm vụ côngích), lợi nhuận của nhà máy điện tăng bắt buộc phải tăng doanh thu Doanh thu
từ bán điện của một công ty phát điện được xác định theo công thức sau:
Doanh Thu = Pc x Q (1.2)
Trong đó:
Pc là giá bán điện của Công ty phát điện
Q là sản lượng điện bán được của công ty phát điện (phụ thuộc vào thời
gian phát điện lên lưới)
Từ công thức (1.2) nhận thấy, (i) với sản lượng điện bán được là cố định thìgiá bán càng cao sẽ mang lại lợi nhuận càng cao và ngược lại, (ii) với giá bán cốđịnh thì sản lượng điện bán được càng nhiều thì doanh thu càng lớn và ngược lại.Nói cách khác, doanh thu tỉ lệ thuận với giá bán và sản lượng điện bán được.Tuy nhiên, xét một cách tổng thể thì khi giá bán càng cao, tính cạnh tranhcủa sản phẩm càng giảm, sản phẩm sẽ trở lên khó bán hơn và sẽ ảnh hưởng tớidoanh thu Do vậy trong cơ chế thị trường, các công ty phát điện phải có một giábán hợp lý để có thể đạt được doanh thu cao nhất Mức giá bán tối ưu mang lạilợi nhuận cao nhất theo quan điểm của kinh tế học là mức giá tương ứng vớimức sản lượng cung ứng thỏa mãn điều kiện doanh thu biên bằng chi phí biên:
MR = MC
Trang 34Từ công thức (1.1) ta cũng nhận thấy rằng, khi biết trước Doanh thu, đểtăng Lợi nhuận của doanh nghiệp ta phải tìm cách giảm thiểu Chi phí.
Từ các phân tích trên đây ta đưa ra được một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quảkhai thác các nhà máy điện trong cơ chế thị trường điện
a Doanh thu trong thị trường cạnh tranh
Về phương diện lý thuyết, với các sản phẩm hàng hóa thông thường và đặttrong cơ chế thị trường, doanh thu là chỉ tiêu quan trọng quyết định mức lợinhuận của doanh nghiệp Khi cố định các yếu tố đầu vào, nếu doanh thu tăng thì
về lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên, như đã phân tích doanh thu hoàn toànphụ thuộc vào giá bán và sản lượng bán, vì thế mức giá bán đảm bảo lợi ích lớnnhất của doanh nghiệp, như chúng tôi đã đề cập là mức giá tương ứng với mứcsản lượng mà ở đó chi phí biên bằng doanh thu biên
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cấu trúc chi phí với phần lớn chi phí cốđịnh việc cung ứng có thể thực hiện khi giá bán lớn hơn chi phí biến đổi bìnhquân P > AVC Trường hợp của nhà máy thủy điện là ví dụ điển hình, với phầnlớn chi phí nằm ở chi phí cố định do vậy nhà máy thủy điện càng huy động nhiềucàng hiệu quả ngay cả khi giá điện thấp vì nếu không huy động nhà máy điệnvẫn phải chịu chi phí cố định rất lớn Như vậy một khi P > AVC thì rõ ràng làmức giá không những cho phép bù đắp toàn bộ chi phí biến đổi VC mà còn chophép bù đắp một phần của chi phí cố định trong khi đó nếu không vận hành sẽmất toàn bộ chi phí cố định
Sản phẩm điện năng là sản phẩm mang tính chất đặc thù, không thể tích trữđược như các hàng hóa thông thường khác Việc mua bán sản phẩm điện luônluôn thể hiện sự cân bằng giữa nguồn cung (từ các nhà máy điện) và nhu cầu củacác hộ tiêu thụ điện (phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt…)
Đặc biệt, trong cơ chế thị trường điện một người mua, vấn đề giá bán điệncủa các nhà máy điện có những điểm rất khác biệt Việc huy động các nhà máyđiện đáp ứng nhu cầu phụ tải sau khi thỏa mãn các ràng buộc kỹ thuật sẽ được
thực hiện theo nguyên tắc tối thiểu hóa chi phí mua điện (tối thiểu hóa chi phí
cho Người mua duy nhất), do vậy việc huy động các tổ máy được sắp xếp theo
Trang 35thứ tự giá từ thấp đến cao để đáp ứng nhu cầu phụ tải Để được sắp xếp tronglịch huy động (bán được điện) thì các nhà máy điện phải có một giá bán hợp lýphù hợp với đặc trưng của phụ tải tiêu thụ điện Do đặc điểm về cơ cấu chi phínên giá chào bán cần phải hết sức linh động vì không phải lúc nào cũng đặt bàitoàn giá bán lớn hơn chi phí bình quân.
