1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự khẳng định và ngợi ca con người đại việt trong thơ văn đời trần

81 977 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 507,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng thế mà nhiều tác phẩm đã được đưa vào trong chương trình giảng dạy của các cấp học từ Phổ thông, Cao đẳng cho tới Đại học trong suốt nhiều năm qua như: Hịch tướng sĩ, Thuật hoài, T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA: NGỮ VĂN -*** -

ĐOÀN THỊ MINH

SỰ KHẲNG ĐỊNH VÀ NGỢI CA CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT TRONG THƠ VĂN ĐỜI TRẦN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN THỊ TÍNH

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Đoàn Thị Minh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin khẳng định đề tài: “Sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần” là kết quả nghiên cứu của riêng mình đồng thời đề tài này

không trùng với kết quả của các tác giả khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Đoàn Thị Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài……… …1

2 Lịch sử vấn đề……… 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… ….5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………… 5

5 Phương pháp nghiên cứu……… 5

6 Đóng góp của khoá luận.……… .6

7 Bố cục của khóa luận……… … 6

Nội dung Chương 1 Những vấn đề chung về quan niệm con người; lịch sử, văn học đời Trần 1.1.Quan điểm về con người……… ……… 7

1.1.1 Quan điểm triết học……… 7

1.1.2 Quan điểm nghệ thuật về con người trong văn học………… 13

1.2 Những vấn đề về lịch sử và văn học đời Trần……… …16

1.2.1 Đặc điểm về hoàn cảnh lịch sử – xã hội đời Trần……… … 16

1.2.2 Đặc điểm chung về văn học đời Trần……… ….23

Chương 2 Sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần 2.1 Nội dung khẳng định, ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần 29

2.1.1 Khẳng định, ngợi ca tài năng, công lao, sự nghiệp……… 29

2.1.2 Khẳng định, ngợi ca đức độ……… …50

2.2 Nghệ thuật khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần……… …74

Kết luận……… ……… 85

Tài liệu tham khảo……… ………….87

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời Trần, có thể nói là thời đại phát triển rực rỡ, là mốc son sáng chói trong lịch sử dân tộc với những chiến công hào hùng trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước; với những thành tựu về: chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế Nguyên nhân nào đã tạo nên một thời đại huy hoàng như vậy? Đó là vì thời đại ấy

đã sản sinh ra những con người Đại Việt kiệt xuất - những con người không chỉ có tài năng mà còn có đức độ Con người là nhân tố, là chủ thể tạo nên lịch sử: thời đại huy hoàng bởi con người hào hùng, thời đại suy tàn bởi con người đánh mất mình trong sa hoa, trụy lạc.Vương triều nhà Trần bền vững, đất nước nhà Trần phồn vinh, hưng thịnh là bởi người lãnh đạo quốc gia là những bậc anh hùng dân tộc, vừa có tài cai trị vừa giỏi chiến lược, vừa có kiến thức quảng bác vừa có tài kinh bang tế thế

Họ sống quên mình phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân Khi đất nước cần, những con người tài năng ấy có thể cầm gươm, lên ngựa, đứng trước ba quân, xông pha trận mạc giữa làn tên mũi giáo, cứu nước thoát khỏi ách ngoại xâm Khi đất nước hòa bình thì có những đường hướng, chính sách đúng đắn để cai trị Vì vậy, mỗi khi đọc lại những trang sử hào hùng của thời đại vàng son ấy, lòng chúng ta không khỏi dâng lên một cảm xúc khó tả Hình ảnh của con người Đại Việt với tài năng và đức độ tuyệt vời đã làm dâng lên trong lòng ta một niềm tự hào sâu sắc

Văn học Việt Nam trung đại từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, được coi là mở đầu cho nền văn học viết (văn học thành văn) của nước ta Văn học Việt Nam thời Trung đại vừa hấp thụ kinh nghiệm nghệ thuật của văn học dân gian, tiếp nhận tinh hoa văn học các nước lân cận (chủ yếu là Trung Hoa), vừa có sự phát triển sáng tạo làm nên một nền văn học có nhiều thành tựu rưc rỡ Văn học Việt Nam thời Trung đại kéo dài trong suốt mười thế kỷ, gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc Vì thế, có thể chia thành các thời kỳ, các giai đoạn khác nhau tương ứng với các thời kỳ, các giai đoạn khác nhau trong lịch sử

Mở đầu và đặt nền móng cho nền Văn học Việt Nam Trung đại là văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV Trong bốn thế kỷ đó, nổi bật lên là văn học gắn với

Trang 6

hai triều đại: nhà Lý (1009 - 1225) và nhà Trần (1226 - 1400) Đặc biệt, văn học đời Trần xuất hiện nhiều tác giả nổi tiếng như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Trương Hán Siêu,… và nhiều tác phẩm có giá trị,

ở nhiều thể loại khác nhau như: thơ, phú, hịch, biểu, truyện kí,… với nội dung

phong phú Một trong những nội dung nổi bật của văn học đời Trần đó là: sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt

Không hề quá khi ta cho rằng văn học đời Trần là một giai đoạn văn học phát triển rực rỡ Bằng chứng là giai đoạn này có nhiều tác phẩm xuất sắc, được coi là những áng văn thơ bất hủ của thời đại, có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời gian Chẳng thế mà nhiều tác phẩm đã được đưa vào trong chương trình giảng dạy của các cấp học từ Phổ thông, Cao đẳng cho tới Đại học trong suốt nhiều năm qua

như: Hịch tướng sĩ, Thuật hoài, Tụng giá hoàn kinh sư, Bạch Đằng giang phú,…

Với những thành tựu kể trên, văn học đời Trần là một giai đoạn văn học quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học Trung đại Việt Nam cũng như toàn bộ nền văn học Việt Nam Nó là một mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển vượt bậc của văn học Song, do đặc điểm là khó tiếp cận, khó nắm bắt bởi sự cách biệt về thời đại cho nên văn học đời Trần chưa được nhiều người, đặc biệt là những thế hệ độc giả trẻ hôm nay quan tâm nghiên cứu một cách đúng mức Chưa có hiều tác giả tập trung đi vào nghiên cứu theo chiều sâu những khía cạnh khác nhau của giai đoạn văn học này

Khi nghiên cứu đề tài: “Sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần”, người viết mong muốn khóa luận sẽ giới thiệu thêm cho bạn

đọc một số kiến thức về văn học đời Trần và góp phần làm phong phú hơn nguồn tài liệu tham khảo về văn học giai đoạn này

2 Lịch sử vấn đề

Ngót ngàn năm qua, thơ văn đời Trần với những thành tựu rực rỡ vẫn giữ nguyên được giá trị của nó cho đến ngày hôm nay Hơn thế nữa nó còn được đánh giá là một thời đại huy hoàng về thi ca của dân tộc Có nhiều sáng tác ở giai đoạn này đã trở thành bất hủ, thành mẫu mực cho thơ văn mọi thời đại

Trang 7

Nghiên cứu về văn học đời Trần, có những tác giả như: Nguyễn Đăng Na, Trần Ngọc Vượng, Đoàn Thị Thu Vân, Lê Thu Yến, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Phạm Hùng,… Tuy nhiên, mỗi nhà nghiên cứu chỉ đề cập tới một hoặc một vài lĩnh vực thuộc giai đoạn văn học này chứ không nghiên cứu tất cả

Trong cuốn “Văn học Trung đại Việt Nam”, tập 1, (2009) do Nguyễn Đăng

Na (chủ biên), nhà xuất bản Đại học Sư phạm, đề cập tới một số vấn đề về giai đoạn văn học Lý – Trần Nhưng những vấn đề đó chỉ mang tính chất giới thiệu một cách

khái quát về đặc trưng của văn học giai đoạn này Tác giả nhấn mạnh: “Giai đoạn thế kỷ X - XIV đã đặt nền móng một cách vững chắc và toàn diện cho văn học Trung đại Việt Nam từ chữ viết đến thể loại, từ nội dung đến nghệ thuật, từ phương thức tư duy nghệ thuật đến cách tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo truyền thống nghệ thuật riêng cho dân tộc mình” [20, 8] Cuốn sách cũng nhắc tới

một số cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này: cảm hứng tôn giáo, cảm hứng yêu nước, cảm hứng thế sự nhưng chỉ là giới thiệu chứ chưa đi sâu nghiên cứu

Trong “Văn học Việt Nam, Văn học Trung đại – những công trình nghiên cứu” (2003), của Lê Thu Yến (chủ biên), Đoàn Thị Thu Vân, Lê Văn Lực – nhà

xuất bản Giáo dục, có lựa chọn một số bài viết đi sâu vào nghiên cứu hình tượng nhân vật trong văn học Nhưng những bài viết đó lại nghiên cứu về hình tượng con người trong toàn bộ nền văn học Trung đại nói chung chứ chưa tập trung vào nghiên cứu con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần

Đinh Gia Khánh (chủ biên), Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII) (2005), nhà xuất bản Giáo dục, có bàn về phẩm chất và khả năng của con

người Đại Việt nhưng cũng chưa đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của nội dung

này mà chỉ có tính chất khái quát, đưa ra để giới thiệu Tác giả viết: “Thơ văn đời Trần khẳng định giá trị của con người, vai trò của nhân dân và do đó có ý nghĩa nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc Chủ nghĩa nhân đạo ấy gắn liền với chủ nghĩa yêu nước, bởi vì khi khẳng định giá trị của con người trong việc việc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc thì các tác giả cũng đồng thời thể hiện niềm tin tưởng ở phẩm chất và khả năng của dân tộc mình” [101, 4]

