1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa

119 532 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình kinh tế lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trồng mía nguyên liệu .... Trên địa bàn tỉnh, cũng có các nghiên cứu xoay quanh đề tài cây mía nguyên liệu, hướng n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

TRẦN KIM DUNG

NÂNG CAO THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG TRỒNG MÍA NGUYÊN LIỆU CHO CÁC NÔNG HỘ TẠI THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

TRẦN KIM DUNG

NÂNG CAO THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG TRỒNG MÍA NGUYÊN LIỆU CHO CÁC NÔNG HỘ TẠI THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Kim Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý Thầy cô Trường Đại học Nha Trang và bạn bè học viên

Trước tiên, tôi xin gởi lời chân thành cảm ơn đến quý Thầy cô Trường Đại học Nha Trang, đặc biệt là Khoa Kinh tế và Khoa sau đại học Trường Đại học Nha Trang

đã truyền đạt kiến thức và hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phạm Hồng Mạnh và Thạc sỹ Cao Thị Hồng Nga, thầy và cô đã nhiệt tình dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự góp ý chân thành sâu sắc và quý báu của các Thầy cô để luận văn được hoàn thiện, đạt giá trị học thuật cao

Nha Trang, tháng 07 năm 2015

Học viên

Trần Kim Dung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ NÔNG HỘ VÀ THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ 6

1.1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về nông hộ và thu nhập của nông hộ 6

1.1.1 Khái niệm về hộ gia đình và nông hộ 6

1.1.2 Kinh tế hộ gia đình 7

1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây mía nguyên liệu 9

1.2.1 Đặc điểm sinh học của cây mía 9

1.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây mía 10

1.3 Giá trị kinh tế của cây mía 10

1.4 Thu nhập của nông hộ và các phương pháp xác định thu nhập của nông hộ 11

1.4.1 Thu nhập của nông hộ 11

1.4.2 Các phương pháp xác định thu nhập của nông hộ 12

1.5 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trồng mía 13

1.5.1 Về khía cạnh cung 13

1.5.2 Về khía cạnh cầu 19

1.5.3 Về giá cả thị trường 19

1.6 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 20

1.6.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 20

1.6.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 22

1.6.3 Đánh giá chung về các nghiên cứu 26

1.7 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho nông hộ từ hoạt động trồng mía nguyên liệu ở một số địa phương 27

1.8 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu 28

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 34

Trang 6

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 35

2.1.1 Vị trí địa lý 35

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 36

2.1.3 Đặc điểm đời sống dân cư của thị xã Ninh Hòa 38

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất nông nghiệp và hoạt động trồng mía nguyên liệu của thị xã Ninh Hòa 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 44

2.2.2 Nghiên cứu định tính 46

2.2.3 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 46

2.3 Nghiên cứu chính thức 48

2.3.1 Mô hình kinh tế lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trồng mía nguyên liệu 48

2.3.2 Dữ liệu nghiên cứu 50

2.3.3 Kích thước mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 51

2.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 52

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 53

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG TRỒNG MÍA NGUYÊN LIỆU CỦA NÔNG HỘ TẠI THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA 54

3.1 Thực trạng trồng mía nguyên liệu tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa 54

3.1.1 Quy trình và thời vụ trồng mía nguyên liệu 54

3.1.2 Giống mía 55

3.1.3 Diện tích và sản lượng canh tác 55

3.1.4 Vốn đầu tư cho hoạt động trồng mía 58

3.1.5 Lao động của hoạt động trồng mía nguyên liệu 58

3.1.6 Thị trường tiêu thụ mía nguyên liệu trên địa bàn thị xã Ninh Hòa 59

3.1.7 Năng suất từ hoạt động trồng mía nguyên liệu 62

3.1.8 Các chính sách hỗ trợ cho nông hộ sản xuất mía nguyên liệu 63

3.1.9 Hiệu quả từ hoạt động trồng mía nguyên liệu với các cây trồng nông nghiệp khác 66

Trang 7

3.2 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của

các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa 68

3.2.1 Khái quát về mẫu điều tra 68

3.2.2 Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của nông hộ 79

3.3 Đánh giá chung về những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa 87

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 88

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG TRỒNG MÍA NGUYÊN LIỆU CHO CÁC NÔNG HỘ TẠI THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA 89

4.1 Những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa 89

4.1.1 Tăng cường công tác tập huấn để nâng cao năng suất và chữ đường cho cây mía nguyên liệu 89

4.1.2 Giảm chi phí đầu tư chăm sóc 92

4.1.3 Phổ biến kinh nghiệm đến các nông hộ trồng mía 93

4.1.4 Hỗ trợ cho các nông hộ tiếp cận vốn vay 95

4.1.5 Giải pháp thâm canh, cải tạo đất trồng mía nguyên liệu 96

4.1.6 Tăng cường cơ giới trong hoạt động trồng mía nguyên liệu 96

4.2 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 97

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp các biến trong mô hình hồi qui 32

Bảng 2.1: Tổng hợp danh sách các xã trồng mía nguyên tại Thị xã Ninh Hòa năm 44

Bảng 3.1: Tổng hợp diện tích đất nông nghiệp và diện tích trồng mía của các xã có trồng mía nguyên liệu tại Ninh Hòa trong năm 2014 57

Bảng 3.2: Tổng hợp chi phí, năng suất, thu nhập từ sản xuất cây lúa, ngô, đậu, sắn năm 2014 66

Bảng 3.3: Chi tiết số mẫu điều tra của các xã 68

Bảng 3.4: Đặc điểm về độ tuổi trong mẫu điều tra 69

Bảng 3.5: Đặc điểm lao động trong mẫu điều tra 70

Bảng 3.6: Đặc điểm lao động trực tiếp tham gia trồng mía 70

Bảng 3.7: Đặc điểm trình độ học vấn các chủ hộ 71

Bảng 3.8: Đặc điểm hoạt động kinh tế chính của các nông hộ 71

Bảng 3.9: Tổng hợp lí do các nông hộ chọn trồng mía 72

Bảng 3.10: Nhu cầu vốn vay đáp ứng 74

Bảng 3.11: Đặc điểm đất trồng mía nguyên liệu 75

Bảng 3.12: Đặc điểm số năm kinh nghiệm của các nông hộ 75

Bảng 3.13: Tổng hợp chi phí trồng mía nguyên liệu niên vụ 2014-2015/ 01 ha 78

Bảng 3.14: Tổng hợp năng suất - chữ đường - giá thu mua mía niên vụ 2014-2015 /01 ha 79

Bảng 3.15: Kết quả phân tích tương quan 81

Bảng 3.16: Tóm tắt mô hình ban đầu 82

Bảng 3.17: Phân tích phương sai Anova 82

Bảng 3.18: Kết quả phân tích hồi quy 83

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Các loại rễ và chồi (mầm) mía 9

Hình 1.2: Các sản phẩm chính và phụ sản xuất từ cây mía 11

Hình 1.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp của Todaro 16

Hình 1.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp theo Park Sung Sang 16

Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu về nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa .29

Hình 2.1: Bản đồ Thị xã Ninh Hòa 36

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dân số thị xã Ninh Hòa năm 2013 39

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kinh tế Thị xã Ninh Hòa năm 2013 39

Biểu đồ 2.3: Giá trị sản xuất Nông nghiệp (Theo giá so sánh 2010) 40

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu giá trị sản xuất Nông nghiệp 2013 (theo giá hiện hành) 41

Biểu đồ 2.5: Giá trị sản xuất Nông nghiệp phân theo ngành năm 2013 42

Biểu đồ 2.6: Giá trị gia tăng/ lao độngtheo ngành kinh tế ở Việt Nam 43

Bảng 2.1: Tổng hợp danh sách các xã trồng mía nguyên tại Thị xã Ninh Hòa năm 2014 44

Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu 45

Hình 3.1: Quy trình trồng mía nguyên liệu 54

Biểu đồ 3.1: Diện tích trồng mía nguyên liệu toàn tỉnh Khánh Hòa năm 2013 55

Biểu đồ 3.2: Sản lượng và năng suất mía nguyên liệu toàn tỉnh Khánh Hòa năm 2013 56

Biểu đồ 3.3: Diện tích và sản lượng mía nguyên liệu toàn Thị xã Ninh Hòa qua các năm 56

Biểu đồ 3.4: Diện tích trồng mía nguyên liệu các xã tại Ninh Hòa năm 2014 57

Biểu đồ 3.5: So sánh năng suất mía nguyên liệu giữa Việt Nam và thế giới qua các năm 62

Biểu đồ 3.6: So sánh năng suất mía nguyên liệu giữa Việt Nam – tỉnh Khánh Hòa – Thị xã Ninh Hòa qua các năm 63

Biểu đồ 3.7: Đặc điểm về giới tính trong mẫu điều tra 69

Biểu đồ 3.8: Nhu cầu vay vốn của các nông hộ khảo sát 73

Biểu đồ 3.9: Nơi vay vốn của các nông hộ khảo sát 74

Biểu đồ 3.10: Tập huấn kỹ thuật trồng mía nguyên liệu 75

Biểu đồ 3.11: Đơn vị tập huấn kỹ thuật trồng mía nguyên liệu 76

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây mía được trồng ở Việt Nam từ rất lâu đời nhưng không nhiều tài liệu liên quan nghiên cứu về lịch sử và nguồn gốc về cây mía ở Việt Nam Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu Mía đường cho rằng: “Cây mía còn được gọi là cây Kan-che, Kan là ngọt, che là tre Kan-che là cây tre ngọt Cây mía và nghề chế biến đường thủ công đã

có từ thời các vương triều vua chúa phong kiến” Ngày nay, cây mía được đánh giá là một cây trồng tiềm năng, mang lại rất nhiều giá trị kinh tế, nhu cầu về cây mía nguyên liệu ngày càng tăng cao vì là cây lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp chế biến đường – loại thực phẩm cần thiết trong bữa ăn hàng ngày, cũng như là nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành sản xuất công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng Ngoài ra các phụ phẩm chính của cây mía như bã mía, mật gỉ, bùn lọc cũng rất có giá trị về kinh tế

Đi dọc khắp đất nước Việt Nam, nơi đâu cũng nhìn thấy cây mía, nhưng để phát triển cây mía thành một cây công nghiệp, với quy mô lớn đủ để làm nguồn nguyên liệu đầu vào cho một ngày công nghiệp chế biến đường thì còn phải phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu Vào đầu năm 2007, Thủ tướng chính phủ Việt Nam (2007) đã ký quyết định về việc phê duyệt quy hoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với mục đích muốn đưa ngành sản xuất mía đường trong thời gian tới phát triển theo hướng có quy hoạch, một sự phát triển mang tính bền vững, đạt hiệu quả về kinh tế lẫn xã hội, huy động tất cả các thành phần kinh

tế cùng tham gia để tạo sự đồng bộ ngay từ khâu sản xuất mía nguyên liệu, nhà máy chế biến, sản phẩm sau đường đến lưu thông và tiêu thụ

Tỉnh Khánh Hòa xác định sản xuất mía, chế biến đường là một trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng và có lịch sử phát triển lâu đời Để tạo điều kiện cho nông dân yên tâm đầu tư sản xuất cây mía, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh Hòa (2008) đã tiến hành điều tra và quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu mía phục vụ cho chế biến Công ty cổ phần Đường Ninh Hòa giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm 2020, trên cơ sở định hướng phát triển ngành mía đường của Chính phủ

Ninh Hòa được đánh giá là có điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng tương đối phù hợp với cây mía Là vùng nằm chuyển tiếp giữa dãy núi Trường Sơn đến vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, khí hậu đặc trưng nhiệt đới, với nền nhiệt độ trung bình là 26.60 C, thời gian nắng trung bình đạt 2.482

Trang 12

giờ nắng/ năm nên thích hợp cho cây mía quang hợp và tích đường Theo Cục Thống

kê tỉnh Khánh Hòa, năm 2012, tổng diện tích mía của toàn tỉnh là 17.714 ha, trong đó Thị xã Ninh Hòa là 9.800 ha, chiếm hơn 55% diện tích Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2013) đã quy hoach tổng quỹ đất để dành cho trồng mía của toàn tỉnh là 18.500

ha, trong đó Ninh Hòa chiếm 10.200 ha Điều đó cho thấy, cây mía nguyên liệu có tác động rất lớn đối với thu nhập của bà con nông dân ở Ninh Hòa

Trên địa bàn tỉnh, cũng có các nghiên cứu xoay quanh đề tài cây mía nguyên liệu, hướng nghiên cứu chủ yếu về kỹ thuật như: tuyển chọn giống (Nguyễn Thị Bạch Mai và cộng sự, 2009; Cao Anh Đương, 2012), điều tra diễn biến sâu bệnh, nghiên cứu quy hoạch vùng mía nguyên liệu để phục vụ chế biến (Sở NN&PTNT, 2008)… Nhưng chưa có một nghiên cứu chuyên sâu theo hướng kinh tế, tìm hiểu đời sống, tình hình thu nhập của người nông dân trồng mía nguyên liệu trên địa bàn Thị xã Ninh Hòa

Mấy năm gần đây, giá mía xuống thấp, chi phí đầu vào lại tăng cao, nhân công khan hiếm do lực lượng lao động chuyển sang làm công nhân tại các khu công nghiệp hoặc gia đình đầu tư cho con cái học hành để có nghề nghiệp ổn định, thời tiết ngày càng khô hạn do biến đổi khí hậu, tình trạng sâu bệnh, đặc biệt bệnh trắng lá mía là nổi

lo lớn nhất của người nông dân hiện nay, tiền bán mía ngang bằng với chi phí bỏ ra, khiến cho người nông dân không còn mặn mà với cây mía Xuất phát từ những lý do

đã nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía

nguyên liệu cho các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa” làm luận văn

nghiên cứu thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng về hoạt động trồng mía nguyên liệu của các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

- Xây dựng mô hình nghiên cứu và khung phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

- Đánh giá tác động và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của các nông hộ

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho bà con nông dân ở Thị xã Ninh Hòa

Trang 13

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng về hoạt động trồng mía nguyên liệu tại địa bàn Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa như thế nào?

- Tình hình thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của các nông hộ ở Thị

xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của các nông hộ?

- Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đó như thế nào?

- Các nông hộ nơi đây đang gặp những khó khăn, thuận lợi gì trong việc nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề liên quan đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu của các nông hộ tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Đối tượng khảo sát: các nông hộ hoạt động trồng mía nguyên liệu tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong phạm vi như sau:

Về mặt thời gian: nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp của Chi cục Thống kê Thị

xã Ninh Hòa trong giai đoạn 2010 – 2014 để viết về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu Số liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 1/2015 – 5/2015 từ các nông hộ có thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu trong niên vụ

2014 – 2015

Phạm vi về không gian: đề tài được thực hiện tại các xã có trồng mía nguyên

liệu trên Thị xã Ninh Hòa – tỉnh Khánh Hòa

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp, đánh giá, phân tích từ các nguồn số liệu thứ cấp

Phương pháp phân tích chi phí và thu nhập là một trong những công cụ mà tác giả sử dụng nhằm phân tích hiệu quả sản xuất trên cơ sở kinh tế

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng thông qua kỹ thuật hồi qui đa biến để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên

Trang 14

liệu của các nông hộ Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu thống

kê mô tả, so sánh, đối chiếu

Phương pháp nghiên cứu chi tiết của đề tài luận văn được trình bày chi tiết trong chương 2 của luận văn

6 Những đóng góp của nghiên cứu

 Về mặt khoa học

Thứ nhất, đề tài đã góp phần hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lý thuyết và

mô hình nghiên cứu của phương pháp hồi quy đa biến các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp

Thứ hai, góp phần khẳng định khả năng vận dụng của mô hình nghiên cứu từ lý thuyết đem ứng dụng vào thực tiễn tại Ninh Hòa nói riêng và ngành nông nghiệp của Việt Nam

 Về mặt thực tiễn

Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của đề tài có tác động trực tiếp đến người nông dân trồng mía nguyên liệu ở Ninh Hòa, chỉ cho bà con nông dân biết được các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu hiện nay của nông hộ Từ

đó, người nông dân sẽ có nhận thức mới, khoa học hơn và sẽ biết cách để nâng cao thu nhập cho nông hộ của mình

Thứ hai, đề tài góp phần đề xuất các chính sách đối với các cơ quan quản lý nhà nước - ngành Nông nghiệp của Thị xã, đặc biệt, đơn vị nơi tác giả đang công tác Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ Nông dân – Hội Nông dân tỉnh Khánh Hòa phù hợp với thực tiễn, gắn liền với lợi ích của người nông dân

Cuối cùng, một đóng góp có ý nghĩa trực tiếp và thiết thực nhất của đề tài là làm tài liệu học tập và nghiên cứu cho sinh viên ngành kinh tế tại Trường Đại học Nha Trang

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương Trong đó:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về nông hộ và thu nhập của nông hộ

Nội dung của chương trình bày cơ sở lý thuyết, thực tiễn về hộ gia đình, nông

hộ, kinh tế hộ gia đình Nêu lên được đặc điểm của hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp đồng thời giới thiệu đặc điểm sinh học, yêu cầu sinh thái, giá trị kinh tế của cây mía Tập trung chủ yếu vào thu nhập của nông hộ và các phương pháp xác định thu

Trang 15

nhập của nông hộ, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trồng trồng mía nguyên liệu Đồng thời tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài để tìm ra cơ hội nghiên cứu cho luận văn cũng như xây dựng mô hình và khung phân tích,

đề xuất các giả thuyết nghiên cứu cho đề tài

Chương 2: Khái quát địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Nội dung cơ bản của chương này là khái quát địa bàn nghiên cứu và toàn bộ qui trình nghiên cứu của đề tài Thực hiện nghiên cứu sơ bộ để nhận dạng các đặc điểm của nông hộ trồng mía Tiến hành nghiên cứu chính thức, điều tra thu thập mẫu nghiên cứu, phân tích xử lý dữ liệu trên các mô hình kinh tế lượng để tìm ra những yếu tố tác động đến thu nhập từ trồng mía của các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Chương 3: Phân tích thực trạng thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Trong chương 3 nghiên cứu sẽ nêu các nội dung chính sau: thực trạng trồng mía nguyên liệu tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ từ hoạt động trồng mía, khái quát về mẫu điều tra, đặc điểm của những nông hộ trồng mía nguyên liệu trong mẫu nghiên cứu, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía, phân tích tương quan, phân tích các mô hình kinh tế lượng, đưa ra phương trình hồi quy ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Từ kết quả phân tích trong chương 3, nghiên cứu đưa ra các giải pháp như: phải tăng cường công tác tập huấn để nâng cao năng suất và chữ đường cho mía nguyên liệu như thay đổi nội dung và hình thức tập huấn bám sát thực tế, hỗ trợ kỹ thuật canh tác, đảm bảo công khai minh bạch trong việc xác định chất lượng mía, các giải pháp giảm chi phí đầu tư chăm sóc, giảm chi phí đầu tư hom giống, giảm chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, phổ biến kinh nghiệm đến các nông hộ trồng mía, thành lập các

tổ liên kết, hỗ trợ cho các nông hộ tiếp cận vốn vay bằng cách cho vay theo chuỗi giá trị, giải pháp thâm canh cải tạo đất trồng mía nguyên liệu, tăng cường cơ giới trong hoạt động trồng mía nguyên liệu Ngoài ra, nghiên cứu còn nêu ra hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ NÔNG HỘ VÀ THU

NHẬP CỦA NÔNG HỘ

1.1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về nông hộ và thu nhập của nông hộ

1.1.1 Khái niệm về hộ gia đình và nông hộ

1.1.1.1 Khái niệm hộ gia đình

Theo Phạm Thị Hương Dịu (2009) thì gia đình là nhóm người cùng huyết tộc

và hôn nhân Gia đình hạt nhân: 1 vợ, 1 chồng và các con – là đơn vị cơ bản của xã hội Gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ khác nhau sống dưới một mái nhà Một gia đình có thể bao gồm nhiều hộ Gia đình có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo đời sống cho các thành viên của nhóm Gia đình là cơ sở của hộ vì chứa đựng các yếu tố để hình thành các loại hộ khác nhau Tác giả Hương Dịu đã phân biệt hộ và gia đình như sau: (i) Gia đình: có mối tương quan về mặt xã hội như khía cạnh sinh học truyền thống, hôn nhân; (ii) Hộ: là một đơn vị kinh tế nhỏ nằm trong một nền kinh tế nói chung; (iii)

