Dựa trên những số liệu này luận văn sẽ hình thành nên các thông số về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường và so sánh với những thông số được quy định trong Điều k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
GS.TS Nguyễn Đình Phan
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA SAU ĐẠI HỌC
KHÁNH HÒA – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên đây
Nha Trang, ngày 8 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Khánh Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS.TS Nguyễn Đình Phan, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các giảng viên của trường Đại học Nha Trang đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Quản trị kinh doanh khóa 2011 – 2013
Có được kết quả nghiên cứu này tôi đã nhận được sự quan tâm tạo điều kiện của Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang, sự tận tình cung cấp các thông tin, số liệu của các đơn vị, phòng, ban trong trường, sự đánh giá nhiệt tình của các anh chị đồng nghiệp, các doanh nghiệp và sinh viên Tôi xin được ghi nhận và cảm ơn những sự giúp đỡ này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thường xuyên thăm hỏi, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng do thời gian
và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp
để kết quả nghiên cứu tiếp theo được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Linh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 8 1.1 Khái niệm chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng 8
1.1.1 Khái niệm chất lượng 8
1.1.2 Khái niệm giáo dục đào tạo 9
1.1.3 Bản chất của chất lượng giáo dục đào tạo 11
1.2 Vai trò của chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng 20
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học 21
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài 21
1.3.2 Các nhân tố bên trong 22
1.4 Các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá chất lượng đào tạo đại học 26
1.4.1 Nhóm tiêu chí, chỉ tiêu chung về chất lượng giáo dục đại học 27
1.4.2 Nhóm tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể về chất lượng giáo dục đại học 29
1.4.3 Nhóm tiêu chí, chỉ tiêu về điều kiện đảm bảo chất lượng 30
1.5 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo ở một số trường cao đẳng, đại học 32
1.5.1 Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh 32
1.5.2 Trường Đại học Sài Gòn 34
1.5.3 Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU LỊCH NHA TRANG 36
2.1 Giới thiệu khái quát về trường CĐ VHNT & DL Nha Trang 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ 36
Trang 62.1.3 Mục tiêu của trường 37
2.1.4 Đặc điểm quá trình đào tạo 37
2.1.5 Cơ cấu tổ chức của trường 40
2.1.6 Kết quả đào tạo của trường 3 năm qua 42
2.1.7 Kết luận 43
2.2 Thực trạng chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Nha Trang 43
2.2.1 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học 43
2.2.1.1 Mục tiêu đào tạo 43
2.2.1.2 Chương trình và nội dung đào tạo 44
2.2.1.3 Phương pháp đào tạo 45
2.2.1.4 Đội ngũ cán bộ quản lý và giảng dạy 46
2.2.1.5 Người học 50
2.2.1.6 Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học 53
2.2.1.7 Công tác quản lý chất lượng 56
2.2.1.8 Hoạt động của các trung tâm, phòng ban 57
2.2.2 Thực trạng các tiêu chí, chỉ tiêu về chất lượng đào tạo 57
2.2.2.1 Nhóm các tiêu chí, chỉ tiêu chung 57
2.2.2.2 Nhóm các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể 62
2.2.2.3 Nhóm các tiêu chí, chỉ tiêu đảm bảo chất lượng 67
2.3 Đánh giá chung chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang 75
2.3.1 Ưu điểm 75
2.3.2 Nhược điểm 76
2.3.3 Nguyên nhân 77
CHƯƠNG 3GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ DU LỊCH NHA TRANG 78
3.1 Chiến lược và mục tiêu phát triển của trường giai đoạn 2015 – 2020 78
3.1.1 Định hướng chiến lược 79
3.1.2 Mục tiêu 80
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang 80
Trang 73.2.1 Các giải pháp hoàn thiện công tác tuyển sinh, cải tiến các phương pháp rèn
luyện, nâng cao ý thức và kỹ năng cho sinh viên 80
3.2.2 Các giải pháp hoàn thiện chương trình đào tạo 83
3.2.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên 86
3.2.4 Các giải pháp tăng cường hệ thống cơ sở vật chất 89
3.2.5 Các giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng 91
3.3 Một số kiến nghị 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 99
Trang 8QLKH & QHQT Quản lý khoa học & Quan hệ quốc tế
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đội ngũ giảng viên trường CĐ VHNT & DL Nha Trang qua các năm 47
Bảng 2.2 Số lượng Học sinh – Sinh viên nhập học qua các năm 50
Bảng 2.3 Thống kê số lượng Câu lạc bộ trong trường năm 2014 52
Bảng 2.4 Cơ sở vật chất của trường CĐ VHNT & DL Nha Trang năm học 2013-2014 54
Bảng 2.5 Thống kê đánh giá về hoạt động của các trung tâm, khoa, phòng ban chức năng 57
Bảng 2.6 Số lượng Học sinh – Sinh viên tốt nghiệp qua các năm 58
Bảng 2.7 Tình hình sinh viên tốt nghiệp có việc làm 59
Bảng 2.8 Chất lượng sinh viên tốt nghiệp theo đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên 62
Bảng 2.9 Các doanh nghiệp đánh giá chất lượng công việc sinh viên thực hiện 62
Bảng 2.10 Điểm thi tốt nghiệp bình quân qua các năm 63
Bảng 2.11 Các doanh nghiệp đánh giá về kiến thức chuyên môn của SV 63
Bảng 2.12 Điều kiện học tập tại trường của sinh viên 63
Bảng 2.13 Các doanh nghiệp đánh giá về kỹ năng của sinh viên 64
Bảng 2.14 Điều kiện rèn luyện tại trường của sinh viên 66
Bảng 2.15 Cán bộ quản lý đánh giá năng lực của giảng viên 68
Bảng 2.16 Sinh viên đánh giá năng lực của giảng viên 68
Bảng 2.17 Sinh viên tốt nghiệp đánh giá năng lực giảng viên 69
Bảng 2.18 Giảng viên tự đánh giá năng lực công tác 70
Bảng 2.19 Việc xây dựng nội dung chương trình đào tạo theo đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên 71
Bảng 2.20 Sinh viên đánh giá về chương trình đào tạo 71
Bảng 2.21 Sinh viên tốt nghiệp đánh giá về chương trình đào tạo 72
Bảng 2.22 Sinh viên đánh giá về chất lượng của hệ thống giáo trình, tài liệu 72
Bảng 2.23 Cán bộ quản lý đánh giá tình hình cơ sở vật chất của trường 73
Bảng 2.24 Giảng viên đánh giá về tình hình cơ sở vật chất của trường 73
Bảng 2.25 Sinh viên đánh giá tình hình cơ sở vật chất của trường 74
Bảng 2.26 Hoạt động của thư viện qua đánh giá của sinh viên và giảng viên 74
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu hành chính trường CĐ VHNT & DL Nha Trang 41
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Số sinh viên nhập học qua các năm 51
Biểu đồ 2.2 Tình hình sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp 60
Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành đào tạo 60
Biểu đồ 2.4 Tình hình sinh viên tốt nghiệp phải đào tạo lại khi đi làm 61
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước
và của toàn dân”- trong nghị quyết số 29/NQ-TW được ban hành 4/11/2013, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục cũng như tính cấp thiết phải đổi mới và nâng cao chất lượng của giáo dục nước nhà Trong bối cảnh công nghệ khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh mẽ, kinh tế, văn hóa có những bước tiến vượt bậc vừa là điều kiện thuận lợi cũng là khó khăn thách thức của đất nước Sự phát triển về mọi mặt của thế giới cho chúng ta cơ hội kế thừa và học hỏi những thành quả, nhưng cũng chính sự tiến bộ đó sẽ gia tăng khoảng cách về sự phát triển nếu chúng ta không theo kịp thế giới Bên cạnh đó, những bất ổn của xã hội và những vấn
đề phức tạp trong quan hệ chính trị trở thành rào cản cho sự phát triển của các quốc gia
và Việt Nam cũng không phải là ngoài lệ Lúc này, đầu tư cho giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có trình độ và chuyên môn cao sẽ là chìa khóa để giải quyết các vấn đề và trở thành nền tảng cho sự phát triển bền vững của các quốc gia Yêu cầu đặt ra là giáo dục phải được đầu tư hợp lý và đồng bộ, giáo dục và đào tạo phải là sự nghiệp của toàn dân Với yêu cầu này, việc nâng cao chất lượng đào tạo trở thành trách nhiệm trực tiếp của mỗi cơ sở giáo dục – đào tạo, trong đó có trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và
Du lịch Nha Trang
Khánh Hòa nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung bộ Là vùng đất giàu truyền thống về lịch sử và văn hóa dân tộc, có vị trí địa lý thuận lợi và được thiên nhiên ưu đãi, Khánh Hòa có điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch Nha Trang – Khánh Hòa nằm trong khu vực được xem là cái nôi của nghệ thuật truyền thống ở miền Trung Nơi đây phát triển mạnh các loại hình dân ca và nổi bật nhất là nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam Được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là
Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia, thành phố Nha Trang đang triển khai nhiều chương trình, kế hoạch nhằm bảo tồn và phát triển nghệ thuật Bài chòi Bên cạnh đó, những năm gần đây, Khánh Hòa có nhiều thành tích về phát triển kinh tế với nhịp độ phát triển khá tốt, tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dịch vụ cao, đặc biệt nổi bật là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển du lịch Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về tình hình kinh tế xã hội năm 2014 thì
Trang 13tỉnh Khánh Hòa đã đón trên 3,6 triệu lượt khách lưu trú với doanh thu ước đạt trên 4.280 tỷ đồng, tăng 27,76% so với năm 2013 Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Khánh Hòa cũng còn nhiều điểm hạn chế cần khắc phục điển hình như kinh
tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh chưa cao; nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế… Để hoàn thành được mục tiêu mà Bộ Chính trị đã đề ra theo phương hướng phát triển đến năm 2020 thì tỉnh Khánh Hòa cần thực hiện hàng loạt các nhiệm
vụ, trong đó nhiệm vụ đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm Là một trong những cơ sở đào tạo nguồn nhân lực trọng điểm của khu vực Nam Trung Bộ nói chung và của tỉnh Khánh Hòa nói riêng, trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch được tỉnh giao trọng trách thực hiện nhiệm vụ trọng tâm này
Với sự phát triển kinh tế của tỉnh Khánh Hòa, cơ cấu nghề nghiệp và cơ hội việc làm sẽ tăng lên Chính vì vậy, hàng loạt các cơ sở đào tạo đã được thành lập Hiện tại, chỉ tính riêng trên địa bàn thành phố Nha Trang đã có 6 trường đại học và 6 trường cao đẳng Trong đó, nhiều trường có chương trình đào tạo với nhiều ngành giống nhau Điều này làm cho sự cạnh tranh giữa các trường ngày càng trở nên gay gắt Những trường có uy tín hơn về chất lượng đào tạo sẽ có khả năng thu hút nhiều người theo học hơn Thực tế dễ thấy đó là những trường có số sinh viên theo học đạt đủ chỉ tiêu mới có khả năng tồn tại được Không chỉ cạnh tranh trong nước mà trong tương lai, khi những dự án về các trung tâm đào tạo quốc tế đi vào hoạt động thì lúc đó khó khăn của các cơ sở đào tạo còn nhiều hơn nữa Chính vì vậy chất lượng đào tạo trở thành vấn đề hàng đầu mà các trường đại học, cao đẳng bắt buộc phải quan tâm Đặc biệt là thực trạng trong những năm gần đây, số lượng tuyển sinh đầu vào của trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang giảm mạnh Dấu hiệu này cho thấy điều gì? Phải chăng chất lượng đào tạo của nhà trường có vấn đề?
Một điểm nữa đó là, theo lộ trình 2014-2015, trường Đại học Khánh Hòa sẽ được thành lập với một trong những nòng cốt chính là trường CĐ VHNT & DL Nha Trang Sự kiện này sẽ đem lại nhiều cơ hội cho sự phát triển và thành công của nhà trường Tuy nhiên, để có thể thực hiện được thì đòi hỏi trường CĐ VHNT & DL Nha Trang phải đáp ứng được đầy đủ, toàn diện các yêu cầu đề ra, đặc biệt là yêu cầu về chất lượng đào tạo Một lần nữa, vấn đề chất lượng trở thành bài toán mà trường CĐ
Trang 14VHNT & DL Nha Trang phải tìm cách giải quyết để không những có thể hoàn thành
lộ trình nâng cấp lên đại học của mình mà còn có thể hòa nhập vào mội trường giáo dục toàn cầu hóa hiện nay
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Nha Trang” làm luận văn nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu của luận văn
Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo của trường
CĐ VHNT & DL Nha Trang; từ đó phát hiện ra những điểm còn hạn chế và đề xuất những phương hướng khắc phục để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Căn cứ trên mục tiêu chung, luận văn cần đạt được các mục tiêu cụ thể như sau:
- Xác định đúng bản chất của chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng
- Xác định căn cứ đánh giá chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng
- Dựa trên cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo của trường CĐ VHNT & DL Nha Trang
- Phát hiện các điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân và đề xuất giải pháp giúp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường CĐ VHNT & DL Nha Trang
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề chất lượng đào tạo bao gồm: chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng dạy, người học, phương pháp quản lý chất lượng, hệ thống cơ sở vật chất và những vấn đề khác liên quan đến chất lượng đào tạo
Phạm vị nghiên cứu của luận văn là tại trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và
Du lịch Nha Trang Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2008 – 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng phương pháp điều tra khảo sát và thu thập số liệu thứ cấp
từ các phòng ban của nhà trường để làm căn cứ so sánh qua đó tính toán, đánh giá các tiêu chí nhằm nhận định về chất lượng đào tạo của nhà trường Những số liệu thứ cấp
mà luận văn cần thu thập là về tình hình tuyển sinh của nhà trường; kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên và kết quả tốt nghiệp của sinh viên từ năm 2008 đến năm
2014 Bên cạnh đó, luận văn cũng thu thập số liệu về tình hình phát triển quy mô giảng
Trang 15viên về chất lượng lẫn số lượng từ năm 2008 đến năm 2014 Những số liệu về tình hình cơ sở vật chất của nhà trường cũng được thu thập bao gồm diện tích sàn, diện tích phòng học, số lượng máy tính, số lượng phòng thực hành, trung tâm thư viện Dựa trên những số liệu này luận văn sẽ hình thành nên các thông số về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường và so sánh với những thông số được quy định trong Điều kiện đảm bảo chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố từ đó có đánh giá bước đầu về chất lượng đào tạo của trường Sau đó, luận văn dùng những số liệu này để tính toán các chỉ tiêu đánh giá chất lượng và so sánh với những chỉ tiêu bình quân của ngành để đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường Luận văn cũng sử dụng các số liệu từ Tổng cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa, từ các bài báo, tạp chí khoa học liên quan để minh họa cho bài viết
Luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia Sử dụng 530 mẫu điều tra với 5 đối tượng là cán bộ quản lý; cán bộ giảng viên, sinh viên, sinh viên đã tốt nghiệp và các doanh nghiệp nhằm thu thập ý kiến của các đối tượng có liên quan đến quá trình đào tạo nhằm nêu lên những đánh giá khách quan
về chất lượng đào tạo của nhà trường Các nội dung được yêu cầu đánh giá là về: mục tiêu đào tạo; chương trình và nội dung đào tạo; phương pháp đào tạo; đội ngũ cán bộ quản lý và giảng dạy; người học; cơ sở vật chất và phương tiện giảng dạy; công tác quản lý chất lượng và hoạt động của các phòng ban Tùy thuộc vào từng đối tượng khác nhau mà nội dung yêu cầu đánh giá cũng khác nhau Khi khảo sát, các đối tượng
sẽ sử dụng thang đo Likert từ 1 đến 5 để đánh giá theo các mức độ tăng dần là: Kém – Yếu – Trung bình – Khá – Tốt Sau khi thu thập các mẫu phiếu, từng nội dung sẽ được tổng hợp và tính toán theo đơn vị % và tính trung bình trọng số để đánh giá theo thang điểm
Từ những thông tin, số liệu đã thu thập được, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích, xử lý và dùng phương pháp thống kê mô tả để minh họa cho các kết quả nghiên cứu Luận văn đã sử dụng các bảng biểu, sơ đồ và đồ thị để minh họa Với những số liệu nghiên cứu theo dãy số thời gian, luận văn sử dụng đồ thị hình cột để thể hiện sự phát triển của nội dung Với những nội dung được tính toán nhằm phân loại, luận văn
sử dụng đồ thị hình tròn để thể hiện tỷ trọng của mỗi loại
Trang 165 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
5.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật trong
công nghiệp điện lực Việt Nam” của tác giả Đoàn Đức Tiến (2012), chuyên ngành
Quản trị kinh doanh tại trường Đại học kinh tế quốc dân đã nêu lên được những nội dung nghiên cứu sau:
- Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo Luận án còn chỉ ra những đặc trưng của ngành Điện có ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật Qua đó tác giả đã đề xuất nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng của công nhân kỹ thuật ngành điện lực
- Luận án đã phân tích ưu nhược điểm của một số mô hình đánh giá chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật, qua đó tác giả đã nêu lên quan điểm của mình về mô hình đánh giá đó là: “phải đánh giá một cách tổng thể chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật công nghiệp Điện lực theo chu trình đào tạo từ khâu “đầu vào – quá trình đào tạo – đầu ra”” Luận án cũng phân tích kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về đào tạo công nhân kỹ thuật từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Luận án đã nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo công nhân kỹ thuật của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và nêu lên những khó khăn, thách thức trong đào tạo công nhân kỹ thuật công nghiệp Điện lực, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam
- Luận án cũng đề xuất một số kiến nghị đối với Quốc hội và Chính phủ, đối với các cơ quan quản lý nhà nước và đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường Cao đẳng
nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 1 Nghệ An” của tác giả Nguyễn Hoàng Nam (2014),
chuyên ngành Quản trị kinh doanh trường Đại học kinh tế quốc dân đã nêu lên được những vấn đề sau:
- Luận văn đã giới thiệu chi tiết về đào tạo nghề cũng như nêu rõ vai trò và đặc điểm của đào tạo nghề Từ đó luận văn đã xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề cần được nhìn nhận từ góc nhìn của các đối tượng khác nhau như: người học nghề, đội ngũ cán bộ giảng viên nhà trường, nhà tuyển dụng và các doanh nghiệp
- Tác giả cũng đã đề xuất các phương pháp đánh giá chất lượng của hoạt động đào tạo nghề hợp lý và logic
Trang 17- Luận văn nghiên cứu cụ thể về thực trạng chất lượng đào tạo nghề của trường
Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 1 Nghệ An Thông qua phân tích định hướng phát triển của trường từ đó luận văn đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường
- Cuối cùng, luận văn đã đề xuất một số kiến nghị đối với các bộ ngành và với các sở ban ngành ở địa phương nhằm nâng cao chất lượng của công tác đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 1 Nghệ An
Luận văn thạc sĩ “Tác động của chất lượng đào tạo đến cảm nhận của sinh
viên đối với trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và du lịch Nha Trang” của tác
giả Nguyễn Hữu Thái Thịnh (2011), chuyên ngành Quản trị kinh doanh tại trường Đại học Nha Trang đã thực hiện các nội dung nghiên cứu sau:
- Luận văn đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của trường CĐ VHNT & DL Nha Trang Qua đó, tác giả đã có những đánh giá về những thuận lợi và khó khăn của nhà trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, sự hài lòng nơi sinh viên
- Luận văn đã trình bày các vấn đề về lý thuyết lĩnh vực thương hiệu - hình ảnh nhà trường, sự trung thành – phát ngôn tích cực của sinh viên, sự thỏa mãn của khách hàng - sinh viên, chất lượng dịch vụ và tác động của chất lượng dịch vụ đến cảm nhận của sinh viên
- Tác giả đã sử dụng mô hình Servperf, phân tích hệ số tin cậy Cronbach’ alpha,
sử dụng các phân tích EFA và CFA và kiểm định bằng mô hình SEM để nghiên cứu về tác động của chất lượng dịch vụ đào tạo đến cảm nhận của sinh viên trường CĐ VHNT
& DL Nha Trang
- Luận văn đã đề xuất các nhóm giải pháp bao gồm: giải pháp phát triển nguồn nhân lực; giải pháp nâng cấp cơ sở vật chất; đổi mới phương pháp dạy và học, và hoàn thiện chương trình đào tạo; giải pháp hỗ trợ sinh viên; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý và quy chế làm việc
Bài viết “Một vài suy nghĩ về chất lượng đào tạo và tiêu chí đánh giá chất
lượng” của TS Hồ Lam Hồng – ĐH Sư phạm Hà Nội đăng trong Kỷ yếu: “Xây dựng tiêu
chuẩn chất lượng cho các trường sư phạm Việt Nam” của Viện nghiên cứu giáo dục năm
2008 Dựa trên cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo trong ấn phẩm Education for all của UNESCO phát hành năm 2004, bài viết đã bàn về các quan niệm về chất lượng và chất lượng giáo dục và công tác xây dựng các chuẩn: chuẩn đầu
Trang 18vào, chuẩn thực hiện và chuẩn đầu ra của sản phẩm đào tạo Trong bài viết, tác giả cũng trình bày về các nhân tố, tiêu chí cơ bản về chất lượng
5.2 Xác định tính không trùng lặp của đề tài nghiên cứu
Qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu đại diện ở trên cho thấy: cho đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề chất lượng đào tạo và việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và
Du lịch Nha Trang Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này là không trùng lặp và cần thiết đáp ứng yêu cầu thực tiễn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng
Chương này tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản nhất về chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng như khái niệm, bản chất, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo; hệ thống những tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá chất lượng đào tạo và nêu lên một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng
Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Văn hóa
Nghệ thuật và Du lịch Nha Trang
Trên cơ sở lý luận và những phân tích từ chương 1 và chương 2 đã đề cập đến những chiến lược và mục tiêu phát triển của trường trong tương lai; từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Nha Trang
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC,
CAO ĐẲNG
1.1 Khái niệm chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng
1.1.1 Khái niệm chất lượng
Khái niệm “chất lượng” đã được hình thành trong quá trình phát triển của xã hội và phát triển song song cùng với sự tiến bộ của xã hội “Chất lượng” xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực và được sử dụng phổ biến, thông dụng Tuy nhiên, “chất lượng” là một từ đa nghĩa và nhiều hàm ý, một khái niệm khó nắm bắt (Pfeffer and Coote, 1991) Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, đối với mỗi quan điểm khác nhau, “chất lượng” lại được hiểu theo các hướng khác nhau Chính vì vậy, khi xét đến khái niệm
“chất lượng”, có rất nhiều định nghĩa được đưa ra
Trường phái quan niệm chất lượng siêu hình với đại diện là Barbara Tuchman cho rằng “Chất lượng là sự tuyệt hảo của sản phẩm” Sự tuyệt hảo ở đây được hiểu là những gì tốt nhất, nổi tiếng nhất và được nhiều người ưa chuộng nhất Những định nghĩa theo trường phái này thường mang tính chủ quan, không thể đo lường, không thể
mô tả một cách logic
Trường phái chất lượng gắn với những thuộc tính khách quan của sản phẩm lại cho rằng chất lượng phản ánh những công dụng của sản phẩm đó Trong từ điển tiếng Việt đã định nghĩa “Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác” Khái niệm này có ưu điểm là có thể
đo lường được nhưng lại thể hiện nhược điểm ở phạm vi nghiên cứu phiến diện khi chưa xét tới các yếu tố khác như cung, cầu hay giá cả
Trường phái chất lượng gắn với sự thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng lại mang tính kinh doanh, phụ thuộc nhiều vào nhận thức của khách hàng Đại diện cho trường phái này, Philip Crosby đã phát biểu “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” hay tiến sỹ Edwards Deming đã định nghĩa “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng hay sự thỏa mãn khách hàng” Nhóm định nghĩa này được các doanh nghiệp chấp nhận tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào các sản phẩm cũng có thể đáp ứng tất cả mọi nhu cầu của khách hàng
Trường phái chất lượng được đánh giá dựa trên hoạt động sản xuất Chất lượng
là sự đảm bảo đạt được và duy trì một tập hợp các tiêu chuẩn, quy cách hoặc yêu cầu
Trang 20đã được đặt ra từ trước Một sản phẩm chất lượng là khi nó có các tiêu chí, thước đo phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn Quan niệm này có ưu điểm là giúp hình thành nên hệ thống tiêu chuẩn khách quan để đo lường đánh giá chất lượng sản phẩm tuy nhiên nhược điểm là chưa quan tâm tới nhu cầu của khách hàng
Trường phái chất lượng gắn liền với giá trị Chất lượng ở đây được hiểu là những giá trị tốt nhất, lợi ích tốt nhất đạt được so với chi phí đã bỏ ra Nhóm các tác giả theo quan niệm này cho rằng chất lượng sản phẩm luôn đặt trong mối quan hệ gắn
bó chặt chẽ với giá cả Giá cả trở thành một yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng
Năm nhóm quan điểm trên đưa đến những định nghĩa theo các hướng khác nhau về “chất lượng” Mỗi quan điểm đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Dựa trên những ưu điểm đó, quan điểm về chất lượng tổng hợp xuất hiện Chất lượng tổng hợp bao gồm chất lượng các thuộc tính sản phẩm, chất lượng dịch vụ đi kèm, chi phí bỏ ra để đạt được mức chất lượng đó Quan niệm này đặt chất lượng sản phẩm trong mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng của dịch vụ, chất lượng các điều kiện giao hàng và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) cũng đưa ra định nghĩa về chất lượng trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 như sau: “Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các tính chất đặc trưng của thực thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hay tiềm ẩn” Do tác dụng thực tế của nó nên định nghĩa này được chấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinh doanh quốc tế ngày nay Về thực chất, khái niệm này phản ánh sự kết hợp nhiều định nghĩa nói trên và thể hiện khái quát chất lượng ở mức độ cao hơn
Qua hàng loạt các quan điểm về chất lượng trên có thể thấy rõ tính chất trừu tượng, phức tạp và đa diện của khái niêm “chất lượng” Hơn nữa, những nhóm khái niệm trên đa phần đều tập trung nghiên cứu về hoạt động sản xuất sản phẩm, còn đối với hoạt động dịch vụ thì có thể áp dụng các cách hiểu đó hay không? Đặc biệt là đối
với lĩnh vực giáo dục đào tạo là một ngành dịch vụ khá đặc thù
1.1.2 Khái niệm giáo dục đào tạo
Giáo dục đào tạo là một hoạt động không thể thiếu trong xã hội và có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Do đó vấn đề chất lượng của giáo dục đào tạo luôn được các nước quan tâm và đặt lên hàng đầu
“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” (Phạm Viết Vượng,
Trang 212000) Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học (John Dewey, 1916)
Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thông thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Đào tạo đề cập đến việc truyền đạt các kỹ năng, kỹ xảo thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể Qua đó người học
sẽ lĩnh hội và nắm vững những kiến thức, kỹ năng để có thể thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp mà xã hội cần một cách có hệ thống, và chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống cũng như khả năng đảm nhận được một công việc nhất định
Xét về bản chất thì giáo dục đào tạo chính là một hoạt động của lĩnh vực dịch
vụ, nó có đầy đủ những đặc điểm cơ bản mà dịch vụ có như:
• Tính vô hình (hay phi vật chất): Sản phẩm của giáo dục đào tạo là những kiến thức, kỹ năng, thói quen và chúng không thể nếm được, không nghe được, không cầm nắm được
• Tính không thể chia cắt được: Quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ diễn ra đồng thời Hoạt động truyền đạt và tiếp thu kiến thức phải diễn ra đồng thời Và khách hàng tức người học là một trong những yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng dịch vụ
• Tính không ổn định: Chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ Khả năng tiếp thu và lĩnh hội kiến thức phụ thuộc vào khả năng truyền đạt của người thầy và khả năng tiếp thu của người trò Và không phải lúc nào những khả năng này cũng đạt được mức độ tốt nhất vì nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
• Tính không lưu giữ được: Dịch vụ thì không lưu giữ được, nếu như khách hàng không sử dụng dịch vụ thì quá trình thực hiện dịch vụ không hoàn chỉnh và sản phẩm của dịch vụ không được hoàn thành Ví dụ như người thầy lên lớp truyền đạt kiến thức
mà sinh viên bỏ lớp thì những kiến thức đó không truyền được tới cho sinh viên
Như vậy, chúng ta khẳng định giáo dục đào tạo là một lĩnh vực của dịch vụ Tuy nhiên giáo đục đào tạo bao hàm rất nhiều hoạt động khác nhau mà đề tài đang lấy trường CĐ VHNT & DL Nha Trang để nghiên cứu nên chỉ xem xét ở khía cạnh giáo
Trang 22dục đào tạo ở bậc cao đẳng đại học và kể từ đây thì khi nhắc tới “chất lượng đào tạo” hay “chất lượng giáo dục” thì người viết đang hướng tới chất lượng giáo dục đào tạo đại học
Giáo dục đại học hay giáo dục bậc cao là giai đoạn giáo dục diễn ra sau bậc trung học gồm các bậc cao đẳng, đại học, sau đại học tại một số cơ sở giáo dục đào tạo như các trường đại học, học viện, cao đẳng… Đối tượng nhập học phải hoàn thành xong chương trình giáo dục trung học và sau khi kết thúc khóa học sẽ được cấp các văn bằng học thuật hoặc chứng chỉ Theo website unesco.org thì chất lượng của giáo dục đại học là một khái niệm đa chiều bao hàm tất cả các chức năng của nó và các hoạt động như: dạy học và chương trình đào tạo, nghiên cứu và học thuật, các nhân viên, người học, các phòng học, các khoa, các trang thiết bị, các dịch vụ cộng đồng và môi trường học tập Với định nghĩa này, chúng ta thấy được một cách rõ ràng, cụ thể những hoạt động liên quan và quyết định chất lượng giáo dục đại học của một cơ sở đào tạo Tuy nhiên định nghĩa chưa đưa đến một kết luận tổng hợp về bản chất của chất lượng giáo dục đại học Vậy, câu hỏi đặt ra bản chất của chất lượng giáo dục đào
tạo là gì?
1.1.3 Bản chất của chất lượng giáo dục đào tạo
Bản thân chất lượng đã là một khái niệm rất trừu tượng và đa nghĩa, chất lượng giáo dục cũng vậy Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Mỗi một tác giả nghiên cứu lại tiếp cận “chất lượng đào tạo” theo các cách thức khác nhau, dựa trên những quan điểm khác nhau và do đó đưa đến những kết quả khác nhau Theo nghiên cứu của Harvey và Green (1993) thì có nhiều định nghĩa về chất lượng nhưng tập trung ở năm nhóm quan điểm sau đây: chất lượng là sự vượt trội, chất lượng là sự hoàn hảo, chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, chất lượng là sự đáng giá đồng tiền đầu tư và chất lượng là sự biến đổi
a Nhóm thứ nhất: Chất lượng là sự vượt trội (quality as eceptional) coi chất lượng
như điều tạo nên sự đặc biệt cho một trường nào đó Quan điểm này bao hàm nhiều biến thể mô tả nguyên nhân tạo ra sự khác biệt trong đó khái niệm truyền thống coi chất lượng là sự nổi trội, biến thể thứ hai coi chất lượng là sự xuất sắc (vượt tiêu chuẩn rất cao), biến thể thứ ba coi chất lượng là sự đạt được một số tiêu chuẩn đặt trước
Thứ nhất, khái niệm truyền thống thường đi kèm tính phân biệt, trong đó, chất lượng là một cái gì đó đặc biệt ưu việt và chỉ dành cho những người ưu tú Quan điểm này cho rằng chất lượng không được định nghĩa thông qua việc đánh giá những gì
Trang 23được cung cấp mà dựa trên cơ sở rằng chính bản thân tính nổi trội, tính khó tiếp cận làm nên chất lượng Quan điểm này thường gắn liền với nền giáo dục của hai trường đại học Cambridge và Oxford Trong trường hợp này, chất lượng được xem là hiển nhiên và không thể chối bỏ, hoặc được xem là mặc nhiên, không cần kiểm tra đánh giá (Parri, 2006; Horsburgh, 1998) Địa vị của một trường đại học và mức độ khó khăn khi xin nhập học của các trường này được xem là những điều kiện quan trọng của chất lượng (Eshan, 2004) Theo quan điểm này, chất lượng là những cái có sẵn nằm trong trường đại học, và do đó không cần bất kỳ cơ quan bên ngoài hay bên trong trường đại học làm nhiệm vụ bảo đảm chất lượng mà chính đội ngũ học thuật của trường đảm nhiệm Khái niệm truyền thống này không có tác dụng trong đánh giá chất lượng đại học khi nó không thể đưa ra một phương tiện cụ thể để đánh giá chất lượng
Thứ hai, chất lượng là sự xuất sắc Sự xuất sắc được dùng thay cho chất lượng trong trường hợp này gắn liền với các tiêu chuẩn Nó nhìn nhận chất lượng như là các tiêu chuẩn cao Quan điểm này giải thích rõ những gì được cho là mang lại chất lượng cho một trường đại học, tuy nhiên, nó vẫn rất lý tưởng vì những chuẩn mực được đặt
ra là quá cao, thậm chí hầu hết các trường đều khó có thể đạt đến những chuẩn mực được đặt ra này Nó cũng chỉ giành cho những người ưu tú vì nó chỉ có thể tiếp cận trong một giới hạn nhất định Và người ta cho rằng đầu vào tốt nhất sẽ cho ra đầu ra xuất sắc Cho dù quá trình học như thế nào, chỉ cần có những thầy giáo giỏi nhất, những trang thiết bị tiên tiến nhất và những học trò giỏi nhất thì kết quả tự nhiên sẽ vượt trội Theo nghĩa này, sự xuất sắc được đánh giá thông qua danh tiếng của nhà trường và cấp độ nguồn tài nguyên của nhà trường Hai thứ này luôn song hành với nhau, nguồn tài nguyên tốt mang lại danh tiếng cho nhà trường và ngược lại danh tiếng
sẽ thu hút được những tài nguyên tốt Bên cạnh đó, quan điểm này chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc học của người học mà xem nhẹ vai trò của trường đại học trong việc làm tăng thêm giá trị của đầu vào, cụ thể trong trường hợp này là việc tăng thêm kiến thức và tạo điều kiện học tập cho người học
Biến thể cuối cùng của nhóm này cho rằng chất lượng là sự đạt được những tiêu chuẩn đề ra Ở bất kỳ thời điểm nào cũng luôn có những chuẩn mực được xây dựng và
đi kèm với một loạt các phương pháp kiểm tra, kiểm nghiệm sát sao do các cơ quan độc lập bên ngoài thực hiện Lúc này, chất lượng là kết quả của “kiểm soát chất lượng khoa học” và được dùng để đánh giá những sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh Cách tiếp
Trang 24cận theo tiêu chuẩn này hàm ý chất lượng sẽ tăng lên khi các tiêu chuẩn tăng lên Đây từng là cách tiếp cận rõ ràng trong giáo dục đại học, trong đó chất lượng được coi là sự duy trì và cải thiện các tiêu chuẩn, đồng thời chất lượng và tiêu chuẩn gắn kết chặt chẽ không thể tách rời (Church, 1998) Cách tiếp cận này cho rằng các tiêu chuẩn mang tính khách quan và tĩnh Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy các tiêu chuẩn này thường được những cơ quan bên ngoài thảo luận và thay đổi tùy theo từng hoàn cảnh Đặc biệt
là trong môi trường giáo dục, không thể có được những tiêu chuẩn chung cố định cho những trường học có các điều kiện khác nhau Hơn nữa, nếu đi theo quan điểm này, các trường đại học sẽ đánh mất quyền tự chủ, tự quyết của mình – hai nhân tố quan trọng tạo nên thuộc tính riêng biệt của các trường đại học – mà chỉ luôn phụ thuộc vào các cơ quan kiểm định hoặc những đối tượng có ảnh hưởng bên ngoài trường đại học Quan niệm này bước đầu đã cho thấy khả năng có thể đo lường chất lượng giáo dục tuy nhiên lại chưa phù hợp để áp dụng vào thực tế
Như vậy, quan điểm chất lượng là sự vượt trội không phải là một quan niệm trọn vẹn
về vấn đề chất lượng ở giáo dục đại học, nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của
nó trong việc tạo ra các trường đại học danh tiếng như Cambridge hay Oxford
b Nhóm thứ hai: Chất lượng là sự hoàn hảo (quanlity as perfection) quan niệm chất
lượng tương đương với việc tạo ra những sản phẩm không “tì vết” (Parri, 2006; Horsburgh, 1998) Nhóm này cho rằng chất lượng của đào tạo có tốt hay không sẽ được chứng minh ở chất lượng đầu ra của người học Để có thể đạt được điều này thì quá trình đào tạo được xem là vấn đề quan trọng nhất và được tập trung nghiên cứu Người ta đặt ra hàng loạt những đặc tính cụ thể nhằm đạt được chất lượng một cách hoàn hảo Điều này được gói gọn trong hai châm ngôn có liên quan tương hỗ lẫn nhau:
“Khiếm khuyết bằng không” và “Làm mọi việc đúng ngay từ đầu”
Khiếm khuyết bằng không là một khía cạnh khác của sự xuất sắc trong chất lượng Quan niệm này đã phá vỡ tính ngoại lệ của quan niệm xuất sắc gắn liền với các tiêu chuẩn trước đó, trong đó nhấn mạnh vào quá trình thay vào đầu vào và đầu ra Sự xuất sắc sẽ đạt được khi tuân thủ chính xác các đặc tính đề ra Do vậy sự suất sắc trở thành “khiếm khuyết bằng không” (Hatpin, 1966; Crosby, 1979) Sự hoàn hảo này thể hiện chắc chắn mọi thứ đều đúng, không có sai sót và sự hoàn hảo đó phải nhất quán Tính đáng tin cậy từng bị bỏ qua trong quan niệm chất lượng là sự vượt trội nay trở
Trang 25thành phương tiện để tuyên bố sự xuất sắc trong quan niệm chất lượng là sự hoàn hảo (Carter, 1978; Garvin, 1988)
Không chỉ bao hàm sự tuân theo những đặc tính cụ thể, quan điểm “chất lượng
là sự hoàn hảo” còn mang ý nghĩa triết học phòng bị hơn là kiểm tra (Peters & Waterman, 1982), tức là đảm bảo rằng không xảy ra sai sót ở từng giai đoạn thay vì chờ đến kiểm tra cuối cùng mới phát hiện ra sai sót Quan niệm này có sự gắn kết chặt chẽ với khái niệm văn hóa chất lượng – tất cả mọi người đều chịu trách nhiệm về chất lượng Trong văn hóa chất lượng, kiểm tra sản phẩm đầu ra không phải là cái quan trọng mà cái cần được tập trung là đảm bảo rằng mọi thứ được thực hiện đúng ngay từ đầu, ở mỗi giai đoạn sản xuất và chuyển giao Quá trình kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên, liên tục để tránh sai sót, nếu có sai sót thì phải kịp thời ghi nhận để sửa chữa và tránh lặp lại lần sau Tuy nhiên, khi nhấn mạnh các đặc điểm cụ thể và quá trình thay vì các tiêu chuẩn đầu vào và đầu ra, văn hóa này không sử dụng các phép đo tuyệt đối và không có phép đo tiêu chuẩn toàn cầu, do vậy không có sự so sánh giữa các cơ sở giáo dục với nhau Nó cũng đồng thời đặt ra vấn đề thiết lập, duy trì và kiểm tra các tiêu chuẩn một cách hiệu quả
Nói chung quan điểm này hơi thiên về quản lý công nghiệp Nó có thể áp dụng thành công trong các ngành công nghiệp với máy móc và quy trình chứ khó lòng áp dụng ở các trường đại học nơi con người là đối tượng chính trong khâu “sản xuất” Giáo dục đại học không phải là việc đưa ra các đặc tính cụ thể càng hoàn hảo càng tốt,
mà nó là việc thúc đẩy sự phát triển nhân cách, khả năng phân tích và phê phán của sinh viên Hơn nữa, chúng ta không thể có một bảng tiêu chí miêu tả một sinh viên ra trường “không tì vết” là như thế nào Và việc sản sinh ra hàng loạt những sinh viên có cùng quan điểm sống, tính cách, năng lực, cách giải quyết vấn đề … không phải là mong muốn của bản thân sinh viên, hay gia đình họ nói riêng và mục tiêu của nền giáo dục “chân chính” nói chung (Parri, 2006)
c Nhóm thứ ba: Chất lượng là phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for/of
purpose) Đây là một quan niệm mang tính thực tế, xem xét chất lượng trong mối tương quan với mục tiêu của một trường đại học và đánh giá về mức độ phù hợp với mục tiêu đó Chất lượng vì thế được xem là một thuộc tính của chức năng hoạt động (Eshan 2004) Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại có thể xem chức năng của trường đại học các góc độ khác nhau, vì thế vấn đề chất lượng lại trở nên mang tính tương đối Mỗi
Trang 26sản phẩm khi có khả năng đạt được các mục tiêu đề ra thì đều được coi là chất lượng Khái niệm này rất xa lạ với ý tưởng chất lượng là cái gì đó đặc biệt, nổi trội, dành cho những sinh viên ưu tú hay khó đạt được Quan điểm “phù hợp với mục tiêu” nhìn qua
có vẻ rõ ràng nhưng khi đi tìm hiểu thì lại phát sinh nhiều vấn đề “Mục tiêu” ở đây là mục tiêu của ai, và như thế nào thì được đánh giá là “phù hợp”? Theo Harvey và Green, mục tiêu có thể do trường đại học hoặc do khách hàng của trường đại học đặt ra
Quan điểm thứ nhất – mục tiêu được xác định theo khách hàng – một sản phẩm
là chất lượng khi đạt được những đặc tính cụ thể tức là đạt được yêu cầu của khách hàng Mà nhu cầu của khách hàng lại không ở trạng thái tĩnh do đó mục tiêu cũng liên tục thay đổi theo thời gian, đòi hỏi phải có những đánh giá lại mức độ phù hợp của mỗi đặc tính cụ thể Theo lý thuyết, việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng tức là khách hàng sẽ xác định trước những yêu cầu của mình và đánh giá chất lượng theo phạm vi những yêu cầu đó đáp ứng đến mức nào Những yêu cầu này phản ánh mong muốn của người tiêu thụ, nhưng trên thực tế nó bị chi phối bởi các yếu tố khác như chi phí, công nghệ, thời gian Bên cạnh đó, khách hàng ít khi xác định các đặc tính cụ thể mà chính người cung cấp dịch vụ xác định khách hàng muốn mua gì và họ sẽ cung cấp những gì
họ có khả năng dựa trên mong muốn của khách hàng Nói đúng hơn, khách hàng được thuyết phục là các đặc tính cụ thể của sản phẩm phản ánh yêu cầu, mong muốn của họ Hơn nữa, cho dù các đặc tính này được quyết định bằng cách nào, quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ vẫn nằm trong tay nhà cung cấp Như vậy, chất lượng theo quan điểm phù hợp với mục tiêu của khách hàng được đánh giá bằng đầu ra chứ không phải bằng quá trình Áp dụng vào môi trường giáo dục, quan điểm này phát sinh một số vấn
đề Thứ nhất, khái niệm “khách hàng” là một khái niệm gây tranh cãi, ai là khách hàng của giáo dục đại học: là sinh viên, gia đình của sinh viên, giáo viên, chính phủ hay các nhà tuyển dụng? Sinh viên là khách hàng hay là sản phẩm, hay là cả hai? Và dù cho sinh viên có được coi là khách hàng trực tiếp thì cũng không thể phủ nhận vai trò khách hàng của các đối tượng còn lại Thứ hai, khách hàng, ví dụ như sinh viên, không
có khả năng và không nhất thiết phải là người quyết định các yêu cầu (Elton, 1992) Sinh viên đại học khó có khả năng đưa ra những yêu cầu của mình, họ thường chấp nhận những cái sẵn có Những yêu cầu của sinh viên cũng là do những nhà cung cấp quyết định theo hướng giả định sinh viên được cho là cần những gì Trong quá trình học, sinh viên tham gia trực tiếp vào việc quyết định chất lượng của sản phẩm đầu ra
Trang 27thông qua việc đưa ra các lựa chọn khác nhau và là nhân tố chủ chốt trong việc quyết định bản chất của việc học Không giống như những ngành công nghiệp, cả nhà sản xuất và khách hàng ở đây là giảng viên và sinh viên đều tham gia vào quá trình sản xuất Những sản phẩm được tạo ra sẽ mang những đặc tính riêng lẻ tùy thuộc vào đặc điểm của nhà sản xuất và người tiêu thụ Do đó những tiêu chuẩn chất lượng theo đó cũng khó có thể được xây dựng đồng nhất và duy trì Như vậy, khái niệm chất lượng giáo dục đại học là đáp ứng nhu cầu của khách hàng không có nghĩa rằng khách hàng luôn ở vị trí tốt nhất để đưa ra các yêu cầu và chúng ta cũng không thể tìm ra ai là người xác định chất lượng giáo dục đại học cũng như tìm ra cách để đánh giá nó
Quan điểm thứ hai phản ánh mục tiêu được xác định theo nhà cung cấp thông
qua sứ mạng của các trường đại học, do vậy, chất lượng đối với họ là phải hoàn thành
sứ mạng và mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên khi đặt trách nhiệm xác định và hoàn thành
sứ mạng lên vai cơ sở giáo dục thì câu hỏi đặt ra: vai trò của sinh viên trong việc tạo ra những sản phẩm chất lượng là gì? Bên cạnh đó, để có thể chắc chắn hoàn thành mục tiêu như trong sứ mạng đã đề ra thì các trường còn cần có một cơ chế đảm bảo chất lượng Đảm bảo chất lượng là nói về công tác quản lý tốt, là cách tiếp cận có hệ thống với những việc làm đúng, những phương pháp đúng và làm cho cả quá trình trở nên đúng đắn Đảm bảo chất lượng không phải để cụ thể hóa các tiêu chuẩn đo lường chất lượng mà nhằm đảm bảo các cơ chế, quy trình và quá trình được sắp xếp đảm bảo đạt được chất lượng Do đó có thể sẽ phát sinh vấn đề chất lượng sẽ được xác định bằng
sự tồn tại các cơ chế đảm bảo chất lượng Tuy nhiên, cơ chế đảm bảo chất lượng có chắc chắn rằng sứ mệnh của nhà trường tương thích với mục tiêu của khách hàng và làm hài lòng khách hàng? Thỏa mãn khách hàng ở một cơ sở giáo dục đại học là đánh giá chất lượng dựa trên cấp độ thỏa mãn của sinh viên được công bố (Maseland et all, 1991) Về thực chất nó là mức độ sản phẩm phù hợp với mong đợi Sinh viên không có nhiều thông tin để thực hiện các so sánh chất lượng và trong thực tế không liên kết trực tiếp sự thỏa mãn và chất lượng (Roberts & Higgins, 1992) Sinh viên có thể xác định nhu cầu ngắn hạn nhưng chưa đủ kiến thức và kinh nghiệm để xác định mục tiêu dài hạn Vì vậy họ không sẵn sàng để phán đoán nhu cầu của mình có được đáp ứng hay không?
Quan điểm chất lượng phù hợp với mục tiêu đã gắn liền với thực tế, đã dựa vào quan điểm của khách hàng, đã nghiên cứu đến những tiêu chí đo lường chất lương, đã
Trang 28hình thành các phương pháp quản lý đảm bảo chất lượng, tuy nhiên vẫn còn nhiều mâu thuẫn và bất cập chưa giải quyết được
d Nhóm thứ tư: chất lượng là sự đáng giá tiền đầu tư Quan niệm này khá gần với
quan niệm “chất lượng là phù hợp mục tiêu” đã nêu bên trên (Van Damme, 2003) Với những sứ mệnh, mục tiêu đã đề ra và áp lực phải thực hiện nó trong một giới hạn tài chính đã tạo nên quan niệm chất lượng là sự đáng giá tiền đầu tư Nó xem xét chất lượng trên lập trường hiệu quả kinh tế và lấy sự tự chịu trách nhiệm làm giá trị cốt lõi
Nó nhấn mạnh sự hoạt động mang tính thị trường của một trường đại học bằng giả định cho rằng trong môi trường cạnh tranh có ít tài nguyên, chính thị trường sẽ chọn lọc và nuôi dưỡng những ngôi trường xuất sắc nhất Sự gia tăng cạnh tranh giữa các trường để thu hút sinh viên và nguồn tài chính được xem là chìa khóa trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính (Harvey & Green, 1993)
Sự tự chịu trách nhiệm thể hiện rõ trong Hiến chương khách hàng (Customer charter) Hiến chương khách hàng là một tuyên bố ngắn gọn về những mức độ dịch vụ
mà khách hàng có thể mong đợi dưới sự chứng nhận của các tổ chức công như văn phòng chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan … Trong đó nó nêu lên cam kết của đơn vị
sẽ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đúng với 12 tiêu chuẩn đã đề ra trong Bộ nguyên tắc tiêu chuẩn chất lượng khách hàng (Quality Customer Service (QCS) Guiding Principles) Nó có thể bao gồm một đoạn tuyên bố ngắn gọn về nhiệm vụ và
mô tả vắn tắt về dịch vụ sẽ cung cấp Những tiêu chuẩn của dịch vụ sẽ được định nghĩa thành các điều khoản một cách rõ ràng với ngôn ngữ dễ hiểu Hiến chương còn hướng dẫn khách hàng cách thức để gửi các phàn nàn, khiếu nại hoặc đóng góp ý kiến cho đơn vị Nó thậm chí còn ghi rõ ngày bắt đầu áp dụng Hiến chương và cả thông tin liên
hệ chi tiết cụ thể Mức độ ảnh hưởng của Hiến chương khách hàng trong giáo dục đại học còn gây nhiều tranh cãi Những tiêu chuẩn của các dịch vụ phục vụ sinh viên thường không phải do sinh viên tự đề ra và thường ở mức tối thiểu để sinh viên có thể
dễ dàng thấy thỏa mãn Do đó việc sử dụng hiến chương khách hàng dường như có ít ảnh hưởng tới việc cải thiện hoặc thậm chí duy trì chất lượng
Quan điểm chất lượng đáng giá tiền đầu tư tiếp tục nhấn mạnh vai trò của quản lý: nếu một trường đại học có chính sách và có cách thực hiện đúng đắn để khai thác các nguồn lực sẵn có (cơ sở vật chất, tài liệu giảng dạy, con người …) ở mức ít tốn kém nhất, nó vẫn có thể đảm bảo tiến trình đào tạo đạt hiệu quả và thỏa mãn những
Trang 29chuẩn mực được đặt ra Tuy nhiên, như cái tên đã nói rõ, quan điểm này có thể khiến nhiều trường và sinh viên của họ lâm vào trạng thái tiền nào của nấy Chất lượng giáo dục đại học ở đây chỉ thật sự hiệu quả khi vai trò của đảm bảo chất lượng được thực thi một cách triệt để (Parri, 2006); và lợi ích của khách hàng tại các trường theo quan điểm giáo dục này chỉ được đảm bảo khi mối quan hệ giữa chất lượng và giá thành hạ được giám sát chặt chẽ
e Nhóm thứ năm – chất lượng là sự biến đổi (quality as transformation) – được hình
thành trên nền tảng cho rằng giáo dục mang lại những thay đổi quan trọng cho người học Sự thay đổi này nhất thiết phải được diễn ra theo một quá trình và có sự khác biệt giữa mỗi trường hợp và cũng tương tự như vậy đối với nghiên cứu Như vậy, giáo dục không chỉ là một ngành cung cấp dịch vụ cho khách hàng mà còn là một quá trình chuyển hóa liên tục của người tham gia dù đó là sinh viên hay nhà nghiên cứu Harvey
và Green (1993) cho rằng quan điểm “chất lượng là sự biến đổi” mang lại lợi ích cho người học thông qua hai kênh đặt tên là enhancing và empowering (thúc đẩy và trao quyền lực)
Một nền giáo dục chất lượng là một nền giáo dục gây ảnh hưởng tới những thay đổi tích cực ở những người tham gia và do vậy được cho là sẽ thúc đẩy họ Các khái niệm giá trị gia tăng của chất lượng cho chúng ta một cách tiếp cận mang tính tổng quát về sự phát triển (Astin, 1985, 1991; Kogan, 1986b; Barnett, 1988, CNAA, 1990; PCFC, 1990a) Giá trị gia tăng là một thước đo chất lượng về việc trải nghiệm giáo dục thúc đẩy phát triển kiến thức, năng lực và kỹ năng của sinh viên đến mức độ nào (HM Government, 1991, para 80; HMI, 1990, p.7) Một cơ sở giáo dục đạt chất lượng cao sẽ là một cơ sở giúp phát triển sinh viên một cách mạnh mẽ Các trường Oxford, Cambridge có thể cho đầu ra các sinh viên ưu tú nhưng đầu vào của họ cũng vốn là những học sinh xuất sắc, như vậy giá trị gia tăng của họ không nhiều Một trường kỹ thuật của thành phố có thể có thể đào tạo ra những kỹ sư giỏi từ đầu vào là những học sinh bình thường, không xuất sắc, tức là họ đã tạo ra được giá trị gia tăng to lớn Và việc đo lường chính xác giá trị gia tăng còn phụ thuộc vào sử dụng phương pháp đo lường nào (Barnett, 1998; CNAA, 1990) và khái niệm giá trị được định nghĩa ra sao Lúc này thì người học đóng vai trò trung tâm và được trao cho quyền quyết định
Nhân tố thứ hai trong khái niệm “chất lượng là sự biến đổi” thể hiện ở sự trao quyền lực cho người tham gia để gây ảnh hưởng tới sự chuyển đổi của chính họ Sự
Trang 30chuyển đổi nhằm mục đích nâng cao năng lực của người học thông qua việc người học được trang bị những khả năng giúp điều chỉnh quá trình biến đổi của chính mình như
tự quyết định, tự chủ trong môi trường học, tăng khả năng chỉ trích vấn đề, tăng sự mẫn cảm đối với các vấn đề xung quanh (Ehsan, 2004; Horsburgh, 1998) Nói cách khác, một trường sẽ được xem là có chất lượng hơn những trường khác khi sinh viên tốt nghiệp trường đó có thể xoay sở cuộc sống tương lai của mình với những kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo được học ở trường tốt hơn (Parri, 2006) Muốn làm được điều đó cần thực hiện trao quyền lực cho người học và cho phép họ tham gia vào quá trình đưa ra quyết định Có bốn phương pháp trao quyền lực cho sinh viên Thứ nhất là thông qua đánh giá của sinh viên Thứ hai là sinh viên được đảm bảo cung cấp những tiêu chuẩn tối thiểu và được giao trọng trách điều chỉnh các tiêu chuẩn đó Thứ ba là sinh viên được trao quyền điều khiển toàn bộ việc học của họ Thứ tư là phát triển năng lực phê phán của sinh viên Trong trường hợp này, chất lượng được thể hiện ở việc nâng cao năng lực nhận thức và tự ý thức của sinh viên
Quan điểm này có nhược điểm là còn cảm tính vì lý thuyết dựa hoàn toàn vào đối tượng con người là sinh viên thường bị chi phối về mặt cảm xúc và không đồng nhất Hơn nữa việc đo lường giá trị gia tăng hay sự biến đổi của sinh viên sau quá trình học tập thì chưa có thước đo chính xác cụ thể nào làm được Tuy nhiên, quan điểm này
có ưu điểm là đã xem xét đến chức năng học thuật của trường đại học, điều mà ít quan điểm khác làm được thấu đáo
Tóm lại, qua năm nhóm quan điểm về “chất lượng giáo dục” đã trình bày ở trên, một lần nữa khẳng định tính đa nghĩa, đa diện của khái niệm này Các nhóm quan điểm này có lúc đồng nhất với nhau, có khi lại mâu thuẫn với nhau, có khi lại hỗ trợ lẫn nhau Mỗi một quan điểm hướng đến một nội dung khác nhau và đều có ưu, nhược điểm riêng, không có một khái niệm nào là hoàn toàn đúng về chất lượng Qua đó, có thể kết luận chất lượng giáo dục mang tính tương đối, tồn tại trong điều kiện môi trường chi phối nó và không thể có thước đo chuẩn cho chất lượng giáo dục tại các trường khác nhau Chất lượng của mỗi trường sẽ tạo nên bản sắc riêng của trường đó Chính vì vậy, khi thực hiện luận văn này, tác giả không dựa trên một quan điểm nhất định nào mà tùy thuộc vào tình hình thực tế để có sự kết hợp các quan điểm phù hợp với nhau nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, để được công nhận là một trường có chất lượng tốt về giáo dục đào tạo thì bản thân ngôi trường đó còn phải trải
Trang 31qua một quá trình đánh giá và hoàn thành được một loạt các tiêu chí, chỉ tiêu về chất lượng đào tạo đại học cao đẳng Việc thực hiện và đảm bảo chất lượng đào tạo này luôn là vấn đề khó khăn nhưng mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi trường đại học, cao đẳng luôn cố gắng phấn đấu đạt được bởi vì vai trò quan trọng của nó
1.2 Vai trò của chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng
Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Đảng ta đã xác định ba đặc điểm kinh tế lớn trong thời đại ngày nay đó là: khoa học công nghệ phát triển vũ bão; toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng dẫn đến cạnh tranh ngày càng quyết liệt; tình trạng khan hiếm các loại nguyên liệu, năng lượng Chính những đặc điểm này đã làm nổi bật vai trò ngày càng tăng của con người – “lợi thế cạnh tranh động trong quá trình phát triển và là nhân tố làm chuyển dịch lợi thế so sánh giữa các quốc gia” Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển 2011 – 2020, chính phủ đã xác định “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một đột phá chiến lược” và đây là khâu đột phá quan trọng nhất “Phát triển nguồn nhân lực vừa là yêu cầu cấp bách vừa
là nhiệm vụ lâu dài theo tiến trình phát triển của tri thức nhân loại.” Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương khóa XI (Nghị quyết 29-NQ/TW) cũng
đã quán triệt phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Có thể thấy rõ quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vì vậy thực hiện nâng cao chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng chính là quốc sách, là tất yếu theo xu hướng của thời đại
Một lý do cơ bản giải thích vì sao đại học, cao đẳng lại được nhiều người chọn
để mở cánh cửa vào đời là giáo dục đại học, cao đẳng mở mang tri thức cho con người
Nó giúp con người có được sự hiểu biết đối với các vấn đề phức tạp của xã hội, nâng cao năng lực nhận thức không chỉ trong kiến thức chuyên môn mà còn trong các giá trị đạo đức, khiến con người trở nên chín chắn, trưởng thành và có trách nhiệm Những người đã trải qua quá trình giáo dục tại các trường đại học, cao đẳng không những có thể đạt được những mục tiêu cá nhân mà còn đóng góp vào sự giàu mạnh của cộng đồng và dân tộc Từ đó, chất lượng cuộc sống được cải thiện và công bằng xã hội được
Trang 32nâng cao Như vậy, giáo dục đại học, cao đẳng không những tác động trực tiếp đến sự suy thịnh của một đất nước mà giáo dục có chất lượng còn mở rộng cơ hội trong cuộc sống của mỗi người
Giáo dục đại học, cao đẳng còn có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và đào tạo nhân tài cho đất nước trong mọi lĩnh vực Những nguồn nhân lực ưu tú này không những lĩnh hội kiến thức mà còn đỏi hỏi phải có năng lực nghiên cứu, phát triển kiến thức trên nền tảng cơ bản để phù hợp và có thể ứng dụng thực tiễn Chức năng này của giáo dục đại học, cao đẳng tạo nên những chuyên gia đầu ngành và hệ thống những kiến thức mới phục vụ cho lợi ích không chỉ cho mỗi quốc gia mà có thể áp dụng cho cả thế giới
Đối với bản thân các trường đại học, cao đẳng thì chất lượng là mối quan tâm hàng đầu Trong môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị giáo dục đào tạo, chất lượng là chìa khóa cho chiến thắng, tạo nên sức hấp dẫn thu hút người học Một quy trình giáo dục có chất lượng có khả năng làm hài lòng tất cả các đối tượng khách hàng của hoạt động giáo dục đào tạo, đem đến sự tín nhiệm không chỉ đối với xã hội mà còn đối với bản thân cán bộ nhân viên, giảng viên trong mỗi tổ chức đó Với những hình ảnh đẹp về môi trường giáo dục chất lượng thì khả năng đạt được các khoản đầu tư, các nguồn tài trợ sẽ tăng cao Đây chính là những điều kiện thuận lợi để duy trì và phát triển mở rộng quy mô hoạt động của các trường đại học, cao đẳng
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đại học
Chất lượng đào tạo bị tác động bởi rất nhiều yếu tố Nếu xét theo phạm vi tác động thì có thể chia các yếu tố này ra thành yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong các trường đại học, cao đẳng (Nguyễn Đình Phan, 2012)
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài bao gồm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; các quyết định ban hành bởi các cấp bộ, ngành từ trung ương đến địa phương về những vấn đề liên quan đến tiến bộ khoa học công nghệ, đến đào tạo nghề nghiệp, việc làm và lao động; nhu cầu của thị trường lao động
Các cơ chế, chính sách này chi phối toàn bộ môi trường hoạt động của các trường đại học, cao đẳng Và các trường cần phải tuân thủ các nguyên tắc này từ hoạt động tuyển sinh, hoạt động đào tạo cho tới các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương và cả các hoạt động liên kết, hợp tác quốc tế, tất cả đều phải tuân thủ quy định
Trang 33đề ra Như vậy, môi trường cạnh tranh giữa các trường được hình thành Trong cùng điều kiện hoạt động, trường nào năng động, linh hoạt hơn sẽ phát triển mạnh hơn
Nhu cầu của thị trường lao động ảnh hưởng đến đầu ra của mỗi trường đại học, cao đẳng Xác định đúng nhu cầu của thị trường lao động để đào tạo sẽ thu hút được sinh viên đầu vào và sinh viên tốt nghiệp sẽ dễ dàng tìm được công việc ổn định Ngược lại, đào tạo không phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động sẽ gây lãng phí nhiều tiền của trong quá trình đào tạo mà vẫn không giải quyết được tình trạng thất nghiệp của xã hội và còn làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường
Các trường cần quan tâm đến những yếu tố trên để đưa ra mục tiêu, chương trình, hành động phù hợp Tuy nhiên, những yếu tố này bản thân các trường đại học cao đẳng không thể tác động mà chỉ căn cứ vào đó để điều chỉnh những vấn đề nội tại bên trong trường mình
1.3.2 Các nhân tố bên trong
Bên trong mỗi trường đại học cao đẳng, chất lượng đào bị tác động đến những yếu tố như sau:
- Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu đào tạo là kết quả, là sản phẩm của quá trình đào tạo khi đáp ứng được các yêu cầu đã định ra Trong giáo dục đại học, mục tiêu đào tạo chính là người học tốt nghiệp với nhân cách đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo trở thành người có kiến thức, có kỹ năng, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có sức khỏe, có khả năng tìm việc làm và đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Mục tiêu này cần phải được cụ thể hóa theo từng trường, từng khoa, từng chuyên ngành đào tạo để phù hợp với xã hội Phải xác định đúng mục tiêu đào tạo vì đây là căn cứ để xây dựng chương trình và nội dung đào tạo, từ đó chọn lựa các phương pháp giảng dạy phù hợp, đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng và trang thiết bị đầy đủ để có thể đạt được kết quả tốt nhất
Mục tiêu đào tạo còn là căn cứ để đánh giá kết quả và chất lượng của quá trình đào tạo - “Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo” (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp) Chính vì vậy mục tiêu đào tạo là yếu tố đầu tiên cần được quan tâm và đóng vai trò là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình đào tạo
- Chương trình và nội dung đào tạo: Mục giáo dục nghề nghiệp tại điều 35,
luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Chương trình giáo dục nghề nghiệp thể hiện mục
Trang 34tiêu giáo dục nghề nghiệp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục nghề nghiệp, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác.” Như vậy chương trình đào tạo sẽ thể hiện những nội dung mà cơ sở giáo dục sẽ truyền tải đến người học để qua đó người học hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và có kiến thức vững vàng đáp ứng nhu cầu của xã hội Chương trình đào tạo là yếu tố cơ bản, cần thiết và quan trọng trong quá trình đào tạo
Cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo phải tuân thủ các quy định trong chương trình khung của nhóm nghề và thể hiện đặc thù của từng nghề Ngoài ra, cấu trúc và nội dung chương trình đào tạo cần phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường Chương trình đào tạo cần phải được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên việc tham khảo chuẩn của Việt Nam và quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng, sinh viên tốt nghiệp và các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội
- Phương pháp đào tạo: Phương pháp dạy học là cách thức hành động có
trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động
có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh đảm bảo lĩnh hội được nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy Phương pháp dạy học phải luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo Hiệu quả của phương pháp dạy học sẽ phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên
- Đội ngũ cán bộ quản lý và giảng dạy:
Cán bộ quản lý có vai trò quan trọng quyết định vấn đề chất lượng trong trường Cán bộ quản lý các cấp nắm giữ vai trò điều tiết hoạt động của nhà trường; xác định vai trò, sứ mạng và mục tiêu đào tạo của nhà trường; xây dựng nội quy, quy chế hoạt động cho từng đối tượng trong trường; kiểm tra, đánh giá hoạt động của các tổ chức,
cá nhân trong trường và có các hình thức điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất
Trang 35lượng đào tạo của trường Bên cạnh đó, cán bộ quản lý phải có năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn và có phẩm chất đạo đức tốt Cán bộ quản lý phải am hiểu sâu sắc về hoạt động đào tạo của nhà trường, có chiến lược đúng đắn để xác định hướng đi cho trường trong mỗi thời kỳ, xác định được vai trò và tầm quan trọng của từng nhân
tố trong toàn bộ quá trình đào tạo để có các quyết định đầu tư đúng đắn Trưởng các phòng, ban, trung tâm có trách nhiệm cùng với Ban giám hiệu xây dựng chương trình chất lượng cho trường và phổ biến tới toàn thể cán bộ, giảng viên của trường; đồng thời theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở nhân viên của mình thực hiện tốt các nhiệm
vụ được giao Cán bộ nhân viên của trường có nhiệm vụ hoàn thành tốt chức năng công việc đã được phân công góp phần tạo nên chất lượng toàn diện của trường
Đội ngũ giảng viên là những người trực tiếp thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục Giảng viên là những người đề xướng, thiết kế, thực hiện nội dung và phương pháp giảng dạy Giảng viên là người giúp người học định hướng thị hiếu, gợi hứng thú học tập; là những người giúp cho người học biết cách tiếp thu, sáng tạo, biết cách rèn luyện, hình thành nên thái độ và thói quen nghề nghiệp Đội ngũ giảng viên đạt chuẩn
về cả số lượng và chất lượng sẽ là yếu tố quan trọng khẳng định thương hiệu của nhà trường Chính vì vậy, các trường đại học, cao đẳng cần chú trọng công tác xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của mình Các giảng viên phải ít nhất đạt trình độ từ Đại học trở lên và được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm Đội ngũ giảng viên phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, có kỹ năng sư phạm, kỹ năng giao tiếp tốt và có phẩm chất đạo đức tốt Các trường cần phải có kế hoạch tuyển dụng hợp lý, có các chính sách khuyến khích cán bộ giảng viên tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn,
đẩy mạnh nghiên cứu và chủ động trong việc rèn luyện cả thể chất lẫn tư tưởng đạo đức
- Người học: Người học là một trong những đối tượng khách hàng của hoạt
động giáo dục đào tạo Không những là yếu tố đầu vào mà người học còn là trung tâm của quá trình đào tạo Trong quá trình này, người học cần có nhận thức và hành động đúng đắn để thu nhận kiến thức mới, hình thành và phát triển kỹ năng trí tuệ, phát triển nhân cách , tạo ra giá trị và thái độ đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong xã hội Như vậy, nhận thức của người học là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Tuy nhiên, đối tượng đầu vào của các trường đại học, cao đẳng đa phần là những thanh niên có độ tuổi từ 18 – 20, vừa hoàn thành xong chương trình giáo dục phổ thông Các em đa phần vẫn chưa quen với cách tự lập giải
Trang 36quyết những vấn đề ở môi trường đại học, cao đẳng; tâm lý vẫn còn ham vui và chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học Để có thể giúp các em có thái độ nghiêm túc trong học tập và rèn luyện, các trường cần quan tâm đến việc quản lý và giáo dục sinh viên của mình để đạt hiệu quả tốt trong quá trình học Bên cạnh đó, chất lượng đầu vào cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đào tạo Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, các trường chỉ chú trọng đến số lượng đầu vào đạt chỉ tiêu tuyển sinh mà hạ thấp điểm đầu vào Sự chênh lệch về trình độ giữa các sinh viên đã gây khó khăn cho hoạt động giáo dục và đào tạo Và cũng do muốn gia tăng số lượng sinh viên nên các trường đã xây dựng các lớp học với số lượng sinh viên quá nhiều, giáo viên không thể quan tâm
tới tất cả sinh viên Chính điều này đã hạn chế chất lượng giáo dục đào tạo
- Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học: Cơ sở vật chất là yếu tố hỗ trợ tích
cực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, gồm: hệ thống giảng đường, lớp học, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, thực tập, diện tích sàn và trang thiết bị cho các hoạt động thực hành, thực nghiệm, nghiên cứu và văn hóa thể thao của cán bộ và học sinh Thiết bị dạy học tạo điều kiện trực tiếp cho người học huy động mọi năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao tính khách quan khoa học của hoạt động nhận thức trong học tập và rèn luyện Các thiết bị dạy học tốt còn giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy và học Cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, đáp ứng được yêu cầu đào tạo sẽ giúp cho các trường thu hút được sự chú ý của các đối tượng khách hàng, giúp các trường cải thiện đầu vào Tuy nhiên với sự hạn chế về nguồn lực của các trường thì việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị và vấn đề khó giải quyết Thực trạng cho thấy đa số các trường trong nước đều
có cơ sở vật chất và trang thiết bị lạc hậu hơn so với các doanh nghiệp và các trường khác trong khu vực và thế giới Các trường cần phải thật sự nỗ lực để khắc phục nhược
điểm này
- Công tác quản lý chất lượng: Công tác quản lý chất lượng có vai trò quan
trọng trong thực hiện việc phát triển và bảo đảm chất lượng giáo dục đào tạo tại các trường Nó chi phối hoạt động của toàn bộ các tổ chức trong trường và định hướng đi chung phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng của trường Qua đó, đảm bảo các công tác, hoạt động của trường được thực hiện khoa học, có hệ thống và dễ dàng kiểm tra, giám sát
Trang 37Công tác quản lý chất lượng gắn liền với cơ chế, chính sách của Nhà nước Nhà trường cần dựa vào đó để xây dựng các chính sách, quy định cho trường sao cho phù hợp với quy định của Nhà nước, chặt chẽ và có hiệu quả trong thực tế Các chính sách
và quy định này sẽ được thực hiện đồng bộ trong toàn trường
Công tác quản lý chất lượng còn gắn liền với hoạt động kiểm định chất lượng
“Kiểm định chất lượng giáo dục trường” là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đối với trường ở từng trình độ đào tạo Mục đích chính của kiểm định chất lượng giáo dục là nhằm đảm bảo đạt được những chuẩn mực nhất định trong đào tạo và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực
và đảm bảo quyền lợi cho người học Ở một số nơi, kiểm định chất lượng giáo dục còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hay với các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí Quá trình kiểm định chất lượng cần được thực hiện tích cực, khách quan, trung thực để hình thành được “văn hóa chất lượng” trong trường học
- Hoạt động của các trung tâm, phòng, ban: Trong hoạt động của các
trường thì không thể thiếu hoạt động của các trung tâm, các phòng ban chức năng Tuy rằng không có trách nhiệm trực tiếp trong việc đào tạo nhưng hoạt động của các trung tâm và phòng ban này góp phần vào việc xây dựng và làm nên hình ảnh môi trường
giáo dục chuyên nghiệp cho trường Qua đó hoàn thiện chất lượng đào tạo cho trường
1.4 Các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá chất lượng đào tạo đại học
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy định số 65/2007/QĐ-BGDĐT để công
bố mười tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học như sau:
1 Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học
2 Tổ chức và quản lý
3 Chương trình giáo dục
4 Hoạt động đào tạo
5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên
6 Người học
7 Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ
8 Hoạt động hợp tác quốc tế
9 Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác
10 Tài chính và quản lý tài chính
Trang 38Tuy nhiên, sau đó đã có nhiều nguồn ý kiến cho rằng những tiêu chuẩn mà Bộ đưa ra trên đây không thực sự có hiệu quả Những tiêu chuẩn này đều chung chung, không có những chỉ tiêu cụ thể và không thể triển khai áp dụng trên thực tế Hơn thế,
đa phần các tiêu chuẩn trên đều hướng về quản lý giáo dục chứ không nhằm vào đối tượng chính là chất lượng giáo dục Sản phẩm của quá trình giáo dục chính là những sinh viên tốt nghiệp có kỹ năng tốt và trình độ chuyên môn cao Chính vì vậy, chất lượng giáo dục thể hiện ở quá trình tạo nên “chất lượng” của sinh viên Do đó, những tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo dục đại học nên được xây dựng xoay quanh đối tượng chính là sinh viên hay người học
1.4.1 Nhóm tiêu chí, chỉ tiêu chung về chất lượng giáo dục đại học
Nhóm này bao gồm những tiêu chí, chỉ tiêu cơ bản liên quan trực tiếp đến người học mà bất kỳ trường đại học, cao đẳng nào cũng hướng tới và là những chỉ tiêu đơn giản, rõ ràng nhất mà cá nhân mỗi người khi đánh giá chất lượng một trường đại học, cao đẳng đều nghĩ tới Chính vì vậy, khi đánh giá chất lượng của một trường thì không thể bỏ qua những chỉ tiêu sau đây:
- Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp: Như đã phân tích ở phần “chất lượng là sự biến đổi”, chất lượng sinh viên đầu vào có thể ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra nhưng không phải là yếu tố quyết định chất lượng của hoạt động đào tạo Với chất lượng đầu vào có thể ở mức độ trung bình nhưng trải qua quá trình đào tạo, các sinh viên này có thể hoàn thành được các nội dung, chương trình đào tạo và tốt nghiệp thì chứng tỏ các sinh viên này đã đạt “chất lượng”, quá trình giáo dục đào tạo có chất lượng Không phải bất kỳ sinh viên nào cũng có thể tốt nghiệp hoặc tốt nghiệp đúng hạn vì những nguyên nhân khác nhau Do đó, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp hàng năm sẽ là một chỉ tiêu đánh giá được quá trình đào tạo của một trường có tốt hay không, có thể tạo ra được
“giá trị gia tăng” trong “chất lượng” của người học hay không
- Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm: Những sinh viên có thể tốt nghiệp chứng tỏ đã đạt được các tiêu chuẩn do trường đó đặt ra Tuy nhiên, điều quan trọng là những tiêu chuẩn đó có tương xứng với các trường đào tạo cùng ngành nghề và phù hợp với nhu cầu của xã hội hay không? Nếu những tiêu chuẩn của trường đặt ra thấp hơn thì tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp cũng chưa thể đánh giá được chất lượng đào tạo của trường mà còn phải dựa vào chỉ tiêu tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm Những sinh viên tốt nghiệp có thể tìm được việc làm chứng tỏ những kỹ năng và kiến thức của
Trang 39sinh viên đó đã có thể đáp ứng yêu cầu công việc từ nhà tuyển dụng Từ đó có thể suy ngược lại là chất lượng đào tạo của trường là tốt, được xã hội chấp nhận
- Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo: Sinh viên khi đã tốt nghiệp tìm được một việc làm không những là mong muốn của bản thân mỗi người học mà còn là mục tiêu của gia đình và xã hội Tuy nhiên, thực trạng nguồn nhân lực hiện nay đã được báo Nhân dân ngày 12/01/2015 phản ánh: sinh viên tốt nghiệp làm những công việc trái ngành nghề được đào tạo đang rất phổ biến Lý giải nguyên nhân của thực trạng này, các chuyên gia cho rằng vì kinh tế khủng hoảng,
cơ cấu ngành nghề có sự thay đổi dẫn đến nhu cầu về ngành nghề đó giảm xuống, dẫn đến dư thừa lao động; bên cạnh đó tình trạng các trường đại học gia tăng quá nhanh, đào tạo tràn lan cũng góp phần không nhỏ khiến sinh viên tốt nghiệp không thể tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn Lý do cũng còn do chất lượng tay nghề và kỹ năng của sinh viên không cao, không thể cạnh tranh với những sinh viên đến từ các trường khác nên không được các đơn vị tuyển dụng nhận Vì vậy, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường đại học, cao đẳng
- Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp phải trải qua đào tạo lại trước khi chính thức làm việc tại các doanh nghiệp: Tại phiên giải trình với Ủy ban Văn hóa – Giáo dục – Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội ngày 24/4/2015, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo Phạm Vũ Luận đã công bố tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau 3 tháng là 60 % Tuy nhiên số lượng sinh viên phải trải qua quá trình đào tạo lại tại doanh nghiệp lại không hề nhỏ Năm 2011, Trung tâm Nghiên cứu và phân tích chính sách thuộc Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia Hà Nội) đã cho biết có tới 61% sinh viên tốt nghiệp phải qua đào tạo lại Đặc biệt là tại các công ty quốc tế, các sinh viên này đều phải được huấn luyện lại về chuyên môn lẫn các kỹ năng mềm (Theo Báo Dân trí, 23/7/2015) Nguyên nhân gây ra là vì chương trình giảng dạy thiếu tính thực tiễn, không phù hợp với điều kiện làm việc tại các doanh nghiệp Chính vì vậy, khi đánh giá về chất lượng giáo dục đào tạo tại một trường cần nghiên cứu thêm chỉ tiêu tỉ
lệ sinh viên tốt nghiệp phải trải qua đào tạo lại trước khi chính thức làm việc để có thể kết luận chính xác về chất lượng của trường đó
Trang 401.4.2 Nhóm tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể về chất lượng giáo dục đại học
Chất lượng của giáo dục đào tạo sẽ thể hiện ở sản phẩm của quá trình chính là những sinh viên sau khi tốt nghiệp Mục tiêu đề ra là những sinh viên này phải có kiến thức chuyên môn vững vàng và thành thạo những kỹ năng cần thiết cho công việc và cuộc sống Chính vì vậy kiến thức chuyên ngành và những kỹ năng của sinh viên là những tiêu chí bắt buộc phải có khi đánh giá chất lượng đào tạo
- Kiến thức chuyên ngành: là những kiến thức cần thiết, liên quan trực tiếp đến ngành nghề đào tạo của sinh viên, sẽ được sinh viên sử dụng trong công việc sau này Nói cách khác, nếu không được trang bị kiến thức chuyên môn thì sinh viên khó có thể thực hiện được công việc sau này Sinh viên có kiến thức chuyên môn tốt sẽ thể hiện ở kết quả học tập, khả năng liên hệ kiến thức với thực tế khi đi thực tập và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế công việc Những chỉ tiêu cụ thể để đánh giá sẽ là điểm tốt nghiệp bình quân và kết quả khảo sát từ các doanh nghiệp về khả năng làm việc của sinh viên đã tốt nghiệp
- Các kỹ năng cần thiết: Chỉ có kiến thức chuyên môn là chưa đủ để sinh viên sau khi tốt nghiệp nhận được các công việc mong muốn Thiếu kinh nghiệm và những
kỹ năng là những trở ngại lớn nhất cho sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể tìm được việc làm Những kỹ năng về ngoại ngữ, tin học, những kỹ năng mềm dùng để xử lý những tình huống trong giao tiếp ứng xử, trong công việc và cuộc sống được các nhà tuyển dụng ưu tiên trong quá trình tuyển chọn nhân lực cho đơn vị mình, đặc biệt là trong những doanh nghiệp nước ngoài Trong quá trình học tập tại các trường đại học, cao đẳng, sinh viên cần trang bị cho mình những kỹ năng này Hiện nay, chuẩn đầu ra của các trường đại học, cao đẳng đều quy định cụ thể về kỹ năng sử dụng ngoại ngữ và tin học đối với từng ngành nghề Do đó, sinh viên có thể chủ động tích lũy để đạt đủ điều kiện tốt nghiệp Nhưng những kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định mục tiêu … đối với sinh viên còn khá mới mẻ và xa lạ Một số kỹ năng sinh viên được tiếp cận thông qua những môn học bổ trợ trong khối kiến thức chung của chương trình đào tạo Những kỹ năng còn lại sinh viên phải tự mình học hỏi và rèn luyện thông qua các hoạt động đoàn thể, sinh hoạt tại các Câu lạc bộ, các lớp ngoại khóa, … Tiêu chí này gồm những nội dung đa dạng và khác biệt nên khó có thể hình thành những chỉ tiêu để đánh giá cụ thể Để nhận định về kỹ năng sinh viên đạt được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường, ta có thể dựa vào tỉ lệ sinh viên tham gia các câu lạc