Quá trình toàn cầu hoá, sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ KH&CN, những phát triển và ứng dụng mới của công nghệ thông
Trang 1NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KINH NGHIỆM NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, ĐÀI LOAN… VỀ HỖ TRỢ HÌNH THÀNH VÀ VẬN
HÀNH CÁC CƠ SỞ ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHCN
Ngành công nghiệp ở các nước đang phát triển đang đứng trước những thách thức to lớn Quá trình toàn cầu hoá, sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ (KH&CN), những phát triển và ứng dụng mới của công nghệ thông tin (CNTT), sự nổi lên của các ngành công nghiệp có hàm lượng vốn và tri thức cao, những cân nhắc đối với các vấn đề môi trường, ô nhiễm và hiệu quả sử dụng năng lượng, những tiêu chuẩn và hệ thống chất lượng khắt khe hơn, bao gồm các hệ thống ISO 14000, những rào cản thương mại trực tiếp và gián tiếp do các quốc gia phát triển đưa ra,…tất cả các yếu tố này đang làm mất dần những ưu thế cạnh tranh của các ngành công nghiệp ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) là bộ phận có đóng góp lớn vào công cuộc phát triển công nghiệp và kinh tế nói chung ở toàn quốc gia Công cuộc cải cách nền công nghiệp, bao gồm quá trình tư nhân hoá đang tạo ra nhu cầu đào tạo lại và triển khai lại lực lượng lao động để gia tăng việc làm, bên cạnh việc nâng cao hiệu quả và năng suất của các ngành chế tạo truyền thống thông qua việc phát triển các công nghệ và phương thức tiên tiến, bao gồm các kỹ thuật của công nghệ sinh học (CNSH), ứng dụng máy tính và các hệ thống thông tin để tạo ra ưu thế cạnh tranh
Quá trình toàn cầu hoá đang tiến lên theo hướng tăng cường hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Theo hướng đi này, mục tiêu hiện nay là khuyến khích các hoạt động đem lại giá trị gia tăng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thông qua việc phát triển và ứng dụng các công nghệ cao như CNSH, vật liệu mới, công nghệ thông tin (CNTT), vi điện tử… Để tạo ra các ngành công nghiệp hoàn toàn mới, đòi hòi phải ứng dụng các công nghệ mới có hàm lượng tri thức cao
Trang 2Bởi vậy, các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, hay còn gọi là Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ (TBI) sẽ đóng một vai trò hết sức quan trọng
Ngoài việc phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao ở các lĩnh vực như CNTT, phần mềm máy tính, Internet và thương mại điện tử, CNSH, vi điện tử… còn cần phải áp dụng các công nghệ cao và mới để nâng cao sức cạnh tranh cho các ngành công nghiệp hiện
có, bao gồm các SME đang hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế truyền thống và thúc đẩy những doanh nghiệp mới dựa vào tài nguyên thiên nhiên hoặc các ưu thế so sánh Các cụm công nghiệp và khu công nghiệp đã đi vào hoạt động nhiều năm nay cần phải được củng cố hoặc định hướng lại thông qua các mô hình TBI đặt địa điểm tại đó, với sự liên kết với các TBI lớn ở bên ngoài, hoặc các công viên khoa học và công nghệ (STIP) Những loại hình tổ chức này đóng vai trò hết sức quan trọng để thúc đẩy khâu phát triển công nghệ và nhằm biến các ý tưởng hoặc khái niệm công nghệ thành công nghệ để thương mại hoá Trên thực tế, mục tiêu hàng đầu của TBI là thúc đẩy các doanh nghiệp khởi sự bằng công nghệ và hỗ trợ công tác hoàn tất công nghệ đang phát triển
Ươm tạo doanh nghiệp mang lại những lợi ích to lớn, nhưng mặt khác, nó cũng đòi hỏi phải trả một số rủ ro nhất định
Về mặt lợi ích:
- Cung cấp cơ chế cho phép các nhà công nghệ giỏi tập trung vào nghiên cứu và cho phép những người khác có công việc làm ăn trong các Xí nghiệp phụ (Spin
- offs)
- Làm tăng tính chủ động của các nhà nghiên cứu, cho phép việc thu hút được các nhà khoa học giỏi
- Đòi hỏi các cơ quan tìm ra những con đường mới liên kết công việc của họ với nhu cầu xã hội
- Cung cấp cơ chế đánh giá khách quan đối với việc tập trung nguồn lực cho những nhóm tốt nhất
- Nhấn mạnh đến việc cổ vũ những nhà khoa học trẻ có tài năng
Trang 3- Cung cấp nhiều cơ hội hơn để các nhà khoa học hồi hương trở về
Về mặt rủ ro:
- Làm cho các nhà khoa học không có trình độ về thương mại cũng cố gắng trở thành nhà doanh nghiệp và nhà quản lý Xí nghiệp, tất nhiên, sẽ có nhiều sai sót trong kinh doanh
- Khuyến khích việc chuyển những nhà khoa học học trẻ tuổi rời khỏi nghiên cứu
cơ bản vì lợi ích trong nghiên cứu ứng dụng cao hơn
- Buộc các cơ quan phải ưu tiên phân phối lợi ích cho những người có thể "bán các dịch vụ và công nghệ", và do đó, sẽ tạo ra cạnh tranh giữa các phòng ban, làm ảnh hưởng tới thời gian nghiên cứu và gây ra khó khăn trong việc thúc đẩy công trình nghiên cứu liên phòng ban và liên ngành
Nhận thức về tính hai mặt của ươm tạo công nghệ cho phép tranh được những nhìn nhận bi quan hoặc thái độ cầu toàn trong quá trình thương mại hóa Đó cũng là tiêu chuẩn để đánh giá tình hình (tốt hay xấu) và hướng đi (đúng hay sai) của cải cách thể chế KH&CN
Kinh nghiệm của Trung Quốc trong ươm tạo công nghệ
Kinh nghiệm của nhiều nước, đặc biệt là ở Trung Quốc, cho thấy các hoạt động ươm tạo
có vai trò quyết định giúp các doanh nghiệp mới khởi sự có thể tự tồn tại và phát triển ở môi trường cạnh tranh bình đẳng
Các hãng ươm tạo doanh nghiệp Trung Quốc đã và đang phát triển nhanh chóng, đóng góp một phần đáng kể cho sự nghiệp phát triển công nghiệp nước này, cũng như trong quá trình “vươn ra toàn cầu” của các doanh nghiệp Trung Quốc Hãng ươm doanh nghiệp đầu tiên với tên gọi là Wuhan được thành lập năm 1997 Đến năm 1999, Trung Quốc đã
có hơn 110 hãng ươm tạo doanh nghiệp, nhưng trên thực tế con số này còn lớn hơn nhiều Ban đầu các hãng này do Hội đồng khoa học công nghệ tại các địa phương thành lập, nhưng sau đó phát triển thành một tổ chức được chính phủ quan tâm đặc biệt Mục
Trang 4tiêu của hoạt động là thương mại hoá các sáng chế công nghệ, tạo đà tăng trưởng mạnh trong lĩnh vực công nghệ cao Thông qua việc ươm tạo doanh nghiệp đã hình thành nền sản xuất thương mại, chuyên môn hóa cao hơn ở các lĩnh vực công nghiệp, đa dạng các hướng lựa chọn đầu tư Trung Quốc còn cho xây dựng các khu công nghiệp công nghệ cao (Hi-tech Industrial Development Zones) để thu hút các hãng ươm tạo doanh nghiệp vào hoạt động
Hoạt động ươm tạo
Ngày càng có nhiều nguồn vốn chuyển sang đầu tư vào các ngành công nghiệp công nghệ cao Đây là thị trường được chú ý khuyến khích phát triển Khuyến khích thị trường bao hàm cả việc sử dụng nguồn vốn và nguồn nhân lực để biến các kết quả nghiên cứu mới thành các sản phẩm Việc đầu tư vốn cho ươm tạo đã làm làm thay đổi phương thức hoạt động của các các tổ chức ươm tạo công nghệ, làm cho các tổ chức này hoạt động như các doanh nghiệp
Cơ cấu thu nhập giữa các loại hãng ươm tạo doanh nghiệp có sự khác nhau lớn Một số hãng hoạt động theo phương thức phi lợi nhuận truyền thống, trong khi một số hãng khác hoạt động như một doanh nghiệp Các hãng ươm tạo doanh nghiệp phải đóng góp một phần thu nhập thu được từ đầu tư cho các thành viên đóng góp cổ phần Các khách hàng của hãng ươm tạo doanh nghiệp truyền thống có quyền tự do lựa chọn những dự án được đầu tư nhiều và dễ hoàn thành Trong một số trường hợp đặc biệt, các doanh nghiệp này giống như các chủ tư bản đầu tư tài chính Các hãng ươm tạo doanh nghiệp tuy không có chất lượng và điều kiện nghiên cứu khoa học tốt như các hãng ươm tạo truyền thống nhưng lại có bí quyết thu hút khách hàng và có khả năng cạnh tranh cao
Nền kinh tế kiểu mới đã tạo điều kiện hình thành nhiều hãng ươm tạo doanh nghiệp, chỉ trong hai năm gần đây ở Trung Quốc đã có khoảng 30 - 40 hãng ươm tạo doanh nghiệp được thành lập
Trang 5Một số chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển ươm tạo doanh nghiệp ở Trung Quốc:
(i) Trung tâm phát triển công nghiệp công nghệ cao ( CNC) quản lý và hướng dẫn thực hiện chương trình bó đuốc hỗ trợ các vườn ươm, chúng đánh giá các vườn ươm và tài trợ cho vườn ươm hoạt động tốt, đồng thời Trung tâm cũng tổ chức các khoá đào tạo ngắn và dài ngày, các diễn đàn để đào tạo các nhà quản lý ươm tạo; (ii) “Quan điểm nguyên lý về ươm tạo doanh nghiệp” ban hành năm 1994 hỗ trợ hình thành vườn ươm; (iii) “Tiêu chí
và thủ tục phê chuẩn vườn ươm doanh nghiệp” ban hành năm 1996, “Quan điểm nâng cấp xây dựng các vườn ươm doanh nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10” ban hành năm 2001, “Quan điểm tăng cường chất lượng hoạt động của vườn ươm doanh nghiệp” ban hành năm 2003 là những biện pháp chính sách hỗ trợ hoạt động của các vườn ươm; (iv) “Quỹ đổi mới doanh nghiệp dựa trên công nghệ” hỗ trợ vốn cho vườn ươm; (v) một
số biện pháp chính sách hỗ trợ khác đang được nghiên cứu và đề xuất ban hành
Ở Trung Quốc cũng như ở các nước khác, cấu trúc hỗ trợ doanh nghiệp phổ biến là công viên khoa học, vườn ươm Tính đến năm 2002 Trung Quốc đó hỡnh thành 400 vườn ươm doanh nghiệp và 53 công viên khoa học1 (chủ yếu thông qua chương trình bó đuốc) và
100 công viên khoa học địa phương
Chương trình bó đuốc (1988) nhằm hỗ trợ phát triển khu vực công nghiệp CNC thông qua xây dựng các công viên khoa học, vườn ươm, công viên phần mềm, đào tạo nguồn nhân lực, v.v…Tính đến cuối năm 2003 trong các công viên khoa học và vườn ươm này
đó hình thành 28.504 doanh nghiệp CNC và tạo ra 3,49 triệu việc làm;
Một số chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển ươm tạo doanh nghiệp:
Vai trò của vốn mạo hiểm đối với dnKH&CN ở Trung Quốc
Các chính sách, thể chế từ những năm 1980 và đầu 1990 dẫn đến một số lượng lớn các dnKH&CN được thành lập ở Trung Quốc trước khi ngành công nghiệp vốn mạo hiểm và các quy định thể chế liên quan hình thành Tuy nhiên, vào cuối những năm 1990 các nhà
1 Khu phát triển CNC theo tiếng Trung Quốc có thể xem như là các công viên khoa học.
Trang 6lãnh đạo Trung Quốc công nhận rằng hệ thống hiện tại cho việc hình thành doanh nghiệp mới như một phương tiện để theo đuổi mục tiêu phát triển quốc gia rộng hơn có những hạn chế nhất định Điều này là do: việc cung ứng vốn ươm tạo ở giai đoạn đầu tiên là quỏ nhỏ và nguồn lực có hạn ở các viện nghiên cứu và trường ĐH; ngân hàng bị trói buộc bởi vốn vay không triển khai được và vốn vay gia tăng đưa đến các doanh nghiệp vốn đó rủi
ro cao lại không thể đứng vững được Tương tự như vậy chính phủ và chính quyền địa phương không có những quỹ phụ trợ để cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mới này Vấn đề đặt ra đối với đầu tư vào doanh nghiệp mới đó là sự thiếu khuôn khổ pháp lý thích hợp và động lực để tạo điều kiện cho các kiểu nhà đầu tư mới cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp mới này Vấn đề tương tự cũng đó được đề cập như là một nguyên nhân của sự thiếu hụt hoạt động phát triển hợp tác giữa các tổ chức và sự thiếu hụt của thị trường công nghệ để khuyến khích các viện nghiên cứu chuyển giao công nghệ hứa hẹn
và thương mại đến các doanh nghiệp Vốn mạo hiểm được xác định như hình thức đầu tư
cổ phần rủi ro cao sẽ không thể tồn tại nếu không có xác định pháp lý và bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp mới
Dần dần từ giữa những năm 1990 nhận thức về vốn mạo hiểm đó chuyển từ hỡnh thức coi như một kiểu tài trợ chính phủ sang hỡnh thức coi như hoạt động thương mại cần thiết để hỗ trợ cho việc thương mại hoá công nghệ mới Các công ty vốn mạo hiểm nước ngoài đó được phép để đăng ký như một doanh nghiệp thương mại, các công ty mạo hiểm trong nước cũng bắt đầu được thành lập
Trang 7Bảng 6 dưới đây tóm tắt về các loại công ty mạo hiểm đang hoạt động ở Trung Quốc.
Vốn ban đầu Chính quyền
địa phương
Nhóm công nghiệp của trường ĐH
Cỏc cụng ty Trợ cấp, quỹ
Mục tiêu Thúc đẩy công
nghiệp CNC
và thương mại hoá
Thương mại hoá kết quả NC&PT từ trường ĐH
Tạo cơ hội kinh doanh
Tái đầu tư
Tập trung
đầu tư vào
tiềm năng cao Giai đoạn
đầu tư chủ
yếu
Giai đoạn đầu Giai đoạn đầu Giai đoạn mở
rộng
Giai đoạn tăng trưởng
Nguồn: J Gao and W.Zhang (2002), p.19
Ghi chú: GVCF- công ty vốn mạo hiểm chính phủ; UVCF- công ty vốn mạo hiểm trường đại học;
CVCF- cụng ty vốn mạo hiểm hợp danh; FVCF- công ty vốn mạo hiểm nước ngoài
Loại hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Ở Trung Quốc, có hai loại hình doanh nghiệp KH&CN: (1) doanh nghiệp thừa kế khoa học do một nhà khoa học hoặc nhóm các nhà khoa học có tinh thần kinh doanh sáng lập;
Trang 8(2) doanh nghiệp KHCN được hình thành từ việc chuyển đổi toàn bộ một viện nghiên cứu, chủ yếu đối với viện NC&TK công nghệ công nghiệp
Trong loại hình 1 - doanh nghiệp thừa kế khoa học có 3 kiểu khác biệt, đó là2:
(1) Thành lập doanh nghiệp thừa kế khoa học từ một bộ phận hoặc một nhóm các nhà khoa học của viện;