Trang 8

Các tác giả: Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc

Vượng, Trần Nho Thìn trong cuốn “Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam” (1997), Nhà xuất bản Giáo dục, đã hướng tới việc đưa ra một quan niệm

chung, một số khía cạnh lý luận cơ bản, từ đó tiến hành nghiên cứu các hiện tượng tác gia, tác phẩm, giai đoạn văn học tiêu biểu và những nguyên tắc chủ yếu chi phối cách thức tư duy về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam Cuốn sách cũng

dành hẳn một chương (chương III) để viết và luận bàn về “Vấn đề con người trong văn học thời đại Lý – Trần” nhưng các tác giả lại nghiêng về mặt lý luận, con người

được quan niệm thể hiện như thế nào trong văn học

Viết về thơ văn đời Trần còn có nhiều nhà nghiên cứu và các công trình nghiên cứu khác Nhưng nhìn chung, các tác giả và công trình nghiên cứu đó hoặc

là đề cập đến những vấn đề mang tính khái quát cả giai đoạn văn học, hoặc là có đề cập tới con người Đại Việt trong thơ văn nhưng lại trên những khía cạnh khác hay chưa đi sâu vào nghiên cứu Nhìn chung, chưa có một tác giả hay một công trình

nghiên cứu nào tập trung vào nghiên cứu vần đề: “Sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần” hoặc là có đề cập tới nhưng chưa thấu đáo

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu “Sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ ca đời Trần” là sự tiếp thu, tổng hợp những thành quả của các nhà

nghiên cứu đi trước nhưng có sự tập trung và đi sâu hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ ngiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về một vấn đề trong văn học đời Trần

Nhiệm vụ của khóa luận là đi nghiên cứu:

Thơ văn đời Trần khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt ở những phương diện nào? (Nội dung khẳng định, ngợi ca)

Thơ văn đời Trần khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt như thế nào? (Nghệ thuật khẳng định, ngợi ca)

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những con người Đại Việt được khẳng định và ngợi ca trong văn học đời Trần

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là tất cả những sáng tác thơ văn được xếp vào giai đoạn văn học đời Trần

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành được khoá luận này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp tiếp cận hệ thống

Phương pháp phân tích tổng hợp

6 Đóng góp của khóa luận

Nghiên cứu về “Sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần”, khóa luận có thể góp phần nào đó cung cấp thêm cho bạn đọc một

số kiến thức về nhà Trần, hoàn cảnh lịch sử - xã hội nước ta dưới đời Trần và văn học đời Trần Đặc biệt là khóa luận giúp cho bạn đọc hiểu hơn về con người Việt Nam ta dưới triều đại nhà Trần Khóa luận cũng có thể dùng làm tà liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm có hai chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về quan niệm con người; lịch sử, văn học đời Trần

Chương 2: Sự khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn Đời Trần

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN NIỆM

CON NGƯỜI; LỊCH SỬ, VĂN HỌC ĐỜI TRẦN 1.1 Quan điểm về con người

1.1.1 Quan điểm triết học

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại Mỗi một trường phái, mỗi một thời kỳ lại có những quan niệm khác nhau

về con người

1.1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác

Thứ nhất là quan niệm về con người trong triết học phương Đông

Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Các trường phái triết học - tôn giáo phương Đông như: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận

Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất

và tinh thần) Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt

Như vậy, dù bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên, suy đến cùng, con người theo quan niệm của các học thuyết tôn giáo phương Đông đều phản ánh sai lầm về bản chất con người, hướng tới thế giới quan thần linh Trong triết học phương Đông, với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm, hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú Khổng Tử cho bản chất con người do

“thiên mệnh” chi phối quyết định, đức “nhân” chính là giá trị cao nhất của con

người, đặc biệt là người quân tử Mạnh Tử quy định tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng của phong tục tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp Vì vậy, phải thông qua tu dưỡng, rèn luyện để giữ được đạo đức cho mình Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòng

Trang 11

nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hướng tới các giá trị đạo đức tốt đẹp Triết học Tuân Tử lại cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác nhưng có thể cải biến được, phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được

Trong triết học phương Đông còn có quan niệm duy tâm cho rằng trời và con

người còn có thể hòa hợp với nhau (thiên nhân hợp nhất) Đổng Trọng Thư, một

người kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan quan niệm rằng: trời

và con người có thể thông hiểu lẫn nhau (thiên nhân cảm ứng) Nhìn chung, đây là quan điểm duy tâm, quy cuộc đời con người vào vai trò quyết định của “thiên mệnh”

Lão Tử, người mở đầu cho trường phái Đạo gia cho rằng con người sinh ra

từ “Đạo” Do vậy, con người phải sống “vô vi”, theo lẽ tự nhiên, thuần phát, không

hành động một cách giả tạo, gò ép, trái với tự nhiên Quan niệm này biểu hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo gia

Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trong triết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy tâm chất phác, ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội

Thứ hai là quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước Mác

Triết học phương Tây trước Mác biểu hiện nhiều quan niệm khác nhau về con người: các trường phái triết học, tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo, nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí Theo Kitô giáo, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt Con người về bản chất là không có tội Con người gồm hai phần: thể xác và linh hồn Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh cửu Linh hồn là giá trị cao nhất trong con người Vì vậy phải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn để hướng đến Thiên đường vĩnh cửu

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của tư duy triết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu lẫn nhau

Trang 12

Con người là một tiểu vũ trụ trong thế giới bao la Quan niệm của Arixtôt về con người cho rằng chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là bậc thang cao nhất của vũ trụ Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu đã có sự phân biệt con người với tự nhiên, nhưng chỉ là biểu hiện bên ngoài về tồn tại con người

Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm do Thượng đế sáng tạo Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do Thượng đế sắp đặt Trí tuệ con người thấp hơn lý trí anh minh sáng suốt của Thượng đế Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống nhưng đành bằng lòng với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là thế giới bên kia

Triết học thời kỳ Phục Hưng – cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọi gông cùm chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho con người

Tuy nhiên, để nhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặt sinh học và về mặt xã hội thì chưa có trường phái nào đạt được Con người mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội

Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như Cantơ, Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng chủ nghĩa duy tâm Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, thông qua sự vận

động của “ ý niệm tuyệt đối”, đã cho rằng con người là hiện thân của “ ý niệm tuyệt đối” Bước diễu hành của “ ý niệm tuyệt đối” thông qua quá trình tự ý thức của tư

tưởng con người đã đưa con người trở về với giá trị tinh thần, giá trị bản thể và cao nhất trong đời sống con người Hêghen cũng là người trình bày một cách có hệ thống về các quy luật của quá trình tư duy của con người, làm rõ cơ chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con người Mặc dù con người được nhận thức từ góc độ duy tâm khách quan, nhưng Hêghen là người khẳng định vai trò của chủ thể con người đối với lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch

sử

Trang 13

Tư tưởng triết học của nhà duy vật Phoiơbắc đã vượt qua những hạn chế trong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người một cách đích thực Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản chất con người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên Con người là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên Con người và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời Đó là những con người cá biệt, đa dạng, phong phú, không ai giống ai Quan điểm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yếu tố tự nhiên, cảm tính, nhằm giải phóng cá nhân con người Tuy nhiên, Phoiơbắc không thấy được bản chất xã hội trong đời sống con người, tách con người khỏi điều kiện lịch sử cụ thể Con người của Phoiơbắc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng

Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác,

dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hay duy vật siêu hình đều không phản ánh đúng bản chất con người Nhìn chung, các quan niệm trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa mặt tự nhiên - sinh học mà không thấy được mặt xã hội trong đời sống con người

1.1.1.2 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người

Trước hết triết họcMác – Lênin coi con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Con người là một bộ phận của tự nhiên Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa nhất của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Con người phải đấu tranh để sinh tồn Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người phải trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người Như vậy, con người trước hết

là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ

Trang 14

thể của con người và mối quan hệ của nó với tự nhiên Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm – sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người

Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất

C Mác và Ph Ăngghen đã nêu lên vai trò lao động sản xuất của con người:

“Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình” [3,

197]

Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến

toàn bộ thế giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ thế giới tự nhiên” [3, 197]

Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội

Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng, quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên xã hội

Tiếp theo, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội

Trang 15

Chúng ta có thể thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó suy đến cùng đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất

cả các mối quan hệ khác và mọi trừng mực liên quan đến con người Mác đã nêu lên

luận đề: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan

hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Chủ nghĩa Mác - Lênin còn khẳng định con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lich sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử

- xã hội C Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” [3, 199]

Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Con người thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con

Trang 16

người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người

1.1.2 Quan điểm nghệ thuật về con người trong văn học

Nhà văn Macxim Gorki đã từng có câu nói nổi tiếng: “Văn học là nhân học” Văn học là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người Con người là đối tượng

trung tâm, đối tượng chủ yếu của sáng tạo văn học Con người bao giờ cũng được người nghệ sĩ nhìn nhận, khai thác bằng quan niệm nghệ thuật Quan niệm về con người trong nghệ thuật tuy không đồng nhất với con người trong triết học nhưng lại

có những ảnh hưởng nhất định Vì thế, tính ổn định về nghệ thuật luôn chịu sự quy định của các quan điểm chính trị, xã hội và tư tưởng triết học đương thời

