1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KINH NGHIỆM NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, ĐÀI LOAN… TRONG HỖ TRỢ THÔNG TIN CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐỔI MỚI CN

15 238 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 33,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KINH NGHIỆM NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, ĐÀI LOAN… TRONG HỖ TRỢ THÔNG TIN CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐỔI MỚI CN Hỗ trợ thông tin khoa họ

Trang 1

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KINH NGHIỆM NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, TRUNG QUỐC, ĐÀI LOAN… TRONG HỖ TRỢ THÔNG TIN CÔNG

NGHỆ PHỤC VỤ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐỔI MỚI CN

Hỗ trợ thông tin khoa học công nghệ phục vụ doanh nghiệp là một nhu cầu cấp thiết của Việt Nam trong tiến trình đổi mới công nghệ quốc gia Thông tin khoa học công nghệ cung các thông tin cần thiết về cải tiến công nghệ, thị trường công nghệ, nhu cầu công nghệ, doanh nghiệp công nghệ, chính sách công nghệ …giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có đầy đủ thông tin để hoạch định chiến lược kinh doanh và đổi mới công nghệ của mình

Các trung tâm thông tin KH&CN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sự vận hành của thị trường thông qua các hoạt động thông tin đặc biệt, giúp, cho hàng hoá công nghệ

có thể lưu thông một cách thuận lợi giữa bên cung và bên cầu Các trung tâm thông tin KH&CN có thể tham gia một cách tích cực vào những hoạt động quan trọng của thị trường công nghệ như cung cấp thông tin, tổ chức các Techmart, tổ chức các sàn giao dịch công nghệ thường xuyên, các sàn giao dịch công nghệ trên mạng, v.v

Ở Việt Nam, nhiều trung tâm thông tin KH&CN được xác định là những tổ chức có vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện các Techmart Những hoạt động của các trung tâm thông tin KH&CN thông qua các Techmart có vai trò hỗ trợ các bên tham gia một cách thiết thực như:

Đối với bên “cung” công nghệ: tạo cơ hội hiểu rõ hơn nhu cầu của bên mua và những khách hàng tiềm năng để hoạch định chiến lược, định hướng sản phẩm công nghệ phù hợp với nhu cầu thực tiễn, chủ động phát triển các giải pháp công nghệ mới đáp ứng đòi hỏi của doanh nghiệp

Đối với bên cầu công nghệ: tạo điều kiện đánh giá trực tiếp năng lực của nhà cung cấp sản phẩm công nghệ để đặt hàng giải quyết các vấn đề công nghệ cụ thể; thiết lập các quan hệ hợp tác chiến lược, lựa chọn hình thức liên kết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Đối với các tổ chức dịch vụ/môi giới: tạo điều kiện tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu tham gia giao dịch công nghệ, nâng cao trình độ nghiệp vụ và tư vấn cho các bên “cung - cầu công nghệ”

Đối với các tổ chức tài chính (Quỹ đầu tư, ngân hàng, tổ chức tín dụng ): giúp thu nhận các thông tin bổ ích, cân nhắc các dự án đầu tư đổi mới công nghệ có triển vọng,

Trang 2

các khách hàng tiềm năng nhằm nâng cao hiệu quả các giao dịch tài chính trong tương lai

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: có thêm kênh thông tin để nhận biết tốt hơn những nhu cầu thực tiễn, điều chỉnh hướng ưu tiên, phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong giao dịch công nghệ, nhận biết xu hướng phát triển công nghệ, thúc đẩy quá trình thương mại hóa các sản phẩm công nghệ và đánh giá hiệu quả hoạt động KH&CN phục vụ cho điều chỉnh các định hướng chiến lược, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KH&CN

Đối với các tầng lớp dân cư: giúp cảm nhận rõ nét hơn vai trò, tầm quan trọng của KH&CN trong đời sống, góp phần “hậu thuẫn xã hội cần thiết” cho việc ứng dụng và phổ cập các thành tựu KH&CN sớm vào thực tiễn

Việc hoàn thiện xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) về khoa học, công nghệ của Việt Nam

là một việc quan trọng, cần thiết trong chương trình đổi mới công nghệ quốc gia Việt Nam có thể học hỏi các nước cách thức chia sẻ thông tin khoa học công nghệ, xây dựng các CSDL