(2) Thành lập doanh nghiệp thừa kế khoa học từ những tài năng cá nhân đơn lẻ (cá nhân nhà khoa học có tinh thần kinh thương);
(3) Thành lập doanh nghiệp thừa kế khoa học từ việc tổ chức lại một phòng, ban của viện để tiến hành hoạt động thương mại nhưng vẫn duy trì nó như là một bộ phận của viện mẹ
Kiểu 1: Thành lập từ một bộ phận của viện
Đây là loại hình doanh nghiệp thừa kế khoa học mà một bộ phận của viện được tổ chức lại về nhân lực, công nghệ, thiết bị để hình thành nên một doanh nghiệp hoàn toàn mới, độc lập, Doanh nghiệp Công nghệ mới (New Technology Enterprise - NTE) Thực tế cho thấy, loại hình doanh nghiệp thừa kế khoa học kiểu này sẽ hình thành những doanh nghiệp mới mạnh hơn so với loại hình doanh nghiệp thừa kế khoa học từ những tài năng
cá nhân riêng lẻ Chúng mạnh hơn không chỉ ở bí quyết công nghệ, nguồn vốn, thiết bị hay bất động sản mà còn mạnh hơn ở các mối quan hệ, sự hợp tác, lực lượng lãnh đạo và các quan hệ xã hội Tất cả các tiềm năng này đều được kế thừa từ viện mẹ Trường hợp Công ty máy tính Legend dưới đây là một ví dụ điển hình
Đầu năm 1984, khoảng 40 giáo sư trong lĩnh vực KH&CN máy tính từ Viện Công nghệ máy tính thuộc Viện Khoa học Trung Quốc đã cùng nhau thành lập một doanh nghiệp, đó
là Công ty máy tính Legend với số vốn đầu tư ban đầu là 85.900 Đô la Mỹ Lĩnh vực hoạt động của công ty này là buôn bán máy tính và cung cấp các thiết bị lẻ, thiết bị chủ yếu
Trang 9Cho đến nay Legend vẫn là một doanh nghiệp công nghệ mới (NTE) đứng hàng đầu Sản phẩm cũng như sức cạnh tranh của công ty mạnh hơn nhiều các công ty máy tính của Nhà nước, ví dụ trong hoạt động xuất khẩu, tái đầu tư Chủ doanh nghiệp Legend giải thích rằng “Legend, Beijing” là doanh nghiệp thừa kế khoa học, sở hữu tập thể và được cấp giấy phép với tư cách là một doanh nghiệp công nghệ mới Legend đã liên doanh với Hồng Kông và có nhiều nguồn vốn nước ngoài khác Legend bắt đầu hoạt động của mình bằng việc bán và lắp ráp máy tính cá nhân từ linh kiện nhập nước ngoài trước khi tham gia vào việc sản xuất ra máy tính của mình từ năm 1991 Từ năm 1994 Legend được đưa vào danh sách Thị trường Cổ phần Hồng Kông Năm 1997 thị phần trong nước của máy tính Legend đã vượt Công ty IBM và Compag và trở thành người cung cấp máy tính cá nhân chính trong Trung Quốc chiếm khoảng 30% thị phần máy tính cá nhân nội địa Legend là người bán hàng song kèm với nó là những dịch vụ sau bán hàng dành cho những đối tượng quan trọng Sản phẩm của Legend đã cạnh tranh được với thị trường quốc tế, ví dụ linh kiện máy tính cá nhân, và điều đáng nói là Legend rất mạnh ở trình độ máy tính, họ đã nâng cấp các máy tính cá nhân từ 286 lên 486 Hiện nay Legend mở rộng sản phẩm của mình ra sản xuất cả máy ảnh số, máy in, điện thoại và thiết bị mạng thông tin (Wei Xie and White Steven 2004) Năm 2004 Legend đổi tên thành Lenovo