Đối với những hệ thống điện có cấu trúc với nhiều nhà máy thủy điện màkhả năng cung ứng phụ thuộc nhiều vào thời tiết, do ảnh hưởng của đặc điểm khíhậu cũng như tình hình phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay, việchuy động các nhà máy điện nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ chịu sự tác độngmạnh mẽ của yếu tố mùa cũng như tập quán sinh hoạt theo ngày đêm
(i) Yếu tố mùa trong năm
- Mùa mưa: Giai đoạn này thời tiết mát mẻ, nhu cầu tiêu thụ điện thường
không cao, hơn nữa đây là thời kỳ nước về trên các hồ thủy điện rất nhiềunên việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ là thuận lợi Trong giai đoạn này thườngchỉ cần huy động các nhà máy có giá tương đối rẻ để đáp ứng nhu cầu tiêuthụ điện
- Mùa khô: Giai đoạn này nước về các hồ thủy điện thường rất hạn chế, nước
dùng để phát điện chủ yếu là lượng nước được tích trong các hồ thủy điệntrong giai đoạn mùa mưa, việc huy động các nhà máy được cân đối sao chođảm bảo đủ điện trong toàn bộ mùa khô Hơn nữa, giai đoạn cuối mùa khôthường là thời kỳ nắng nóng, nhu cầu tiêu thụ điện rất cao nên việc đảmbảo cung cấp điện thường gặp rất nhiều khó khăn Trong giai đoạn nàythường xuyên phải huy động các nhà máy có giá bán điện tương đối đắt tiền
để đáp ứng nhu cầu phụ tải
(ii) Đặc điểm sinh hoạt ngày đêm
Nhu cầu tiêu thụ điện biến đổi rất mạnh trong một ngày đêm theo tập quánsinh hoạt, sản xuất của người dân Thông thường, nhu cầu tiêu thụ điện thườngthấp vào ban đêm, cao vào các giờ ban ngày Với đặc điểm sinh hoạt ngày đêm,nhu cầu tiêu thụ điện trong một ngày được chia thành ba thời kỳ là thời kỳ thấpđiểm, thời kỳ bình thường và thời kỳ cao điểm
Trang 36Phù hợp với quy luật cung cầu, ta nhận thấy để có thể bán được nhiều sảnphẩm, tăng Doanh thu thì các công ty phát điện phải có cơ cấu giá bán phù hợpvới đặc trưng tiêu thụ điện Do vậy giá bán điện cũng cần thiết phải linh động,tức là nên chia theo mùa và theo các giờ cao điểm, trung bình và thấp điểm.Với đặc trưng tiêu thụ điện như phân tích ở trên, nếu các công ty phát điệnchỉ có một giá bán duy nhất thì có thể xảy ra trường hợp khi nhu cầu thấp thì giábán lại cao dẫn đến không bán được sản phẩm và khi nhu cầu tiêu thụ cao thì lại
có giá bán thấp dẫn đến không mang lại hiệu quả Tóm lại, giá bán là yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác nhà máy điện, giá bán cần đượcchào cho người mua duy nhất một cách linh hoạt theo cấu trúc chi phí và theođặc điểm của đường cầu
Một ví dụ đơn giản thể hiện vấn đề này, giả sử ta có một nhà máy thủyđiện, có một giá bán duy nhất, lượng nước về hồ mỗi tháng trong năm là khôngđổi Vào mùa lũ khi mà lũ về các hồ thủy điện rất nhiều, mức độ cạnh tranh đểđược xếp vào biểu đồ phụ tải là rất cao, nếu giá bán của nhà máy không hợp lýthì có thể dẫn đến không được huy động, một lượng nước phải xả qua các cửa