Kinh nghiệm của Nhật Bản

Hoạt động truyền thông KH&CN, quảng bá các sản phẩm công nghệ mới luôn được Chính phủ Nhật Bản cũng như các tổ chức, doanh nghiệp dành sự quan tâm, đầu tư phát triển Các đơn vị quản lý KH&CN của Nhật Bản đã xây dựng, chăm sóc mối quan hệ giữa nhà báo với nhà khoa học tương đối tốt, tạo sự gần gũi, thoải mái Đây cũng là lợi thế để thông tin KH&CN được chia sẻ và chuyển tải nhanh chóng, không qua các cầu nối hoặc khâu trung gian Với mục đích thu hút sự quan tâm của công chúng đến KH&CN và thông tin KH&CN được đăng tải trên các tờ báo, tạp chí, một tháng một lần, cơ quan khoa học và công nghệ Nhật Bản (JST) tổ chức họp báo để giới thiệu những vấn đề KH&CN nổi cộm nhất trong thời gian đó với phóng viên, mời các nhà khoa học giới thiệu về những thành tích của họ, dành thời gian để phóng viên và nhà khoa học có thể trao đổi, thảo luận…

Thông tin về những dự án, thành tựu và sự kiện KH&CN nổi bật được chia sẻ tại câu lạc bộ báo chí của MEXT và xuất bản trên các ấn phẩm báo chí Mỗi năm có khoảng 200 chủ đề, hơn 1.000 bài báo được đăng trên các báo, tạp chí Cùng với đó, mạng lưới

Trang 3

website về KH&CN đã được hình thành để mọi người dù ở bất kỳ đâu cũng có thể truy cập được rất nhiều thông tin về KH&CN Có 2 trang chính là Kênh khoa học, đăng các video (http://sc-smn.jst.go.jp/), Cổng thông tin khoa học đăng các bài viết (http://scienceportal.jp/) và 5 trang chuyên đề là Trung tâm Khoa học ảo thuộc JST (http://jvsc.jst.go.jp/en/), Cơ sở dữ liệu khoa học của các tình nguyện viên (http://rikasuki.tokyo.jst.go.jp/), Quản lý bảo tàng ở Nhật Bản (http://museum-dir.jst.go.jp/), Khoa học vệ tinh (http://www.kagakunavi.jp/), Liên kết khoa học Nhật Bản (tiếng Anh, Trung, Pháp: http://sciencelinks.jp/)

Một hình thức truyền thông khác Nhật Bản đang thực hiện là hình thành hệ thống gồm hàng trăm viện bảo tàng khoa học trên khắp cả nước Trong khuôn khổ chương trình làm việc, đoàn đã đến thăm và làm việc với Bảo tàng Quốc gia về khoa học và sáng tạo tiên tiến (Miraikan) Đây là nơi mô hình hoá những hiện tượng khoa học tự nhiên, tổ chức các cuộc triển lãm giới thiệu những thành tựu KH&CN, tổ chức các hoạt động giao lưu giữa các nhà khoa học với công chúng; phối hợp với các trường đại học để xây dựng những chương trình giúp nâng cao kiến thức về khoa học cho sinh viên; xây dựng mạng lưới gồm các nhà nghiên cứu, tình nguyện viên, khách tham quan, trường học, các viện bảo tàng khoa học khác… Những sự vật, hiện tượng tự nhiên, đều được thể hiện bằng hình ảnh, mô hình trực quan, sinh động, thậm chí cả những sản phẩm công nghệ đã và đang được sử dụng trong thực tế… như các mô hình về hiện tượng động đất, sóng thần, rô bốt cứu hộ khiến Miraikan không chỉ là địa chỉ thú vị để tham quan mà còn là nơi học sinh, sinh viên có điều kiện thực hành những kiến thức được học trong nhà trường