Khi hướng tới đối tượng trung tâm của mình là con người, tác phẩm văn chương không chỉ thể hiện đời sống và phẩm chất của con người, không chỉ đặt ra

và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa con người và con người, giữa con người với tự nhiên mà quan trọng hơn là tìm hiểu, khám phá và phát hiện

ra những bí ẩn nằm trong chiều sâu, những chiều kích khác nhau của con người

Văn học nghiên cứu và thể hiện con người một cách đặc thù Văn học không ngừng khám phá, chiếm lĩnh những biểu hiện nhiều mặt của đời sống, tính cách, cảm xúc, số phận con người Con người trong văn học được thể hiện thông qua sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ, kết tinh ở hình tượng nghệ thuật Khi sáng tạo ra nhân vật, bao giờ nhà văn cũng miêu tả theo cách hình dung, cảm nhận của mình Mọi quan hệ và chiều hướng con đường đời của nhân vật đều được thuyết minh từ

“cái nhìn nghệ thuật”, từ quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của người

nghệ sĩ Nhà văn quan niệm về con người như thế nào thì sẽ lựa chọn những phương tiện nghệ thuật thể hiện phù hợp như thế Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nghệ thuật trong đó

Nhân vật chính là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, đồ vật… văn học đều thể hiện con người Nhưng con

Trang 17

người trong văn học không chỉ được phản ánh như một góc độ nhìn nhận đời sống, một chỗ đứng để khám phá hiện thực mà quan trọng không kém, là còn được phản ánh như những hiện tượng tiêu biểu cho các quan hệ xã hội nhất định Văn học nhận thức con người như những tính cách Đó là những con người sống, cá thể, cảm tính nhưng lại thể hiện rõ nét những phẩm chất có ý nghĩa xã hội, những kiểu quan hệ xã hội Chẳng hạn, những tính cách hiền lành, dũng cảm, chân thành, vị tha, trung thủy hay tham lam, keo kiệt,… Con người trong văn học bao giờ cũng mang một nội dung đạo đức nhất định Tính cách mà văn học thể hiện không trừu tượng như những khái niệm về các phẩm chất mà là các phẩm chất thể hiện trong cuộc sống của con người, trong ý nghĩ, việc làm, trong lời nói, hành động của con người Con người trong văn học có những phẩm chất phù hợp với chuẩn mực, lại có những phẩm chất phi chuẩn mực hay phản chuẩn mực

Tóm lại, trong tác phẩm văn học, con người được phản ánh một cách sinh động, hấp dẫn về tất cả mọi mặt, con người tự nhiên, con người xã hội với tất cả các đặc điểm từ ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động cho đến tính cách, phẩm chất, tâm lý giống như những con người có thật ở ngoài đời Và con người hiện lên như thế nào, số phận của con người ra sao, nhằm thể hiện nội dung gì… tất cả đều phụ thuộc vào cách nhìn nhận, quan điểm chủ quan của người nghệ sĩ Do đó, ở mỗi tác phẩm (của cùng một tác giả hay của các tác giả khác nhau), ở mỗi nhà văn, ở mỗi trào lưu, mỗi khuynh hướng hay ở mỗi thời đại khác nhau lại có những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó Cho nên, đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học Nguyễn Văn Siêu (1795 –

1872) từ thế kỷ XIX đã có ngận xét: “Văn chương có hai loại đáng thờ và không đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú vào văn chương Loại đáng thờ luôn chuyên chú vào con người”

Trang 18

1.2 Những vấn đề về lịch sử và văn học đời Trần

1.2.1 Đặc điểm về hoàn cảnh lịch sử – xã hội đời Trần

Tổ tiên của dòng dõi nhà Trần có nguồn gốc là dân tộc Mân ở quận Tân Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa Trần Quốc Kinh từ Phúc Kiến sang Việt Nam vào khoảng năm 1110 thời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127), lúc đầu cư trú tại xã

An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (ngày nay), sống bằng nghề chài lưới trên sông nước Trên đường làm ăn chuyển dần vào hương Túc Mạc, huyện Thiên Trường – nay là vùng đất thuộc Thái Bình, Nam Định Trần Quốc Kinh lấy vợ ở Túc Mạc, sinh ra Trần Hấp Trần Hấp sinh ra Trần Lý và Trần Hoằng Nghi Trần

Lý sinh ra Trần Tự Khánh và Trần Thừa (cha của Trần Cảnh); Trần Hoằng Nghi sinh được ba người con trai là: Trần An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ Độ

Người mở đầu cho triều Trần ở đây là Trần Cảnh (Trần Thái Tông, 1218 - 1277) nhưng người đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của nhà Trần lại là Trần Thủ Độ (1194 – 1264) Khi nhà Lý suy vi, mọi quyền lực rơi hết vào tay Trần Thủ

Độ Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Lý Huệ Tông (1194 – 1226) nhường ngôi cho công chúa Chiêu Hoàng (1218 -1278) rồi cắt tóc đi

tu ở chùa Chân Giáo Liền sau đó, Trần thủ Độ lại sắp xếp cho Lý Chiêu Hoàng (lên

7 tuổi) lấy con trai thứ của Trần Thừa (1184 – 1234) là Trần Cảnh (lên 8 tuổi) Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ lại ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị Khi lên ngôi, Trần Cảnh còn nhỏ, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Nhiếp chính Trần Thừa

Nhà Trần đã đưa ra nhiều quy định cũng như các chính sách nhằm củng cố

vương triều và cai trị đất nước

Về tổ chức chính quyền và quan chế

Năm 1242, nhà Trần đã đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ Đó là các lộ: Thiên Trường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng, Khoái, Thanh hóa, Hoàng Giang, Lạng Giang Mỗi lộ đều có quyển dân tịch

để kiểm soát dân số trong lộ

Trang 19

Về quan chế, ở triều đình trung ương có các chức Tam thái, Tam thiếu, Tam

tư (đồ, mã, không) Tướng quốc phần nhiều là hư hàm, mô phỏng nhà Tống (Trung Quốc) Các chức quan có trách nhiệm cụ thể trong triều đình là Hành khiển, giúp việc sau có các Thượng thư, Thị lang Về ngạch võ, có các chức Phiêu kỵ, Thượng tướng quân, Tiết chế tướng quân Các chức vụ quan trọng trong triều lúc đầu phần lớn là do các quý tộc tông thất nắm giữ Bên cạnh các chức quan quản lý, đời Trần ngày càng phát triển các chức quan chuyên môn như Bí thư sảnh, Quốc tử giám; các chức quan kinh tế như Chuyển vận sứ, Hà đê sứ, Đồn điền sứ; các chức quan văn hóa như: Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Thái y viện, Thái chúc ty Ở cấp địa phương

có các chức An phủ tránh phó sứ, Tri huyện, Chuyển vận sứ, Tuần sắt, Lệnh úy, Chủ bạ, trông coi các việc hộ và hình ở địa phương

Về tổ chức quân đội

Quân đội nhà Trần bao gồm các loại quân: cấm quân bảo vệ kinh thành, quân địa phương các lộ và quân của các quý tộc gọi là vương hầu gia đồng, gia binh Quân Tứ sương coi giữ bốn cửa thành, quân Thiên tử bảo vệ nhà vua được coi là tin cậy nhất, tuyển chọn từ các lộ Thiên Trường và Long Hưng là nơi quê hương của

họ Trần

Các đơn vị quân đội được gọi là quân Đứng đầu mỗi quân là một Đại Tướng quân Mỗi quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có Chánh phó đại đội Mỗi đội có 5 ngũ, đứng đầu mỗi ngũ được gọi là Đầu ngũ

Nhà Trần tuyển quân từ các làng xã, kén chọn những người có sức khỏe Quân lính được trang bị những loại chiến bào, áo da, sử dụng các loại pháo (tức

máy bắn đá) và súng phun lửa gọi là “hỏa khí” Có nhiều loại thuyền chiến các cỡ

Nhà Trần cho lập võ đường ở phía tây thành Thăng Long để huấn luyện quân sĩ Nhằm có lực lượng cần thiết khi chống giặc xâm lược, nhà Trần kế tục chính sách

“ngụ binh ư nông” (giữ quân lính ở nhà nông) của nhà Lý, vừa đảm bảo số quân

cần thiết khi có chiến tranh xảy tới

Trang 20

Về luật pháp

Cũng giống như nhà Lý, dưới thời Trần đã tồn tại song song hai hình thức pháp luật: luật thành văn do nhà nước ban hành và luật tục trong các làng xã Theo

tinh thần “vương độ khoan mãnh” (đức độ nhà vua vừa khoan dung vừa nghiêm

ngặt), luật pháp nhà Trần vừa hàm chứa những quan điểm thân dân, vừa tỏ ra hà khắc với một số trọng tội