Đầu năm 2005 Lenovo sẽ quyết định mua một bộ phận máy tính cá nhân của Công ty IBM và thành lập một công ty mới kết hợp những thế mạnh nổi tiếng về máy tính cá nhân của IBM cùng với thế mạnh của Lovono Công ty mới sẽ có khoảng 19.000 nhân viên cung cấp nhiều sản phẩm và công nghệ máy tính cá nhân cho khách hàng trên toàn thế giới Theo thoả thuận giữa IBM và Lenovo, IBM sẽ cung cấp dịch vụ bảo hành và các giải pháp tài chính đối với các sản phẩm máy tính cá nhân của Lenovo IBM sở hữu 18%
cổ phần tại Lenovo Thoả thuận này sẽ mang lại cho Lenovo đội ngũ chuyên gia quốc tế của IBM về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, bán hàng và tiếp thị Với thoả thuận này Lenovo sẽ trở thành công ty máy tính cá nhân lớn thứ ba thế giới và là một đối tác chiến lược của Công ty IBM (Anh Thi 2004)
Kiểu 2: Thành lập từ những tài năng cá nhân đơn lẻ
Trang 10Kiểu này được hình thành từ việc một số nhà khoa học, kỹ sư rời khỏi các viện NC&PT
mà họ đang làm việc để lập nên một doanh nghiệp công nghệ mới của riêng mình Đôi khi trong số họ có những liên kết với nhau để cùng trao đổi về tri thức, những kinh nghiệm, những ý tưởng đổi mới và cách thức quản lý một công ty Khi một doanh nghiệp công nghệ mới hình thành theo kiểu này sẽ có nhu cầu lớn về vốn, bởi vì vào những năm
1980 không
có một cá nhân nào có thể tự mình đầu tư cho một doanh nghiệp công nghệ mới, mặc dù đầu tư này không phải là quá cao Bên cạnh đó, hỗ trợ về các yếu tố chính trị, xã hội là cần thiết cho doanh nghiệp kế thừa khoa học theo kiểu hình thành từ những tài năng đơn
lẻ (các nhà khoa học có tinh thần kinh thương đơn lẻ) Hơn nữa doanh nghiệp thành lập
từ cá nhân ("tư nhân") còn có nghĩa rằng khó khăn nhiều hơn trong việc được cấp giấy phép công nhận doanh nghiệp công nghệ mới, cũng như việc vay vốn từ ngân hàng Những khó khăn này có thể được các Trung tâm Dịch vụ KH&CN trợ giúp, kể cả các hỗ trợ về vốn để doanh nghiệp bắt đầu tiến hành hoạt động sản xuất và thương mại Công ty Điện tử Quang học Chutian là một ví dụ Đây là công ty do một kỹ sư sáng lập dưới sự giúp đỡ của Trung tâm Vũ Hán Chính quyền địa phương cũng có những hỗ trợ về yếu tố chính trị, hỗ trợ về vốn, tuy nhiên còn rất hạn chế
Công ty Chutian do ông Sun thành lập năm 1985, hiện nay ông là giám đốc điều hành công ty Ông từng là kỹ sư của Viện công nghệ Quang học ở thành phố Vũ Hán Công ty này ban đầu đặt trong Vườn ươm Công nghệ mới Hồ Đông tại Vũ Hán, - Vườn ươm hình thành từ Chương trình Bó đuốc Sau một vài năm, khi đã đủ mạnh, công ty Chutian đã rời khỏi Vườn ươm này và hình thành nên Công ty trách nhiệm hữu hạn với quyền lợi được chia sẻ giữa người sáng lập công ty và những người làm việc trong Vườn ươm
Chutian sản xuất và kinh doanh laser, chủ yếu là laser đặc biệt dùng trong cơ khí, hàn máy móc, nhưng cũng có những sản phẩm laser dùng trong phẫu thuật Thường thì các hoạt động công nghệ của công ty phải theo thiết kế Người thiết kế luôn phải so sánh các