Mô hình trung tâm truyền thông cũng là mô hình hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này tại Nhật Bản Trung tâm truyền thông khoa học Nhật Bản (SMC) trực thuộc JST được thành lập với vai trò là cầu nối giữa nhà khoa học với nhà báo thông qua các chương trình nghị sự đươc tổ chức khi có các sự kiện, phát triển mối liên kết giữa cộng đồng khoa học và xã hội Mặc dù được Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ và cấp kinh phí như một dự án nghiên cứu để hoạt động nhưng SMC lại không phải phụ thuộc vào định hướng phát ngôn của chính phủ

Trang 4

Một trong những hoạt động nổi bật của SMC là xử lý các thông tin KH&CN của Nhật Bản, dịch sang tiếng Anh và chuyển đến các Trung tâm truyền thông khoa học của các nước Ngược lại, với những vấn đề khoa học mới người dân chưa hiểu, SMC thu thập những thông tin liên quan đến vấn đề đó từ nước ngoài và chuyển sang tiếng Nhật để phát hành trong nước SMC có mạng lưới danh sách nhà báo và các thành viên đăng ký kết nối lên tới 400 người Khi có một vấn đề khoa học nổi cộm, với vai trò kết nối, SMC sẽ thu thập thông tin từ các thành viên trong mạng lưới này và chuyển tới các trung tâm truyền thông của các nước khác để lấy được ý kiến đánh giá thứ cấp

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trong hệ thống đổi mới hiện nay ở Trung Quốc, truyền bá tri thức và công nghệ nói chung là từ các trường ĐH/viện NC&PT đến doanh nghiệp còn CGCN giữa các doanh nghiệp chưa nhiều Hiện có 3 cơ chế truyền bá tri thức và công nghệ: cơ chế thứ nhất là hợp đồng CGCN và được xem là phương pháp truyền bá phổ biến nhất; cơ chế thứ hai là thị trường công nghệ Thị trường công nghệ là một biện pháp cải cách hệ thống đổi mới quan trọng ở Trung Quốc và thị trường công nghệ đã được thành lập trên toàn lãnh thổ Thị trường công nghệ này đi kèm với những cơ chế nhất định cho phép bên cung và bên cầu đạt được một thoả thuận về CGCN kể cả tư vấn, CGCN, đào tạo, dịch vụ kỹ thuật, v.v và cơ chế thứ ba là doanh nghiệp spin-off, với hơn 86.000 doanh nghiệp thu hút 5,6 triệu người và tạo ra tổng thu nhập là 1,5 nghìn tỷ nhân dân tệ vào cuối năm 2002 Điều này minh hoạ rằng công nghệ đổi mới gắn kèm với doanh nghiệp vệ tinh trong hệ thống đổi mới Trung Quốc thể hiện một sự chuyển giao quy mô lớn từ trường ĐH/viện NC&PT sang khu vực công nghiệp

Sau đây là một số phương thức hỗ trợ thông tin công nghệ cho các doanh nghiệp của Trung Quốc:

Trung tâm Xúc tiến Năng suất (PCC)

Trung tâm này được xem như tổ chức trung gian và tư vấn thành lập từ năm 1992 trên toàn quốc để hỗ trợ đổi mới trong khu vực doanh nghiệp (tính đến năm 2002 có tới 865

Trang 5

Trung tâm) Cỏc PCC cung cấp các dịch vụ tư vấn, dịch vụ dựa trên công nghệ như thúc đẩy công nghệ và kiểm tra sản phẩm, dịch vụ thông tin, dịch vụ nguồn nhân lực, dịch vụ đào tạo, dịch vụ ươm tạo doanh nghiệp

Hiệp hội KH&CN Trung Quốc (CAST)

CAST là một tổ chức phi lợi nhuận, một tổ chức phi Chính phủ của các nhà KH&CN Trung Quốc CAST quy tụ 165 cơ quan đơn vị chuyên nghiệp trong nước, với tổng cộng 4,3 triện thành viên trên toàn đất nước Nhiệm vụ chính của CAST là tổ chức các cuộc trao đổi hàn lâm, phổ biến tri thức khoa học đến mọi người, phổ biến các quan điểm và nguyện vọng của các nhà KH&CN và tham gia vào đánh giá và đổi mới giáo dục

Phát triển thư viện số TVS ở Trung Quốc cho việc chia sẻ và phổ biến thông tin

Trung Quốc bắt đầu việc nghiên cứu và thử nghiệm những thư viện số vào năm 1995 Chỉ sau một vài năm, chúng đã được sự phát triển nhanh chóng Nhiều dự án đã được triển khai với sự tiến triển đáng chú ý, dưới đây là một vài dự án