Năm 1230, Trần Thái Tông đã cho xét các luật lệ đời trước, sửa đổi, san định

thể lệ cho làm ra sách Quốc triều Thông chế gồm 20 quyển Năm 1341, triều đình

đã cử Trương Hán Siêu (? – 1354) và Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370) biên soạn

bộ Hoàng triều đại điển và khảo đính bộ Hình thư để ban hành

Cơ quan chuyên trách việc kiện tụng lúc đầu là Đô Vệ phủ, sau đổi thành Nam ty viện Thẩm hình viện phối hợp tham gia các vụ xét xử, nắm giữ chức năng kiểm sát Các ngạch quan sử án gọi là Kiểm pháp quan, được lựa chọn trong số các quan chức có uy tín về đức độ, công minh và thanh liêm, trên danh nghĩa nhà vua là người có quyền quyết định tối hậu trong việc xét duyệt các vụ trọng án

Pháp luật nhà Trần bảo vệ nghiêm ngặt chính thể quân chủ và chế độ đẳng cấp Đẳng cấp quý tộc quan liêu được pháp luật ưu đãi, có quyền dùng tiền chuộc tội Pháp luật đời Trần cũng đã bảo vệ quyền tư hữu của người dân Có những điều lệnh quy định về cách thức cầm cố, mua bán ruộng đất, làm văn tự, viết chúc thư, người làm chứng Tội ăn cắp sẽ bị trừng trị rất nặng

Trong các làng xã, dân chúng vẫn tuân theo các phong tục cổ truyền, các bô lão giữ vai trò dàn xếp và xét xử

Về kinh tế

Nhà trần đã thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích nông nghiệp

Cùng với chính sách “ngụ binh ư nông” kết hợp kinh tế với quốc phòng, triều đình

đã lập ra Ty khuyến nông, đặt ra các chức quan Hà đê, Chánh phó sứ Năm 1248, cho đắp đê dọc theo sông Nhị Hà từ đầu nguồn đến bờ biển Hàng năm, mọi người đều có nghĩa vụ lao động tu sửa đê Các vua Trần cũng thường xuyên đi thăm việc

đắp sửa đê

Trang 21

Để đảm bảo nguồn thu nhập cho nhà nước, các nông dân làng xã đã phải chịu những nghĩa vụ tô thuế và lao dịch Tô chủ yếu tính vào ruộng công tính bằng thóc, theo diện tích ruộng đất, hàm ý cày ruộng của nhà vua Thuế chủ yếu đánh vào ruộng tư, tính bằng tiền theo đầu người Năm 1378, nhà nước bắt đầu đánh thuế thân, đồng loạt thu mỗi hộ đinh nam ba quan tiền

Là vương triều quân chủ quý tộc, nhà Trần đã phát triển bộ phận kinh tế quý tộc quan liêu, với chế độ thái ấp điền trang, sử dụng lao động của tầng lớp nông nô,

nô tỳ

Nhìn chung, dưới triều Trần, một chế độ cân bằng ổn định về kinh tế đã đươc duy trì giữa các yếu tố công hữu và tư hữu; giữa nông nghiệp và kinh tế hàng hóa; giữa quyền lực, lợi ích của nhà nước với các đẳng cấp quý tộc quan liêu cũng như của khối bình dân làng xã

Về văn hóa xã hội

Đến nhà Trần, việc thi cử và mở trường dạy học được quan tâm và mở rộng Trước kia, dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi Tam trường để lấy cử nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ra giúp nước chứ chưa có mở định kỳ Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi thái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm lại có một kỳ thi Năm 1247, nhà vua lại cho đặt ra khảo thi Tam khôi để lấy Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa Lê Văn Hưu (1230 -?) là người đầu tiên đậu Bảng nhãn Trường học cũng được mở thêm Ngoài Quốc Tử Giám có tại Kinh đô từ thời nhà Lý, nhà Trần còn cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ thư và Ngũ kinh Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng

Đời nhà Trần văn học rất được mở mang, Nho học cũng rất được toàn thịnh Các vua Thái Tông, Thánh Tông (1240 – 1290), Nhân Tông (1258 – 2308), Anh Tông (1276 – 1320), Minh Tông (1300 – 1357) đều là những người giỏi văn chương, thơ phú; nhiều danh tướng: Trần Quốc Tuấn (1232 – 1300), Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320), Trần Quang Khải (1241 – 1294) cũng sáng tác nhiều thơ văn Thời

Trần còn xuất hiện nhiều học giả nổi tiếng như: Lê Văn Hưu - tác giả của bộ Đại

Trang 22

Việt sử ký, là bộ sử đầu tiên của Việt Nam; Mạc Đĩnh Chi (1284 – 1361), nổi tiếng

là một ông Trạng rất mực thanh liêm,đức độ và có tài ứng đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên phải nể phục; Chu Văn An (? – 1370) là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, cương trực,…

Về tôn giáo, nhìn chung, nhà Trần đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như: tín ngưỡng dân

gian, Phật, Đạo, Nho Đó chính là hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên”, “Tam giáo tịnh tồn” (chủ yếu là sự kết hợp giữa Phật giáo và Nho giáo) Nhà Trần, đặc biệt là

ở thời kỳ đầu rất tôn chuộng đạo Phật, đạo phật là tôn giáo thịnh đạt nhất, được coi

như một quốc giáo Trần Thái Tông từng nói: “Đạo giáo của đức Phật là để mở lòng mê muội, là con đường tỏ rõ lẽ tử sinh Còn trách nhiệm nặng nề của tiên thánh là để mực thước cho tương lai, nêu khuôn phép cho hậu thế” Vua Trần Nhân Tông thì chủ trương: “sống với đời, vui vì đạo” Đạo Phật đã ảnh hưởng đến đường

lối cai trị của nhà nước (chính sách thân dân, khoan dung), là đối trọng của Nho giáo, tạo nên thế cân bằng tôn giáo Nhưng đến cuối đời Trần, khi Nho giáo và Nho học phát triển, trong điều kiện xuất hiện một bộ phận tăng ni biến chất thì Phật giáo

đã bước đầu bị một số Nho sĩ như: Lê Văn Hưu, Lê Quát (? - ?), Trương Hán Siêu, bài xích.Thậm chí Hồ Quý Ly (1336 - ?) còn ra lệnh sa thải bớt tăng đồ, ai chưa đến tuổi 50 thì phải hoàn tục Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phật giáo vẫn rất sâu đậm trong

xã hội, nhất là ở trong các làng xã

Cùng tồn tại với Phật giáo nhưng Nho giáo đời Trần đã có xu hướng phát triển ngược trở lại với Phật giáo Trong khi thế lực Phật giáo có chiều hướng suy giảm dần thì thế lực của Nho giáo lại càng ngày càng tăng tiến Từ chỗ lúc đầu mới chỉ là một nền văn hóa giáo dục được nhà nước chấp nhận trên nguyên tắc dùng làm học thuyết trị nước tới chỗ sau đó (đến cuối nhà Trần) đã trở nên một ý thức hệ đang trên đà thống trị xã hội

Ngoài Phật giáo và Nho giáo, ở đời Trần, các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như: tín ngưỡng thần linh, vật linh, tục thờ mẫu, tục sùng bái anh hùng, pha trộn với

Trang 23

Đạo giáo đã được tự do phát triển và khuyến khích Còn về Lão giáo, dưới đời Trần cũng rất được nhân dân ngưỡng mộ

Trong khoảng 175 năm trị vì (1226 – 1400), trải qua 13 đời vua, nhìn chung triều Trần có thể chia làm 3 thời kỳ: thời kỳ thứ nhất là từ Trần Thái Tông đến Trần Nhân Tông, là thời kỳ xây dựng và chống Nguyên – Mông; thời kỳ thứ hai từ Trần Anh Tông đến Trần Hiến Tông (1319 – 1341) là thời kỳ kế tục; thời kỳ thứ ba từ Trần Dụ Tông (1336 – 1369) - sau khi Thượng hoàng Minh Tông mất, tới khi kết thúc là thời kỳ suy vi

Trong thời kỳ đầu, nhà Trần đã củng cố và xây dựng lên một đất nước phồn thịnh, đặc biệt là ở dưới đời vua Nhân Tông Nhà Trần đã dẹp được nội loạn, chấm dứt cục diện chia cắt của đất nước, tập trung củng cố nội chính sau nhiều năm nghiêng ngả dưới đời Lý Đặc biệt là vua quan nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần kháng chiến chông quân Nguyên thành công vào các năm 1258, 1285 và

1288 Bên cạnh đó còn dẹp yên được sự quấy nhiễu của quân Ai Lao ở vùng Nghệ

An, Thanh Hóa; thu phục và giữ được sự giao hảo tốt đẹp với nước Chiêm Thành

Nhưng chính sự nhà Trần bắt đầu suy vi từ đời vua Trần Dụ Tông – một ông vua chỉ đắm mình trong sa hoa, hưởng lạc, xa lánh lương thần, tin dùng bọn xu nịnh Tới các đời sau, đặc biệt là Trần Nghệ Tông (1322 – 1395) và Trần Phế Đế (1361 – 1388), có hàng loạt biểu hiện của sự mê muội, u tối của người cầm quyền Vua Nghệ Tông tin dùng một mình Hồ Quý Ly, sát hại hàng loạt con cháu, người

thân tộc họ Trần Nhiều hành động của Nghệ Tông như thể để “dọn đường” cho Hồ

Quý Ly thay thế nhà Trần sau này

Từ thời kỳ Nghệ Tông trở về sau, Chiêm Thành luôn luôn quấy rối, việc chống Chiêm Thành là lớn nhất Vậy mà vua quan nhà Trần lại không chống đỡ nổi một Chiêm Thành đã từng núp bóng mình trong kháng chiến chống Nguyên – Mông xưa kia Tới lúc bị Chiêm Thành xâm lấn, không có một gương mặt nào của dòng họ Trần đứng ra chống được giặc mà phải dựa vào một tướng ngoài dòng tộc

là Trần Khát Chân (1370 – 1399), vốn mang họ Lê

Trang 24

Nhà Trần ngày một trượt dốc không thể gượng dậy được nữa Đó chính là thời cơ cho Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và thay ngôi nhà Trần Nhìn thấy âm mưu của họ Hồ, nhiều tướng lĩnh nhà Trần như Trần Khát Chân lập hội với mưu đồ tiễu trừ Quý Ly nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết Năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất Trần Thiếu Đế (1396 - ?) rồi tự xưng làm vua Nhà Trần chấm dứt

1.2.2 Đặc điểm chung về văn học đời Trần

Nước Việt dưới đời Trần xuất hiện nhiều thiên tài quân sự, tạo nên những chiến công sáng chói trong lịch sử giữ nước của dân tộc Tuy nhiên, nhân tài đời Trần không chỉ giới hạn trong lãnh vực quân sự mà còn có nhiều nhân vật kiệt xuất trong lãnh vực văn học Nếu thi ca và văn chương là nền tảng của tư tưởng Việt, tư tưởng từ đó được hệ thống hóa thành nhân sinh quan và triết lý Việt thì đóng góp của đời Trần rất quan trọng trong việc phát huy một nền văn hóa thuần túy Việt Nam Các triều đại vua quan nhà Trần đã để lại một nền văn học có phần vượt trội, hơn hẳn đời nhà Lý Có thể nói, cùng vời văn học đời nhà Lý, văn học đời Trần đã

“đặt nền móng một cách vững chắc và toàn diện cho văn học Trung đại Việt Nam

từ chữ viết đến thể loại, từ nội dung đến nghệ thuật, từ phương thức tư duy nghệ thuật đến cách tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo truyền

thống nghệ thuật riêng cho dân tộc mình” [8, 19] Không những thế, dưới các triều

đại này, việc xuất hiện chữ Nôm và Quốc ngữ thi cho ta thấy người Việt đã bắt đầu phát huy một nền văn hóa đầy tự tin, thể hiện rõ ý thức độc lập chủ quyền, khẳng định và ngợi ca con người Đại Việt, vượt lên khỏi ảnh hưởng sâu đậm của Trung

Quốc

Hoàn cảnh lịch sử – xã hội nước ta đời Trần có nhiều biến động lớn lao Đó

là thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước trước những cuộc xâm lăng của ngoại bang Những biến động đó tác động mạnh mẽ đến văn học Đặc biệt phải kể đến chiến thắng vang dội trong ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược của vua tôi nhà Trần Năm 1257, chúa Mông Cổ cho quân ồ ạt tiến công xâm lược nước ta Với sức mạnh đoàn kết, quân dân nhà Trần đã giành được chiến thắng Chiến công

Trang 25

năm Nguyên Phong thứ bẩy (1258) là niềm tự hào và là sức mạnh cổ vũ cả dân tộc trong cuộc sống mới Hơn 20 năm sau, quân dân nhà Trần đã liên tiếp giành thắng lợi trước hai cuộc xâm lược của nhà Nguyên năm 1285 và 1288 Trong vòng 30 năm, dân tộc ta đã ba lần đại thắng ngoại xâm Thắng lợi đó đã khẳng định rõ sức mạnh, tầm vóc của con người, đội quân yêu nước nhà Trần Khí thế hào hùng đó

được mệnh danh là “hào khí Đông A” – hào khí đời Trần, đã tác động mạnh mẽ đến

tinh thần, tình cảm và tâm lý của con người thời đại Và điều đó được thể hiện rất rõ trong những sáng tác thơ, văn đời Trần Vì thế, nội dung của văn học đời Trần thể hiện rất rõ tinh thần yêu nước, căm thù giặc đồng thời cũng khẳng định, ngợi ca con người

Về lực lượng sáng tác, nếu như ở thời nhà Lý, lực lượng sáng tác chủ yếu là

các nhà sư như: sư Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Không Lộ, Mãn Giác, Quảng Nghiêm,… thì đến nhà Trần, lực lượng sáng tác đã có sự khác biệt Đến đời nhà Trần, Phật giáo tuy vẫn được đề cao nhưng càng về sau thì nó dần nhường bước cho Nho giáo Sự phát triển của giáo dục và chế độ thi cử theo Nho học đã làm xuất hiện ngày càng đông đảo lực lượng trí thức mới Họ trở thành lực lượng chủ yếu sáng tác văn học Bên cạnh đó còn một số tăng lữ và tầng lớp vua quan

Về mặ văn tự, cũng giống với đời Lý, ở đời Trần, chữ Hán được dùng làm

văn tự chính thức của nhà nước Văn học chữ Hán được coi là chính thống, là bộ phận chủ yếu Tuy nhiên, từ thời Trần đã bước đầu dùng chữ Nôm sáng tác văn học Tuy những sáng tác văn học bằng chữ Nôm không nhiều nhưng nó đã thể hiện rõ sự

cố gắng nâng cao địa vị tiếng Việt trong việc xây dựng nền văn học dân tộc và là nền móng để thơ văn chữ Nôm phát triển mạnh mẽ trong văn học Trung đại ở các giai đoạn sau Các bài thơ văn bằng chữ Nôm đời Trần nay đã thất truyền gần hết nhưng sử con ghi lại tên một số tác giả và tác phẩm như:

Nguyễn Sĩ Cố viết một số bài thơ văn chữ Nôm

Chu Văn An viết Quốc ngữ thi tập

Hồ Quý Ly viết Quốc ngữ thi nghĩa

Hoàng Trừng trong Nghĩa sĩ truyện có ghi lại năm bài văn Nôm đời Trần

Trang 26

Ngoài ra thì còn hai bài phú Nôm là: Cư thần lạc đạo của vua Trần Nhân Tông và bài Vịnh chùa Vân Yên của Huyền Quang (Lý Đạo Tái, 1254 – 1331)

được lưu giữ lại trong lịch sử nhà chùa

Sự ra đời của thơ văn chữ Nôm bên cạnh thơ văn chữ Hán đã tạo ra hiện

tượng “song ngữ” trong văn học

Về mặt thể loại văn học, nếu như văn học đời Lý chủ yếu là các sách vở Phật

giáo thì văn học đời Trần đã có sự phong phú về thể loại bao gồm: thơ, phú, chiếu, biểu, hịch, kí, truyện kí,… trong đó thơ là bộ phận quan trọng nhất Các vua Trần

đều có các tập thi riêng: Trần Thái Tông có Thái Tông ngự tập, Trần Thánh Tông

có Thánh Tông thi tập, Trần Nhân Tông có Nhân Tông thi tập, Trần Minh Tông

có Minh Tông thi tập…các quan lại vương hầu cũng có nhiều sáng tác thi ca chép thành tập như: Trần Quang Khải (1241 – 1294) có Lạc Đạo tập, Trần Quang Triều (1286 – 1325) có Cúc Đường di cảo, Trần Nguyên Đán (1325 – 1390) có Băng Hồ ngọc hác,… Nhiều Nho sĩ cũng có những tập thi riêng: Cúc hoa bách vịnh của Trương Hán Siêu, Tiều Ẩn thi tập của Chu Văn An, Nhị Khê thi tập và Nguyễn Phi Khanh thi văn của Nguyễn Phi Khanh (1355 – 1428),… Chỉ tiếc rằng, phần lớn

những tác phẩm trên đã bị thất truyền, hiện chỉ còn lại một số bài thơ được chép rải rác ở trong các sách đời sau Ngoài ra còn phải kể đến một số người như: Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320), Mạc Đĩnh Chi, Trần Lâu (? - ?), Đặng Dung (? - ?),… tuy không có thi tập nhưng những sáng tác của họ rất có giá trị, góp phần làm phong phú thêm cho nền văn học đương đại

Bên cạnh thơ phải kể đến phú – một thể bán văn bán thi bắt nguồn từ Trung Hoa Tuy số lượng còn lại không nhiều, chỉ còn mười ba bài phú chữ Hán chép

trong Quần hiền phú tập và hai bài phú chữ Nôm của Trần Nhân Tông và Huyền

Quang nhưng nội dung của nó đã đề cập đến những vấn đề quan trọng của đất nước Đặc biệt phải kể đến những tác phẩm viết về thiên nhiên kỳ tích, gắn bó với công

cuộc chiến đấu, bảo vệ đất nước như: Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, Thiên Hưng trấn phú của Nguyễn Bá Thông… Hoặc viết về công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng vương triều, dùng người hiền tài, giữ gìn đạo đức như Ngọc

Trang 27

tỉnh liên phú của Mạc Đĩnh Chi, Trảm xà kiếm phú của Sử Hi Nhan, Cần chính lâu phú của Nguyễn Pháp … Vì thế Bùi Văn Nguyên đã nhận xét “văn thể phú triều nhà Trần, phần nhiều khôi kỳ hùng vĩ, lưu loát đẹp đẽ” [10, 105]

Về văn chép sử, đến nhà Trần đã xuất hiện những bộ sử tương đối quy mô

Tiêu biểu là: Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu gồm 30 quyển, chép lịch sử nước ta từ

thời Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng Tuy nhiên, văn bản của tác phẩm này đến nay đã bị thất truyền, chỉ còn lại một ít lời bình, được Ngô Sĩ Liên (sống vào thế kỷ