Hộ được coi là Gia đình khi các thành viên có quan hệ huyết thống và hôn nhân; (iv) Gia đình được coi là Hộ khi các thành viên có chung cơ sở kinh tế

Vương Thị Vân (2009) thì đưa ra 3 tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: có quan hệ huyết thống và hôn nhân; cùng cư trú; có

cơ sở kinh tế chung Tác giả cũng cho rằng, đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy, khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình

Trong khi đó, Võ Thành Nhân (2011) lại cho rằng hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua

và có chung quỹ thu chi

1.1.1.2 Khái niệm về nông hộ

FAO (2007) định nghĩa nông hộ là những hộ có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm nông nghiệp được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao động nhà, bao gồm cả nam lẫn nữa

Trang 17

Trần Xuân Long (2009) đã nghiên cứu rằng: Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân

Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan đến nông nghiệp và không có liên quan đến nông nghiệp Gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một vấn đề còn đang tranh luận Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: Nông dân là các nông

hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình

độ hoàn chỉnh không cao

Hộ nông dân có những đặc điểm sau: (i) Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ

sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng; (ii) Quan hệ giữa tiêu dùng

và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường; và (iii) Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến khó giới hạn thế nào là một hộ nông dân

1.1.2 Kinh tế hộ gia đình

Ở Việt Nam, kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, với mục đích giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và các tư liệu sản xuất khác cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, thì các hộ nông dân đã trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, tức là thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh

tế cơ sở (gọi là kinh tế hộ gia đình) Từ đó, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật

tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác

do pháp luật quy định (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013)

Trang 18

Trong tiến trình xây dựng Nông thôn mới, khái niệm kinh tế hộ gia đình được hiểu rằng đây là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam Hộ gia đình nông thôn thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ (Đỗ Văn Quân, 2014)

 Đặc điểm của kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp

Theo Đinh Văn Quảng (2006) đã nêu lên đặc điểm nổi bật của kinh tế hộ gia đình là có một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, còn ở thành thị gọi là các

hộ tiểu thủ công nghiệp

Để phân biệt kinh tế hộ nông dân với các hình thức kinh tế khác thì Vương Thị Vân (2009) đã đưa ra 3 đặc điểm chính như sau: tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai; lao động sản xuất chủ yếu là các thành viên trong hộ tự đảm nhận và sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thái hàng hóa, họ không có khái niệm tiền công, tiền lương và cuối cùng là tiền vốn chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ

Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền (2013) đã tổng kết và đưa ra các đặc điểm để có thể nhận diện kinh tế hộ gia đình như sau: Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Các thành viên trong

hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ Tồn tại chủ yếu ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản Một bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp ở mức độ khác nhau Chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng

là người lao động trực tiếp, tùy điều kiện cụ thể, họ có thuê mướn thêm lao động Về quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít Sản xuất của kinh

tế hộ còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp Do vậy, tích lũy của hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính Trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho đời sau

Trang 19

1.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây mía nguyên liệu

1.2.1 Đặc điểm sinh học của cây mía

Cây mía thuộc họ Hòa Thảo, tên khoa học là Saccharum Đặc tính thực vật học: Thân mía: ở cây mía, thân là đối tượng thu hoạch, là nơi dự trữ đường được dùng làm nguyên liệu chính để chế biến đường ăn Thân mía cao trung bình 2-3m Thân mía được hình thành bởi nhiều dóng (đốt) hợp lại Chiều dài mỗi dóng từ 15-20

cm, trên mỗi dóng gồm có mắt mía (mắt mầm), đai sinh trưởng, đai sẹo, sẹo lá…

Thân mía có màu vàng, đỏ hồng hoặc đỏ tím Tùy theo từng giống mà dóng mía có

nhiều hình dạng khác nhau như: hình trụ, hình ống… Thân đơn độc, không có cành nhánh

Rễ mía: cây mía có 2 loại rễ là rễ sơ sinh và rễ thứ sinh

Rễ sơ sinh mọc ra từ đai rễ của hom trồng, có nhiệm vụ hút nước trong đất để giúp mầm mía mọc và sinh trưởng trong giai đoạn đầu (rễ tạm thời) Khi mầm mía phát triển thành cây con, thì các rễ thứ sinh mọc ra từ đai rễ của gốc cây con, giúp cây hút nước và chất dinh dưỡng Lúc này các rễ sơ sinh teo dần và chết, cây mía sống nhờ vào rễ thứ sinh và không nhờ vào chất dinh dưỡng dự trữ trong hom mía nữa

Rễ thứ sinh, rễ chính của cây mía, bám vào đất để giữ cho cây mía không bị đổ ngã, đồng thời hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây trong suốt chu kỳ sinh trưởng (rễ vĩnh cửu) Rễ mía thuộc loại rễ chùm, ăn nông, tập trung ở tầng đất mặt

Nguồn: Viện Nghiên cứu Mía đường, 2015

Hình 1.1: Các loại rễ và chồi (mầm) mía

Lá mía: cây mía có bộ lá phát triển mạnh, chỉ số diện tích lá lớn và hiệu suất quang hợp cao, giúp cây tổng hợp một lượng đường rất lớn Lá mía thuộc loại lá đơn gồm phiến lá và bẹ lá Phiến lá dài trung bình từ 1,0-1,5m có một gân chính tương đối

Trang 20

lớn Phiến lá có màu xanh thẩm, mặt trên có nhiều lông nhỏ và cứng, hai bên mép có gai nhỏ Bẹ lá rộng, ôm kín thân cây mía, có nhiều lông Nối giữa bẹ và phiến lá là đai dày cổ lá Ngoài ra còn có lá thìa, tai lá…

Hoa mía (còn gọi là bông cờ): mọc thành chum dài từ điểm sinh trưởng trên cùng của thân khi cây mía chuyển sang giai đoạn sinh thực Mỗi hoa có hình chiếc quạt mở, gồm cả nhị đực và nhụy cái, khả năng tự thụ rất cao Cây mía có giống ra hoa nhiều, có giống ra hoa ít hoặc không ra hoa Khi ra hoa, cây mía bị rỗng ruột làm giảm năng suất và hàm lượng đường

Hạt mía: hình thành từ bầu nhụy cái, hình thoi và nhẵn, dài khoảng 1-1,2mm Trong hạt có phôi và có thể nảy mầm thành cây mía con, dùng trong công tác lai tạo tuyển chọn giống, không dùng trong sản xuất Cây mía từ khi nảy mầm đến thu hoạch kéo dài trong khoảng 8-10 tháng, tùy điều kiện thời tiết và giống mía

1.2.2 Yêu cầu sinh thái của cây mía

Cây mía là cây trồng nhiệt đới và á nhiệt đới, sức sống cao, khả năng thích ứng rộng So sánh với một số cây trồng khác, cây mía có khả năng sử dụng tới mức cao nhất ánh sáng mặt trời đồng hóa CO2 Tuy nhiên, để cây mía sinh trưởng và phát triển bình thường cần phải có một số yêu cầu nhất định về khí hậu, đất đai, mùa vụ…

Nhiệt độ: cây mía sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất cao, chất lượng cao

ở vùng có nhiệt độ từ 250 - 350 C

Ánh sáng: trong suốt cuộc đời, cây mía cần khoảng 2.000 – 3.000 giờ chiếu ánh sáng Lượng mưa: yêu cầu đạt từ 1.500 – 2.000 mm/năm, phân bố đều quanh năm Đất trồng: đất trồng bằng phẳng hoặc độ dốc thấp dưới 100, tầng canh tác dày, giàu mùn, các chất dinh dưỡng, khả năng giữ ẩm tốt, độ pH từ 6,5 -7,5

1.3 Giá trị kinh tế của cây mía

Về mặt công nghiệp: cây mía là nguồn nguyên liệu chính của ngành công nghiệp chế biến đường Mía là loại cây có nhiều chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cho cơ bắp hoạt động Đường giữu một vai trò rất quan trọng trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người, là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội

Mía là một cây đa dụng, ngoài sản phẩm chính là đường, cây mía còn là nguyên liệu trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều ngành công nghiệp như rượu, giấy, ván ép, dược phẩm, điện từ bã mía, thức ăn chăn nuôi, phân bón từ lá, ngọn mía, bùn lọc và tro lò, rỉ

Trang 21

đường được dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp để sản xuất nhiên liệu sinh học, rượu, dung môi aceton…Các sản phẩm phụ của mía đường nếu được khai thác triệt để, giá trị còn có thể gấp 3 – 4 lần chính phẩm (đường)

Xét về mặt sinh học: nhờ đặc điểm có diện tích lá lớn tác dụng bảo vệ đất rất tốt Mía thường được trồng từ tháng 10 đến tháng 2 hàng năm là lúc lượng mưa rất thấp Đến mùa mưa, mía được 4 – 5 tháng tuổi, bộ lá đã giao nhau thành thảm lá xanh, dày, làm mưa không thể rơi trực tiếp xuống mặt đất, có tác dụng tránh xói mòn đất Ngoài ra, mía là cây rễ chum và phát triển mạnh trong tầng đất từ 0 – 60 cm Một ha mía tốt có thể có 13 – 15 tấn rễ, sau khi thu hoạch bộ rễ để lại trong đất cùng với bộ lá

là chất hữu cơ quý làm tăng độ phì của đất

Mía là loại cây có khả năng tái sinh mạnh, lưu gốc được nhiều năm (tức là một lần trồng, thu hoạch được nhiều vụ) Sau mỗi lần thu hoạch, ruộng mía được xử lý, chăm sóc, các mầm gốc lại tiếp tục tái sinh, phát triển

Nguồn: Viện Nghiên cứu Mía đường, 2015

Hình 1.2: Các sản phẩm chính và phụ sản xuất từ cây mía

1.4 Thu nhập của nông hộ và các phương pháp xác định thu nhập của nông hộ 1.4.1 Thu nhập của nông hộ

FAO (2007, p.207) đã đưa ra khái niệm về thu nhập của nông hộ: “thu nhập được xem là một phần thưởng mà các chủ sở hữu các yếu tố sản xuất cố định nhận được khi đem các yếu tố như đất đai, vốn, lao động tham gia sản xuất”

Trang 22

Trần Xuân Long (2009) cho rằng thu nhập của một nông hộ là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng nếu có

