1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)

138 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ THANH HUYỀN KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN CỦA HAI CUỘC VẬN ĐỘNG THỜI CẬN ĐẠI TRUNG QU

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ THANH HUYỀN

KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN CỦA HAI CUỘC VẬN ĐỘNG

THỜI CẬN ĐẠI TRUNG QUỐC

(PHONG TRÀO DUY TÂN MẬU TUẤT VÀ PHONG TRÀO TÂN VĂN HÓA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÂU Á HỌC

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ THANH HUYỀN

KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN CỦA HAI CUỘC VẬN ĐỘNG

THỜI CẬN ĐẠI TRUNG QUỐC

(PHONG TRÀO DUY TÂN MẬU TUẤT VÀ PHONG TRÀO TÂN VĂN HÓA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 60 31 06 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS ĐỖ THÚY NHUNG

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn em luôn nhận được sự khích lệ động viên và chỉ bảo tận tình của TS Đỗ Thúy Nhung Qua đây em xin gửi lời cảm ơn đến cô đã hướng dẫn, định hướng giúp em hoàn thành

công trình nghiên cứu này

Em xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Đông phương học đã hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện và truyền thụ những tri thức cho chúng em trong suốt

thời gian qua

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu do bản thân tôi

thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thúy Nhung

Các số liệu và kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn và mục đích 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ của luận văn 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Khái niệm thuật ngữ 7

1.1.1 Quan điểm của một số nhà ngôn ngữ học thế giới về thuật ngữ 7

1.1.2 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học 8

1.1.3 Tính chất của thuật ngữ 11

1.1.4 Thuật ngữ và vị trí của nó trong ngôn ngữ nói chung 16

1.1.5 Thuật ngữ chính trị, xã hội và thuật ngữ các ngành khoa học khác 17

1.1.6 Từ đơn tiết, từ đa tiết 20

1.2.1 Phong trào Duy Tân Mậu Tuất 23

1.2.2 Phong trào Tân văn hóa 28

CHƯƠNG 2: TỪ NGỮ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ VĂN BẢN PHONG TRÀO DUY TÂN MẬU TUẤT 35

2.1 Khảo sát từ đơn tiết - từ đa tiết 36

2.1.1 Khảo sát từ đơn tiết 36

2.1.2 Khảo sát từ đa tiết 37

2.2 Khảo sát từ ngữ chính trị - xã hội 38

2.2.1 Khảo sát từ chính trị - xã hội là từ đa tiết 38

2.2.1.1 Từ chính trị - xã hội trong văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất 38 2.2.2 Một vài nhận xét về từ ngữ chính trị - xã hội trong phong trào Duy Tân Mậu Tuất 55

Trang 6

2.2.3 Lương Khải Siêu và ngôn ngữ viết phong trào Duy Tân Mậu Tuất 60

Tiểu kết: 64

CHƯƠNG 3: TỪ NGỮ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ VĂN BẢN TRONG PHONG TRÀO 66

TÂN VĂN HÓA 66

3.1 Khảo sát từ đơn tiết - từ đa tiết 67

3.1.1 Khảo sát từ đơn tiết 67

3.1.2 Khảo sát từ đa tiết 68

3.2 Khảo sát từ ngữ chính trị - xã hội 69

3.2.1 Khảo sát từ chính trị - xã hội là từ đa tiết 69

3.2.1.1 Từ chính trị - xã hội trong văn bản phong trào Tân văn hóa 69

3.2.1.2 Khảo sát một số từ chính trị - xã hội trên văn bản phong trào Tân văn hóa 77

3.2.2 Một vài nhận xét về từ ngữ chính trị - xã hội trong phong trào Tân văn hóa 84

3.2.3 Hồ Thích và ngôn ngữ viết phong trào Tân văn hóa 90

Tiểu kết 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 104

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Văn bản khảo sát (phong trào Duy Tân Mậu Tuất) 36

Bảng 2.2: Từ đơn tiết (văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất) 37

Bảng 2.3: Từ đa tiết (văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất) 38

Bảng 2.4: Từ chính trị - xã hội (văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất) 39

Bảng 3.5: Văn bản khảo sát (phong trào Tân văn hóa) 67

Bảng 3.6: Từ đơn tiết (văn bản phong trào Tân văn hóa) 67

Bảng 3.7: Từ đa tiết (văn bản phong trào Tân văn hóa) 68

Bảng 3.8: Từ chính trị - xã hội (văn bản phong trào Tân văn hóa) 69

Trang 8

đại hóa trên cơ sở phát huy văn hóa truyền thống đã làm cả thế giới ngạc nhiên

Quá trình nhận thức được về việc cần mở cửa học tập chủ nghĩa tư bản phương Tây, nhận ra sức mạnh của con đường phát triển của công thương

nghiệp tư bản là một quãng đường lịch sử lâu dài Để có được kết quả vượt

bậc ấy, những nhân sĩ yêu nước, những nhà chính trị, nhà cải cách Trung Quốc đã phải trăn trở đưa ra nhiều biện pháp giải quyết vấn đề thời đại, để

đưa Trung Quốc vượt qua chặng đường gian nan với máu bùn, nghèo hèn và

bị sỉ nhục thoát khỏi sự lạc hậu, ách thống trị của thực dân phương Tây [25,

tr.430] Sau những năm cải cách mở cửa, Trung Quốc trên cơ sở phát huy văn hóa truyền thống, đã làm thay đổi nhanh chóng diện mạo quốc gia

Có thể nói, khi nghiên cứu về thời cận đại Trung Quốc, bất luận từ góc

độ sử học hay góc độ ngôn ngữ học, văn hóa học… nghiên cứu những thay đổi, chuyển biến của Trung Quốc từ truyền thống đến hiện đại, hay nghiên cứu ngôn ngữ Trung Quốc thời cận đại, đều là vấn đề nghiên cứu hết sức hấp dẫn Nhưng cho đến nay, ở Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về từ ngữ trên các văn bản thời kỳ này Vì vậy, nghiên cứu về ngôn ngữ

cận đại Trung Quốc là rất cần thiết Luận văn chọn đề tài: Khảo sát từ ngữ

Trang 9

chính trị, xã hội trên một số văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại Trung Quốc (phong trào Duy Tân Mậu Tuất và phong trào Tân văn hóa) làm

đề tài nghiên cứu Bởi ngôn ngữ thời cận đại cũng sản sinh ra nhiều từ ngữ mới, thuật ngữ mới Trong đó, hệ thống từ ngữ chính trị - xã hội đã đi vào đời sống, góp phần làm phong phú ngôn ngữ Hán và chiếm một vị trí trong hệ ngôn ngữ này

1.2 Mục đích nghiên cứu

Thời cận đại Trung Quốc với những biến chuyển lịch sử đã có sự xuất hiện của những nhà yêu nước, những trí thức với những tư tưởng mới, quan niệm mới nhằm thay đổi thời cuộc Những sự biến đổi ấy được phản ánh trong nhiều tác phẩm, nhiều văn bản được diễn tả bằng lớp từ ngữ mới, cách diễn đạt mới, thể hiện những tư tưởng mới về chính trị, xã hội Vì vậy, mục đích nghiên cứu của luận văn là khảo sát từ ngữ chính trị, xã hội trên một số văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại Trung Quốc (phong trào Duy Tân Mậu Tuất và phong trào Tân văn hóa) để thấy những thay đổi trong xã hội Trung Quốc như thế nào? Bởi thuật ngữ chính trị, xã hội là một lĩnh vực đặc biệt, luôn phản ánh sâu sắc diện mạo chính trị của một quốc gia, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Qua nghiên cứu, khảo sát những từ ngữ chính trị,

xã hội trên một số văn bản của thời cận đại Trung Quốc không chỉ giúp chúng

ta hiểu được ý nghĩa lịch sử, những chuyển biến trong nhận thức, hành động,

xu hướng của thời đại mà còn góp phần làm rõ hơn những đặc điểm ngôn ngữ thời kỳ này của Trung Quốc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tiếng Hán là thứ tiếng lâu đời được dùng phổ biến ở Trung Quốc và có tầm ảnh hưởng lớn đến các nước trong khu vực như trong đó có Việt Nam Hơn 1000 năm, dưới sự thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc, Việt Nam sớm bị ảnh hưởng bởi văn hóa Hán và đặc biệt là ngôn ngữ từ phương Bắc tràn xuống Không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của tiếng Hán đến

Trang 10

tiếng Việt vẫn còn rất sâu sắc, các yếu tố Hán còn tồn tại và phong phú thêm yếu tố Việt trong tiếng Việt Cho đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Hán cận đại, cũng như sự tiếp xúc, giao thoa của Hán – Việt cận đại, có thể kể đến những công trình nghiên cứu như:

- Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997;

- Lê Quang Thiêm, Bước chuyển của từ vựng chính trị, xã hội tiếng Việt 30 năm đầu thế kỷ XX (1900 - 1930), Tạp chí Ngôn ngữ, số

11/2001;

- Phạm Văn Khoái, Một số vấn đề chữ Hán thế kỷ XX, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2001;

- Lê Quang Thiêm, Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kỳ 1858 - 1945,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003;