XV) ghi lại trong Đại Việt sử kí toàn thư, chép sử nước ta từ thời Triệu Đà đến thời

Lý Huệ Tông Đây là bộ sử biên niên vào loại cổ nhất của nước ta còn lưu lại đến

nay Trong Đại Việt sử lược có nhiều đoạn kể chuyện gọn gàng, sinh động, hấp

dẫn, mang giá trị văn học rõ nét

Tiếp đó phải kể đến thể loại truyện văn xuôi chữ Hán đời Trần Hiện còn lại

một số tác phẩm như: Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh), chép truyện của

68 vị thiền sư của nước ta; Tam tổ thực lục (khuyết danh), chép hành trạng ba vị sư

tổ phái Trúc Lâm đời Trần ; Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên (? - ?), chép công tích của 27 vị thần linh được thờ trong các đền miếu ở nước ta; Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng chép 31 mẩu truyện về những con người Việt Nam

có tài, có đức nhằm mục đích: “một mặt nêu những việc thiện nhỏ của tiền thân, một mặt để cung cấp những chuyện mới lạ cho người quân tử” (Tựa “Nam ông thực lục”) [2, 677] Các tác phẩm truyện, kí thời Trần còn lại là không nhiều, chủ

yếu là việc tác giả ghi chép lại những truyện vốn lưu truyền trong dân gian Số lượng còn hạn chế nhưng những tác phẩm đó đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của thể loại văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung đại

Ngoài ra còn phải kể đến các thể loại khác như: cáo, chiếu, hịch, biểu… cũng

có nhiều tác phẩm có giá trị văn chương Đặc biệt nhất phải kể tới Hịch tướng sĩ

của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn Đây là tác phẩm chính luận đạt tới trình

độ mẫu mực, kết tinh tinh thần yêu nước của con người thời Trần

Tóm lại, văn học đời Trần tuy số lượng tác phẩm (bằng cả chữ Hán và chữ Nôm) hiện còn lại là không nhiều nhưng đã cho chúng ta thấy được sự phong phú

Trang 28

cả về nội dung và nghệ thuật “Thành tựu văn học giai đoạn này là bằng chứng về một trong những thời đại huy hoàng của quốc gia Đại Việt và nền văn hóa Đại Việt” [8, 51]

Một trong những lý do văn học thời Trần có những thành tựu tốt đẹp là bởi việc học được khuyến khích không ngừng qua suốt các đời vua Năm Kiến Trung thứ tám (1232), vua Thái Tông đã cải tổ lại việc thi cử của nhà Lý, mở kỳ thi Thái học sinh để tuyển mộ người hiền; năm Thiên Ứng Chính Bình thứ năm (1243), vua đặt Phạm Ứng Thần làm chức quan Thượng thư tri Quốc Tử Giám đề hiệu, ra lệnh các con quan văn phải vào trường này học Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ mười (1247), Thái Tông lập thêm Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa để khuyến khích thí sinh Năm Nguyên Phong thứ ba (1253) Thái Tông lập Quốc Học Viện để giảng dạy, truyền chiếu toàn quốc cho các học giả, khuyên nên vào Quốc Học Viện giảng đọc Tứ thư, Ngũ kinh Đời Nhân Tông năm Thiệu Bảo thứ ba (1281), vua lập ra nhà học ở phủ Thiên Trường, cử quan về giảng dạy Đến đời Phế

Đế, năm Xương Phù thứ bẩy (1384) lập thư viện ở núi Lạn Kha (nay là núi Phật Tích thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) Năm Quang Thái thứ mười, vua ban chiếu cấp ruộng cho các châu phủ có lợi tức, đặt quan Đối học dạy

dỗ các học trò Các việc trên đây cho thấy, tuy trải qua nhiều tai biến binh đao nhưng các vua nhà Trần không hề xao nhãng việc khuyến khích sự học

Một lý do nữa khiến văn học đời Trần có những thành tựu tốt đẹp là từ đời vua Thuận Tông (1378 – 1399) trở về trước, việc học chú trọng về kinh thuật, đào tạo cho người học có bản lĩnh suy luận, không chú trọng lối học từ chương Do đó, nhà Trần có những học giả kiệt xuất như Chu Văn An, Trương Hán Siêu,… và những nhà tư tưởng độc lập như Hồ Quý Ly Vì thế có học giả đã bình luận rằng:

văn học đời Trần “có khí cốt, không ủy mị non nớt như các đời khác”

Trang 29

CHƯƠNG 2 SỰ KHẲNG ĐỊNH VÀ NGỢI CA CON NGƯỜI

ĐẠI VIỆT TRONG THƠ VĂN ĐỜI TRẦN 2.1 Nội dung khẳng định, ngợi ca con người Đại Việt trong thơ văn đời Trần

2.1.1 Khẳng định và ngợi ca tài năng, công lao sự nghiệp

2.1.1.1 Tài kinh bang tế thế

Nước Đại Việt dưới triều đại các vua Trần là một đất nước hưng thịnh, phát triển về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa Nhà Trần đã thống lĩnh quân dân Đại Việt ba lần chặn đứng vó ngựa cuồng phong của đạo binh viễn chinh Nguyên – Mông bách chiến bách thắng Có được những chiến công vang dội đó, một phần rất lớn là nhờ vào tài năng của những người lãnh đạo Vua tôi nhà Trần, những người đứng đầu cả nước lúc đó đều là những người giỏi trị nước, cầm quân, đánh giặc

Các vị vua đầu của nhà Trần đều là những vị vua sáng, có tài trong việc

“chăn dắt” muôn dân Họ luôn quan tâm đến những công việc của triều chính, quốc

gia Trần Thái Tông là một ông vua như thế Trong Tựa Kinh Kim cương tam muội, Thái Tông đã nói lên những tâm sự của mình:

“Trẫm lượng đức chủ trì ngôi báu rồi trước sau chăn dắt muôn dân Từng lo vất vả, chẳng ngại sớm hôm Tuy một ngày trăm việc cũng trộm lúc rảnh rang, chăm việc tiếc giờ, học càng tăng tiến Một chữ “ Đinh” lo chưa biết đến, đêm canh hai còn gắng tìm xem Đã duyệt phần điển Khổng Khâu, lại xét kinh đạo Thích…

Do đó, rộng tỏ cõi lòng, tự thân chú giải Dò nghĩa thẳng ở Long cung, tìm lời hay

ở nơi Thứu Lĩnh Khơi giọt nước ở tận nguồn chính giác, đắp bụi sa nơi cửa ngõ chân như Phát huy ý chỉ, rộng mở chân tông Khiến cho vừa thoáng xem văn đã hiểu rõ ràng nghĩa lý Phá giậu phên bền vững của bọn tà, làm mẫu mực lễ nghi cho môn đệ…”

Trần Thái Tông ngồi trên ngai báu không phải là để hưởng thụ phú quý, đắm mình trong thanh sắc hoan lạc Trái lại, lúc nào người cũng có ý thức trách nhiệm

của một vị “nguyên thủ quốc gia”, đứng đầu thiên hạ

Trang 30

Tài cai trị nước của Thái Tông đã được Hứa Tông Đạo (? - ?), một đạo sĩ

đương thời ca ngợi trong tác phẩm Bạch Hạc Thông Thánh quán chung ký (Bài

ký chuông quán Thông Thánh ở Bạch Hạc) như sau:

“Trước đây vào thời Thái Tông hoàng đế, khoảng năm Bính Tý, trị nước thái bình, bốn phương theo giáo hóa…”

Có nghĩa là, dưới đời Thái Tông trị vì, đất nước được thái bình thịnh trị, quần thần và muôn dân một lòng thờ tụng

Các vua Trần còn là những bậc Đế vương anh minh, biết trọng người tài, biết nhìn nhận ra những người thực hiền tài trung thành giúp vua trị nước Trần Minh

Tông từng viết trong Nhậm nhân luận (Bàn về việc dùng người) rằng:

“Bậc nhân quân dùng người, không phải là có tình riêng với người ấy Đã gọi là tôi hiền phải là người biết suy bụng của ta, giữ tròn chức của ta, hết sức vì nỗi vất vả của ta cho nên gọi là “hiền” mà trao trách nhiệm”

Vì biết cách dùng người nên dưới đời vua Minh Tông, vương triều được củng cố bền vững, xã tắc được thái bình, thịnh trị

Bên trong là những ông vua chăm lo đến việc triều chính, bên ngoài biết cầm quân đi đánh giặc ngoại xâm Khi đất nước cần, những vị vua triều Trần đều đích thân ra trận, can đảm xông pha giữa làn tên mũi giáo, đối mặt với quân thù, chứng

tỏ bản lĩnh của một vị vua dũng cảm, sáng suốt Trong lịch sử, Trần Nhân Tông là một vị vua yêu nước anh hùng Khi đất nước đứng trước cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên – Mông, ông đã cùng với vua cha lãnh đạo triều đình và dân chúng khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt, nâng sức chiến đấu của quân và dân lên vượt bậc và nhờ đó đã giành được thắng lợi vẻ vang trong hai lần đọ sức với giặc vào các năm

1285, 1288, viết nên trang sử hào hùng của dân tộc Không những thế, ông còn giành được nhiều thắng lợi quan trong trong các cuộc hành binh về phía Tây và phía Nam, củng cố vững vàng biên giới của Tổ quốc Trong văn học, tài năng và chiến

công của Trần Nhân Tông cũng được khẳng định và ngợi ca Trong bài thơ Hành dịch đăng gia sơn (Nhân đi việc quan lên chơi núi quê mùa), Phạm Sư Mạnh (? - ?)

đã viết:

Trang 31

“Ức tích Trùng Hưng đế, Khắc chuyển khôn oát kiền

Hải phố thiên mông đồng, Hiệp môn vạn tinh chiên

Phản chưởng điện ngao cực, Vãn hà tẩy tinh chiên

Chí kim tứ hải dân, Trường khuyết cầm Hồ niên.”

Dịch thơ:

“Nhớ xưa Trùng Hưng đế, Làm đất chuyển trời cao

Cửa biển nhìn thuyền đậu, Non hải vạn cờ đào

Trở tay định bờ cõi, Kéo sông rửa tanh hôi

Nhân dân nay còn kể, Chuyện thắng Hồ năm nào.”

Nước Đại Việt dưới đời Trần không thiếu những người tài giỏi Các bậc quân vương là những người anh minh sáng suốt, luôn trọng đãi hiền tài nên trong nước cũng xuất hiện nhiều danh tướng kiệt xuất Một trong số tướng tài bậc nhất đời Trần

là Trần Quốc Tuấn, tên quen gọi là Trần Hưng Đạo Ông là người có học vấn uyên bác, tài kiêm văn võ Ba lần quân Nguyên sang xâm lược nước ta, Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đều hết lòng lãnh đạo đội quân nhà Trần đánh giặc và lập lên những chiến công vang dội Ông không chỉ là tấm gương về lòng trung nghĩa mà còn là một người anh hùng dân tộc có công lao bậc nhất thời Trần Trần Hưng Đạo

là nhà quân sự thiên tài, biết đề ra những đường lối quân sự ưu việt Theo Đại Việt

sử ký toàn thư thì Trần Quốc Tuấn đã từng soạn Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền, đều là sách quân sự Nhưng, hiện nay văn bản của ác bộ sách này đều đã gần như thất lạc Song, chỉ qua vài dòng viết trong Lâm chung di chúc (Căn

Trang 32

dặn trước khi mất) cũng đủ cho ta thấy Trần Hưng Đạo là một nhà quân sự tài ba,

có tài điều binh khiển tướng và nhiều kế sách đánh giặc:

“…Tóm lại, giặc cậy trận dài ta cậy binh ngắn, lấy ngắn chế dài là lẽ thường của binh pháp Nếu thấy quân giặc ồ ạt như lửa to gió táp thì đó là tình thế

dễ chế ngự Nếu chúng dùng lối tằm ăn lá, hành binh dần dà, không ham của dân, không cốt thắng mau thì phải kén dùng tướng giỏi, liệu xem quyền bính, giống như đánh cờ, phải tùy tình thế mà đưa nước chống cho thích hợp Phải gây dựng được một “đội quân cha con” thì mới có thể sử dụng được Vả lại, khoan sức cho dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”

Có thể thấy, Trần Quốc Tuấn đã nắm được rất vững các cách thức hành binh trong binh pháp Không những thế, ông còn có một tầm nhìn đi trước thời đại Ngay

từ buổi ấy, Trần Quốc Tuấn đã nhìn nhận và đánh giá đúng tầm quan trọng của nhân dân trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm Lấy dân làm gốc vì vậy phải

“khoan sức dân”, chăm lo đến cuộc sống của nhân dân Đây là một tư tưởng rất tiến

bộ và đúng đắn cho đến tận ngày nay vẫn còn nguyên giá trị

Vì thế, Trần Khánh Dư (? - ?) đã ca ngợi tài thao lược của ông:

“Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam Đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng Cho nên, đương thời phía Bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía Tây

làm cho Lâm Ấp phải kinh” (Đề tựa sách Vạn Kiếp tông bí truyền thư)

Cũng chính vì thế, tài năng của Trần Hưng Đạo đã được Phạm Ngũ Lão ví

như “bức tường thành vạn dặm” và công lao của ngài được ví như công lao của

Hàn Tín khi giúp vua Hán Cao Tổ (bên Trung Quốc đời xưa) đánh Ba Thục trong

bài thơ Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương (Viếng Thượng

tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương):

“Cửu trùng giám kim long bỹ Vạn ly trường thành thục hoại chi?

Vũ ám trường giang không lệ huyết, Vân đê phức đạo tỏa sầu mi…”

Dịch nghĩa:

Trang 33

Tấm gương sáng của cửu trùng nay đã mất rồi, Bức tường thành vạn dặm ai làm cho sụp đổ?

Mưa phủ kín sông dài, luống tuôn lệ máu, Mây sa xuống đường sạn đạo nhíu hàng mi sầu…

Ngoài Trần Quốc Tuấn, đời Trần còn rất nhiều các danh tướng khác Họ đều

là những người có tài lớn Tài trí của họ đã hiện thực hóa thành những chiến công to lớn trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước Tiêu biểu là Trần Quang Khải và Phạm Ngũ Lão

Cùng với Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải (tự là Chiêu Minh, con trai thứ

ba của Trần Thái Tông) cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đã đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước đương thời Trong hai cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần hai và lần ba, Quang Khải là một

trong những người đóng vai trò chủ chốt Trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư

(Phò giá về kinh), Trần Quang Khải ghi lại hai chiến công lớn đã giành được:

“Đoạt sóc Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan”

là không nhỏ Ông là người đã trực tiếp lãnh đạo đội quân nhà Trần giành được thắng lợi đó Câu thơ ngắn gọn nhưng đã dựng lên được bức tranh hoành tráng và tràn đầy khí thế chiến thắng thể hiện rõ niềm tự hào, ngợi ca

Những vần thơ trong bài Thuật hoài (Thuật nỗi lòng) của Phạm Ngũ Lão lại

dựng lên hình ảnh hiên ngang lẫm liệt của vị tướng anh hùng cùng với đội quân hùng mạnh, khí thế ngút trời:

Trang 34

“Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu, Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.”

Dịch thơ:

“Múa giáo non sông trải mấy thâu,

Ba quân hùng khí át sao ngưu.”

Phạm Ngũ Lão là một vị tướng tài giỏi, có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông Dưới đời vua Trần Anh Tông, ông còn lập được nhiều chiến công ở biên giới phía Nam, vì thế được giao cai quản quân Hữu vệ thánh dực

và về sau làm đến chức Điện soái Thượng tướng quân, tước quan nội hầu Câu thơ của Phạm Ngũ Lão đã vẽ lên hình ảnh của một trang nam nhi đời Trần với một tư thế hiên ngang và tầm vóc lớn lao Đó chính là hình ảnh của người chiến sĩ, người anh hùng Phạm Ngũ Lão cắp ngang ngọn giáo, đứng giũa đất trời gìn giữ non sông

đã mấy thu Câu thơ còn cho thấy một khí thế hùng mạnh của đội quân yêu nước nhà Trần Sức mạnh của ba quân được ví như hổ báo làm át cả sao ngưu trên trời Qua câu thơ, chúng ta có thể hình dung được hình tượng lớn lao của người anh hùng, vị tướng tài ba Phạm Ngũ Lão cũng như sức mạnh vô song của đội quân yêu

nước mang “hào khí Đông A” đã tạc vào không gian và thời gian

Tài năng của vua tôi nhà Trần trong việc cầm quân đánh giặc một lần nữa

còn được khẳng định và ngợi ca trong Bạch Đằng giang phú (Bài phú sông Bạch

Đằng) của Trương Hán Siêu:

“Trời đất đặt ra nơi hiểm trở, Bậc anh hào tính cuộc tồn an

Hội nào bằng hội Mạnh Tân, như Vương sư họ Lã, Trận nào bằng trận Duy Thủy, như quốc sĩ họ Hàn

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng Bởi Đại vương xem thế giặc nhàn, Tiếng thơm còn mãi:bia miệng không mòn…

Anh minh hai vị Thánh quân, Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh

Trang 35

Giặc tan muôn thuở thanh bình, Tại đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.”

Với giọng điệu tự hào, ngợi ca, Trương Hán Siêu đã khẳng định tài năng của vua tôi nhà Trần (ở đây là Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) đều là những vị

vua “anh minh”, những bậc “Thánh quân” đã chỉ huy, lãnh đạo toàn dân tộc giành

được những kỳ tích Đồng thời cũng cho thấy, trong cuộc giao tranh với giặc Nguyên, nước Đại Việt ta có rất nhiều tướng tài vừa giỏi chiến trận lại vừa mưu lược, chẳng kém gì những bậc danh tướng nổi tiếng của Hán Cao Tổ bên Trung Quốc xưa kia Tài năng và công trạng của họ được khẳng định, ngợi ca và sẽ mãi mãi lưu truyền trong sử sách cũng như trong lòng người dân Đại Việt trong mọi thời

đại “tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn”

Danh tướng, nhân tài cầm quân đánh giặc của Đại Việt nhiều vô kể, sử sách không ghi được hết tên tuổi, công tích của họ nhưng thơ văn đã ghi lại và khẳng

định, ngợi ca Ví dụ như trong bài thơ Tặng Bát Than tỳ tướng (Tặng tỳ tướng Bát

Than), Phạm Nhân Khanh (? - ?) đã viết:

“Bát Than tỳ tướng tùng lâm hổ, Lão khí cùng thôn thập vạn thu

Trực thụ thần phan my địch lũy, Khinh đề tuệ kiếm tiễn hung đồ

Lâm phong mật tụng kỳ quân chủ, Hưng nhật liên thư phá tặc thù…”

Dịch thơ:

“Hổ rừng tỳ tướng Bát Than, Sức cao khí nuốt muôn ngàn tinh binh

Phướn thần dựng, san địch thành, Nhẹ dơ kiếm tuệ tan tành lũ hung

Miệng hô gió nổi đùng đùng, Quăng bùa áp trận, giặc cùng phải tan…”

Trang 36

Tỳ tướng Bát Than hiện nay vẫn chưa rõ là tên tuổi của ai vì trong các sách

sử không thấy có nhắc tới tên của vị tướng này Nhưng qua lời thơ ta có thể khẳng định rằng đây là một vị tướng tài hay một đội quân nào đó của Đại Việt có sức mạnh vô song đánh tan hàng vạn quân địch Tài năng, sức mạnh đó đã hiện thực hoá thành thắng lợi

Hay trong một bài thơ khác là Tặng Nam Đường công Trần Kinh lược

(Tặng quan Kinh lược họ Trần ở Nam Đường), Phạm Nhân Khanh cũng viết:

“Trụ xuất tam hòe cựu tướng môn, Gia truyền y bát thức do tồn

Kinh luân thứ vụ tỳ nguyên hóa, Tiến dẫn quần tài phụng chí tôn

Phạt bạn dĩ tằng thi viễn lược,

Sơ lao toàn phúc bái long ân…”

Quan kinh lược họ Trần hiện cũng không rõ là ai Trong bài thơ, tác giả đã

đề cao và ca ngợi tài trí, mưu lược của vị tướng này Trong viêc dẹp loạn, giữ yên

bờ cõi của đất nước, người này đã nhiều lần có công dâng kế sách hay nên đã “mấy dịp” được nhà vua khen thưởng: “công lao mấy dịp đội long ân”

Đất nước Đại Việt còn có rất nhiều, rất nhiều những anh hùng hào kiệt mà thơ văn cũng đã khẳng định, ngợi ca tài năng của họ Bên cạnh những danh tướng: Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải thì còn có nhiều danh tướng khác như: Trần Quang Triều (Cúc Đường chủ nhân), Trần Thúc Ngọc (Trang Định Vương), Thiếu Bảo Trần Sùng Thao,… là những người đã từng lập nên nhiều công

Trang 37

trạng, thành tích, họ không chỉ được lưu danh trong sử sách mà còn được người đời hết lòng ca ngợi trong những sáng tác văn thơ Thơ văn đời Trần đã dùng nhiều trang để khẳng định và ngợi ca tài năng của họ

2.1.1.2 Tài năng thi ca

Con người Đại Việt là những con người tài năng mọi mặt Không chỉ có tài kinh bang tế thế, giỏi trị nước, cầm quân, đánh giặc mà con người Đại Việt còn có tài văn chương thơ phú Tài năng ấy đã được khẳng định qua chính những sáng tác thơ văn đương thời

Qua khảo sát những sáng tác văn học đời Trần hiện còn lưu giữ được chúng tôi nhận thấy, hầu hết tác giả của chúng đều là những vị vua hay các quan lại, thậm chí là rất nhiều chiến tướng đã từng cầm vũ khí xông pha trận mạc nay lại cầm bút viết nên những áng thơ văn hùng tráng Có thể kể ra đây một số danh tướng đời Trần đã từng sáng tác thơ văn như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Nguyễn Chế Nghĩa, Trần Quang Triều,… Sáng tác của họ,

nhiều tác phẩm có giá trị, đạt tới đỉnh cao, được coi là bất hủ như: Dụ chư tỳ tướng hịch văn, Thuật hoài, Tụng giá hoàn kinh sư,…

Con người đời Trần là những con người toàn năng, văn võ toàn tài Trên chiến trường thì anh dũng xông pha trận mạc, làm nên những chiến công vĩ đại Nhưng trong những giây phút thanh nhàn thì họ đều dành cho thi ca Trần Quang

Khải, một danh tướng đương thời nhưng đã có lần tự coi mình là “khách thơ”:

“Thi khách trùng lai đầu phát bạch, Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên.”

Trang 38

Con người đời Trần không chỉ giỏi đánh trận mà còn rất yêu văn chương Họ

là những con người “lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa” Họ có thể làm thơ

ngay trên lưng ngựa:

“Thập niên cổ cựu bôi trung vật Vạn lý quan hà mã thượng thi.”

(Tống Nguyễn Giới Hiên Bắc sứ – Nguyễn Sưởng)

Dịch nghĩa:

(Rượu trong chén tiễn đua bạn cũ mười năm Thơ làm trên lưng ngựa trong hành trình vạn dặm

(Tiễn Nguyễn Giới Hiên đi sứ phương Bắc – Nguyễn Sưởng)

Tài năng thi ca của con người Đại Việt được khẳng định qua chính thành tựu văn học mà họ để lại So với đời Lý, văn học đời Trần có sự phát triển vượt bậc Văn học đời Trần có số lượng tác giả, tác phẩm và nguồn đề tài phong phú hơn hẳn

so với văn học đời Lý Đã xuất hiện những biệt tập – là dấu hiệu của sự sáng tác mang tính chất chuyên nghiệp

Vua tôi nhà Trần đều là những người yêu thích thơ ca và có tài làm thơ Nhiều vị vua nhà Trần còn có cả những tập thi riêng Tiêu biểu như:

Trần Thái Tông có Thái Tông ngự tập

Trần Thánh Tông có Thánh Tông thi tập

Trần Nhân Tông có Nhân Tông thi tập và Đại Hưng hải ân thi tập

Trần Anh Tông có Thủy vân tùy bút

Trần Minh Tông có Minh Tông thi tập

Các vương hầu, khanh tướng nhà Trần cũng sáng tác nhiều thơ ca được chép thành tập như:

Trần Quang Khải có Lạc Đạo tập

Trần Quốc Toại có Sầm Lâu tập

Trần Quang Triều có Cúc Đường di cảo

Trương Hán Siêu có Cúc hoa bách vịnh

Chu Văn An có các tập: Tiểu Ẩn thi tập và Quốc ngữ thi tập

Trang 39

Nguyễn Trung Ngạn có Giới Hiên thi tập

Phạm Sư Mạnh có Giáp thạch tập

Trần Nguyên Đán có Băng Hồ ngọc hác

Nguyễn Phi Khanh có Nhị Khê thi tập và Nguyễn Phi Khanh thi văn

Hồ Tông Thốc có Thảo Nhân hiệu tần tập

Ngoài ra còn rất nhiều người tuy không có thi tập riêng nhưng đã để lại nhiều tác phẩm làm phong phú và tạo nên muôn ngàn âm sắc cho văn học của thời đại

Bên cạnh thi ca, văn xuôi đời Trần cũng phát triển mạnh Xuất hiện nhiều tác phẩm lớn trong đó gồm có các thiên khác nhau (mỗi thiên tương ứng với một truyện) Tiêu biểu phải kể đến một số tác phẩm và tác giả sau:

Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh)

Tam tổ thực lục (khuyết danh)

Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên

Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp

Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng

Văn học đời Trần phát triển vượt bậc không chỉ ở số lượng tác giả, tác phẩm phong phú mà còn bởi văn học dường như đã đặt ra được một vấn đề của lý luận sáng tạo nghệ thuật, đó là quan niệm lấy thế giới khách quan là cội nguồn của nghệ thuật, của văn thơ Và những mạch nguồn quan niệm ấy vẫn còn được lưu chảy cho đến ngày nay

Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật đó, thiên nhiên đã trở thành đối tượng miêu tả của văn học Thế giới muôn hình muôn vẻ được thể hiện ở nhiều góc độ với nhiều sắc thái tình cảm khác nhau Viết về thiên nhiên, những tác giả đời Trần đã trở thành những thi sĩ thực thụ Nhiều bài thơ đã thể hiện được tâm hồn cởi mở, nhạy cảm cũng như những rung động nghệ thuật tinh tế của tác giả

Đọc những vần thơ trong bài Xuân hiểu (Buổi sớm mùa xuân) của Trần

Nhân Tông ta không còn nhận thấy bóng dáng của một ông vua có thân phận cao quý mà chỉ cảm nhận thấy đó là một thi sĩ thiết tha yêu đời, yêu thiên nhiên:

Trang 40

“Thủy khởi khải song phi Bất tri xuân dĩ quy

Nhất song bạch hồ điệp, Phách phách sấn hoa phi.”

Còn Trần Thánh Tông lại rung động trước những cảnh sắc tươi mát của mùa

hè mà viết nên những vần thơ trong Hạ cảnh (Cảnh hè):

“Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường,

Hà hoa xuy khởi bắc song lương

Viên lâm vũ quá lục thành ác, Tam lưỡng thiền thanh náo tịch dương.”

chiều, cây cối được gội sạch, khiến cho vườn cây trở thành tấm “màn biếc”, hương

sen thoảng đưa trong gió và tiếng ve làm rộn buổi chiều Trước cảnh vật, thi nhân

Ngày đăng: 30/11/2015, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w