xả, lượng nước dùng để phát điện bị giảm, do đó lượng sản phẩm của nhà máynày giảm đi, nghĩa là suất hao cao Ngược lại, nếu nhà máy có cơ chế giá phùhợp và được huy động tai mọi thời điểm, khi đó lượng nước được dùng để phátđiện là lớn nhất, sản lượng điện là lớn nhất, nhà máy đạt hiệu quả cao nhất
b Thời gian vận hành tương đương
Thời gian vận hành tương đương của một nhà máy điện được xác định theocông thức sau:
đ P
Q
T (1.3)
Trong đó:
T - thời gian vận hành tương đương trong năm của nhà máy điện (h);
Pđ - công suất đặt của nhà máy (MW);
Q - sản lượng điện bán được trong năm của nhà máy điện.
Trang 37Sở dĩ chỉ tiêu này được xem là chỉ tiêu đo lường hiệu quả vận hành của nhàmáy điện là vì, từ công thức (1.3) ta nhận thấy thời gian vận hành tương đương(T) tỉ lệ thuận với sản lượng điện bán được của nhà máy, điều đó có nghĩa Tcàng lớn thì sản lượng điện bán được càng cao và ngược lại Từ đó có thể thấy, Tchính là một chỉ tiêu quyết định hiệu quả vận hành của nhà máy một khi cơ cấugiá thành cung ứng đã được xác định
Thời gian vận hành tương đương của một nhà máy điện được quyết địnhbởi các yếu tố sau:
- Bố trí thời gian sửa chữa tổ máy phù hợp và giảm thiểu thời gian bất khả
dụng tổ máy do sự cố hay hư hỏng trang thiết bị: các tổ máy cần phải đảmbảo khả năng sẵn sàng cao nhất ở các thời điểm có khả năng và điều kiện
để huy động và sẽ được bố trí sửa chữa vào khoảng thời gian mà cơ hộiđược huy động là thấp nhất Do vậy có thể nhận thấy các tổ máy thủy điệnluôn phải đảm bảo khả năng sẵn sàng cao nhất vào những thời kỳ nhiềunước và lần lượt được đưa ra sửa chữa vào thời kỳ ít nước Điều ngược lạiđối với các tổ máy nhiệt điện
- Giá bán điện hợp lý để nhà máy được huy động nhiều: như đã phân tích ở
trên, nếu các nhà máy điện có cơ cấu giá bán phù hợp thì sẽ được huy độngnhiều để đáp ứng nhu cầu phụ tải, khi đó thời gian vận hành tương đươngcủa nhà máy sẽ cao
c Suất tiêu hao nhiên liệu
Suất tiêu hao nhiên liệu được định nghĩa là lượng nhiên liệu được sử dụng
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, được xác định theo công thức sau:
am luongsanph
lieu luongnhien o
suattieuha
Với một lượng nhiên liệu đầu vào không đổi thì suất hao sẽ càng giảm khilượng sản phẩm sản xuất ra càng nhiều Điều này đồng nghĩa với việc công tácvận hành và điều kiện vận hành nhà máy điện quyết định suất tiêu hao nhiên liệu
và xa hơn là hiệu quả khai thác nhà máy điện Thật vậy, khi nhiên liệu đầu vào làcác tài nguyên không tái sinh như than đá, khí đốt hay dầu mỏ, nếu các nhà máy
Trang 38điện chào giá chỉ được tham gia cung ứng trong thời gian ngắn thì rõ ràng chiphí phải trả cho việc khởi động sẽ rất lớn và khi đó suất tiêu hao nhiên liệu cũngrất lớn Khai thác nhà máy như vậy rõ ràng là không hiệu quả Trong khi đó đốivới NMTĐ thì lượng nước được sử dụng cho phát điện cũng tương ứng vớilượng nguyên liệu đầu vào được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm điện năng vàsản phẩm đó được tiêu thụ, tức là lượng nước này tạo ra doanh thu cho chủ sởhữu của nhà máy; còn lượng nước xả cũng tương ứng với phần doanh thu củalượng nước này bằng không.