- Phạm Văn Khoái, Một số vấn đề về Hán văn Việt Nam nửa cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia, mã:

ra những từ chính trị - xã hội xuất hiện trong các văn bản được lựa chọn

Trang 11

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Như đã trình bày ở trên, thời kỳ cận đại Trung Quốc, do có nhiều biến động về chính trị, xã hội cho nên sẽ có sự biến đổi về văn hoá, đồng nghĩa với việc sẽ có những biến đổi về từ ngữ trên các văn bản cận đại Như vậy đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ chính trị - xã hội trên một số văn bản cận đại, cụ thể hơn là một số tác phẩm bằng văn bản tiếng Hán của một số tác giả tiêu biểu trong hai phong trào Duy Tân Mậu Tuất và Tân văn hóa Trung Quốc

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu từ ngữ có thể chọn một thời kỳ, một giai đoạn nào đó

để nghiên cứu Luận văn chọn giai đoạn cận đại của Trung Quốc để nghiên cứu những từ ngữ chính trị, xã hội Đây là thời kỳ diễn ra rất nhiều cuộc vận động, xuất hiện những con người yêu nuớc của thời đại với những ý thức mới,

tư tưởng mới để đưa Trung Quốc thoát khỏi lạc hậu, hội nhập thế giới… Luận văn sẽ chọn một số tác phẩm thích hợp của hai phong trào thời cận đại Trung Quốc, phong trào Duy Tân Mậu Tuất, phong trào Tân văn hoá để khảo sát

4 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được những mục đích đã nêu, luận văn cần làm những nhiệm vụ:

Trình bày một số vấn đề lý luận trực tiếp liên quan đến vấn đề khảo sát như khái niệm thuật ngữ, nội dung hai phong trào Duy Tân Mậu Tuất và Tân văn hóa

Dựa vào hoàn cảnh lịch sử, nội dung của hai phong trào chọn ra một số văn bản tiếng Hán để khảo sát những từ ngữ chính trị - xã hội xuất hiện thời cận đại Trung Quốc Qua đó thấy được sự hiện diện của từ trong văn bản, trình bày kết quả và đưa ra một số nhận xét về từ ngữ chính trị - xã hội thời cận đại Trung Quốc

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên các văn bản được lựa chọn, ngoài việc sử dụng một số phương pháp tư duy khoa học như quy nạp, diễn dịch… luận văn có sử dụng phuơng pháp và thủ pháp như: vạch ranh giới từ, nhận diện từ, thống kê số lượng tần

số xuất hiện các từ ngữ, từ đó phân loại từ, nhóm các nhóm từ cố định mang khái niệm chính trị - xã hội; giải thích nghĩa của từ và trình bày kết quả bằng

văn bản

6 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả của luận văn sẽ có giá trị và hữu ích cho việc nghiên cứu ngôn ngữ, từ ngữ chính trị, xã hội Đặc biệt đây cũng sẽ là một tài liệu thiết thực và hữu ích cho các thầy cô giáo, các sinh viên nghiên cứu, học tập tiếng Việt và tiếng Hán nói riêng, nghiên cứu ngôn ngữ nói chung Đồng thời nâng cao hiệu

quả sử dụng tiếng Hán

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trình bày các khái niệm, các vấn đề liên quan đến luận văn như: khái niệm về thuật ngữ, tính chất thuật ngữ, khái niệm từ đơn tiết, đa tiết, vài nét

về phong trào Duy Tân Mậu Tuất và phong trào Tân văn hóa

CHƯƠNG 2: TỪ NGỮ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ VĂN BẢN TRONG PHONG TRÀO DUY TÂN MẬU TUẤT

Trong phong trào Duy Tân Mậu Tuất, luận văn lựa chọn tác phẩm của tác giả Lương Khải Siêu và tiến hành khảo sát từ ngữ chính trị - xã hội Sau khi nhận diện được các từ ngữ cần khảo sát, luận văn trình bày kết quả và đưa

ra một số nhận xét về từ ngữ chính trị - xã hội giai đoạn này

Trang 13

CHƯƠNG 3: TỪ NGỮ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ VĂN BẢN TRONG PHONG TRÀO TÂN VĂN HÓA

Trong phong trào Tân văn hóa Trung Quốc luận văn chọn văn bản của tác giả Hồ Thích để khảo sát Sau khi nhận diện được các từ chính trị - xã hội trong văn bản, luận văn trình bày kết quả và đưa ra những nhận xét về từ ngữ chính trị - xã hội giai đoạn này

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm thuật ngữ

1.1.1 Quan điểm của một số nhà ngôn ngữ học thế giới về thuật ngữ

Thuật ngữ là một bộ phận từ vựng quan trọng của ngôn ngữ Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, thuật ngữ là một bộ phận phát triển mạnh nhất so với các bộ phận khác trong từ vựng Hiện nay có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau của các tác giả về thuật ngữ Dưới đây xin chỉ đưa ra một số định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học thế giới để

làm cơ sở nghiên cứu

Trong tiếng Anh thuật ngữ được định nghĩa:

A word or expression that has a precise meaning in some uses or is peculiar

to a science, art, profession, or subject [48]

(Thuật ngữ là một từ hoặc ngữ có nghĩa chính xác trong một số ngữ cảnh, hoặc đặc chỉ một ngành, nghề hoặc lĩnh vực khoa học nào đó)

A word or expression used in a specialized field of knowledge [49]

(Thuật ngữ là một từ hoặc ngữ được sử dụng trong các lĩnh vực kiến thức chuyên môn)

Technical terminology is the specialized vocabulary of a field, the nomenclature These terms have specific definitions within the field, which is not necessarily the same as their meaning in common use [46]

(Thuật ngữ là bộ phận từ vựng chuyên dụng trong một lĩnh vực nào đó Những thuật ngữ này chỉ các khái niệm cụ thể trong lĩnh vực đó và nghĩa của thuật ngữ không nhất thiết phải giống với nghĩa của từ được sử dụng trong văn cảnh thông thường)

To give something a name or to describe it with a particular expression [45]

(Thuật ngữ là tên gọi cho một sự vật gì đó hoặc mô tả nó với một cụm

từ đặc biệt)

Trang 15

A word or compound word used in a specific context [47]

(Thuật ngữ là một từ hoặc từ ghép được sử dụng trong một ngữ cảnh đặc biệt)

Hay trong tiếng Trung Quốc, các nhà nghiên cứu định nghĩa về thuật

ngữ trong cuốn Đại từ điển bách khoa toàn thư của Trung Quốc định nghĩa: Thuật ngữ là từ ngữ chuyên dùng của các ngành khoa học, thuật ngữ có thể là

từ, cũng có thể là cụm từ, dùng để biểu thị chính xác sự vật, hiện tượng, đặc tính, quan hệ và quá trình thuộc các lĩnh vực chuyên môn như: kỹ thuật sản xuất, khoa học, nghệ thuật, cuộc sống xã hội,… [43]

Trong cuốn Từ điển bách khoa ngôn ngữ học định nghĩa: Thuật ngữ là những từ ngữ chuyên ngành dùng để biểu đạt chính xác các khái niệm thuộc các lĩnh vực chuyên môn như khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật,… thuật ngữ phản ánh bản chất, đặc trưng của sự vật và nhất thiết phải thống nhất với khái niệm khoa học [44]

1.1.2 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng đã đưa ra những định nghĩa về thuật ngữ ngày một đầy đủ và chính xác

Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ

Bất cứ ngành khoa học (tự nhiên hay xã hội) nào cũng cần phải có một tập hợp từ ngữ được xác định một cách nghiêm ngặt, dùng để biểu thị khái niệm về sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm trong ngành đó Lớp từ vựng bao gồm những đơn vị từ vựng như vậy được gọi là hệ thống thuật ngữ của mỗi ngành khoa học.[21, tr.64]

Trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu viết: Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị: từ vựng được dùng để biểu thị những

sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội Khác với từ

Trang 16

thông thường, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng có thực trong thực tế, đối tượng của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tương ứng Ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng là những khái niệm về các

sự vật, hiện tượng này đúng như chúng tồn tại trong tư duy Về mặt nội dung,

ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực tế khách quan theo cách riêng cùa ngôn ngữ Mỗi thuật ngữ như là một “cái nhãn” dán vào đối tượng này (cùng với khái niệm về chúng) tạo nên chính nội dung của nó [4, tr.221-222]

Từ ngữ thông thường có thể biểu thị sắc thái tình cảm, sắc thái phụ như thái

độ đánh giá con người…, có thể mang tính đa nghĩa, có thể đồng nghĩa, trái nghĩa, có thể đồng âm, trong khi thuật ngữ thì chỉ đơn nghĩa và chỉ mô tả là khái niệm hay khách thể

Trong Khái luận ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Tu viết: Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kĩ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên [30, tr.176] Hay trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại ông cũng viết: Thuật ngữ là những từ và những từ tố cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó… Nói cách khác, thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng

của một ngôn ngữ, chúng biểu thị khái niệm xác định trong các ngành khoa

học nên thuật ngữ phải tuân thủ tính nghiêm ngặt có nó Đặc điểm của thuật ngữ là một từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tùy từng ngành) [32, tr.114] Theo ông,

thuật ngữ giống từ thường ở chỗ đều tuân theo quy luật ngữ âm và ngữ pháp của ngôn ngữ đó Thuật ngữ khác từ thường ở chỗ là chỉ có một nghĩa và ít sắc thái tình cảm Một từ có thể đồng nghĩa, trái nghĩa nhưng khi trở thành thuật ngữ nó không có đồng nghĩa và trái nghĩa

Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình Việt ngữ viết: Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề

Trang 17

nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lí, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một ý nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định [3, tr.167] Ông đã

đưa ra định nghĩa thuật ngữ trong đó đồng thời có sự nhấn mạnh rằng thuật ngữ không phải chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học nhất đinh

Vân Lăng - Như Ý trong Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong mấy chục năm qua viết: Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính của khoa học, kĩ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của hiện thực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ [18, tr.44]

Hoàng Văn Hành đưa ra định nghĩa về thuật ngữ, trong đó chỉ thêm tính xác định của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị trong hệ thống những khái niệm

của một ngành khoa học nhất định: Thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ [14, tr.26]

Theo Nguyễn Thiện Giáp, trong Từ vựng học tiếng Việt đã đưa ra quan

niệm khá ngắn gọn nhưng đầy đủ những đặc trưng cần và đủ của thuật ngữ Nội dung

của thuật ngữ ít tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng: Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định

là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người [9, tr.308-309]

Có thể nói, thuật ngữ là một bộ phận không thể thiếu trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ và là bộ phận quan trọng trong ngôn ngữ khoa học Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ biểu thị chính xác khái niệm, đối tượng được

sử dụng trong một ngành khoa học cụ thể

Trang 18

1.1.3 Tính chất của thuật ngữ

Như phần trên đã đưa ra những định nghĩa về thuật ngữ và chúng ta thống nhất rằng: Thuật ngữ khoa học là một bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác những khái niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người Thuật ngữ có những tiêu chuẩn riêng, đặc điểm riêng

1.1.3.1 Tính chính xác

Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt dùng trong một ngành khoa học

cụ thể nào đó Nói đến thuật ngữ khoa học phải nói đến tính chính xác Điều

đó có nghĩa là thuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm khoa học mà không gây nhầm lẫn Xét từ góc độ mối quan hệ giữa từ với khái niệm, có thể thấy nếu như các khái niệm được biểu hiện trong các từ thông thường chỉ là các khái niệm thông thường, thì các khái niệm được biểu hiện trong thuật ngữ là các khái niệm chính xác của một khoa học nào đó Đối với từ ngữ thông thường ý nghĩa từ vựng có thể thay đổi trong mỗi một văn cảnh khác nhau, còn đối với thuật ngữ thì không thể Trong mọi văn cảnh khác nhau, cũng như khi đứng một mình, thuật ngữ không thay đổi về nội dung Để đặt ra được thuật ngữ chính xác cần cố gắng sao cho trong nội bộ một ngành khoa học mỗi khái niệm chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện và ngược lại mỗi thuật ngữ chỉ được dùng để chỉ một khái niệm, tức là không nên có hiện tượng đồng nghĩa Và chúng ta cũng không thể tuyệt đối hóa được nguyên tắc này Thuật ngữ có thể thay đổi khi có sự xuất hiện những biểu tượng mới, những quan niệm mới, khi các khái niệm do nó diễn đạt được xác lập lại Điều này thể hiện rõ trong lời giải thích thuật ở các từ điển thuật ngữ Trong các từ điển, thuật ngữ không được giải thích như các từ thông thường mà thiên về định nghĩa Nhưng muốn định nghĩa thuật ngữ phải hiểu tường tận về khoa học có thuật ngữ này

Trang 19

1.1.3.2 Tính hệ thống

Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ Mà ngôn ngữ của bất kỳ một quốc gia nào cũng mang tính hệ thống Bởi vì thuật ngữ là từ, cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên ngành nào đó Thuật ngữ phài nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ, mỗi lĩnh vực khoa học đều

có một khái niệm chặt chẽ được thể hiện ra bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống của nó thì nội dung thuật ngữ

của nó không còn nữa

Mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống khái niệm chặt chẽ, hữu hạn được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Như vậy, mỗi thuật ngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, đều nằm trong một hệ thống nhất định Giá trị của mỗi thuật ngữ được xác định bởi mối quan hệ của

nó với những thuật ngữ khác cùng trong hệ thống Các thuật ngữ không thể đứng biệt lập một mình mà bao giờ cũng là đơn vị của hệ thống khái niệm

nhất định Khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, trước khi đặt hệ thống ký hiệu (về hình thức) cần phải xác định cho được hệ thống khái niệm (về nội dung) của nó, đảm bảo đúng mối quan hệ logic nội dung, hình thức Không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ, mà phải hình dung, xác định vị trí của

nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm [17, tr.427]

Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ kéo theo tính hệ thống về hình thức của nó Điều đó nên hiểu khi nói đến tính hệ thống của thuật ngữ cần phải chú ý đến cả hai mặt hệ thống khái niệm (tức là xét về nội dung) và hệ

Trang 20

được bản sắc tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc, thì giữ gìn tính trong sáng của tiếng nói dân tộc là một việc vô vùng quan trọng Trong đó, điều nổi bật trước tiên là vấn đề giữ gìn trong sáng những từ ngữ chuyên môn, khoa học, giữ được tính chất dân tộc trong thuật ngữ Nhưng đề cao tính dân tộc trong thuật ngữ không có nghĩa là chúng ta bỏ những thuật ngữ Hán Việt mà trước đây

vẫn dùng, để thay vào đó là những từ thuần Việt, ví dụ như từ phát biểu không thể thay thế bằng từ nói Bởi vì, phát biểu thường chỉ ý kiến của người

nào đó trước một tập thể, hội nghị, buổi toạ đàm hay cuộc họp, nhằm khẳng

định, bày tỏ quan điểm chính thức của mình Trong khi từ nói thiên về nghĩa

ngôn ngữ giao tiếp thường ngày nói chung…

Cần thấy rằng, việc thay thế từ Hán Việt bằng từ thuần Việt, hoặc đã được Việt hoá để ngôn ngữ nói và viết hay hơn, phù hợp hơn, dễ hiểu và đại chúng hơn như thay thế những từ khó hiểu, tạo hiệu quả rõ rệt trong mọi

trường hợp ví dụ như từ: quầy thu ngân có thể thay bằng quầy thu tiền, đáo hạn có thể thay bằng đến hạn

Tuy nhiên, tính dân dộc của thuật ngữ khoa học chưa được đề cao, tình trạng sính chữ Hán vẫn còn như nhiều người thích dùng, ví dụ như thích dùng

từ Hội hồng thập tự hơn là dùng Hội chữ thập đỏ, dùng niên khóa hơn là dùng năm học, dùng hạ bán niên hơn là dùng nửa năm cuối,… Do đó, tính dân tộc

đòi hỏi chúng ta phải dùng thuật ngữ vay mượn một cách sáng tạo bởi thuật ngữ khoa học của một quốc gia phải là một bộ phận ngôn ngữ của dân tộc đó Đảm bảo tính chất dân tộc của thuật ngữ góp phần xây dựng tính đại chúng của thuật ngữ Có như vậy mới bảo vệ, phát triển được ngôn ngữ dân tộc, đồng thời hạn chế các yếu tố ngoại lai không cần thiết khiến cho một số thuật ngữ trở nên xa lạ, khó hiểu với người sử dụng

1.1.3.4 Tính quốc tế

Thuật ngữ là một bộ phận từ vựng đặc biệt, biểu thị những khái niệm khoa học chung cho những người nói các ngôn ngữ khác nhau, do đó, sự

Trang 21

thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích, thúc đẩy tiến trình phát triển khoa học của loài người nói chung, những khái niệm khoa học

mà thuật ngữ biểu thị là tài sản chung của nhân loại Đối với tính quốc tế của thuật ngữ người ta thông thường chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của

nó Theo chúng tôi, tính quốc tế của thuật ngữ không phải chỉ được thể hiện ở mặt hình thức cấu tạo ngữ âm, mà còn thể hiện ở hình thái bên trong của nó (nghĩa là cách chọn đặc trưng của sự vật, khái niệm, làm cơ sở định danh cho việc đặt thuật ngữ ), các ngôn ngữ dùng những thuật ngữ giống hoặc

tương tự nhau Ví dụ: khái niệm đài phát thanh, máy thu thanh nhưng các thứ

tiếng sau đây đều có sự gần giống nhau hoặc giống nhau về hình thức

Trong tiếng Pháp: radio; trong tiếng Anh: radio; trong tiếng Đức: radio; trong tiếng Việt: ra đi ô (Thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Latinh radiare nghĩa là phát ra, sản ra tia)

Tính quốc tế của thuật ngữ, về hình thức cấu tạo chỉ có tính chất tương đối Dường như không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất cả các ngôn ngữ Mức độ thống nhất ở các thuật ngữ là không giống nhau, bởi có thuật ngữ thống nhất trên phạm vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trên phạm vi hẹp hơn do truyền thống lịch sử hình thành các khu vực văn hóa khác nhau Các ngôn ngữ Ấn - Âu chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hy Lạp cho nên thuật ngữ thường bắt nguồn từ tiếng La tinh và Hy Lạp Tiếng Việt và một số tiếng khác

ở Đông Á như Nhật Bản, Triều Tiên xây dựng thuật ngữ phần lớn dựa trên

cơ sở các yếu tố gốc Hán

Có lẽ do sự thống nhất tương đối trong hình thức cấu tạo của thuật ngữ giữa các ngôn ngữ mà nhiều người đã coi nhẹ tính quốc tế của thuật ngữ Nếu chú ý tắt mặt nội dung của thuật ngữ thì phải thừa nhận rằng tính quốc tế là một đặc trưng quan trọng phân biệt thuật ngữ với những bộ phận từ vựng khác Thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau, trong khi đó phạm vi biểu hiện của các lớp từ

Trang 22

khác nhau nằm trong khuôn khổ của từng dân tộc Nếu hiểu tính quốc tế của thuật ngữ chỉ ở khía cạnh hình thức biểu hiện thì nó sẽ mâu thuẫn với yêu cầu

về tính dân tộc, tính dễ hiểu trong hình thức cấu tạo của thuật ngữ Cần phân biệt những tính chất với tư cách là đặc trưng phân biệt thuật nhữ với những lớp từ vựng khác và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ

Tính quốc tế của thuật ngữ rất quan trọng trong quá trình hội nhập hiện nay, bởi nhờ có chúng mà có thể khắc phục được rào cản ngôn ngữ và tri thức trong quá trình hợp tác quốc tế về mọi mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã

hội

1.1.3.5 Tính không biểu cảm

Thuật ngữ có đặc điểm là không biểu thị sắc thái tình cảm (của người sử dụng) Chúng ta không thể tìm thấy trọng hệ thống thuật ngữ những từ ngữ mang giá trị biểu cảm như các từ ngữ trong phong cách văn học nghệ thuật hay đời thường, bởi chúng được đặt ra chỉ để biểu thị khái niệm một ngành khoa học xác định và phụ thuộc vào sự phát triển của ngành khoa học đó Đọc một câu thơ, một câu chuyện thông thường, chúng ta có thể hiểu, hoặc tưởng tượng ra khung cảnh, hoặc rung động theo mức độ cảm nhận khác nhau của người đọc Khả năng dùng từ ngữ của tác giả làm người đọc buồn vui, yêu ghét, hoặc cảm thụ vẻ đẹp được tạo nên của đoạn thơ, đoạn văn đó - khả năng này chính là giá trị tu từ học của một từ Trong một hệ thống thuật ngữ chặt chẽ không cho phép có hiện tượng như vậy Mọi thuật ngữ khoa học không có giá trị tu từ học trong hệ thống của mình, nói một cách khác nó trung hoà về biểu cảm Thuật ngữ là những từ ngữ không mang giá trị biểu cảm như các từ ngữ trong phong cách văn học, nghệ thuật hay đời thường, bởi chúng được tạo ra là chỉ để biểu thị những khái niệm của một ngành khoa học xác định và

phụ thuộc vào sự phát triển của ngành khoa học đó

Thực tế thuật ngữ là một bộ phận của hệ thống từ vựng nói chung, có quan hệ với các từ khác trong hệ thống ngôn ngữ Cả từ thông thưởng lẫn

Trang 23

thuật ngữ đều chỉ sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp

của ngôn ngữ nói chung, do đó thuật ngữ không cách biệt hoàn toàn với từ

toàn dân và các lớp từ vựng khác không phải thuật ngữ

Như vậy, chính vì tính chất riêng của thuật ngữ khoa học là không mang sắc thái biểu cảm đã làm cho nó phân biệt rõ với từ trong từ vựng thông thường, từ nghề nghiệp, tiếng lóng và biệt ngữ mặc dù từ nghề nghiệp, tiếng

lóng, biệt ngữ cũng đều được dùng trong những phạm vi xã hội hạn hẹp

1.1.4 Thuật ngữ và vị trí của nó trong ngôn ngữ nói chung

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội có đặc thù và có quy luật phát triển nội tại của nó Ngôn ngữ có cấu tạo thành một hệ thống mà trong đó có hàng loạt hệ thống nhỏ có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là hệ thống từ vựng, hệ thống ngữ pháp và hệ thống âm vị Ở ba hệ thống này, ta thấy hệ thống từ vựng có tính chất mở và luôn gắn chặt với sự phát triển mọi mặt của xã hội

Vì vậy, đa dạng của ngôn ngữ là do hệ thống từ vựng của nó quyết định Thuật ngữ là một bộ phận nằm trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ, nó có

liên quan rất chặt chẽ đến tình hình phát triển của xã hội, bản thân nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các đối tượng lĩnh vực chuyên ngành Theo Từ điển Tiếng Việt thì đó là từ chuyên môn về một khoa học cho nên một từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế [35]

Thuật ngữ là một bộ phận từ quan trọng của một ngôn ngữ Theo như nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thì thuật ngữ là bộ phận phát triển mạnh nhất so với các bộ phận khác trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ Thuật ngữ phát triển theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và xã hội Ngày nay, khoa học kỹ thuật đang ngày càng phát triển, nên nhu cầu sử dụng thuật ngữ trong lĩnh vực này ngày càng nhiều

Trang 24

Thuật ngữ là từ chuyên môn về một môn khoa học nhất định, cho nên đòi hỏi nội dung thông báo của nó phải thật rõ ràng, chính xác Việc dùng các thuật ngữ khoa học không chỉ bó hẹp trong phạm vi của một thứ ngôn ngữ nào, cũng không hoàn toàn của riêng dân tộc nào mà nó phải thể hiện được sự phát triển về ngôn ngữ của toàn nhân loại Việc quy định tên gọi của các thuật ngữ khoa học nhằm làm cho tất cả mọi người đều hiểu nhau, hiểu việc làm

của nhau, kế tục và sáng tạo trong lĩnh vực khoa học của nhân loại

Việc quy định tên gọi các thuật ngữ biểu hiện bằng những khái niệm khoa học chung cho người nói các thứ tiếng khác nhau Vì vậy, sự đồng nhất giữa các thuật ngữ với các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích, nó thúc đẩy tiến

trình phát triển khoa học của loài người [10]

Nằm trong hệ thống từ vựng, thuật ngữ có liên quan nhiều đến các từ trong đó, thường là gắn liền với các từ thông thường, chịu ảnh hưởng của xã hội tác động, thuật ngữ cũng hay biến động, đó là khả năng tạo ra hàng loạt thuật ngữ mới trên nền tảng của ngôn ngữ chung Khoa học ngày nay đang phát triển mạnh mẽ, cho nên các thuật ngữ khoa học càng chịu sự ảnh hưởng của sự phát triển, nhiều môn khoa học mới đòi hỏi cần phải có nhiều thuật ngữ mới để đáp ứng kịp thời

Ở Việt Nam hiện nay, đội ngũ các nhà nghiên cứu thuật ngữ học chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu thuật ngữ chính trị xã hội Vấn đề cấp thiết đặt

ra trước mắt là phải chú trọng nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng và tiêu chuẩn hóa các hệ thống thuật ngữ chính trị xã hội nhằm tạo dựng những hệ thống chính xác, dần khắc phục để tiến tới hoàn chỉnh những tồn tại không đáng có

1.1.5 Thuật ngữ chính trị, xã hội và thuật ngữ các ngành khoa học khác

Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng nên có nhiều liên quan đến các

từ trong đó, thường là gắn liền với các từ thông thường, chưa chịu ảnh hưởng của xã hội tác động, thuật ngữ cũng hay biến động, đó là khả năng tạo ra hàng loạt thuật ngữ mới trên nền tảng của ngôn ngữ chung Khoa học ngày nay

Trang 25

ngày càng phát triển, cho nên các thuật ngữ khoa học càng chịu sự tác động của sự phát triển đó, nhiều môn, lĩnh vực khoa học mới cần phải có nhiều thuật ngữ ra đời Việc quy định tên gọi các thuật ngữ bằng những khái niệm khoa học chung là cần thiết để thúc đẩy tiến trình phát triển khoa học của loài người

Thuật ngữ chính trị - xã hội là những từ ngữ chuyên môn thường được dùng trong các ngành khoa học, chính trị xã hội mà nội dung của chúng là đánh dấu biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm, phạm trù; những sáng chế, phát minh, phát kiến; những tri thức trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn khác nhau về tự nhiên, xã hội, tư duy

Hệ thống thuật ngữ chính trị - xã hội không chỉ là hệ thống thuật ngữ chính trị thông thường mà chúng là những từ biểu thị các khái niệm có giá trị văn hoá mới (văn hoá của thế giới) nhưng lại được diễn đạt bằng vỏ ngôn ngữ

có vẻ quen thuộc với các nhà Nho Ví dụ như: Quốc dân, giáo dục, quả cảm, đạo đức, phát minh, tương quan, xã hội, quốc gia, chức phận, tự trị, chính sự, chính phủ, tiểu học, chuyên môn, giáo sư, chính thể, quan chế, quân chính, pháp luật, giao thông, cảnh sát, dân chính, tôn giáo, cơ sở, nhân loại, tự nhiên, cách trí, thế giới, đoàn kết, đoàn tụ, học thuật, bình đẳng, thất nghiệp, đại học đường, công ích, cơ quan, bại lộ, cộng đồng, sản nghiệp, học đường, công sở, khởi điểm, thuộc địa, thực dân, văn minh, chính trị, văn học, khai hoá, tiến hoá, hôn nhân, chủ nhân, bế quan, luân lý, chế tạo, lập hiến, nghị viện, nghị viên, tổng thống, cộng hoà, nước cộng hoà, chuyên chế, hành chính, nội các, tổng lý, tư pháp, ngoại vụ, nội vụ, lục quân, giám đốc, quản lý, quốc hội, tuyển cử, quyền lợi, trách nhiệm, quí tộc, chấp chính, an phận, tư tưởng, thế giới, chính biến, tính tình, nghĩa vụ, chức phận, hợp pháp, tông chỉ, công

lý, vệ sinh, sản nghiệp, lịch sử, địa lý, thiên văn, động vật, thực vật, khoáng học, địa học, hoá học, số học, công nghệ, tài sản, hộ khẩu, phổ thông, thông

Trang 26

hành, hàng hải, cai quản, đế quốc, ứng dụng, kỹ nghệ, thiết yếu, sư phạm, công nghiệp, y học

Khoa học không chỉ đơn thuần phản ánh một mặt của xã hội, tự nhiên…

mà nó còn thâu tóm toàn thể các mặt đó, đứng từ vị trí, góc độ khác nhau thì

có một chuyên ngành khoa học khác nhau, đảm nhiệm những công việc riêng của mình, song chúng đều có hệ thống các khái niệm chặt chẽ, có mức độ nhất định Thuật ngữ chính trị, xã hội hay bất cứ các thuật ngữ của một ngành khoa học nào cũng đều được quy định bởi hệ thống các lớp từ ngữ, từ đó chúng ta có thể nhận diện một cách cụ thể các ngành khoa học khác nhau

Thuật ngữ các ngành khoa học tự nhiên cũng như thuật ngữ chính trị -

xã hội, đều được cấu tạo bởi sự kết hợp của các từ ngữ thông thường hoặc từ gốc Hán, mang nội dung cụ thể của từng ngành Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là hai ngành khoa học nằm trên những lĩnh vực khác nhau, song nhìn chung các thuật ngữ đó đều không có hiện tượng đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm Riêng các thuật ngữ khoa học xã hội và nhất là chính trị -

xã hội mang nhiều nét trừu tượng

Khác với các ngành khoa học tự nhiên, các thuật ngữ chính trị, xã hội thường đi đôi với những sự kiện lịch sử, biến động của xã hội và nó linh hoạt hơn so với những thuật ngữ của các ngành khoa học khác Thuật ngữ chính trị, xã hội bao giờ cũng thể hiện một cách kịp thời và chính xác, theo một quan điểm và lập trường rõ ràng, nội dung biểu hiện của nó luôn luôn mang tính giai cấp, là vũ khí sắc bén để đấu tranh, gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Các ngành khoa học tự nhiên thì các thuật ngữ mang tính chính xác, cụ thể, ít có thay đổi về mặt ngữ nghĩa

Trang 27

1.1.6 Từ đơn tiết, từ đa tiết

1.1.6.1 Từ đơn tiết

Từ đơn tiết là ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính Văn tự Hán thuộc loại chữ

viết biểu ý – ghi âm tiết, cho nên mỗi chữ Hán thường là một từ đơn được biểu thị bằng một chữ, ô vuông

Ví dụ: Từ đơn tiết: 学học; quốc; đảng, mắt; minh; hỏa;

xa; nhân; thiên; …

Thời thượng cổ, sự hiểu biết về vạn vật của con người còn nhiều hạn chế, các khái niệm được đặt ra mô tả mỗi sự vật cũng tương đối đơn giản, thậm chí là phiến diện Vì vậy, từ ngữ lúc bấy giờ không đa dạng và phong phú Nhìn từ góc độ Hán ngữ hiện đại để quan sát, có thể nhận thấy rằng nhiều từ đơn âm tiết trong Hán ngữ cổ đại có thể đảm nhiệm được những khái niệm tương đối phức tạp Cho nên, trong Hán ngữ cổ đại từ đơn âm tiết chiếm

ưu thế

1.1.6.2 Từ đa tiết

Từ đa tiết là từ gồm ít nhất hai ngữ tố - hai âm tiết trở lên, có thể chia từ

đa tiết thành hai loại là từ song tiết và từ đa tiết

Ví dụ: Từ song tiết: 政府chính phủ; 法律 pháp luật; 文学 văn học;

Từ đa tiết: 留学生 lưu học sinh; 博物院bác vật viện; 老百姓lão bách tính;

Cùng với sự phát triển của xã hội, do nhiều nhu cầu khác nhau, từ đa tiết đã được sản sinh ra, bổ khuyết cho sự thiếu hụt của từ đơn tiết trong ngôn ngữ Từ đa tiết xuất hiện nhiều trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

1.2 Cách mạng dân chủ của Trung Quốc cận đại

Trang 28

Từ Chiến tranh Nha phiến trở đi, cuộc đấu tranh chống lại ngoại xâm của nhân dân Trung Quốc và cuộc đấu tranh lật đổ hoàng triều Thanh, xây dựng nền chính trị dân chủ đã hợp làm một, hợp thành ngọn sóng ngút trời cách mạng dân chủ Trung Quốc cận đại

Năm 1851, khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc nổ ra, kéo dài

14 năm đã làm lung lay sự thống trị của hoàng triều Thanh Khi Hồng Nhân Can - một trong những nhân vật lãnh đạo của quân khởi nghĩa lên nắm triều

chính, còn học tập phương Tây, đề xuất phương án cải cách xã hội Tư chính tân biên có tính chất tư bản chủ nghĩa đầu tiên của Trung Quốc cận đại, trên một

trình độ nhất định đã thúc đẩy tiến trình dân chủ của Trung Quốc cận đại

Cuối thế kỷ XIX đấu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản dân tộc đi bước đầu phát triển và lớn mạnh, giai cấp tư sản dân tộc đã dấy lên phong trào cải cách dân chủ

Năm 1898, đảng Duy Tân với nhân vật tiêu biểu là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đã cổ vũ hoàn đế Quang Tự thi hành biến pháp toàn diện Nội dung của nền chính sự mới bao gồm lập tòa báo, bưu điện, mở rộng ngôn luận, huấn luyện hải quân kiểu mới, cải cách chế độ khoa cử, mở các trường học kiểu mới, cải cách tài chính, đặt ra ngân sách và quyết toán nhà nước Tân pháp chỉ duy trì được 103 ngày, sau khi bi phái bảo thủ của Từ Hy thái hậu trấn áp, đã kết thúc thất bại

Năm 1894, người khởi xướng cải cách dân chủ Tôn Trung Sơn đã liên kết với hơn 20 Hoa kiều yêu nước, sáng lập đoàn thể cách mạng giai cấp tư sản đầu tiên của Trung Quốc - Hưng Trung hội, từ đây bước trên con đường cách mạng dân chủ của giai cấp tư sản Năm 1905, Trung Quốc Đồng minh

hội chính thức thành lập, cương lĩnh đuổi giặc ngoại xâm, khôi phục Trung Hoa, xây dựng dân quốc, bình đẳng ruộng đất do Tôn Trung Sơn đề xướng

đã trở thành cương lĩnh của cách mạng Sau đó, Tôn Trung Sơn đã phát triển

Trang 29

cương lĩnh 16 chữ thành ba chủ nghĩa lớn: dân tộc, dân quyền, dân sinh, gọi là chủ nghĩa Tam dân

Ngày 10 tháng 10 năm 1911, khởi nghĩa Vũ Xương đã bắn phát súng đầu tiên lật đổ sự thống trị của triểu Thanh Chỉ trong mấy tháng, các tỉnh lũ lượt hưởng ứng, nền thống trị của hoàng triều Thanh sụp đổ tan tành Các tỉnh

độc lập sau nhiều lần bàn bạc, đã thông qua Đại cương lĩnh tổ chức chính phủ lâm thời Trung Hoa Dân quốc, xác định chính phủ lâm thời thi hành thể chế

Hoa kiều đầu tư vào trong nước; đề xướng giáo dục đạo đức công dân với tôn chỉ là tự do, bình đẳng, bác ái, phản đối giáo dục luân lý cũ

Ngày 12 tháng 2 năm 1912, hoàng đế triều Thanh là Phổ Nghi tuyên bố thoái vị, cách mạng Tân Hợi đã kết thúc ở đây Cách mạng Tân Hợi đã có ý nghĩa lịch sử: Lật đổ hoàng triều thống trị Trung Quốc hơn 200 năm, xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế đã thi hành ở Trung Quốc hơn 2.000 năm, xây dựng thể chế chính trị dân chủ cộng hòa, giành được tiến bộ mang tính đột phá trong tiến trình văn minh chính trị Trung Quốc Nó đã khiến quan niệm dân chủ cộng hòa ăn sâu trong tâm khảm người dân, đặt nền móng tư tưởng cho cách mạng tư sản, cũng chuẩn bị điều kiện để dân tộc Trung Hoa theo kịp trào lưu thế giới, thực hiện hiện đại hóa chế độ chính trị

Trang 30

Sau Cách mạng Tân Hợi, chính trị Trung Quốc thụt lùi một thời gian dài đã xuất hiện cục diện phức tạp - quân phiệt hỗn chiến

Năm 1917, sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, một số phần

tử trí thức tiên tiến của Trung Quốc bắt đầu tiếp nhận chủ nghĩa Mác Năm

1919, cuộc vận động yêu nước Ngũ Tứ phản đế phản phong nổ ra, đồng thời

cũng là một cuộc vận động truyền bá dân chủ và văn hóa khoa học, đẩy mạnh thêm một bước sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác và phong trào vận động công nhân Trung Quốc

Năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập tại Thượng Hải, đánh dấu sự khởi đầu của cách mạng dân tộc dân chủ mới do giai cấp vô sản lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kết hợp chủ nghĩa Mác với thực tiễn Trung Quốc, trải qua rèn luyện thử thách, cuối cùng đã giành được thắng lợi

vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Nhật, chiến tranh giảỉ phóng và cách mạng dân tộc dân chủ mới

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, từ đấy bắt đầu mở ra một thiên sử mới của dân tộc Trung Hoa

1.2.1 Phong trào Duy Tân Mậu Tuất

Thất bại trong chiến tranh Giáp Ngọ bộc lộ càng sâu sắc thực lực vô cùng yếu kém của Trung Quốc Sau chiến tranh, chính phủ Mãn Thanh phải chi tiền chiến phí và bồi thường chiến tranh nên đã vay nợ đế quốc rất nhiều Nhân cơ hội này, các nước đế quốc ngày càng tăng cường xâu xé, Trung Quốc ngày càng rơi sâu xuống vũng bùn của chế độ nô dịch Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với bè lũ đế quốc ngày một sâu sắc Tiến trình chuyển mình của văn hóa Trung Quốc một lần nữa lay động, chuyển từ ôn hòa sang kịch liệt

Trước sự tăng cường xâu xé của các nước đế quốc, cộng thêm sự yếu hèn của tầng lớp thống trị, trong xã hội Trung Quốc bắt đầu xuất hiện trào lưu

Trang 31

tư tưởng mới, đòi cải cách chế độ, canh tân để cho đất nước sớm thoát khỏi ách nô lệ

Khởi đầu là cuộc vận động Tự cường (1862 - 1882) của một số người, trong đó có các đại thần triều Thanh là Lý Hồng Chương, Tăng Quốc Phiên, Phước Thành, Lê Thứ Xương, Tả Tôn Đường, Quế Lương, Và họ đã làm được một số việc như: Tăng Quốc Phiên ở Thượng Hải, lập xưởng chế súng đạn, lập trường dạy tiếng nước ngoài, phái học sinh sang học ở Âu Mỹ Tả Tông Đường ở Phúc Châu, lập xưởng đóng tàu và trường dạy hải quân Lý Hồng Chương ở Thiên Tân, lập Thủy sư học đường để huấn luyện binh sĩ, đồng thời phái học sinh ra nước ngoài học về hải quân và lục quân

Khi tin bại trận truyền đến Bắc Kinh, dân kinh thành phản đối rất mạnh

mẽ, những người đại diện cho giai cấp tư sản mới như Khang Hữu Vi 1927) lúc đó đang tham gia hội thi đã cùng Lương Khải Siêu (1873 - 1929) liên hợp các cử nhân 18 tỉnh tại kinh thành đến tụ họp tại am Tùng Côn cùng

(1858-thảo luận việc viết thư thỉnh nguyện lên triều đình Khang Hữu Vi, nhân đến

Bắc Kinh dự thi Hội, liền tranh thủ vận động được 1.300 sĩ tử cùng ký tên

vào Vạn ngôn thư 万言书 nêu ra kiến nghị gồm: không chấp nhận hiệp ước

Mã Quan với Nhật và cần làm gấp cuộc biến pháp Duy Tân (nói vắn là biến pháp) Thư này được các sĩ tử ký tên rồi dâng lên Viện đô sát Trong khi đó, Lương Khải Siêu cũng đã thảo thư với nội dung tương tự, kèm theo chữ ký của 190 cử nhân tỉnh Quảng Đông Sau đó, hai thầy trò cùng vào dâng thư, nhưng thư không đến được tay Hoàng đế, vì bị Viện đô sát từ chối Tuy nhiên, việc làm này của hai ông đã gây chấn động lớn ở kinh thành Bởi từ thế

kỷ 7, đời Nam Tống đến bấy giờ (cuối thế kỷ 19), mới lại thấy một phong trào học sinh dâng thỉnh nguyện lên Hoàng đế

Khang Hữu Vi - lãnh tụ phong trào Duy tân sinh ra ở Quảng Đông, vùng đất cửa cảng đầu tiên phương Tây xâm lược Trung Quốc, vì vậy ảnh

Trang 32

hưởng của văn hóa phương Tây đã tác động đến nơi đây khá mãnh liệt Giai đoạn ông ra đời là giai đoạn cuộc đấu tranh với phương Tây bằng biện pháp gay gắt đã kết thúc mà chuyển sang bằng con đường phát triển kinh tế Điều kiện không gian và thời gian đã định vị sự xuất thân của ông, điều kiện lịch sử Trung Quốc khi đó cũng cho ông cả một khoảng trời một tiến trình nhận thức

về sự thua kém của Trung Quốc và con đường phải đổi mới Là một nhà trí

thức, thi đỗ và làm việc tại kinh đô Bắc Kinh đã cho ông được sống trong môi trường trí thức Sự tiếp thu mạnh mẽ xu hướng tiến bộ của học sinh và tấm gương Nhật Bản, nước láng giềng nhỏ bé, luôn bị Trung Quốc coi khinh đã duy tân thành công khiến Khang Hữu Vi dễ dàng nhận thấy sự thua kém của văn hóa Trung Quốc, sự tiến bộ của văn hóa phương Tây Ông chủ trương phải học tập phương Tây một cách toàn diện Nhận thức lớn lao của ông xuất

hiện trong Đại đồng thư 大同书, ông kết luận: xã hội phải phát triển, biến

chuyển chứ không thể đứng yên tại chỗ Xã hội tương lai sẽ là một xã hội không có đế vương, người người bình đẳng, thiên hạ là của chung Ông đề ra

tư tưởng xã hội Trung Quốc cần phải thay đổi bởi thay đổi luôn luôn là bản

chất của xã hội Tư tuởng này được thể hiện trong Khổng Tử cải chế khảo孔子改制考 Trong cuốn sách này, Khang Hữu Vi cho rằng Khổng Tử là một nhà cải cách; những điều phương Tây đề ra thì Khổng Tử cùng đã nhận thức được từ rất lâu rồi Do vậy, duy tân chính là trở về với dân tộc và dân chủ, là hợp với đạo của người Trung Quốc Chủ nghĩa yêu nước và yêu cầu của thời

đại đã đẩy ông cùng trí thức yêu nước hợp thành một đội ngũ Duy Tân

Tháng 6 năm 1896, Khang Hữu Vi (lúc này đã đỗ Tiến sĩ, đang làm

ở bộ Công) nên có cơ hội hoạt động cho chủ trương Duy Tân Khang Hữu Vi

và Lương Khải Siêu lại dâng thư đề nghị biến pháp lần nữa Lần này nhờ có thầy dạy Hoàng đế là Trạng nguyên Ông Đồng Hòa, giúp đỡ nên thư mới đến

Trang 33

tay Hoàng đế Sau đó, hai thầy trò được mời vào cung gặp Hoàng đế để trình bày cặn kẽ chủ trương và cách thức tiến hành Khi nghe hai ông trình bày chủ trương biến pháp xong, Hoàng đế Quang Tự tỏ ý rất đồng tình, nên từ đó, hoạt động Duy Tân càng có thể phát triển

Để chuẩn bị lý luận, tư tưởng và tổ chức cho công cuộc biến pháp,

tháng 7 - 1896, Khang Hữu Vi ra báo Trung ngoại kí văn 中外纪闻 tuyên

truyền tư tưởng Duy tân Tháng 8 - 1896, ông tổ chức Cường học hội giao

cho Lương Khải Siêu làm chủ bút và làm lãnh đạo hội Kể từ lúc ấy, Lương Khải Siêu viết báo, dịch sách ở Đại học đường, và cùng các thành viên trong hội đi diễn thuyết nhiều nơi, lập ra Cường học hội ở các tỉnh lớn như Thượng Hải, Nam Kinh, Hồ Nam, v.v Ngoài ra, Lương Khải Siêu còn cùng bạn bè là Đàm Tự Đồng, Hoàng Tuân Hiến, Đường Tài Thường, Uông Khang Niên ra

tờ Thời vụ báo 时务报 ở Thượng Hải và tờ Tương học báo 将学报 tại Hồ

Nam Trên tờ Thời vụ báo, ông lần lượt cho đăng bài Luận báo quán hữu ích

vu quốc sự 论报馆有益于国事 và Biến pháp thông nghĩa 变法通议, gây được tiếng vang trong và ngoài nước Trong thời gian này, ông còn soạn

bảng Tây học thư mục biểu 西学书目表, liệt kê ra 300 loại sách đã phiên dịch

từ tiếng Âu Mỹ ra tiếng Trung Quốc trong hơn 20 năm, để mọi người biết mà tìm đọc

Phái thủ cựu lo sợ trước ảnh hưởng của tư tưởng Duy Tân nên đã ra lệnh cấm các hội này Tuy vậy, phái Duy Tân vẫn hoạt động mạnh mẽ Các tổ chức Duy Tân được thành lập ở khắp nơi

Ngày 11 tháng 6 năm 1898 (Mậu Tuất), công cuộc biến pháp bắt đầu bằng hàng loạt các sắc lệnh của Hoàng đế, như mở trường học, làm đường sắt, cải cách chế độ thi cử, giảm biên chế các tổ chức hành chính, luyện tập quân đội theo lối mới, Trong khoảng chưa đầy ba tháng, hơn một trăm đạo chiếu