Michael P Todaro và Stephen C Smith (2012) cho rằng thu nhập của hộ gia đình là số lượng hàng hóa và dịch vụ vật chất mà hộ gia đình nông dân có thể dùng thu nhập bằng tiền của họ mua được

1.4.2 Các phương pháp xác định thu nhập của nông hộ

FAO (2007) xác định thu nhập của nông hộ như sau:

Thu nhập của hộ gia đình = Tổng giá trị nông sản thu về – Tổng chi phí cho các yếu

tố đầu vào – chi phí thuê lao động – chi phí lãi vay – chi phí thuê đất

(Các khoản chi phí này không bao gồm chi phí lao động gia đình tham gia vào quá trình sản xuất)

Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2011) đã đưa ra phương pháp tự xác định thu nhập

từ trồng trọt trong năm của hộ gia đình như sau:

Thu nhập của hộ = Tổng thu – Tổng chi phí Trong đó:

+ Tổng thu là: ghi giá trị tất cả các nguồn thu từ trồng trọt của hộ trong năm bao

gồm cả sản phẩm chính và sản phẩm phụ (đối với cây hàng năm đó là giá trị sản phẩm thu hoạch của vụ Đông, vụ Chiêm xuân và vụ Mùa năm cần tính toán, đối với các cây lâu năm tính giá trị sản phẩm thực tế thu được trong năm)

+ Tổng chi là: bao gồm các khoản chi để có các khoản thu trong năm tính toán, như chi về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuê làm đất, thuê nhân công, thuê máy móc, trả lãi tiền vay cho sản xuất, vật dụng rẻ tiền mau hỏng (xác định chi cho từng

vụ rồi cộng lại) Chi phí tính theo giá mua thực tế Không ghi những khoản chi phí do

hộ tự túc được (không phải mua) Chỉ tính các khoản chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm cho thu hoạch trong năm tính toán; không tính chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cho cây trồng, vật nuôi chưa cho thu hoạch

Đối với các khoản chi phí có liên quan đến thu nhập của nhiều năm thì cần phải phân bổ chi phí cho các năm sản xuất và cho thu hoạch như: khấu hao máy làm đất, máy phát điện, máy bơm tiền thuê đất, mặt nước để sản xuất trong nhiều năm

Trường hợp hộ có đầu tư chi phí nhưng chỉ thu được một phần hoặc mất trắng như mất mùa, dịch bệnh thì toàn bộ chi phí mang tính chất chi phí một lần (như: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, trả công lao động thuê ngoài) sẽ được tính vào chi phí sản xuất Cây trồng dở dang chưa thu hoạch không được tính vào thu nhập của hộ

Trang 23

Lê Thị Nghệ và cộng sự (2006) đưa ra cách tính tổng sản phẩm trồng trọt chỉ cần tính cho từng cây trồng của hộ trong chu kỳ sản xuất trên cơ sở xác định:

Giá trị tổng sản phẩm = Diện tích gieo trồng của cây trồng * năng suất trên đơn vị diện tích * giá đơn vị sản phẩm của cây trồng + Chí phí trung gian: Để có được các sản phẩm này, nông dân phải sử dụng các hàng hoá và dịch vụ đi mua từ bên ngoài: giống, phân bón, một phần thức ăn gia súc, nước, năng lượng, các dịch vụ khác đã được sản xuất ra bởi các cơ sở sản xuất khác + Giá trị gia tăng thô (VAB) = Giá trị tổng sản phẩm - Ghi phí trung gian

+ Giá trị gia tăng thuần = Giá trị tăng thô – Giá trị khấu hao

+ Thu nhập thuần nông nghiệp = Giá trị gia tăng thuần – Tiền thuê đất – lãi tiền vay – Thuế các loại – Lương của lao động làm thuê

Chi phí trung gian

- Vật chất

- Dịch vụ: làm đất, thuỷ lợi phí, bảo

vệ mùa màng

Khấu hao tài sản cố định

(máy móc, nhà xưởng, con nái )

Chi phí xã hội:

- Lãi tiền vay, tín dụng

- Tiền thuê đất, đấu thầu đất

- Các loại thuế

- Lương của người làm thuê

Thu nhập thuần

Giá trị tổng sản phẩm thô Giá trị

gia tăng thô

Giá trị gia tăng thuần

Trợ cấp cho sản xuất

Thu nhập thuần

Nguồn: Lê Thị Nghệ và cộng sự, 2006

1.5 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trồng mía

1.5.1 Về khía cạnh cung

 Tác động của các nguồn lực sản xuất nông nghiệp đến cung nông sản

Đất đai và tài nguyên thiên nhiên

Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc thù, nơi đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, là môi trường cho cây trồng sinh sinh trưởng và phát triển Cùng với đất, nước là điều kiện quyết định cho sự tồn tại và phát triển của con người, cây trồng, vật nuôi

Trang 24

Nước giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, ngoài ra, còn có thời tiết, khí hậu, nhiệt độ và số giờ có ánh sáng mặt trời trong ngày cũng là yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng Khi người nông dân canh tác trên một mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu thì suất đầu tư sẽ thấp hơn nhưng lại thu về được sản lượng cao hơn so với canh tác trên mảnh đất cằn cỗi, bạc màu

Vốn

Có nhiều nhà nghiên cứu đánh giá tầm quan trọng của vốn như: nghiên cứu của Jonathan (2012) về mô hình của Keynes, tác giả cho rằng tổng cầu đầu tư đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình gia tăng sản lượng Michael và Todaro (2012) đã nghiên cứu về mô hình Harrod – Domar và cho rằng nguồn gốc của việc gia tăng sản lượng là do lượng vốn đưa vào sản xuất tăng lên Vốn trong nông nghiệp được hiểu là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp (Phạm Ngọc Dưỡng, 2012) Để phát triển nông nghiệp, bảo đảm an toàn lương thực, phát triển sản xuất thì vốn đóng vai trò rất quan trọng

Hiện nay, trong nông nghiệp ở Việt Nam, vốn được hình thành từ:

+ Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước: do đặc điểm của đầu tư trong nông nghiệp là khả năng thu hồi vốn chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn, rủi ro cao nên không thu hút được các nhà đầu tư vào lĩnh vực này Vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu đầu tư cho thuỷ lợi, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đầu tư vào nghiên cứu khoa học, kỹ thuật nông nghiệp, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho nông dân

+ Vốn đầu tư của các nông hộ: trong quá trình sản xuất, các nông hộ tiết kiệm được và đưa vào đầu tư tái sản xuất mở rộng

+ Vốn tín dụng nông thôn: Vốn tín dụng nông thôn thường hình thành từ 2 nguồn chính thức và không chính thức Trong đó thuộc khu vực chính thức là vốn từ các hệ thống ngân hàng tại khu vực nông thôn cho các nông hộ, trang trại… vay để đầu tư vào sản xuất Còn nguồn vốn không chính thức là nguồn vốn mà các nông hộ vay từ các cá nhân có tiền nhàn rỗi hoặc những người chuyên cho vay với lãi suất cao

Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực trong sản xuất nông nghiệp có tính chất thời vụ, phụ thuộc vào chu kỳ sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng và vật nuôi Có lúc cần rất nhiều lao động nhưng cũng có thời gian hầu như không cần sự tác động trực tiếp của lao động Lao động trong nông nghiệp đa phần là lao động tay chân, không cần phải qua đào tạo vẫn có thể làm được nên đa phần trình độ của nguồn nhân lực trong nông

Trang 25

nghiệp không cao Ở nước ta, lực lượng lao động hiện nay đang dịch chuyển qua lĩnh vực công nghiệp, nên số lượng lao động bên nông nghiệp đang giảm xuống

Tiến bộ khoa học công nghệ

Sự ra đời và phát triển của khoa học công nghệ có tác động rất lớn đối với cuộc sống của loài người, trong đó tác động mạnh mẽ đối với nông nghiệp Giúp cho sản lượng nông nghiệp được nâng lên, chất lượng tốt hơn, giải phóng sức lao động, năng suất lao động được nâng cao José và cộng sự (2009) nghiên cứu mô hình của Nicolas Kaldor và cho rằng sản lượng tăng là do đầu tư phát triển kỹ thuật công nghệ

 Các mô hình nghiên cứu khi kết hợp các nguồn lực sản xuất nông nghiệp

Với 4 nguồn lực sản xuất trong nông nghiệp, theo tiến trình phát triển của nền nông nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu đã kết hợp chúng lại với nhau và đưa ra các mô hình nghiên cứu khác nhau:

Cobb – Douglas nghiên cứu vai trò tác động của 2 nhân tố: vốn và lao động; kết

hợp 2 nhân tố này theo tỷ lệ nhất định tạo ra sản lượng Hàm sản xuất Cobb-Douglas

là dạng hàm sản xuất phổ biến và hữu dụng nhất được nhiều người thừa nhận và ứng dụng Là một hàm số biểu thị sự phụ thuộc của sản lượng vào các yếu tố đầu vào

Q = A Kα Lβ ( với 0 < α; β <1) Với Q : là sản lượng A: là một hằng số,

Khi nền nông nghiệp phát triển hơn, từ tự cung tự cấp chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa thì sản lượng nông nghiệp gia tăng chủ yếu từ nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp do áp dụng công nghệ sinh học

Nền nông nghiệp tiếp tục phát triển lên một bước cao hơn, chuyển từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa, lúc này vốn và công nghệ trở thành các yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng nông nghiệp

Trang 26

Nguồn: Tổng hợp từ Đinh Phi Hổ, 2010

Hình 1.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp của Todaro Ngoài ra, Đinh Phi Hổ (2010) cũng nghiên cứu mô hình của Park Sung Sang và cho rằng quá trình phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn: sơ khai, đang phát triển

và phát triển Mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu

tố khác nhau như yếu tố tự nhiên, lao động, đầu vào do công nghiệp cung cấp (hóa chất, phân thuốc…) và vốn đầu tư vào nông nghiệp Chi tiết được thể hiện qua Hình 1.4 như sau:

Nguồn: Tổng hợp từ Đinh Phi Hổ, 2010

Hình 1.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp theo Park

Sung Sang

 Chi phí sản xuất

+ Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất là khoản chi phí được dùng để sản xuất ra một lượng nông sản phẩm nào đó trong một khoảng thời gian nhất định

Tổng chi phí sản xuất (TC) = Chi phí cố định (FC) + Chi phí biến đổi (VC)

+ Chi phí cố định: là những khoản chi phí không thay đổi và không phụ thuộc vào

khối lượng công việc hoàn thành nhằm sản xuất ra nông sản phẩm Bao gồm khoản thuê nhà kho, khấu hao tài sản cố định, tiền thuê đất, chi phí bảo hiểm tài sản, kinh doanh v.v

Trang 27

+ Chi phí biến đổi: là những khoản chi phí sẽ thay đổi phụ thuộc vào quy mô, khối

lượng công việc được hoàn thành trong quá trình sản xuất Bao gồm các khoản chi phí

về hạt giống, phân bón, thức ăn gia súc

Việc phân ra chi phí cố định và chi phí biến đổi để có giải pháp sử dụng có hiệu quả, bởi vì các khoản chi phí cố định, nếu không sử dụng các nguồn lực này theo đúng thời gian thì sẽ bị lãng phí Tài sản cố định mặc dù không được sử dụng vẫn phải chịu khấu hao

+ Chi phí cận biên (MC): là chi phí tăng thêm để tạo ra sản phẩm bổ sung

+ Chi phí biến đổi bình quân (AVC): là chi phí biến đổi tính bình quân cho mỗi

đơn vị sản phẩm

+ Tổng chi phí bình quân (AC): là tổng chi phí tính cho mỗi đơn vị sản phẩm

 Mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và yếu tố đầu vào

+ Hàm sản xuất: là một hàm số biểu thị sự phụ thuộc của sản lượng vào các yếu tố

đầu vào Dạng hàm sản xuất: Q = f (X1, X2, X3,….Xn) (Q: số lượng sản phẩm đầu ra;

Xi: số lượng yếu tố sản xuất đầu vào i)

+ Năng suất biên (MP): là phần thay đổi trong tổng sản lượng khi thay đổi một

đơn vị yếu tô sản xuất biến đổi đó, trong khi các yếu tố sản xuất khác được giữ nguyên. MPL = Q/ L

Mối quan hệ giữa năng suất biên (MP) và sản lượng (Q):

MP > 0 thì Q tăng dần; MP < 0 thì Q giảm dần; MP = 0 thì Qmax

+ Qui luật năng suất biên giảm dần: Khi sử dụng ngày càng tăng một yếu tố sản

xuất biến đổi trong khi các yếu tố sản xuất khác được giữ nguyên, thì năng suất biên của yếu tố sản xuất biến đổi đó sẽ ngày càng giảm xuống

+ Nguyên tắc sản xuất: Phối hợp các yếu tố sản xuất với chi phí tối thiểu để đạt

sản lượng tối đa, chủ hộ nên chọn phối hợp giữa các yếu tố sản xuất sao cho năng suất biên trên một đơn vị tiền tệ của các yếu tố sản xuất phải bằng nhau :

xuống khi sử dụng tăng thêm 1 đơn vị lao động nhằm đảm bảo mức sản lượng vẫn không thay đổi

Trang 28

+ Mối quan hệ giữ tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS) và năng suất biên (MP):

Để đảm bảo sản lượng không đổi thì số sản phẩm có thêm do tăng sử dụng số lao động phải bằng số sản phẩm giảm xuống do giảm bớt số lượng vốn đã sử dụng

 Cung sản phẩm nông nghiệp

Cung sản phẩm nông nghiệp: là khái niệm dùng để chỉ lượng hàng hoá nông

sản của các doanh nghiệp và hộ gia đình nông dân có khả năng sản xuất được và sẵn sàng bán ở mỗi mức giá trong mỗi thời điểm nhất định

Hàm cung sản phẩm nông nghiệp: Qs = F (X1, X2, Xn)

Trong đó, Qs: lượng cung thị trường; X1, X2, Xn: các yếu tố xác định cung Qui luật cung: Khi P1 < P2 ta có Q1 < Q2, tức là P càng lớn thì Q càng lớn Nói cách khác sản lượng cung một nông sản hàng hoá có quan hệ tỷ lệ thuận với giá của

nó Vì vậy, đường cong cung sẽ chạy từ dưới lên trên, từ trái sang phải

 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung nông sản trên thị trường

+ Giá của nông sản hàng hoá đó: thể hiện sự tác động của giá đến cung nông sản

thị trường có đại lượng: Hệ số có dãn (ký hiệu là Ei)

Ý nghĩa hệ số co dãn Ei: khi giá một nông sản thay đổi 1% thì cung về nông sản

đó thay đổi là bao nhiêu phần trăm

+ Giá của sản phẩm cạnh tranh (sản phẩm có thể thay thế):

Giá của sản phẩm j tăng có thể làm giảm cung sản phẩm i theo giá thị trường Ví

dụ, để làm đường thì có 2 nguyên liệu chính là mía nguyên liệu và củ cải đường Khi giá củ cải đường tăng thì giá mía nguyên liệu giảm

+ Sự thay đổi giá cả của các yếu tố đầu vào:

Khi giá một yếu tố đầu vào thay đổi, ví dụ như giá phân bón tăng lên, chi phí cận biên để làm ra một lượng đầu ra nhất định sẽ tăng lên

+ Giá của sản phẩm song đôi:

Khi giá của một trong hai sản phẩm song đôi tăng lên thì đường cong cung sản phẩm thứ hai sẽ dịch chuyển sang phải Ví dụ, khối lượng cung sữa có tương quan với giá sữa và giá bê con

+ Trình độ kỹ thuật của sản xuất:

Những cải tiến kỹ thuật là một nguyên nhân ảnh hưởng tới cung một loại nông sản hàng hoá nào đó Ví dụ, một nhóm hộ gia đình tiếp nhận được một loại phân bón mới cho năng suất cao hơn Với cùng một lượng phân bón và các yếu tố đầu vào như cũ, nhưng cho sản lượng sản phẩm nhiều hơn

Trang 29

+ Các yếu tố môi trường tự nhiên:

Các yếu tố thời tiết, tình hình dịch bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sinh trưởng phát triển của cây trồng vật nuôi và do vậy ảnh hưởng đến khối lượng cung ứng

ra thị trường

+ Các chính sách kinh tế của Nhà nước:

Một số chủ trương chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến cung một

số nông sản nhất định Ví dụ, việc cấm hoặc hạn chế việc sử dụng một yếu tố đầu vào nào đó, cung cấp vốn ưu đãi, chuyển giao kỹ thuật mới cho nông dân v.v

1.5.2 Về khía cạnh cầu

Cầu sản phẩm nông nghiệp: Cầu sản phẩm nông nghiệp là khái niệm dùng để

chỉ lượng hàng hoá nông sản mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở mỗi mức giá trong những thời điểm nhất định

Hàm số cầu (ký hiệu Qd): Qd = F (X1, X2, Xn)

Trong đó, Qd: lượng cầu thị trường và X1, X2, Xn: các yếu tố xác định cầu Qui luật cầu: khi giá cao, lượng cầu giảm còn khi giá hạ thì lượng cầu tăng lên Như vậy cầu về một loại nông sản hàng hoá có quan hệ tỷ lệ nghịch với giá cả của nó

 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nông sản

+ Giá cả của bản thân nông sản:

Để thể hiện sự tác động của giá đến cầu nông sản thị trường có đại lượng: Hệ số

có dãn (ký hiệu là Ei) Hệ số co dãn của cầu theo giá có ý nghĩa khi giá một nông sản thay đổi 1% thì cầu về nông sản đó thay đổi là bao nhiêu phần trăm

+ Giá của loại nông sản thay thế:

Có nhiều loại nông sản có công dụng tương tự nhau trong tiêu dùng Do vậy khi giá loại nông sản thay thế giảm xuống sẽ làm thay đổi lượng cầu về một nông sản khác

+ Tình hình phân phối thu nhập và mức thu nhập của các nhóm dân cư:

Khi thu nhập thấp, cầu về các nông sản thông thường lớn hơn Ngược lại, khi thu nhập tăng thì cầu về các loại nông sản có chất lượng cao sẽ tăng lên

1.5.3 Về giá cả thị trường

Thị trường nông sản đạt được trạng thái cân bằng khi giá cả được hình thành ở mức khối lượng nông sản đem bán vừa bằng với nhu cầu của người mua và với giá đó không có khuynh hướng biến động giá cả và khối lượng nông sản hàng hoá Để tạo ra nông sản phẩm cần có sự phối hợp giữa các yếu tố đầu vào và hiệu quả của nó tùy

Trang 30

thuộc vào trình độ phối hợp hợp lý giữa các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Những quan hệ có tính vật chất trước hết xem xét mối quan hệ giữa yếu tố sản xuất và lượng nông sản phẩm, việc tăng lượng yếu tố đầu vào làm tăng lượng sản phẩm, nhưng đến mức nhất định sản lượng giảm dần Mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất với sản phẩm được sản xuất cần thiết phải phối hợp nhiều yếu tố đầu vào khác nhau, giữa chúng có thể thay thế cho nhau Có thể tính tỷ lệ yếu tố đầu vào này được thay thế bằng một yếu tố đầu vào khác trong điều kiện sản lượng đầu ra không thay đổi Mỗi trang trại hoặc doanh nghiệp tùy thuộc vào giới hạn công nghệ, tỷ số chuyển đổi cận biên và chi phí cơ hội để có thể lựa chọn sản xuất từng loại sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm với quy mô và cơ cấu hợp lý nhằm sử dụng các nguồn lực hạn chế thông qua các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất

1.6 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.6.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

M.Karimi và cộng sự (2008) với đề tài nghiên cứu “Energy Analysis of Sugarcane Production in Plant Farms A Case Study in Debel Khazai Agro-industry in

Iran” Cũng tìm hiểu về mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra, nhưng

nhóm tác giả đứng ở một góc nhìn khác là dùng đơn vị tính năng lượng để phân tích giữa năng lượng đầu vào và năng lượng đầu ra trên 1 hecta trồng mía đường Nguồn năng lượng đầu vào bao gồm các yếu tố: lượng chất đốt, lượng phân bón, lượng thuốc diệt cỏ, số giờ sử dụng máy kéo, số giờ sử dụng máy móc nông nghiệp, số giờ dùng phương tiện vận chuyển, năng lượng cho việc tưới nước, số lượng hom mía giống Và

để đồng nhất đơn vị tính, nhóm tác giả dùng đơn vị tính năng lượng (MJ/ha) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, trồng mía đường tốn rất nhiều năng lượng Tổng năng lượng đầu vào sử dụng để trồng 1 ha mía đường ở Debel Khazai Ago – Industry là 148,02 GJ

và tạo ra một năng lượng đầu ra là 112,22 GJ (tương đương 93,5 tấn mía đường/ha) trong đó năng lượng điện chiếm 43%, năng lượng chất đốt - dầu diesel để chạy máy nông nghiệp và vận chuyển chiếm 23%, phân bón chiếm 14,4%, cắt hom mía chiếm 8,3%, máy nông nghiệp chiếm 6%, thuốc diệt cỏ chiếm 1,3%, tổng số giờ công lao động là 1225 giờ - chiếm 4% Tỷ lệ năng lượng đầu ra/đầu vào là 0,76

Trong nông nghiệp, các nguồn lực là có giới hạn nên việc tiết kiệm năng lượng là cách đầu tư tốt nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Và để làm được điều đó cần phải đầu tư cho khoa học công nghệ – nghiên cứu cách giảm năng lượng đầu vào trong nông nghiệp Ở Iran, nước tưới là một nguồn tài nguyên khan hiếm, đặc biệt trồng

Trang 31

nông nghiệp cần rất nhiều nước Năng lượng để dùng cho việc tưới tiêu chiếm nhiều nhất, chính vì vậy nên phát triển hệ thống tưới nước tiết kiệm và hiệu quả như hệ thống tưới nhỏ giọt – đây là công nghệ tưới rất tiết kiệm nước và hiệu quả mà nhiều nước trên thế giới áp dụng hiện nay Số lượng, chất lượng, chủng loại và công suất làm việc của các máy nông nghiệp nên được phối hợp một cách hiệu quả để tiết kiệm năng lượng Phân bón chính là nguồn năng lượng trực tiếp tác động đến sản lượng mía nên được nghiên cứu để dùng ít nhất nhưng hiệu quả cao nhất, đặc biệt các loại phân xanh không ảnh hưởng đến môi trường

Adnan Nazir và cộng sự (2013) với nghiên cứu “Factors Affecting Sugarcane

Production in Pakistan” Mục đích của đề tài là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến

việc sản xuất mía đường ở Pakistan, đây là nước đứng thứ 5 trong tốp 20 quốc gia trồng mía đường nhiều nhất thế giới và đứng vị trí thứ 7 trong tốp các nước sản xuất đường trên thế giới Cây mía đường được xem là cây nông nghiệp chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao thu nhập, phát triển kinh tế xã hội và là nguồn thu lớn nhất của chính phủ Pakistan Nhóm tác giả sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas

và đưa 7 biến độc lập (X) vào mô hình nghiên cứu: chi phí phân Ure/ha; chi phí phân DAP/ha; chi phí phân chuồng/ha; tiền công làm đất/ha; tiền giống/ha; tiền công làm cỏ mía/ha; nước tưới/ha và biến phụ thuộc (Y) là: thu nhập của nông hộ Kết quả phân tích cho thấy tất cả các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ, nhưng nhóm các yếu tố: chi phí phân Ure, tiền công làm cỏ mía, nước tưới có tác động mạnh tới thu nhập của nông hộ Giá thành đầu vào cao, khó khăn trong quá trình thu mua, giá thu mua thấp và sự thiếu hụt các kiến thức về khoa học công nghệ là các vấn đề chính tác động đến thu nhập của người nông dân trồng mía đường ở Pakistan

Saichay và Dusadee (2013) đã nghiên cứu chủ đề “The impacts of contract farming on rural farm households, Lao PDR” Đề tài nghiên cứu tác động của sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng đến thu nhập các nông hộ ở Lào, tác giả chọn các nông hộ trồng mía đường ở tỉnh Savannakhet làm đối tượng nghiên cứu Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng có nghĩa là sự thỏa thuận giữa người nông dân và nhà sản xuất sản phẩm bằng một hợp đồng kì hạn thường với giá định trước Hợp đồng được hiểu dưới dạng “2+3” nghĩa là nông hộ cung cấp 2 yếu tố: đất và lao động Công ty đường cung cấp 3 yếu tố: các yếu tố đầu vào cho trồng mía, khoa học kĩ thuật, nơi thu mua mía Điều này tác động rất lớn đến thu nhập nông hộ trồng mía bởi vì đặc thù riêng biệt của cây mía đường là trồng ra rồi đem bán cho một nơi duy nhất là nhà máy đường cho

Trang 32

nên việc kí hợp đồng sản xuất nông nghiệp ra tạo nên tâm lý an tâm sản xuất cho người nông dân Tuy nhiên việc kí hợp đồng này cũng tạo ra tác động tiêu cực là nông

hộ phải chấp nhận sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, phân bón ) với mức giá do nhà máy đường quy định, thông thường cao hơn giá thị trường và đôi khi nông hộ trở thành con nợ của nhà máy đường

1.6.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Đặng Kiều Nhân (2009) đã nghiên cứu đề tài “Năng suất và lợi tức sản xuất lúa cao sản ở đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 1995 – 2006”

Về phương pháp: tác giả dùng phương pháp phân tích cụm (cluster) để phân

loại các vùng sản xuất lúa chính và phân tích tích xu hướng sản xuất lúa ở các vùng này Căn cứ để phân loại là năng suất và suất lúa vụ đông xuân, xuân hè và hè thu và diện tích lúa mùa của hai năm 2005 và 2006

Mô hình nghiên cứu: để phân tích yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận

sản xuất lúa và thu nhập hộ trong vụ lúa đông xuân và hè thu, tác giả đưa ra biến phụ thuộc là: năng suất, lợi nhuận sản xuất lúa và tổng thu nhập của nông hộ Mô hình sử dụng các biến độc lập sau: diện tích sản xuất, đầu tư vật tư (chi phí phân bón, thuốc sâu), giá lúa Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: để tăng năng suất cần phải tăng cường các biện pháp kỹ thuật để duy trì độ màu mỡ của đất Để tăng lợi nhuận và thu nhập phải giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng gạo và mở rộng đầu ra bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy, các biện pháp kỹ thuật và giá bán đầu ra có tác động thuận chiều đến năng suất, lợi nhuận và thu nhập nông hộ Chi phí sản xuất có tác động nghịch chiều với năng suất, lợi nhuận và thu nhập nông hộ

Biện pháp tác giả đưa ra là bón phân hợp lý để duy trì độ phì nhiêu của đất, giảm lượng giống hợp lý và cải thiện chất lượng của lúa là các giải pháp quan trọng để duy trì năng suất và lợi nhuận từ việc trồng lúa cho nông hộ

Nguyễn Hoài An (2010) nghiên cứu chủ đề “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ xã viên tại hợp tác xã rau an toàn Thành Lợi”

Về lý thuyết: tác giả Hoài An sử dụng 2 nhóm lý thuyết chính Nhóm lý thuyết

kinh tế về: thu nhập, mối quan hệ giữa sản lượng đầu vào và các yếu tố đầu ra, chi phí sản xuất, tiến bộ khoa học kĩ thuật và lao động Nhóm lý thuyết thứ hai về hợp tác xã

và hộ xã viên hợp tác xã

Về phương pháp: tác giả dùng phương pháp so sánh và thông kê mô tả để xác

định thực trạng hoạt động của hợp tác xã, tình tình sản xuất và thu nhập của các hộ xã

Trang 33

viên Tác giả dùng hàm hồi quy tuyến tính để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ xã viên

Mô hình nghiên cứu: áp dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến với 08 biến

độc lập đó là: số năm kinh nghiệm, thời gian sản xuất, chi phí giống, chi phí phân bón, chi phí thuốc, chi phí lao động, diện tích tham gia sản xuất với hợp tác xã, số lần tham gia phổ biến kiến thức khoa học kĩ thuật Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, tại hợp tác xã rau an toàn Thành Lợi, các yếu tố tác động thuận chiều đến lợi nhuận của các hộ xã viên chính: số năm kinh nghiệm, chi phí lao động và số lần tham gia tập huấn Các biến tác động nghịch chiều đến lợi nhuận là: chi phí giống, chi phí phân bón, chi phí thuốc, diện tích và thời gian sản xuất Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả cho biết nguyên nhân dẫn đến thu nhập của các hộ xã viên thấp là do sản xuất theo kinh nghiệm của bản thân nên sử dụng các loại phân hóa học với chi phí rất cao, sử dụng không đúng liều lượng và không theo quy trình, ít sử dụng các loại phân bón hữu

cơ vi sinh nên chi phí bỏ ra rất cao Ngoài ra, ban quản trị cần phải xem xét lại quy trình sản xuất hiện đang áp dụng nên tăng cường tiếp xúc với các hộ viên để bổ sung kinh nghiệm thực tế vào quy trình một cách khoa học hơn, tuyên truyền, tư vấn để hội viên biết được lợi ích của việc sản xuất theo quy trình

Trần Văn Đông (2011) với mục tiêu hướng đến “Nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng dâu nuôi tằm trên địa bàn xã Đặng Sơn – Huyện Đô Lương – Tỉnh Nghệ An”

Về lý thuyết: tác giả hệ thống hóa lý thuyết thành 2 nhóm: nhóm cơ sở lý luận

về nghề tằm, sản xuất dâu tằm và nhóm cơ sở thực tiễn nói về trồng dâu nuôi tằm, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, tình hình sản xuất dâu tằm ở Việt Nam và thế giới, đặc điểm về tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội tại địa bàn nghiên cứu

Về phương pháp: nghiên cứu dùng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá

tình hình sản xuất, kinh doanh của các hộ trồng dâu nuôi tằm Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích phương sai ANOVA để so sánh thu nhập, giá bán, chi phí sản xuất giữa ba nhóm hộ: hộ khá, hộ trung bình, hộ yếu

Mô hình nghiên cứu: tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định lượng: phân

tích hồi quy nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các nông hộ trồng dâu nuôi tằm trên địa bàn nghiên cứu Tác giả đưa ra các biến có ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ trồng dâu nuôi tằm là: tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, diện tích dâu, số lứa nuôi, tổng chi phí Kết quả hồi quy cho thấy, số lứa nuôi và tổng chi phí là 2 nhân tố

Trang 34

ảnh hưởng mạnh đến thu nhập từ trồng dâu nuôi tằm của hộ Từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị đối với Nhà nước, chính quyền cơ sở và hộ nông dân

Trần Lợi (2011) nghiên cứu chủ đề “Phân tích hiệu quả sản xuất và các yếu tố

ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất mía nguyên liệu tỉnh Trà Vinh”

Về lý thuyết: các tác giả sử dụng nhóm lý thuyết về sản xuất, yếu tố sản xuất,

hàm sản xuất, nông hộ, hiệu suất quy mô, hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, lợi nhuận Đồng thời giới thiệu về cây mía và hiệu quả kinh tế của cây mía

Về phương pháp nghiên cứu: để làm rõ vấn đề nghiên cứu, tác giả chia thành 3

mục tiêu nhỏ Mục tiêu 1: xác định được hiệu quả sản xuất mía nguyên liệu tỉnh Trà

Vinh, tác giả dùng mô hình sản xuất Cobb- Douglas để phân tích mối quan hệ giữa

vốn và ngày công lao động ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng thu hoạch Mục tiêu

2: xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của sản xuất mía nguyên liệu tỉnh

Trà Vinh Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích các yếu tố ảnh

hưởng đến năng suất mía Mục tiêu 3: đề ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả sản

xuất, tác giả sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT để xây dựng giải pháp mang tính khoa học Từ đó đưa ra kiến nghị đối với Nhà nước, công ty TNHH một thành viên Mía đường Trà Vinh, nhà Khoa học, nông hộ trồng mía nguyên liệu

Về mô hình nghiên cứu: sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, các nhân

tố được đưa vào mô hình nghiên cứu: tuổi, trình độ học vấn của chủ quản lý và điều hành sản xuất, kinh nghiệm trồng mía của nông hộ, việc tham gia tập huấn của nông

hộ, số lần dự tập huấn của nông hộ Kết quả hồi quy cho thấy, trong các yếu tố trên, có

3 yếu tố tác động thuận chiều năng suất trồng mía nguyên liệu của tỉnh Trà Vinh: kinh nghiệm trồng mía của nông hộ, việc tham gia tập huấn và số lần dự tập huấn Biến việc tham gia tập huấn có tác động mạnh nhất đến năng suất mía ở Trà Vinh

Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến

thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”

Về lý thuyết: với mục mục tiêu là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập

của hộ gia đình ở khu vực nông thôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, tác giả sử dụng lý thuyết năng suất lao động là điều kiện để thay đổi thu nhập của tác giả Park Sung Sang yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động nông nghiệp bao gồm trình độ kiến thức nông nghiệp và mức độ đa dạng hóa hoạt động tạo thu nhập của tác giả Đinh Phi Hổ

Về phương pháp nghiên cứu: nhóm tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô

tả và hồi quy tuyến tính đa biến

Trang 35

Về mô hình nghiên cứu: qua tổng hợp lý thuyết và thực tế, nhóm tác giả đưa các

nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: số nhân khẩu, kinh nghiệm làm việc, trình độ học vấn của chủ hộ, số hoạt động tạo thu nhập và độ tuổi của lao động Với mô hình hồi quy nghiên cứu tuyến tính, nhóm tác giả đã chỉ ra các biến độc lập trên đều có ý nghĩa thống kê Nhân tố tác động thuận chiều đến thu nhập hộ gia đình đó là: kinh nghiệm, trình độ học vấn, hoạt động tạo thu nhập, cuối cùng là độ tuổi lao động Riêng biến số nhân khẩu lại có tác động nghịch chiều đến thu nhập nông hộ

Từ kết quả nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề ra các giải pháp thiết thực, gắn liền với tình trạng thực tế ở địa phương

Lê Thị Thảo (2011) trong đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao thu nhập từ trồng mía cho các hộ nông dân tại xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”

Về lý thuyết: tác giả hệ thống hóa lý thuyết về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ, thu

nhập, phương pháp tính thu nhập của hộ nông dân Đồng thời nêu lên cơ sở thực tiễn

về sản xuất mía ở Việt Nam và trên thế giới, giới thiệu những đặc điểm địa bàn nghiên cứu như điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, những thuận lợi và khó khăn của

xã Châu Khê trong sản xuất mía

Về phương pháp nghiên cứu: tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định tính:

chọn điểm, phân nhóm, phỏng vấn bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn chuyên sâu để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập từ mía của các nông hộ

Về mô hình nghiên cứu: sử dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương

pháp tiếp cận, sau đó thu thập thông tin bằng phỏng vấn bảng hỏi, xử lý thông tin bằng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh dựa vào các hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng có 2 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập Nhóm nhân tố khách quan: điều kiện thời tiết, khí hậu, dịch bệnh

và nhóm các nhân tố chủ chủ quan: lao động, tiến bộ khoa học kĩ thuật, nhân tố thị trường, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước Từ đó đưa ra giải pháp và kiến nghị đối với Nhà nước, UBND xã, ban quản lý thôn, người trồng mía, nhà máy đường Sông Lam

Phạm Ngọc Dưỡng (2012) với luận án “Thu nhập của hộ gia đình trồng cà phê

trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”

Về lý thuyết: tác giả hệ thống hóa các nhóm lý thuyết liên quan đến sản lượng

sản phẩm của hộ gia đình nông dân, nhóm lý thuyết liên quan đến giá bán sản phẩm tại

hộ gia đình nông dân, nhóm lý thuyết liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm tại hộ gia đình nông dân, nhóm lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 36

Về phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu dùng phương pháp nghiên cứu định

tính, hồi quy tuyến tính đa biến

Về mô hình nghiên cứu: từ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, tác giả đã lượng

hóa và đưa ra các biến độc lập để đưa vào mô hình nghiên cứu như sau: diện tích, số lao động chính, vốn vay, chi phí sinh học, chi phí cơ giới, kiến thức nông nghiệp, loại

cà phê và hợp đồng tiêu thụ

Với mô hình ban đầu, tác giả đưa tất cả các biến nêu trên cùng hồi quy Kết quả hồi quy lần 1 có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập Mô hình được điều chỉnh để khắc phục bằng cách loại bỏ các biến gây ra hiện tượng đa cộng tuyến Kết quả cuối cùng cho thấy, các biến: loại cà phê, kiến thức nông nghiệp và doanh thu có tác động thuận chiều tới thu nhập nông hộ trồng cà phê Biến chi phí sinh học (chi phí phân bón, nước tưới, thuốc sâu) có tác động nghịch chiều với thu nhập nông hộ trồng

cà phê Để tìm ra giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ gia đình trồng cà phê khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức Từ đó đề ra các nhóm giải pháp: về nâng cao sản lượng, giảm chi phí sản xuất, nâng cao giá bán cà phê và nhóm giải pháp hỗ trợ khác

1.6.3 Đánh giá chung về các nghiên cứu

Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, đa phần các nghiên cứu về nâng cao thu nhập từ một hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông hộ thường sử dụng một phương pháp phổ biến, đó là phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến, dưới dạng hàm sản xuất Cobb – Douglas, để tìm ra yếu tố tác động đến thu nhập Sau khi nghiên cứu các công trình nghiên cứu khác, tác giả nhận thấy các yếu tố thường được đưa vào mô hình hồi quy có thể gộp thành 2 nhóm

+ Nhóm yếu tố tác động đến đầu vào của hoạt động sản xuất nông nghiệp:

Nhìn chung, các yếu tố tác động đến đầu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp xoay quanh các 4 yếu tố nguồn lực sản xuất: (i) Về nguồn nhân lực: tuổi, giới tính, số lao động trình độ học vấn, kinh nghiệm…; (ii) Về đất đai: diện tích đất, điều kiện nước tưới, điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng…; (iii) Về công nghệ, kỹ thuật: có tham gia tập huấn khoa học kĩ thuật, số lần tham gia và (iv) Về nguồn vốn sản xuất: có/không vay vốn, vốn dành cho chi phí sản xuất nông nghiệp luôn có một khung chi phí với từng hạng mục cố định: chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí lao động, chi phí thuê đất, chi phí lãi vay…

Trang 37

+ Nhóm yếu tố tác động đến đầu ra nông sản: giá bán nông sản, năng suất, chất lượng nông sản và sản lượng thu hoạch…

1.7 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho nông hộ từ hoạt động trồng mía nguyên liệu ở một số địa phương

 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập từ trồng mía nguyên liệu ở Úc

Tại Úc, những nông dân trồng mía thành lập một hiệp hội mang tên Hiệp hội những người trồng mía (CaneGrowers) Mía nguyên liệu phần lớn được trồng trên các nông trại tư nhân có diện tích từ 40- 250 ha, mỗi nông trại trung bình chỉ có từ 1-2 lao động Các công đoạn trong trồng mía đều được cơ giới hóa Đặc biệt trong khâu tưới nước, áp dụng mô hình tưới tự hành -tưới nhỏ giọt Trong khâu bón phân đều áp dụng công nghệ máy bón phân tự lấp, giúp bón phân hiệu quả, tiết kiệm phân bón, tránh tình trạng bón phân trên mặt dẫn đến tình trạng bốc hơi, hiệu quả sử dụng cao, thời gian có tác dụng của phân bón kéo dài, mỗi vụ chỉ bón phân hai lần mà cây mía vẫn sinh trưởng và phát triển tốt Khâu thu hoạch mía hoàn toàn cơ giới, mía sau khi thu hoạch được đưa ngay về nhà máy để chế biến trong vòng 16 giờ, để giữ được chữ đường cao nhất của cây mía Người nông dân trồng mía nguyên liệu ở Úc đang sử dụng các công nghệ mới nhất và các kết quả nghiên cứu để nâng cao năng suất đường trong cây mía

và tiết kiệm chi phí đầu vào trong sản xuất Trung bình 1 hộ trồng mía thu hoạch khoảng 8.000 tấn/năm, trong khi nhiều hộ có thu hoạch đến 100.000 tấn/năm (Viện mía đường, 2013)

 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập từ mô hình trồng mía nguyên liệu của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai

Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) qua Lào thuê đất để làm nông nghiệp, trong đó diện tích trồng mía nguyên liệu để làm đường là 8.000 ha và liền vùng Áp dụng hệ thống tưới tưới nhỏ giọt của Israel, hệ thống tưới được chôn dưới lòng đất nên trong lòng đất vẫn đủ độ ẩm, nhưng trên bề mặt, các loại cỏ dại không có nước để phát triển nên tránh tình trạng mất chất dinh dưỡng của cây mía, hệ thống được lắp đặt đến từng hàng mía và cung cấp độ ẩm liên tục cho đất, công tác bón phân cũng được thực hiện tự động bằng cách hòa vào bể nước nhân tạo và theo hệ thống tưới nước đến từng rãnh mía HAGL đã áp dụng máy móc thiết bị trong công tác trồng, chăm sóc và thu hoạch mía nên tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí Nhờ áp dụng kỹ thuật canh tác khoa học và hiện đại, HAGL đạt năng suất mía 107 tấn/ha, mặt bằng chung của Việt Nam là 60 tấn/ha Hiện giá thành mía của HAGL trung bình chỉ khoảng 296.000

Trang 38

đồng/tấn, sản xuất ra đường với giá thành 4.320 đồng/kg, đó là chưa kể tận dụng tái sản xuất như bã mía sản xuất điện…Để đạt điều này là do có diện tích đất rộng để áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất, góp phần giảm giá thành đầu vào, tăng sức cạnh tranh(Hoàng Anh Gia Lai, 2014).

 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập từ trồng mía nguyên liệu của ông Huỳnh Văn Giáo (Ninh Hòa – Khánh Hòa), nông dân trồng mía nguyên liệu giỏi, đạt danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp Trung Ương, đại diện tỉnh Khánh Hòa được nhận danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2014”

Là một nông dân của vùng đất Ninh Hòa, trồng mía nguyên liệu hơn 30 năm, kinh nghiệm nâng cao thu nhập từ trồng mía nguyên liệu của nông hộ ông Giáo đúc kết là “Nhất nước, nhì phân” Từ trước cho tới nay, người trồng mía nguyên liệu ở Ninh Hòa chỉ dựa vào nước trời nên không thể chủ động nguồn nước để tưới mía, bón phân không theo đúng chu kỳ sinh trưởng của cây mía Do đó, năng suất mía thấp, chữ đường không cao Nhận ra tầm quan trọng của nước tưới đối với cây mía, ông tự đầu

tư hệ thống thủy lợi để tưới mía, bằng cách bắt đường ống từ đầu nguồn nước tự nhiên, tận dụng áp lực nước để tạo ra hệ thống tưới phun cho 50 ha mía của nông hộ Để tiết kiệm phân bón, bón phân ít nhưng hiệu quả, ông sáng chế loại máy cày ngầm đất để bón phân không trôi Nhờ vậy, hàng năm từ 50 ha mía nguyên liệu, nông hộ của ông thu lãi gần 1 tỷ đồng Từ kinh nghiệm và từ thực tế trồng mía nguyên liệu, ông đã tự tìm tòi, tự chế tạo máy móc để giảm chi phí trồng mía từ đó nâng cao thu nhập cho gia đình (Cổng thông tin điện tử tỉnh Khánh Hòa, 2014)

1.8 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu

 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Từ cơ sở lý thuyết đã trình bày, cũng như từ việc tổng quan các nghiên cứu liên quan trên cho thấy các nghiên cứu thực nghiệm khi nghiên cứu thu nhập của nông hộ sản xuất nông nghiệp đều sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến Các nhân

tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là các đặc điểm như: tuổi, giới tính, số lao động trình độ học vấn, kinh nghiệm, diện tích đất, điều kiện nước tưới, tham gia tập huấn khoa học kĩ thuật, chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, lao động, thuê đất, tiền lãi vay, giá bán nông sản, năng suất và sản lượng thu hoạch… Chính vì vậy, trong nghiên cứu này sẽ kế thừa về khung phân tích và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây để tìm cách nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Trang 39

Dựa trên các cơ sở như đã trình bày, mô hình nghiên cứu về nâng cao thu nhập

từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa được trình bày trong Hình 1.5:

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ lý thuyết và các nghiên cứu liên quan

Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu về nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên

liệu cho các nông hộ tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Trong đó:

+ Thu nhập nông hộ: là biến phụ thuộc, thể hiện lợi nhuận từ hoạt động trồng mía

nguyên liệu tính cho 1 đơn vị diện tích (triệu đồng/ha)

+ Tuổi chủ hộ: là biến đại diện cho tuổi của chủ hộ Trong các nghiên cứu thực

nghiệm trước đây của: Trần Văn Đông (2011), Trần Lợi (2011), … thì tuổi của chủ hộ

Tuổi

Giá bán Chữ đường

Giới tính

Năng suất trồng Chi phí trồng míaTập huấn trồng mía

Trang 40

càng cao, càng tích lũy nhiều về kiến thức và phương thức canh tác trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy, kỳ vọng dấu hệ số hồi quy (+) và có tác động thuận chiều đến thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu

+ Giới tính chủ hộ: là biến giả, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam giới, nhận giá trị

0 cho chủ hộ là nữ giới Do đặc điểm giới tính, nữ giới thường phải đảm nhận các công việc gia đình, chăm sóc con cái nên không dành nhiều đầu tư cho hoạt động trồng mía nguyên liệu Vì vậy, chủ hộ là nam thì thu nhập cao hơn so với chủ hộ là nữ giới Vì vậy, đặc điểm của giới tính cũng rất cần được kiểm định trong nghiên cứu này, kỳ vọng dấu hệ số hồi quy (+)

+ Trình độ học vấn: thể hiện số năm đi học trung bình của chủ hộ Qua lý thuyết

và nghiên cứu của các tác giả Trần Văn Đông (2011), Trần Lợi (2011), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011)… Khi trình độ học vấn của chủ hộ càng cao, khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật về trồng mía, từ đó năng suất mía sẽ cao hơn, thu nhập nhiều hơn, kỳ vọng mang dấu dương (+) Do đó, trong nghiên cứu này, biến số trình độ học vấn được kỳ vọng có quan hệ cùng chiều với thu nhập của nông hộ

+ Kinh nghiệm: biến số này được hiểu là số năm tham gia trồng mía nguyên liệu

của nông hộ Qua lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn của các tác giả Nguyễn Hoài An (2010), Trần Lợi (2011), Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011)…cho thấy, các nông

hộ có nhiều năm trồng mía nguyên liệu thì sẽ có nhiều kinh nghiệm thực tế hơn, kỳ vọng mang dấu dương (+) Do vậy, trong nghiên cứu kỳ vọng rằng nông hộ có nhiều kinh nghiệm thì thu nhập càng tăng

+ Lao động trực tiếp trồng mía: biến số này được hiểu là số lao động trong nông

hộ có tham gia trực tiếp vào hoạt động trồng mía nguyên liệu Qua lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn của các tác giả Lê Thị Thảo (2011), Phạm Ngọc Dưỡng (2012)…Khi nông hộ có nhiều lao động trực tiếp trồng mía thì ít phải thuê lao động ngoài, giảm chi phí đầu tư, kỳ vọng mang dấu dương (+) Do vậy, trong nghiên cứu kỳ vọng rằng nông

hộ có nhiều lao động trực tiệp trồng mía thì thu nhập càng tăng

+ Tiếp cận tín dụng: là biến số thể hiện tình trạng nông hộ có hoặc là không vay

vốn để hỗ trợ hoạt động trồng mía nguyên liệu Qua lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn của các tác giả Phạm Ngọc Dưỡng (2012) cho thấy: không phải nông hộ nào cũng có

đủ tiền để đầu tư sản xuất, để tiếp tục sản xuất nông hộ phải đi vay, kỳ vọng mang dấu dương (+) Chính vì vậy, biến số này rất cần được kiểm định trong nghiên cứu của luận văn

Ngày đăng: 01/12/2015, 10:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Các loại rễ và chồi (mầm) mía - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Hình 1.1 Các loại rễ và chồi (mầm) mía (Trang 19)
Hình 1.2: Các sản phẩm chính và phụ sản xuất từ cây mía - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Hình 1.2 Các sản phẩm chính và phụ sản xuất từ cây mía (Trang 21)
Hình 1.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp theo Park - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Hình 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp theo Park (Trang 26)
Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu về nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Hình 1.5 Mô hình nghiên cứu về nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên (Trang 39)
Hình 2.1: Bản đồ Thị xã Ninh Hòa  2.1.2. Điều kiện tự nhiên - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Hình 2.1 Bản đồ Thị xã Ninh Hòa 2.1.2. Điều kiện tự nhiên (Trang 46)
Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Hình 2.2 Quy trình nghiên cứu (Trang 55)
Hình 3.1: Quy trình trồng mía nguyên liệu - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Hình 3.1 Quy trình trồng mía nguyên liệu (Trang 64)
Bảng 3.1: Tổng hợp diện tích đất nông nghiệp và diện tích trồng mía của các xã có - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.1 Tổng hợp diện tích đất nông nghiệp và diện tích trồng mía của các xã có (Trang 67)
Bảng 3.2: Tổng hợp chi phí, năng suất, thu nhập từ sản xuất cây lúa, ngô, đậu, sắn năm 2014 - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.2 Tổng hợp chi phí, năng suất, thu nhập từ sản xuất cây lúa, ngô, đậu, sắn năm 2014 (Trang 76)
Bảng 3.3: Chi tiết số mẫu điều tra của các xã - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.3 Chi tiết số mẫu điều tra của các xã (Trang 78)
Bảng 3.7: Đặc điểm trình độ học vấn các chủ hộ - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.7 Đặc điểm trình độ học vấn các chủ hộ (Trang 81)
Bảng 3.10: Nhu cầu vốn vay đáp ứng - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.10 Nhu cầu vốn vay đáp ứng (Trang 84)
Bảng 3.13: Tổng hợp chi phí trồng mía nguyên liệu niên vụ 2014-2015/ 01 ha - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.13 Tổng hợp chi phí trồng mía nguyên liệu niên vụ 2014-2015/ 01 ha (Trang 88)
Bảng 3.15: Kết quả phân tích tương quan - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.15 Kết quả phân tích tương quan (Trang 91)
Bảng 3.18: Kết quả phân tích hồi quy - Nâng cao thu nhập từ hoạt động trồng mía nguyên liệu cho các nông hộ tại thị xã ninh hòa, tỉnh khánh hòa
Bảng 3.18 Kết quả phân tích hồi quy (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w