Việc giảm Chi phí cũng đồng nghĩa với việc giảm suất hao để sản xuất ramột đơn vị sản phẩm tức là giảm chi phí biến đổi Để giảm suất hao thì lượngsản phẩm sản xuất ra phải tăng Từ các phân tích ở trên có thể dễ dàng nhận thấyrằng để tăng lượng sản phẩm đầu ra thì ngoài việc đảm bảo chế độ vận hành hợp
lý và tiết kiệm thì thời gian vận hành phải đảm bảo và điều này có được thì phầnnhiều giá bán chào vào hệ thống phải hợp lý
I.2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác các nhà máy điện
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, việc khai thác hiệu quả các nhà máy điệntrong mô hình tổ chức thị trường điện một người mua phụ thuộc đồng thời vàocác yếu tố nội bộ và các yếu tố bên ngoài nhà máy điện
Rõ ràng rằng các vấn đề về khai thác đảm bảo suất tiêu hao nhiên liệu thấp,mức độ sẵn sàng (độ khả dụng) của các nhà máy, chiến lược tham gia lưới vớitính linh động của giá của nhà sản xuất chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả khaithác các nhà máy điện Tuy nhiên, tính linh động về giá cả còn phụ thuộc rấtnhiều vào yếu tố bên ngoài quan trọng là mức giá biên hệ thống, tính sẵn sàngtrong cung ứng còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng đầu vào sẵn có Tác giảtrình bày dưới đây, các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới hiệu quả khai tháccác nhà máy điện trong mô hình thị trường điện một người mua
a Giá biên hệ thống
Giá biên hệ thống SMP (System Marginal Price) là giá của tổ máy hay nhàmáy cuối cùng tham gia phát điện vào hệ thống điện (bán cho một người muaduy nhất) khi bỏ qua các ràng buộc trên lưới điện truyền tải
Trang 39Giả sử hệ thống có n tổ máy độc lập nhau (thuộc n công ty), giá điện màmỗi công ty bán vào lưới là p1, p2, , pn, để không làm mất tính tổng quát, tagiả sử : p1 < p2 < < pn
Giả sử đơn vị điều độ hệ thống điện và thị trường điện (SMO) chỉ cần huyđộng đến tổ máy thứ h nào đó (1 < h < n), vậy Ph chính là giá biên tại thời điểmxem xét (ph = SMP) Trong trường hợp tồn tại 2 nhà máy có giá chào như nhau,SMO sẽ chia đều phần công suất yêu cầu cho mỗi nhà máy nếu điều kiện kỹthuật cho phép
Từ nguyên tắc huy động tổ máy đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ta nhận thấy:khi một tổ máy có giá bán thấp hơn giá biên thì tổ máy đó sẽ được huy động vàngược lại khi một tổ máy có giá bán cao hơn giá biên thì tổ máy sẽ không đượchuy động
Từ giá biên hệ thống và giá bán điện của nhà máy điện có thể đánh giáđược nhà máy đó có được huy động để đáp ứng biểu đồ phụ tải hay không, đó làcăn cứ để các nhà máy điện trong thị trường xây dựng chiến lược phát phù hợp
Từ các phân tích trên ta có thể nhận thấy rằng, tổ máy có giá bán cao nhấtnhưng thấp hơn giá biên hệ thống sẽ đạt Doanh thu biên cao nhất trong thịtrường Do đó, các nhà máy để đạt được tổng doanh thu cao trong thị trường cần