Trang 34

được ban ra, làm cho cả trong triều lẫn ngoài tỉnh xôn xao Đúng là toàn biến

và tốc biến như khẩu hiệu đã đề ra Lúc này Khang Hữu Vi và Lương Khải

Siêu đều được Hoàng đế phong chức Kinh khanh để có điều kiện lo cho công việc Cuộc biến pháp đang tiến hành, thì vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của

phái thủ cựu (sử gọi là Hậu đảng), mà người đứng đầu là Thái hậu Từ Hi

Đàm Tự Đồng, một thành viên của phái Duy Tân, thấy Thái hậu Từ Hi cản trở công cuộc đổi mới, bèn khuyên Hoàng đế Quang Tự đoạt lấy chính quyền Hoàng đế nghe lời bèn triệu Viên Thế Khải lúc đó đang thống lĩnh 7.000 quân về Bắc Kinh bàn việc, có ý dùng quân của Viên để bao vây Di Hòa Viên Chẳng may việc đó bị tiết lộ (chính Viên Thế Khải phản Hoàng đế Quang Tự, vì thấy Từ Hi và phe cánh của bà hãy còn mạnh) Thái hậu Từ Hi vội vàng trở về Bắc Kinh, họp Hoàng đế Quang Tự và các đại thần lại Quát mắng tất cả một hồi, bà tuyên bố rằng Hoàng đế bệnh, bà phải thính chính trở lại, và sai quân đem giam Hoàng đế Quang Tự ở Doanh Đài, trong hồ Tây Uyển Sau đó, bà ban lệnh cấm sĩ dân dâng thư, phế bỏ cục Quan báo, đình chỉ việc lập học hiệu, dùng lại lối văn tám vế để chọn kẻ sĩ, bỏ khoa thi đặc biệt về kinh tế, bỏ các tổng cục nông công thương, cấm hội họp, cấm báo quán và cho truy nã các chủ bút… Tóm lại là chỉ trong một hai tuần, bà đã

làm cuộc toàn hủy và tốc hủy các cải cách của Hoàng đế Quang Tự, sử gọi

là Chính biến Mậu Tuất (1898), là Bách nhật Duy Tân (Duy tân trăm ngày)

Phong trào Duy Tân chủ yếu hoạt động trong tầng lớp quan lại, sĩ phu

có ý thức tiếp thu tư tưởng biến cách, tầng lớp địa chủ tiến bộ, phú thương và

tư sản dân tộc mới lên, họ là những đại diện cho tư tưởng tư sản tự do, mong muốn biến đổi xã hội theo ước vọng hạn chế của mình Có một điều phải khẳng định rằng, mặc dù còn nhiều hạn chế trong nhận thức song tham gia phong trào Duy tân là những trí thức yêu nước Họ là những người muốn

tuyên chiến với những quan niệm, tư tưởng xưa cũ Trung Quốc là duy nhất, Trời không đổi đạo cũng không đổi (thiên bất biến đạo diệc bất biến)

Trang 35

1.2.2 Phong trào Tân văn hóa

Mốc thời gian đánh dấu sự mở màn của phong trào Tân văn hóa là sự ra

đời của tạp chí Thanh niên 青年 (sau đổi thành Tân thanh niên 新青年) năm

1915 do Trần Độc Tú chủ biên Mục đích của Trần Độc Tú khi sáng lập tạp chí là nhằm giúp thanh niên Trung Quốc xây dựng lại tư tưởng, nhân cách Tôn chỉ cơ bản của cuộc vận động là lấy sự chuyển biến về đạo đức, xác lập nhân sinh luận mới của con người để thúc đẩy biến cách tư tưởng, văn hoá,

đặc biệt là biến cách đạo đức Vì vậy, ông luôn đề cập tới lý luận giác ngộ luân lý là sự giác ngộ cuối cùng, không có cuộc cách mạng đạo đức, cách mạng tư tưởng triệt để thì tất cả cách cuộc biến cách trên các lĩnh vực khác đều trở nên vô nghĩa, đều không thể thành công, hoặc cho dù có thành công thì cũng không tồn tại lâu dài Ông nhìn thấy cái mà xã hội Trung Quốc lúc

ấy cần nhất, bức thiết nhất, cơ bản nhất không phải là biến cách chính trị chế

độ, cũng không phải là cải cách kinh tế mà là sự chuyển biến căn bản về tư tưởng; ông đưa ra kết luận: muốn thoát khỏi lạc hậu, hủ bại để đi đến phồn

vinh trước hết phải triệt để cải biến thế giới quan, nhân sinh quan, xây dựng lại thế giới ý thức của người Trung Quốc Chỉ khi hoàn thành cuộc cách mạng

tư tưởng này thì nền chính trị chế độ, kinh tế Trung Quốc mới có triển vọng phát triển nhanh chóng Nội dung cơ bản của phong trào Tân văn hoá là dùng

thái độ phê phán để xem xét lại các giá trị văn hóa truyền thống (Hồ Thích)

Trên cơ sở thuyết tiến hoá, Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu đã nhìn thấy sự xung đột dữ dội giữa văn hóa truyền thống và cuộc sống hiện đại Trung Quốc không chỉ lạc hậu về kinh tế, chính trị mà còn lạc hậu cả trong quan niệm luân

lý đạo đức, do dó phải lấy luân lý, đạo đức phong kiến cổ hủ làm đối tượng đấu tranh

Các trí thức giai cấp tư sản tiến bộ Trung Quốc cho rằng: sự ra đời của

xã hội mới phải gắn liền với sự chuyển hình trong kết cấu tầng sâu của văn

Trang 36

hoá tư tưởng Là trí thức được tiếp xúc, cọ xát với văn hóa phương Tây qua những năm tháng du học ở trời Tây hay tại Nhật Bản, Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu, Hồ Thích, Lỗ Tấn nhận thấy: trước đây, trong thời kỳ chiến tranh Nha phiến, giai cấp địa chủ phong kiến như Lâm Tắc Từ, Ngụy Nguyên mới chỉ nhận thức được phải học tập khoa học phương Tây để chế lại người Tây; phái Dương Vụ sau đó lại muốn dùng khoa học tiên tiến phương Tây để cứu vãn triều Thanh đã mục ruỗng; phái Duy Tân trong biến pháp Mậu Tuất muốn dùng khoa học phương Tây để cầu phú cường Các trí thức tư sản cho rằng, để có thể theo kịp trào lưu thời đại, dân tộc Trung Hoa cần phải triệt để

từ bỏ tư duy truyền thống lạc hậu, giải phóng sự ngáng trở về tư tưởng, phải lấy dân chủ và khoa học làm vũ khí để tự giải phóng mình và xây dựng xã hội tương lai trên nền tảng thành quả dân chủ và khoa học Trên cơ sở lý luận này, họ đã phát động một phong trào cải cách tư tưởng chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc Là dấu hiệu cho thấy công cuộc cải cách, hội nhập của văn hoá Trung Quốc đã đi vào chiều sâu tư tưởng Phong trào Tân văn hoá giống như làn gió thu quét sạch lá vàng tư tưởng phong kiến thống trị Trung Quốc hơn hai nghìn năm, cởi bỏ sự trói buộc tư tưởng con người khỏi những giáo điều phong kiến, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và dân chủ ở Trung Quốc, dấy lên phong trào đi tìm chân lý, đi tìm sự giải phóng trong giới tư tưởng, tạo bước chuẩn bị cho phong trào yêu nước Ngũ Tứ (04/05/1919)

Tâm thế, quan niệm về hệ giá trị, phương thức tư duy và tập quán sinh hoạt của một dân tộc phản ánh văn hóa tinh thần cùa dân tộc ấy Sự áp chế kéo dài hơn 2000 năm của văn hóa chuyên chế phong kiến đã khiến người

Trung Quốc thiếu hụt nghiêm trọng quan niệm về Dân chủ (Democracy) và Khoa học (Science)

Trong phong trào Tân văn hóa, Hồ Thích và các trí thức tư sản cho

rằng, để có thể theo kịp trào lưu thời đại phải lấy Dân chủ và Khoa học làm

Trang 37

vũ khí để tự giải phóng mình và xây dựng xã hội tương lai Họ chủ trương

Dân chủ và Khoa học Dân chủ và Khoa học ở đây là gì? Tân văn hóa vận động gọi Dân chủ là Đức tiên sinh 德先生 và Khoa học là Tái tiên sinh 赛先

生 Trong ngôn ngữ phương Tây, Đức tiên sinh tức Democracy; Dân chủ là chỉ tư tưởng dân chủ và chính trị dân chủ; Tái tiên sinh tức Science, Khoa học

là chỉ quy luật khoa học tự nhiên và tinh thần khoa học Trần Độc Tú trong

Kính cáo thanh niên có viết: Khoa học là gì? Là khái niệm, là sự tổng hợp hiện tượng khách quan của con người đối với sự vật Ông chủ trương cần dùng phương pháp khoa học để nghiên cứu tất cả các hiện tượng, chúng ta phải sửa những sai lầm trước đây, không chỉ cần đề xướng khoa học tự nhiên

mà khi nghiên cứu, thuyết minh tất cả các học vấn đều phải nghiêm túc sử dụng phương pháp khoa học mới có thể tránh được những tư tưởng mơ hồ, lời nói dối làm đen tối bầu trời Để có thể thực hiện được Khoa học và Dân chủ, các nhà Tân văn hoá kêu gọi phản đối phong kiến chuyên chế ngu muội,

coi luân lý, đạo đức và tư tưởng Nho gia của xã hội phong kiến là đối tượng…

Nhận thức được vấn đề này, những chủ tướng của Tân văn hóa vận

động đã bắt tay vào một cuộc giải phẫu quốc dân tính cho người dân Trần Độc Tú chỉ ra rằng: Quốc dân tính của người Trung Quốc một là chỉ biết có gia (nhà), không biết có quốc (nước); hai là chi biết nghe Thiên mệnh, không biết tận lực A dua, khoa trương, giả tạo, viển vông chính là những nguyên

nhân sâu xa dẫn tới nguy cơ dân tộc Lỗ Tấn cũng cho rằng, giải cứu đồng bào, trước hết phải cắt bỏ căn bệnh xấu cho quốc dân Họ dường như không hẹn mà gặp, đã tìm được tiếng nói đồng nhất trong việc đưa ra phương thuốc

mang tên Dân chủ và Khoa học để chữa trị

Trang 38

Để có thể thực hiện được Khoa học và Dân chủ, các nhà Tân văn hoá

kêu gọi phản đối phong kiến chuyên chế ngu muội, coi luân lý, đạo đức và tư tưởng Nho gia của xã hội phong kiến là đối tượng Sự phê phán kịch liệt nhất

chính là khẩu hiệu Tạp lạn Khổng gia điếm 砸烂孔家店 Nhằm đả kích ý tưởng tôn sùng Khổng giáo làm quốc giáo của Khang Hữu Vi, Trần Độc Tú

đã có viết hàng loạt các bài viết như: Hiến pháp dữ Khổng giáo 宪法与孔教;

Khổng Tử chi đạo dữ hiện đại sinh hoạt 孔子之道与现代生活; Tái luận Khổng giáo vấn đề 再论孔教问题 Ông từng nói: Muốn bảo vệ Đức tiên sinh không thể không phản đối Khổng giáo, lễ pháp, trinh tiết, luân lý cũ, chính trị cũ; muốn bảo vệ Tái tiên sinh không thể không phản đổi văn nghệ cũ, tôn giáo cũ; muốn bảo vệ Đức tiên sinh và Tái tiên sinh không thể không phản đối Quốc túy và văn học cũ [38, tr.307] Lý Đại Chiêu càng triệt để hơn: Thà chịu mất đi Quốc túy của quá khứ chứ không chịu để hiện tại và tương lai dân tộc

bị tiêu vong do không phù hợp với thế giới [37, tr.91] Ông bài xích Khổng Tử

là đống xương khô tàn của 2000 năm trước, là tấm bài hộ mệnh của chuyên chế đế vương bao đời Đối với người dân dưới gông cùm của tư tưởng phong kiến, Trần Độc Tú công kích người dân Trung Quốc đúng là một đĩa cát rời rạc, một đám xuẩn ngốc, người người đều mang chủ nghĩa cả nhân hẹp hòi, không có tinh thần tập thể, xấu xa, nhất là những loại tham tiền bán nước, lấy của công làm giàu cá nhân Đa số người mang tâm lý đàn ông để tóc tết, đàn

bà bó chân, hút nha phiến, đánh mạt chược, mọi sự đều do Thiên tử quyết định Những lời nói này như nhát kiếm sắc bén đâm thẳng vào tư tưởng

phong kiến nghìn năm nay Nó khiến cho người Trung Quốc sau này ý thức

được rằng: cái được coi là Quốc túy chính là nguyên nhân khiến Trung Quốc

lạc hậu Nếu không căn bản loại bỏ tư tưởng, quan niệm truyền thống nay đã lạc hậu khỏi đầu óc thì người Trung Quốc khó mà thoát khỏi bị người khác

Trang 39

làm nhục Các phần tử trí thức Tân văn hóa vận động còn hô hào mọi người

hãy học tập dân chủ của phương Tây để loại trừ sự ngu muội, học tập khoa học của phương Tây để loại trừ sự nghèo khó Trong sáu loại tư tưởng mà Trần Độc Tú đề xuất tại Kính cáo Thanh niên, điều đầu tiên chính là tư tưởng

tự chủ mà không làm nô lệ, ông viết: Mỗi người, ai cũng đều có quyền tự chủ, không lệ thuộc vào người khác, không phải có nghĩa vụ lệ thuộc vào người khác, giải phóng bản thân, thoát ly khỏi trói buộc của thân phận nô lệ, hoàn toàn tự chủ tự do Như vậy, dân chủ tức là tự mình làm chủ, do dân làm chủ, người người bình đẳng Tiếp đến, ở điều thứ sáu ông viết: Châu Âu cận đại sở

dĩ ưu việt hơn các dân tộc khác là vì khoa học hưng thịnh, vì có dân quyền Giống như phương tiện đi lại có 2 bánh xe vậy; và: người dân muốn thoát khỏi thời kỳ mông muội, cần phải gấp gáp đuổi theo họ, cần phải coi trọng khoa học và dân chủ [38, tr.78] Ở cách nói này, Trần Độc Tú muốn người Trung Quốc thoát khỏi sự ràng buộc của tư tưởng Trung thể Tây dụng tư

tưởng học tập cái ưu việt của văn hóa phương Tây để bổ sung cho văn hóa truyền thống nhằm phục hưng văn hoá truyền thống và chế ngự văn hóa ngoại lai mà Dương Vụ, Duy Tân Mậu Tuất từng đề xướng trước đây Đồng thời, không được đặt dân tộc Trung Hoa, văn hóa Trung Hoa trong sự đối lập với thế giới phương Tây, văn hoá phương Tây mà cần phải đứng ở góc nhìn tổng thể để đánh giá quá trình phát sinh, phát triển của tất cả các nền văn hoá Theo ông, để thực hiện sự chuyển mình từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại cần phải trải qua một quá trình cách tân về văn hóa chính trị - kinh tế - tư tưởng trên nền tảng tinh thần dân tộc mới Có thể nói, đây là một quan niệm mang tính vượt thời đại của Trần Độc Tú, đồng thời phản ánh nhu cầu bức thiết về hội nhập và phát triển của xã hội Trung Quốc trong thời đại mới

Với tư cách là cuộc vận động tiếp nối cách mạng Tân Hợi trong vấn đề

giải phóng tư tưởng, mang mục đích cứu vong đồ tồn, phong trào Tân văn hóa

không chỉ phản ứng lại với đạo đức cũ, truyền thống cũ mà còn có hình thức

Trang 40

mới trong việc giới thiệu tư tưởng mới, tri thức mới thông qua cuộc cách mạng trong lĩnh vực văn học Giương cao ngọn cờ đại cách mạng văn học

sớm nhất là Hồ Thích Tháng 1 - 1917, trong bài viết Văn học cải lương xô nghị 文学改良刍议 Hồ Thích đề xuất cải lương văn học, dùng văn Bạch thoại thay thế Văn ngôn văn trong sáng tác Tháng 2 năm đó, Trần Độc Tú

trong Văn học cách mạng luận 文学革命论 lại đề xuất Ba chủ nghĩa lớn

nhằm xây dựng nền văn học phản đối chủ nghĩa phong kiến, thống nhất nội dung và hình thức cách mạng văn học là: lật đổ văn học quý tộc, xây dựng nền văn học quốc dân; lật đổ văn học cổ điển, xây dựng nền văn học tả thực; lật đổ văn học sơn lâm, xây dựng nền văn học xã hội Tháng 5 - 1918, Lỗ Tấn

cho ra đời cuốn tiểu thuyết bạch thoại Nhật ký người điên 狂人日记 đả kích

mạnh mẽ lễ giáo phong kiến ăn thịt người, tạo nên mẫu mực cho sự kết hợp

giữa hình thức và nội dung của cách mạng văn học, mở ra con đường phát triển cho nền văn học quốc dân mới của Trung Quốc

Nếu lấy phong trào Ngũ tứ (năm 1919) làm mốc phân chia thì quá trình hình thành và phát triển của phong trào Tân văn hóa có thể chia làm hai giai đoạn Giai đoạn trước Ngũ Tứ chủ yếu là tuyên truyền tư tưởng dân chủ và khoa học, phê phán cương thường luân lý phong kiến và thúc đẩy cách mạng văn học Sau Ngũ Tứ, do ảnh hưởng từ cách mạng tháng 10 Nga, các hoạt động của phong trào Tân văn hóa đã tạo điều kiện, nền tảng vững chắc cho sự

du nhập và truyền bá của chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc, biến vận động văn hoá dân chủ cũ chuyển thành cuộc vận động văn hoá dân chủ kiểu mới dưới

sự chỉ đạo của lý luận chủ nghĩa Mác Lý Đại Chiêu trong Ngã đích Mã Khắc

Tư chú ý quan我的马克思注意观 đã giới thiệu có hệ thống quan điểm duy vật, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác Cùng với việc truyền bá ngày càng sâu rộng lý luận chủ nghĩa Mác, các tờ

Ngày đăng: 01/12/2015, 08:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Văn bản khảo sát (phong trào Duy Tân Mậu Tuất) - Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)
Bảng 2.1 Văn bản khảo sát (phong trào Duy Tân Mậu Tuất) (Trang 44)
Bảng 2.2: Từ đơn tiết (văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất) - Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)
Bảng 2.2 Từ đơn tiết (văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất) (Trang 44)
Bảng 2.3: Từ đa tiết (văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất) - Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)
Bảng 2.3 Từ đa tiết (văn bản phong trào Duy Tân Mậu Tuất) (Trang 45)
Bảng 3.6: Từ đơn tiết (văn bản phong trào Tân văn hóa) - Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)
Bảng 3.6 Từ đơn tiết (văn bản phong trào Tân văn hóa) (Trang 74)
Bảng 3.5: Văn bản khảo sát (phong trào Tân văn hóa) - Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)
Bảng 3.5 Văn bản khảo sát (phong trào Tân văn hóa) (Trang 74)
Bảng 3.7: Từ đa tiết (văn bản phong trào Tân văn hóa) - Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)
Bảng 3.7 Từ đa tiết (văn bản phong trào Tân văn hóa) (Trang 75)
Bảng 3.8: Từ chính trị - xã hội (văn bản phong trào Tân văn hóa) - Khảo sát từ ngữ chính trị xã hội trên vài văn bản của hai cuộc vận động thời cận đại trung quốc (phong trào duy tân mậu tuất và phong trào tân văn hóa)
Bảng 3.8 Từ chính trị - xã hội (văn bản phong trào Tân văn hóa) (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w