Dự Án Thư Viện Số Trung Quốc Thử nghiệm (CPDL- The Chinese Pilot Digital Library Project)

Dự Án Thư Viện Số Trung Quốc Thử nghiệm (CPDL) được phát triển bởi chín thư viện công cộng danh tiếng ở Trung Quốc, bao gồm Thư Viện Quốc Gia Trung Quốc (NLC), Thư Viện Thành Phố Thượng Hải, Thư viện Thẩm Quyến, Mục tiêu chính nhằm tạo ra một Dự Án Thư Viện Số Trung Quốc Thử nghiệm (CPDL) thống nhất và liên kết mà trong đó nhiều thư viện có thể hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau Dự Án CPDL được đưa vào thử nghiệm các kho tài nguyên thông tin được tiêu chuẩn hóa và phân tán thuộc nhiều dạng khác nhau chuyển giao một công nghệ ban đầu sẵn có và hỗ trợ thực hành cho việc xây dựng những thư viện số của Trung Quốc đạt tiêu chuẩn quốc tế Hiện tại, các tổ chức tham gia đang tiến hành nghiên cứu và phát triển thích hợp và xây dựng một tiến trình tốt trong việc thực hiện tiêu chuẩn siêu dữ liệu, một trong những tiêu chuẩn quan trọng của công nghệ thư viện số (Zhang, 2003)

Mạng Tri Thức – Dự Án Hệ Thống Thư Viện Số (Knowlegde Network – Digital Library System Project)

Dự án phối hợp giữa Thư Viện Quốc Gia Trung Quốc (NLC) và Beijing Dawning Information Technologies Corporation đã tập trung vào việc thiết kế và phát triển kiến

Trang 6

trúc thư viện số Cấp I Hệ thống sẽ được xây dựng trong môi trường Internet, chứa đựng nhiều kho tài nguyên số phân tán Trí tuệ nhân tạo được sử dụng trong hệ thống phục vụ việc tìm kiếm nhanh chóng trên nhiều kho tài nguyên cùng một lúc (Xiao et al., 2002)

Hệ Thống Thông Tin Thư Viện các trường Đại học Trung Quốc (CALIS- China Academic Libraries Information System)

Được phối hợp từ Trung Tâm Quản Lý tại trường Đại Học Bắc Kinh, dự án bao gồm bốn trung tâm chuyên ngành và bảy trung tâm văn học địa phương trên khắp Trung Quốc Người ta dự định tích hợp các tài nguyên thư viện của tất cả các trường đại học ở Trung Quốc bằng cách cung cấp truy cập chia sẻ đến cả các tài nguyên thông tin lẫn hệ quản trị môi trường chia sẻ, và theo cách đó để chuyển giao dịch vụ cung cấp tài nguyên học thuật

đa dạng và phong phú Tiến trình thực hiện của dự án bao gồm phát triển những tiêu chuẩn và chi tiết kỹ thuật liên quan đến việc xây dựng thư viện số và lựa chọn hoặc phát triển những công nghệ tích hợp để hỗ trợ các thư viện thành viên, nhằm tạo nên một hệ thống thư viện số đa lớp (multi-layer digital library) (Xiao et al., 2002)

Dự Án Thư Viện Số Quốc Gia Trung Quốc (China National Digital Library Project)

Như là một hệ thống tài nguyên số quốc gia được hỗ trợ bởi những công nghệ mới hiện đại và tiên tiến nhất, Dự Án Thư Viện Số Quốc Gia Trung Quốc (CNDL) được xây dựng để tạo nên một tập hợp thư viện tài nguyên số Trung Quốc chất lượng, quy mô trên mạng Internet nhằm cung cấp những dịch vụ hiệu quả cho Trung Quốc và thế giới thông qua mạng trao đổi thông tin quốc gia (national communication backbone) Dự án bao gồm việc xây dựng tài nguyên số, cùng phần cứng và phần mềm cho hạ tầng cơ sở hệ thống thư viện số, phát triển hệ thống ứng dụng, phát triển các tiêu chuẩn, chi tiết kỹ thuật, những quy tắc, và thiết lập hệ thống dịch vụ và xử lý nhằm làm tăng hiệu lực của Quyền Sở Hữu Trí Tuệ, cũng như là tạo dựng năng lực cho hệ thống (Zhang, 2003)

Dự Án Thư Viện Số Kiến Trúc Đại Học Thanh Hoa (Tsinghua University Architecture Digital Library)

Dự Án Thư Viện Số Kiến Trúc Đại Học Thanh Hoa (THADL) là sự hợp tác giữa trường đại học Thanh Hoa và “Yingzaoxueshe”, một viện nghiên cứu của người Trung Quốc mà tập trung vào công trình kiến trúc cổ và cuộc đời của ông Liang Sicheng, một kiến trúc sư nổi tiếng Bộ sưu tập trung tâm sẽ là hình vẻ của 2.783 tòa nhà cổ và những hình ảnh về kiến trúc cổ Về mặt kỹ thuật, một kiến trúc dịch vụ hệ thống nhiều lớp được

Trang 7

xây dựng bằng sử dụng những công nghệ đối tượng phân tán và tương tác thông minh, ngoài là một hệ thống định hướng đối tượng ra, hệ thống còn là một cơ sở dữ liệu đa phương tiện phân tán Đối với siêu dữ liệu mô tả, hệ thống sử dụng lược đồ mô tả siêu dữ liệu Dublin Core mở rộng (Xiao et al.,2002)

Trung Tâm Thông Tin Khoa Học và Công Nghệ Quốc Phòng Trung Quốc (China Defense Science and Technology Information Center)

Ngày nay, nhiều thư viện Trung Quốc đang phát triển những kho dữ liệu số đầu tiên Cho dù những nỗ lực nhất định trong lĩnh vực này cũng đã được tiến hành tại thư viện của Trung Tâm Thông Tin Khoa Học và Công Nghệ Quốc Phòng Trung Quốc (CDSTIC) – đáng chú ý nhất là, những bộ sưu tập quý giá bao gồm những tạp chí, bản ghi âm hội nghị, và sách đã được số hóa; nhiều nguồn tài nguyên thông tin số đa dạng đã được tích hợp với nhau; và một hệ thống dịch vụ thông tin tích hợp trên nền tảng Web đã được tạo lập; nhìn chung CDSTIC vẫn còn ở những bước khởi đầu trong việc phát triển một thư viện số

Tư vấn chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp

Trong các mô hình xúc tiến CGCN xuất sắc của Trung Quốc, phải kể mô hình các sàn giao dịch công nghệ, mà tiêu biểu là mô hình Sàn giao dịch Thượng Hải (Shanghai Technology Transfer Exchange - STTE) - mô hình được đánh giá là thành công nhất ở châu Á trong những năm qua STTE là sàn giao dịch công nghệ đầu tiên và lớn nhất của Trung Quốc, được Chính quyền thành phố Thượng Hải và Bộ KH&CN Trung Quốc thành lập năm 1993 Đây là đơn vị công ích, phi lợi nhuận của Nhà nước, hoạt động theo

mô hình tương tự như một đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam STTE có chức năng cung cấp các giải pháp công nghệ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tư vấn về quyền sở hữu trí tuệ; cung cấp các dịch vụ tài chính cho phát triển công nghệ; tổ chức triển lãm và hội nghị về công nghệ , tạo ra những nền tảng để chia sẻ các thông tin về công nghệ

Mô hình tổ chức kinh doanh của STTE bao gồm: Phòng khảo sát CGCN (chịu trách nhiệm quản lý mạng lưới CGCN cục bộ tại Thượng Hải); Phòng CGCN dân sự (chịu trách nhiệm quản lý mạng lưới CGCN thị trường nội địa của Trung Quốc); Phòng CGCN

Trang 8

quốc tế (chịu trách nhiệm quản lý về mạng lưới CGCN quốc tế); Phòng dịch vụ và thương mại công nghệ (chịu trách nhiệm quản lý cơ sở dữ liệu về CGCN) Các hoạt động

tư vấn và đánh giá của STTE thực hiện ở các góc độ: Nghiên cứu thị trường; liên kết các đối tác; dịch vụ đầu tư tài chính; theo đuổi các mục đích đầu tư Tất cả các hoạt động trên được thực hiện bởi một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có trình độ cao, các nhà môi giới công nghệ và chuyên gia

Tính đến cuối năm 2008, STTE đã thực hiện gần 30.000 dự án CGCN; tổ chức hơn

900 hoạt động và sự kiện tiếp thị công nghệ Giá trị các hợp đồng CGCN liên tục tăng trưởng (từ 2,03 tỷ nhân dân tệ năm 1993 lên 43,3 tỷ nhân dân tệ năm 2007) và tiếp tục tăng trong những năm gần đây Giá trị đóng góp của STTE cho GDP tại Thượng Hải là từ 2,2 đến 3,6% Biểu đồ dưới đây cho thấy các lĩnh vực công nghệ được giao dịch tại sàn: Một số kết quả nổi bật mà STTE đã cung cấp cho các khách hàng trong và ngoài nước thời gian qua phải kể đến là: Hệ thống định vị tàu thuyền tự động cho KTTC; công nghệ viễn thông cho Công ty GISsoft của Hàn Quốc; hệ thống chẩn đoán trong ống nghiệm cho TAKES của Phần Lan; công nghệ bể chứa xoay tròn; công nghệ bạc nano

Kinh nghiệm của Đài Loan

Đài Loan có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước Vào những năm 70, nền kinh tế của Đài Loan nói chung chỉ bao gồm các doanh nghiệp gia đình quy mô nhỏ Thiết bị và năng lực trong các trường đại học phục vụ nghiên cứu

cơ bản yếu và hầu hết doanh nghiệp không có bất cứ khái niệm nào về R&D (nghiên cứu phát triển) Con đường phát triển của Đài Loan đã trải qua 3 giai đoạn Giai đoạn đầu nền kinh tế dựa vào nông nghiệp (1973-1985), tiếp đó là các ngành công nghiệp nhập khẩu công nghệ, sản xuất dựa vào nhân công giá rẻ (1985-1994) và giai đoạn ba là chuyển đổi các ngành công nghiệp nội địa, tăng cường định hướng đổi mới sáng tạo (1994-2002), hiện nay đang chuyển sang phát triển nền công nghiệp giá trị cao, xây dựng kinh tế dựa vào tri thức Đài Loan đã tiến hành các bước đi rất bài bản và quyết liệt, tạo ra sự chuyển

Trang 9

đổi phi thường, đưa nền kinh tế từ một mô hình dựa vào nông nghiệp sang một đất nước công nghiệp trong vòng 30 năm

Ở Đài Loan, phần lớn cán bộ trong các công ty công nghệ cao tốt nghiệp các trường đại học như Chiao Tung, Tsing Hua … hoặc đã từng công tác trong các viện nghiên cứu Đội ngũ cán bộ trong các ngành công nghệ cao có xu hướng sử dụng các mối quan hệ của

họ để hỗ trợ khi họ gặp phải khó khăn Do nhân dân Đài Loan rất chú ý đến việc duy trì các mối quan hệ của họ và xem nó như một thành phần quan trọng nhất trong xã hội, nên mối quan hệ thân thiết của các cán bộ ngày càng làm tăng tính hiệu quả của việc truyền

bá kiến thức và thông tin trong ngành công nghiệp công nghệ cao Ngoài ra, các doanh nghiệp của Đài Loan, cụ thể là SME thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu với các nhà cung cấp và thậm chí cả với các nhà cạnh tranh trong lãnh thổ khi phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế Ví dụ như trong ngành công nghiệp bán dẫn, mỗi một công ty tập trung vào một phần nào đó trong quy trình sản xuất như thiết kế, sản xuất vỏ, lắp ráp, kiểm tra… và rồi liên kết lại với nhau thậm chí còn hỗ trợ các nhà cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Do mắt xích giá trị công nghiệp được chia ra thành nhiều phần nhỏ nên mỗi công ty tập trung vào lĩnh vực cụ thể của mình và chia sẻ phương pháp sản xuất cho các công ty bạn và thậm chí cả nhà cạnh tranh để thu được lợi nhuận kinh tế Trên thực tế ngành công nghiệp Đài Loan có thể thực hiện điều này chủ yếu dựa vào các mối quan hệ thân mật trong đội ngũ cán bộ

Phổ biến công nghệ

Mô hình phổ biến công nghệ chính ở Đài Loan là các viện nghiên cứu và các trường đại học truyền đạt các kết quả R&D của mình đã được ghi nhận về mặt kỹ thuật và thông tin cho các doanh nghiệp theo cơ chế chuyển giao công nghệ, đấu thầu và cho các công ty

có vốn quay vòng Cơ chế chuyển giao công nghệ có thể có thể bao gồm công bố công nghệ, các dịch vụ kĩ thuật, các buổi thuyết trình, các bài phát biểu, xuất bản… Các viện nghiên cứu hay các trường đại học ký hợp đồng hợp tác hay uỷ nhiệm các dự án nghiên cứu hoặc cung cấp các dịch vụ như đào tạo, cố vấn, hướng dẫn… cho các doanh nghiệp Cuối cùng, để cải thiện khả năng công nghệ của ngành công nghiệp hay thiết lập các ngành mới, Chính quyền Đài Loan đã tiến hành một số phương pháp khuyến khích các

Trang 10

viện nghiên cứu đảm nhiệm vai trò hạt giống và hỗ trợ các công ty mới trong các ngành công nghiệp đang phát triển Ví dụ như Công ty Chế tạo Chất bán dẫn Đài Loan là công

ty có sản lượng chất bán dẫn lớn nhất thế giới được sinh ra từ Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI) năm 1987 và nó đã rất thành công với vai trò là công ty hạt giống và phổ biến công nghệ tiên tiến trong ngành công nghiệp bán dẫn của Đài Loan

Huy động nhân lực

Ở Đài Loan, rất nhiều các cán bộ công tác trong các viện nghiên cứu, đặc biệt là viện ITRI, đã chuyển sang làm trong các doanh nghiệp Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc truyền thụ các tri thức tiềm ẩn của họ trong hệ thống đổi mới Từ năm 1973, hơn 12.000 cán bộ đã chuyển từ các viện nghiên cứu sang làm ở các ngành khác nhau Viện ITRI là nơi "đào tạo" nhiều cán bộ công nghệ cao ở Đài Loan Ngoài ra, rất nhiều người dân Đài Loan làm việc ở nước ngoài đã quay về nước làm việc và đã mang về một vốn kiến thức dồi dào và nhiều công nghệ mới làm giàu cho hệ thống đổi mới của Đài Loan

Tạo hứng thú cho người dân

Theo đó, đề án có nhiệm vụ phổ cập kiến thức khoa học đến người dân ở mọi tầng lớp,

để xã hội nhận thức rõ vai trò của KH&CN đối với sự phát triển kinh tế xã hội nơi đây GS Shang Ren Kwan, người chủ trì đề án truyền thông phổ cập khoa học Đài Loan cho biết, hiện nay, nhân lực chủ chốt để triển khai đề án này gồm 6 GS, 7 chuyên gia về truyền thông khoa học Đội ngũ này thường xuyên ngồi lại với nhau để bàn bạc, trao đổi

để xây dựng nội dung truyền thông GS Kwan cho biết, cách truyền tải thông tin khoa học không cứng nhắc và sẽ rất linh hoạt để tạo sự hứng thú, quan tâm của người dân Ví

dụ, khi xảy ra động đất, thì ngay lập tức, đội chuyên gia cũng giới truyền thông sẽ ngồi lại với nhau để đưa các thông tin có tính phân tích, cùng với đó là phổ biến kiến thức về động đất và cách phóng tránh

Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Cũng giống như Đài Loan, Trung Quốc và Nhật Bản, Hàn Quốc đã xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) về nguồn và giá cung cấp công nghệ CSDL này được liên kết với các CSDL tương tự ở nước ngoài và được cung cấp thông tin trực tuyến ở các trung tâm công nghiệp chính

Bên cạnh đó Hàn Quốc đã có những chính sách như sau để thông tin về khoa học công nghệ được lan tỏa tới các doanh nghiệp,

Ngày đăng: 01/12/2015, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w