có một cơ cấu giá phù hợp với biểu đồ giá biên hệ thống
b Mức độ khả dụng tổ máy phát điện
Mức độ khả dụng của các tổ máy phát điện sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệuquả khai thác của các nhà máy Mức độ khả dụng của tổ máy là một thành phầnquyết định thời gian vận hành, đồng nghĩa với việc quyết định Tổng doanh thucủa nhà máy Nhà máy sẽ đạt doanh thu biên lớn nhất khi giá chào gần nhất vớigiá biên, nhưng chỉ đạt Tổng doanh thu cực đại khi có thời gian phát lớn nhất.Thông thường các tổ máy được bố trí sửa chữa theo (i) chu kỳ vận hành(đại tu sau 48 tháng vận hành, trung tu sau 24 tháng và tiểu tu sau 12 tháng), (ii)theo khuyến cáo của nhà cung cấp thiết bị hoặc (iii) theo các hợp đồng bảodưỡng sửa chữa với các nhà thầu Nếu tuân thủ theo các yếu tố trên có thể xảy ra
Trang 40huy động cao nhất và ngược lại tổ máy lại khả dụng vào giai đoạn không có cơhội huy động.
Trong thực tế, các tổ máy thủy điện luôn phải đảm bảo khả năng sẵn sàngcao nhất vào những thời kỳ nước về nhiều để có thể được huy động tối đa, lầnlượt được tách ra sửa chữa trong thời kỳ ít nước Các tổ máy nhiệt điện nên tách
ra sữa chữa vào mùa lũ vì khả năng được huy động không cao và phải đảm bảokhả năng sẵn sàng cao nhất vào mùa khô
c Nguồn năng lượng đầu vào
Như đã biết, các nguồn năng lượng dùng để sản xuất điện năng bao gồm:than, khí, nước, dầu… đây có thể là các nguồn sơ cấp như thủy năng, hoặc nănglượng thứ cấp như than đá, các sản phẩm dầu mỏ, khí đốt Nếu như tính sẵn sàngtrong cung cấp của than, dầu mỏ và khí đốt là đảm bảo thì tính ổn định thì nguồnnước tại các nhà máy thủy điện là điểm hạn chế lớn nhất của loại hình nhà máyđiện này
Đối với các nhà máy thủy điện, nước về hồ sẽ là yếu tố quyết định hiệu quảsản xuất kinh doanh của nhà máy thủy điện Trong mùa lũ lượng nước về các hồthủy điện thường rất nhiều và với lưu lượng lớn, nếu có giá bán hợp lý thì cácnhà máy thủy điện có thể được khai thác tối đa 24/24h trong mỗi ngày mùa lũ
và đạt được hiệu quả cao nhất Trong mùa khô, lưu lượng nước về các hồ thủyđiện rất hạn chế, việc khai thác các nhà máy thủy điện chủ yếu dựa vào lượngnước tích được trong hồ từ cuối mùa lũ năm trước Năm nào nước về tốt thì nhàmáy có nhiều nước để phát điện, đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao và ngượclại, nếu nước về kém thì nhà máy sẽ không có nước để phát điện
Đối với các loại hình nhà máy khác các yếu tố quyết định hiệu quả sản xuấtkinh doanh là giá nhiên liệu đầu vào, giới hạn nhiên liệu…
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 là Chương cơ sở lý luận của luận văn, là khung phân tích phục
vụ cho các phân tích đánh giá hiện trạng sau đó Trong chương này, tác giả đã hệthống hóa các nội dung cơ bản như sau: