Mỗi tác phẩm của Y.Kawabata đều cho thấy nghệ thuật viết văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao, thể hiện được bản chất của cách tư duy Nhật Bản qua bút pháp sáng tác bậc thầy- một kiểu sáng
Trang 1Không gian và thời gian
nghệ thuật trong Xứ tuyết của Yasunary
Trang 2Trường ĐHSP Hà Nội 2 K32D- Ngữ Văn
Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp của mình, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trường ĐHSP Hà Nội 2, trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy , cô giáo trong
khoa, tổ, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Bích Dung - Người đã trực tiếp hướng
dẫn tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Phạm Thị Hà
Trang 3Trường ĐHSP Hà Nội 2 K32D- Ngữ Văn
Lời cam đoan
Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của T.S Nguyễn Thị Bích Dung Tôi xin cam đoan rằng:
- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã được công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên
Phạm Thị Hà
Trang 4Trường ĐHSP Hà Nội 2 1 K32D- Ngữ Văn
MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của khoá luận 5
8 Bố cục khoá luận 5
Nội dung 6
Chương 1: Không gian nghệ thuật trong Xứ tuyết 6
1.1 Khái niệm về không gian nghệ thuật 6
1.2 Không gian nghệ thuật trong Xứ tuyết 7
1.2.1 Không gian thực 9
1.2.2 Không gian tâm lý 20
Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong Xứ tuyết 29
2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 29
2.2 Thời gian nghệ thuật trong Xứ tuyết 31
2.2.1 Thời gian tự nhiên 32
2.2.2 Thời gian tâm lý 46
Kết luận 51
Tài liệu tham khảo 53
Trang 5cả sau này khi Nhật Bản trở thành nước công nghiệp hiện đại thì vẻ đẹp ấy vẫn luôn được chắt chiu, nâng niu và bảo vệ trong sáng tác của Y.Kawabata Chính vì vậy, ông được coi là “ Người lữ hành muôn đời đi tìm cái đẹp”
“Người cứu rỗi cái đẹp”
Y.Kawabata là nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel văn học vào
năm 1968 với bộ ba tiểu thuyết: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951), Cố
đô (1962) Với sự kiện này ông được các nhà nghiên cứu tôn vinh như người
“Mở cánh cửa tâm hồn Nhật Bản” ra thế giới
Trong ba tác phẩm đạt giải Nobel thì Xứ tuyết được xem là một trong
những tác phẩm toàn bích của nền văn học Nhật Bản, là quốc bảo của văn học Nhật Bản thế kỷ XX Mỗi tác phẩm của Y.Kawabata đều cho thấy nghệ thuật viết văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao, thể hiện được bản chất của cách tư duy Nhật Bản qua bút pháp sáng tác bậc thầy- một kiểu sáng tác lãng mạn mà không gian và thời gian nghệ thuật là một yếu tố rất quan trọng trong đó
Không gian và thời gian là sản phẩm sáng tạo để nhà văn thể hiện quan niệm nhất định về con người, cuộc sống Vì vậy, việc tìm hiểu về không gian
và thời gian nghệ thuật là điều thú vị, là sự quan tâm của nhiều người
Trang 6Trường ĐHSP Hà Nội 2 3 K32D- Ngữ Văn
Đối với Y.Kawabata, từ lâu “ Không gian và thời gian nghệ thuật” trong sáng tác của ông vẫn được coi là một đề tài mới mẻ và hấp dẫn đối với những người say mê văn chương Nhật Bản- say mê dòng văn học xứ sở Phù Tang
1.2.Lý do sư phạm
Việc tìm hiểu sáng tác của Y.Kawabata sẽ giúp người giáo viên tương lai có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Nhật Bản Từ đó tích luỹ được những tư liệu cần thiết cung cấp cho học sinh hiểu biết thêm về những sáng tác văn học được học trong nhà trường phổ thông như thơ Haikư của Basho Và đặc biệt giúp các em có cái nhìn đúng đắn trong học tập và trong cuộc sống Biết gìn giữ, trân trọng những giá trị truyền thống khi xã hội đang tiến lên và hội nhập
Một tác phẩm văn chương sinh động, hấp dẫn được thể hiện qua rất nhiều phương diện nghệ thuật trong đó “ không gian và thời gian nghệ thuật”
là đề tài độc đáo và đặc sắc Khi nghiên cứu đề tài này người viết không chỉ nắm được nội dung tư tưởng của tác phẩm mà còn là dấu hiệu nhận biết phong cách của nhà văn
Từ những lý do đó, chúng tôi chọn đề tài “ Không gian và thời gian
nghệ thuật trong Xứ tuyết của Y.Kawabata” với hi vọng sẽ khám phá được
phần nào đóng góp của tác giả làm nên giá trị nghệ thuật cho tác phẩm
2 Lịch sử vấn đề
Y.Kawabata là một trong những nhà văn góp phần làm phong phú các giá trị văn chương của nhân loại trong thế kỷ XX Sáng tác của ông luôn thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước:
Tạp chí văn học số 16 ( tháng 9/ 1999) tác giả E.G.Sheidensticker nhận xét: “ Tôi cho rằng nên xếp Y.Kawabata vào dòng văn chương mà ta có thể
Trang 7Trường ĐHSP Hà Nội 2 4 K32D- Ngữ Văn
dò đến tận bậc thầy Haikư của thế kỷ XVII ” Trong bài viết này tác giả chủ yếu tìm hiểu nghệ thuật Chân không trong sáng tác của Y.Kawabata
Tạp chí văn học số 9 năm 1999: Tác giả Lưu Đức Trung có bài viết bàn
về “ Thi pháp tiểu thuyết Y.Kawabata- Nhà văn lớn của Nhật Bản” Thể hiện
rõ thi pháp đặc trưng trong sáng tác của Y.Kawabata là thi pháp Chân không (nói ít, gợi nhiều, ý được toát ra từ khoảng trống của câu chữ)
Tạp chí văn học số 15 ( tháng 6/ 2010) có bài: “ Đọc Xứ tuyết suy nghĩ
về cái nhìn huyền ảo của Y.Kawabata” của tác giả Đào Ngọc Chương Ở bài viết này người nghiên cứu không đề cập đến lý thuyết tiếp nhận như một cơ
sở để xây dựng các luận điểm mà chỉ dừng lại ở việc so sánh, hệ thống các yếu tố trong tác phẩm hướng tới lý giải cái nhìn huyền ảo của Y.Kawabata trong xứ tuyết như một đặc trưng thi pháp của ông
Tạp chí văn học tháng 2 năm 2002, tác giả Nhật Chiêu có bài “ Thế giới Kawabata Yasunary trong tác phẩm của ông”
Tạp chí nghiên cứu văn học số 1 năm 2004 với bài: “ Thủ pháp tương
phản trong truyện Người đẹp say ngủ của Y.Kawabata” của tác giả Khương
Việt Hà, bài viết tập trung đi sâu tìm hiểu về nghệ thuật của tác phẩm
Trong tạp chí văn học số 7 năm 2005: Đào Thị Thu Hằng có bài
“Y.Kawabata giữa dòng chảy Đông- Tây” Bài viết nghiên cứu về sự ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đối với Y.Kawabata và khẳng định văn hoá phương Đông là gốc rễ trong tư tưởng nhà văn
Tạp chí văn học số 11 năm 2005 với bài: “Y.Kawabata – Lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp” của tác giả Nguyễn Thị Mai Liên Bài nghiên cứu đi sâu vào vẻ đẹp Nhật Bản trong sáng tác của Y.Kawabata: Vẻ đẹp thiên nhiên,
vẻ đẹp phong tục, vẻ đẹp của tâm hồn con người
Trang 8Trường ĐHSP Hà Nội 2 5 K32D- Ngữ Văn
Trong nghiên cứu văn học số 6 năm 2006: Khương Việt Hà có bài bàn
về “ Mĩ học Y.Kawabata” bài viết trình bày rõ quan điểm về cái đẹp của Y.Kawabata và nguồn gốc hình thành quan điểm đó
Tác giả Đào Thị Thu Hằng với cuốn chuyên luận “ Văn hoá Nhật Bản
và Yasunary Kawabata” chuyên luận viết về những nét văn hoá đặc sắc của Nhật Bản, về tác giả Y.Kawabata và nghệ thuật kể chuyện trong sáng tác của ông, trong đó có nhắc đến phương diện không gian và thời gian
Nhìn chung, đã có một số bài viết đề cập đến “ Không gian và thời gian nghệ thuật” trong sáng tác của Y.Kawabata nhưng chưa được khai thác sâu
mà chủ yếu chỉ tập trung làm nổi bật cái đẹp trong tác phẩm của ông
Trong khoá luận này, người viết muốn tìm hiểu, khám phá sâu hơn
phương diện “ Không gian và thời gian nghệ thuật trong Xứ tuyết của
Y.Kawabata”
Xứ tuyết là một trong ba tác phẩm đạt giải Nobel của Y.Kawabata, được viết
từ năm 1934 và hào thành vào năm 1947 Tác phẩm được Y.Kawabata viết nhằm tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Nhật Bản, vẻ đẹp của thiên nhiên
Nhật Bản Các nhà nghiên cứu đánh giá “ Xứ tuyết là bài ca về tình yêu tuyệt
vọng của một geisha Một tình yêu được hình thành như tuyết và tan ra như tuyết” Không gian và thời gian trong tác phẩm được Y.Kawabata thể hiện rất độc đáo, sinh động khiến độc giả cảm nhận mới mẻ không dề gì nắm bắt được ngay mà phải bằng cả tâm hồn, sự hứng thú của mình để tìm hiểu sâu sắc vấn
đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích khám phá không gian nghệ thuật và thời gian
nghệ thuật trong Xứ tuyết của Y.Kawabata Qua đó thấy được tài năng của
nhà văn và những đóng góp lớn lao của ông cho nền văn học Nhật Bản nói riêng và cho nhân loại nói chung
Trang 9Trường ĐHSP Hà Nội 2 6 K32D- Ngữ Văn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này người nghiên cứu hệ thống các khoảng không gian và thời gian khác nhau trong tác phẩm, sau đó tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu giúp người đọc thấy được những đóng góp, sáng tạo mới mẻ của Y.Kawabata về vấn đề đang cần bàn
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Xứ tuyết của Y.Kawabata 5.2 Phạm vi khảo sát
Tiểu thuyết Xứ tuyết của Y.Kawabata do Ngô Văn Phú và Nguyễn
Đình Bình dịch- NXB Văn học ấn hành năm 2001
Tuy nhiên, để tiện cho việc phân tích đối chiếu, so sánh, người viết có thể mở rộng sang một số tác phẩm khác của Y.Kawabata nếu cần thiết
6 phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp khảo sát tác phẩm
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp nâng cao vấn đề
7 Đóng góp của khoá luận
Khoá luận đóng góp một phần nhỏ bé vào việc cung cấp ngữ liệu về việc giảng dạy những tác phẩm Văn học Nhật Bản sau này ở trường PT
8 Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khoá luận gồm có hai chương:
Chương 1: Không gian nghệ thuật trong Xứ tuyết
Chương 2: Thời gian nghệ thuật trong Xứ tuyết
Trang 10Trường ĐHSP Hà Nội 2 7 K32D- Ngữ Văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG XỨ TUYẾT
1.1 Khái niệm về không gian nghệ thuật
Không gian là hình thức tồn tại cơ bản của thế giới Trong đó, các vật thể có độ dài và độ lớn khác nhau nhưng đó chưa phải là không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian
Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cách nhìn và mang ý nghĩa khái quát thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn Không gian ấy có thể rất rộng có thể là rất hẹp Nó cũng có viễn cảnh,
có giá trị tình cảm Tình cảm có thể làm cho không gian bao la thêm hay gò
bó chật chội hơn Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực Đây là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc hình thành thế giới nghệ thuật, góp phần thể hiện thế giới quan tư tưởng của người nghệ sĩ trước hiện thực và xã hội, phụ thuộc vào cách phản ánh thế giới của nhà văn
vì nó mang tính chủ quan
Trong “ Từ điển thuật ngữ văn học” các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa về không gian nghệ thuật như sau:
“Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện chỉnh thể của nó Sự miêu tả trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một “điểm nhìn” diễn ra trong “ trường nhìn” nhất định Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan, ngoài
Trang 11Trường ĐHSP Hà Nội 2 8 K32D- Ngữ Văn
không gian vật thể có không gian tâm tưởng” Do vậy, không gian nghệ thuật
có tính độc lập, tương đối, không quy được vào không gian địa lý
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như: Thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới, tính cản trở Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật
Trong cuốn “ Dẫn luận thi pháp học”, Giáo sư Trần Đình Sử khẳng định: “Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện quan niệm nhất định về cuộc sống do đó không thể quy nó về không gian địa lý, không gian vật lý hay vật chất Trong tác phẩm,
ta hay bắt gặp sự miêu tả con đường, dòng sông…nhưng bản thân các sự vật
ấy chưa phải là không gian nghệ thuật Chúng được xem là không gian nghệ thuật trong chừng mực biểu hiện thế giới mô hình của con người” Vì vậy, xem xét không gian nghệ thuật như một quan niệm nghệ thuật về thế giới con người, như một phương thức chiếm lĩnh thực tại, một hình thức thể hiện cảm xúc và khái quát tư tưởng thẩm mỹ
Không gian nghệ thuật là một mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đó Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc, tâm tưởng của thế giới tinh thần
Trong văn học, không gian được biểu hiện bằng các không gian điểm mang tính ước lệ tượng trưng: Làng quê, trong nhà, ngoài vườn, bến sông, thành phố, biển khơi…
Trang 12Trường ĐHSP Hà Nội 2 9 K32D- Ngữ Văn
Việc tìm hiểu không gian nghệ thuật của một tác giả, một tác phẩm có tầm quan trọng lớn, cho phép khám phá phong cách và cá tính sáng tác của người nghệ sĩ một cách khoa học về đời sống
1.2 Không gian nghệ thuật trong Xứ tuyết
Xứ tuyết là tác phẩm mang âm hưởng truyền thống lữ hành của các thi
nhân văn sĩ Nhật Bản từ xa xưa Câu chuyện theo bước chân Shimamura- chàng trai sinh ra và lớn lên tại khu phố thương mại Tokyo, chàng tìm về với
Xứ tuyết – miền đất xa xôi mà thiên nhiên còn lưu giữ tinh thần Nhật Bản trong một xu thế rời bỏ thế giới thực tại đầy xô bồ, ồn ã của Tokyo Tại thị trấn xa xôi này Shimamura đã có tình cảm với một geisha tỉnh lẻ- nàng Komako Lần thứ hai trở lại đây Shimamura luôn sống trong trạng thái tình cảm lưỡng phân: Một tình yêu nồng nàn, nhục cảm cùng Komako và một khao khát, lý tưởng thanh sạch với Yoko Cuộc hành trình này chính là hành trình đi tìm lời đáp cho một lối ứng xử trước không khí thời đại đối chọi giữa
xu hướng níu giữ truyền thống và xu hướng phương Tây
Khi đọc Xứ tuyết, dịch giả người Pháp Armel Guerne nhận định:“ Đây
là một tác phẩm thuần tuý Nhật Bản khác với lối tư duy trong ngôn ngữ phương Tây vốn nặng nề về gò bó duy lý Nghệ thuật mờ ảo, cái đẹp được miêu tả tinh tế, lộng lẫy, lối kết cấu gần như vô hình”
Xứ tuyết được viết trong khoảng từ 1934- 1947, nàng kỹ nữ Onsen
geisha Matsuli là người mà Y.Kawabata đã gặp năm 1934 và là hình ảnh để xây dựng nhân vật trong truyện Nàng Komako người con gái mang vẻ đẹp diễm lệ của người con gái Nhật Bản mang mối tình sâu nặng với Shimamura- một người đàn ông đến từ Tokyo, đã lập gia đình Hình tượng Shimamura giống như hình ảnh điển hình của tầng lớp trí thức Nhật những năm 1930, họ
Trang 13Trường ĐHSP Hà Nội 2 10 K32D- Ngữ Văn
bị lôi kéo, bị ảnh hưởng bởi lối sống phương Tây nhưng vẫn luôn mang trong mình khát khao tìm về với vẻ đẹp thuần tuý của đất nước
Không gian trong Xứ tuyết của Y.Kawabata đã góp phần quan trọng
trong việc bộc lộ tư tưởng, dụng ý nghệ thuật của nhà văn Ở đây, ông đã dựng lên một không gian đặc biệt mang dấu ấn riêng trong tác phẩm của mình Đó là khoảng không gian đồng hiện giữa hiện tại và quá khứ Y.Kawabata thường khắc hoạ một vài đường nét còn lại là những khoảng trống hư không Điều này cho thấy tác giả luôn trân trọng quá khứ, hướng về quá khứ để tìm lại vẻ đẹp truyền thống đang dần bị lãng quên
Căn cứ vào kết quả khảo sát cho thấy không gian nghệ thuật trong Xứ tuyết của Y.Kawabata gồm hai kiểu không gian: Không gian thực( không gian
rộng: Không gian xứ tuyết phương Bắc Nhật Bản; không gian hẹp: Không gian phòng trọ, không gian đám cháy) và không gian tâm lý
1.2.1 Không gian thực
Trong mỗi trang sách, Y.Kawabata luôn ý thức về việc dựng lại một không gian đẹp, truyền thống đặc trưng riêng của nước Nhật ( lễ hội, đền đài, cây cối, cố đô…) muôn đời không bị thời gian và con người làm cho phai nhạt Không gian thực là khoảng không gian được xác định rõ ràng, hiển hiện ngay trước mắt nhân vật, bạn đọc Không thể tái hiện đời sống mà không dựng lại một địa điểm, nơi nhân vật sống Nhà văn có thể dễ dàng di chuyển
từ không gian này sang không gian khác Không gian thực gói gọn trong nó không gian rộng của xứ tuyết- phương Bắc Nhật Bản và khoảng không gian hẹp là không gian của phòng trọ, không gian đám cháy
Không gian thực trong Xứ tuyết hiện lên rất rõ ràng theo hành trình của
Shimamura- cuộc chạy trốn cuộc sống phàm tục và tìm lại bản ngã
Trang 14về xứ tuyết trước mắt bạn đọc hiện lên phong cảnh giàu chất trữ tình của phương Bắc Nhật Bản với không gian bao la phủ đầy tuyết trắng, trần ngập ánh nắng mặt trời, một khung cảnh nên thơ, quyến rũ lòng người Không gian này mang đậm ý nghĩa, mục đích của tác giả Đây cũng chính là nét độc đáo trong nghệ thuật không gian của nhà văn Chính khoảng không gian này đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà văn khai thác tâm lý, tình cảm, tính cách nhân vật
Thiên nhiên Nhật Bản là thiên nhiên mang tính hai mặt, chính điều này
đã tạo nên sự hấp dẫn, cuốn hút với người Nhật Bản- Một thiên nhiên dịu dàng, tinh tế, thơ mộng nhưng cũng vô cùng dữ dội, khắc nghiệt luôn có sức lôi cuốn với người Nhật Bản Y.Kawabata đã tiếp thu truyền thống yêu cái đẹp của người Nhật Bản “ Người Nhật vốn thích sống thanh cao, biết trọng danh dự, gìn giữ đạo đức, khuôn phép, tâm hồn rộng mở, hoà hợp với thiên nhiên Họ yêu vẻ đẹp từ trong phiến đá, một bông hoa trên cành, một hoa tuyết lửng lơ bay”
Trong cuốn “ Thiên nhiên Nhật” P.Iu smit đã nhận xét: “ Cảm xúc về cái đẹp, khuynh hướng chiêm ngưỡng vẻ đẹp là đặc tính tiêu biểu cho người Nhật- từ nông phu cho đến nhà quý tộc Bất cứ người nông dân Nhật Bản nào cũng là nhà mỹ học, một nghệ sĩ biết cảm thụ cái đẹp từ trong thiên nhiên Đôi khi anh ta sẵn sàng chu du thật xa để thưởng ngoạn một cảnh đẹp nào đó Một quả núi, một con suối hay một ngọn tháp đều có thể được người ta sùng bái trong suy nghĩ của một người bình thường, chúng gắn liền với các tượng
Trang 15Trường ĐHSP Hà Nội 2 12 K32D- Ngữ Văn
trong đền thờ Khổng Tử và Đức Phật Nghệ thuật Nhật Bản nảy sinh từ lòng tôn thờ vẻ đẹp thoát ra từ tổng thể hoà điệu của thế giới xung quanh ấy”
Xứ tuyết được xây dựng trong một không gian rộng lớn đó là cả vùng
xứ tuyết- một miền đất xa xôi của phương Bắc Nhật Bản Đây là không gian gắn liền với hành trình thưởng ngoạn của Shimamura- một người đàn ông đến
từ Tokyo náo nhiệt
Không gian xứ tuyết hiện ra trong ba mùa Shimamura tới đây, ở mỗi mùa nó lại đem lại cho chàng một cảm giác riêng, mới mẻ
Lần đầu tiên tới đây vào mùa xuân, Shimamura nhận thấy, không gian nơi đây gợi cảm giác yên tĩnh và thanh bình Anh tự nhủ, đây là “Ngôi làng đơn sơ kiểu nông thôn nhưng chắc thú vị và tiện nghi lắm” “Shimamura vừa bước qua ngưỡng cửa của nhà trọ thì núi non và làn không khí ngát hương thơm của cành lá non đã cuốn ngay anh đi”
Xuất hiện một loạt những hình ảnh chân thực đến tuyệt đẹp của vùng núi phương Bắc “ Thân của cây bá hương ở đằng sau phiến đá cô ngồi vút lên thẳng tắp, cao đến nỗi anh phải ngửa người ra, tựa lưng vào phiến đá, mới dõi mắt được đến tận ngọn cây Bầu trời bị che khuất bởi một lớp gần như màu đen những hàng cây mọc sít, những cành cây và những lá kim xanh thẫm dày đặc” “ Người đàn bà trẻ nhìn làn nước con thác đang chảy ở xa xa trong ánh mặt trời đã bắt đầu xuống… tiếng nước rào rào chảy trên sỏi của những dòng thác xa xa vọng tới như một bản nhạc dịu êm Ở đằng kia, trên sườn núi dốc đứng mà họ trông thấy từng quãng rất đẹp các cành bá hương Bóng tối sẫm dần trong các hõm núi” Y.Kawabata miêu tả không gian qua cái nhìn của Shimamura Người đọc có cảm giác, lần đầu tiên chàng tới đây- không gian nơi đây vẫn như một thực thể xa lạ: Không gian được miêu tả cao- rộng- xa tạo sự khoáng đạt, thoải mái trong tâm hồn người đối diện
Trang 16Trường ĐHSP Hà Nội 2 13 K32D- Ngữ Văn
Lần thứ hai trở lại xứ tuyết trên chuyến tàu đêm Shimamura nhận thấy
“Chân trời trắng mờ dưới bóng đêm”, “ Trong bầu trời đêm, phía trên những quả núi, hoàng hôn còn để lại vài vệt đỏ sậm…lướt qua vẫn chỉ một phong cảnh núi non bây giờ đã tối và chẳng còn màu sắc gì” Mùa đông ở xứ tuyết
“Phong cảnh bao trùm một vẻ khắc nghiệt khô khan” Hình ảnh thơ mộng
“Bầu trời trong veo như pha lê, xa xa trên các ngọn núi, tuyết trông như một lớp kem mềm mại được bao phủ một làn khói nhẹ” rồi “ ánh sáng và bóng tối liên tục đùa giỡn nhau vẽ lên một phong cảnh băng giá và rồi bóng tối đã bao trùm lên các sườn dốc”
Y.Kawabata cũng miêu tả không gian xứ tuyết rất chân thực “ Mặt đường rắn đanh dưới lớp băng giá”
Bao trùm lên không gian nơi đây là hình ảnh của “ tuyết”: “ Cả xứ tuyết ngập trong màu trắng của tuyết” Đó là cái màu trắng tinh khiết tràn ngập vùng đất phương Bắc băng giá xa xôi Nó khác hẳn với Tokyo phồn hoa Y.Kawabata đã hình tượng hoá khoảng cách giữa Tokyo với xứ tuyết bằng một đường hầm dài Đó cũng là một khoảng cách giữa hai cõi: Thế giới loài người đang chìm đắm trong chiến tranh, trong lối sống chạy theo dục vọng tầm thường và một thế giới thiên nhiên hoang sơ, trinh bạch còn lưu giữ giá trị truyền thống Vẻ đẹp của tuyết nơi đây có tác dụng gột rửa tâm hồn Shimamura Lúc này chàng như gần hơn với thiên nhiên, con người nơi đây Không gian càng được mở rộng ra hơn
“ Đối diện, trước những hàng cây bá hương thẳng tắp, vô số chuồn chuồn lượn bay trong gió, bị cuốn hút bởi vị hương của bồ công anh Và những dòng thác nước vọt tung toé như tràn ra trên đầu những cành bá hương dài nhất Những thảm hoa thếp bạc mà mùa thu đã trải lên dốc núi”- Lần thứ
ba Shimamura tới xứ tuyết “ Thứ đầu tiên đập vào mắt anh từ xe lửa bước
Trang 17Không gian xứ tuyết còn gắn chặt với con người, qua con mắt quan sát của Shimamura: “ Mặc bộ Bamaka thô bằng nỉ mới tinh màu đỏ da cam, một
cô bé chơi ném bóng vào một bức tường trắng, dưới một mái hiên”, hình ảnh
“nông dân đang gặt lúa, phơi lúa”
Thêm một không gian của xứ tuyết đã được Shimamura khám phá
“Shimamura biết một con đường núi, ở ngay dưới một đỉnh núi, chạy giữa những hồ và đàm trong một cảnh quan lộng lẫy và đặc biệt vùng đất ẩm đấy rất nhiều loài hoa núi…những con chuồn chuồn ngô”
Ở lần thứ ba tới xứ tuyết này Shimamura như đã hoà vào cùng không gian nơi đây Không gian xứ tuyết không còn xa- rộng, lạnh lẽo nữa mà nó đã gần gũi: “ Đối diện”, “ thật gần”, “ gần ngay” trước mắt anh
Y.Kawabata miêu tả Xứ tuyết mang âm hưởng truyền thống lữ hành
của các thi nhân, văn sĩ Nhật Bản Họ luôn khao khát tìm về với cái đẹp truyền thống dù đang sống giữa cuộc sống xô bồ, náo nhiệt
Không gian xứ tuyết phương Bắc Nhật Bản được Y.Kawabata dựng lên mang dấu ấn riêng trong phong cách của tác giả Việc xây dựng không gian này góp phần giúp độc giả hiểu rõ hơn về hành trình đi tìm cái đẹp, hoà trộn với thiên nhiên của nhân vật trong sáng tác của Y.Kawabata
12.1.2 Không gian hẹp
Không gian hẹp là không gian tạo điều kiện thuận lợi cho nhà văn khai thác tâm lý, tình cảm, tính cách nhân vật Đời sống của nhân vật hiện lên cụ
Trang 18Trường ĐHSP Hà Nội 2 15 K32D- Ngữ Văn
thể, sinh động, chân thực Đây cũng chính là nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng không gian của nhà văn
Không gian hẹp trong Xứ tuyết được xác định là không gian nơi phòng
trọ và không gian đám cháy Đây đều là những chi tiết quan trọng làm nên đặc sắc cho tác phẩm
1.2.1.2.1 Không gian phòng trọ
Bên cạnh không gian rộng lớn của xứ tuyết còn có một dạng không gian khác, đó là không gian phòng trọ Đời sống của nhân vật hiện lên rất cụ thể, sinh động, chân thực ở đây
Một điều dễ dàng nhận thấy trong Xứ tuyết xuất hiện không gian phòng
trọ Không gian này đóng vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong không gian
kể chuyện của Y.Kawabata
Không gian phòng trọ là không gian xuyên suốt trong Xứ tuyết Xứ tuyết được xây dựng trong một không gian hẹp là phòng trọ Đây là nơi dành
cho những người lữ khách đi du ngoạn phong cảnh phương Bắc, đi nghỉ ngơi nơi suối nước nóng Cụ thể ở đây là căn phòng trọ của Shimamura- một người đến từ Tokyo trong những lần chàng tới xứ tuyết Đây cũng là nơi chàng gặp
gỡ Komako – một nàng geisha tỉnh lẻ, sau thành nhân tình của chàng, phòng trọ là nơi chủ yếu diễn ra tâm sự của hai người Là nơi thể hiện rõ tâm lý, tình cảm, tích cách của nhân vật
Sau một tuần lễ đi khắp dãy núi Ba Tỉnh, Shimamura tới trạm suối nước nóng lần đầu tiên Căn phòng của anh là căn phòng có cửa sổ nhìn ra núi: “Thế là họ chỉ còn lại có một mình, nhưng vì cô cũng không biết tên những ngọn núi mà họ trông thấy qua cửa sổ Theo thống kê của chúng tôi thì hình ảnh “ cửa sổ” được nhắc đến tới 22 lần: “Lần này cô xoay người đối diện anh, nửa đứng nửa ngồi bên bệ cửa sổ”, “ Cô nhẹ nhàng nhảy khỏi bệ cửa sổ”…
Trang 19Trường ĐHSP Hà Nội 2 16 K32D- Ngữ Văn
Phòng trọ này là nơi Komako nảy sinh tình yêu với Shimamura “ Cô gái gọi Shimamura rất to ngoài hành lang… cô vào phòng anh và ngã xuống chỗ trước cái bàn”, “ khoảng gần một giờ đồng hồ sau đó, Shimamura nghe thấy những bước chân đi chệnh choạng đang tiến một cách nạng nhọc dọc theo hành lang”, “ không còn nghi ngờ gì nữa, tiếng gọi thất thanh ấy phải vang khắp quán trọ Các ngón tay cô chọc qua lớp giấy khi cô bám vào nẹp cửa rồi ngã nhào vào anh” Qua cuộc tiếp xúc với Shimamura, Komako đã nảy sinh tình cảm với chàng Cô đã tự động tìm đến phòng trọ của anh
“Shimamura về giường Trong lúc đó cô gái cúi người xuống bàn uống một cốc nước nữa”
“Shimamura kéo cô lại nằm xuống cạnh anh Lúc đầu cô quay mặt đi Lát sau, cô đột ngột quay lại chìa môi cho anh”
“ Cô không muốn ra về… cuối cùng, đã đến giờ có những tiếng động đầu tiên ở quán trọ, khi những người phục vụ đã dậy và bắt đầu làm việc Nhanh nhẹn cô sửa sang lại đầu tóc một chút rồi lẻn ra ngoài”
Sở dĩ Komako làm vậy bởi, là một geisha nàng vẫn luôn đề ra những quy định để bảo vệ nhân phẩm của mình
Không gian phòng trọ trong lần thứ hai Shimamura tới xứ tuyết: “ Ở quán trọ suối nước nóng…anh đi dọc dãy hành lang dài, mỗi bước chân trên lớp sàn gỗ cũ kỹ làm kính ở các cánh cửa ra vào rung lên…anh thấy một phụ
nữ đứng bên trong văn phòng của nhà trọ…không nói gì, họ đi về phía phòng anh”, “ Đến chân cầu thang, anh xoè bàn tay trái giơ trước mặt cô: Bàn tay này vẫn giữ những kỷ niệm tốt đẹp về em - thật ư ?… cô chỉ buông tay anh khi hai người đã đến giữa căn phòng” ở đây hai người đã tâm sự về những ngày xa cách, về việc cô viết nhật ký, về toàn bộ cuộc đời cô Shimamura lại cho rằng đó là một việc làm vô ích “ khi có tiếng còi tàu Anh thấy cô đứng phắt dậy đi thẳng tới, mở cửa sổ và cúi người ra ngoài…không khí giá buốt
Trang 20Trường ĐHSP Hà Nội 2 17 K32D- Ngữ Văn
tràn ngập căn phòng” người đàn bà trẻ, cúi thêm chút nữa xuống bệ cửa sổ, tì hai vú lên Đó không phải là một tư thế buông thả mà ngược lại: Trước bóng đêm, cô có vẻ cứng rắn và kiên quyết hơn bao giờ hết”, “Shimamura đặt tay lên cổ người đàn bà trẻ để kéo cô lui lại Nhưng cô vẫn bám chặt vào bệ cửa sổ” Chỉ bằng những hành động trong một không gian hẹp, Komako thể hiện được tính cách mạnh mẽ bên trong con người cô và sự chủ động trong tình yêu của nàng
Không chỉ có không gian căn phòng của Shimamura, các nhân vật còn hiện lên trong căn phòng của Komako: “ Em nghĩ, em có thể mời anh đến nhà
em, nên em mới chạy theo anh” Shimamura đã tới phòng của Komako
“Komako đi vào lối qua một bờ tường thấp ở bên phải là một khu vườn nhỏ phủ đầy tuyết…ngôi nhà trông cũng cũ kỹ và nứt nẻ như cái thân rỗng của một câu dâu già Tuyết nằm từng mảng trên mái nhà bị gồ lên bởi những thanh xà cong queo”
“ Chỗ lối vào bằng đất nên lạnh cóng” “Shimamura được dẫn tới chân một cái thang trước khi ánh mắt anh quen với bóng tối đột ngột Một cái thang thật, đưa lên một căn phòng áp mái thực sự ” Shimamura tò mò quan sát căn phòng Anh thấy có một cửa sổ nhỏ ở hướng Nam nhưng giấy bịt kín
ở cửa sổ ấy khá mới… các vách đều được dán giấy rất khéo khiến căn phòng giống như một chiếc hòm cũ bằng giấy Phía trên đầu là mái luôn không có trần và mái nhà dốc tuột xuống ngang cửa sổ gây một cảm giác cô đơn Sàn
gỗ và các vách ngăn tuy cũ kĩ nhưng cực kỳ sạch sẽ
Miêu tả căn phòng của Komako nhưng gợi trong Shimamura sự chật chội Y Kawabata miêu tả không gian sống của Komako rất tỉ mỉ với tấm phủ
lò sưởi, cái tủ nhiều ngăn, cái bàn trang điểm, cái hộp đựng khâu vá, cái giá gồm nhiều ngăn nhỏ Những đồ vật trong phòng đều cũ kỹ nhưng tất cả gợi sự gọn gàng, sạch sẽ như vẻ sạch sẽ, tươi mát của chính con người cô
Trang 21Trường ĐHSP Hà Nội 2 18 K32D- Ngữ Văn
Khi được bà tẩm quất mù nói lí do Komako trở thành geisha chuyên nghiệp, Shimamura càng thấy cô trong sáng, trong sáng như pha lê vậy, hiện thực khiến “ anh cảm thấy lạnh buốt đến tận ruột gan Nhưng một phần, cũng
vì các cửa sổ ở phòng anh đều mở toang ” Đây thực chất là lí do anh trốn chạy tình yêu của Komako dành cho anh
Chi tiết Komako chơi đàn samisen cho Shimamura nghe được miêu tả trong không gian “ Căn phòng không lớn nhưng phải chăng cô chơi đàn đầy kiêu hãnh như đang ở trên sân khấu lớn” Chi tiết này thể hiện được sự tự tin, mạnh mẽ trong con người Komako Nàng geisha Komako không chỉ đẹp bởi
vẻ bên ngoài của làn da, của khuôn mặt, mái tóc… mà còn là một con người mạnh mẽ, sống động, một geisha biết nói chuyện, biết lắng nghe, biết chia sẻ, một geisha vẫn giữ được nhân phẩm của mình
Không gian phòng trọ của Shimamura lại được hiện ra trong lần thứ ba chàng tới xứ tuyết “ Chàng bước vào phòng thì trời xẩm tối …Komako đến hơi chậm Cô dừng lại một lát trên ngưỡng cửa đăm đắm nhìn Shimamura” Căn phòng trọ lại là nơi cô giãi bày lòng mình, trao đổi những điều sâu kín với anh
“ Đêm trước, Komako đã ngủ lại với anh và giờ một mình trong phòng, anh chỉ còn lại nước là chờ đợi Anh cảm thấy cô sẽ tới mà chẳng cần phải gọi cho cô” Shimamura đã quá quen với sự dâng hiến tình yêu từ nơi Komako, anh cảm thấy cô đơn, thấy cần tình yêu ở cô nhưng lại có thái độ thờ ơ, không biết, không muốn kiếm tìm Tình yêu ở cô là sự chủ động dâng hiến hết mình mặc dù không được người yêu đáp lại
Gần như lần nào đến với Shimamura, cũng phải lén lút: Khi thì trốn trong tủ quần áo, khi thì lén đi qua hành lang trước khi vào nhà, dường như
“chạy trốn và lẩn tránh là những điều mà Komako muốn làm”
Trang 22Trường ĐHSP Hà Nội 2 19 K32D- Ngữ Văn
Lần thứ hai Shimamura ghé qua phòng ở của Komako “ Anh bước lên cầu thang tối om … Những tấm chiếu cũ trải kín bốn căn phòng sơ sài ở trên lầu” Vẫn những đồ dùng ấy, vẫn những vật dụng ấy “ nhưng trong căn phòng này, loại phòng thảm hại có chút gì đó quê kiểng ở lầu một, trông chúng lại có
vẻ đáng thương” – căn phòng đáng thương như số phận tình yêu của nàng Komako vậy
Tuy rằng cuộc sống của nàng là ở những lễ hội, những quán rượu để tiếp khách du lịch nhưng nàng không bao giờ cho phép mình ở lại qua đêm với bất kỳ vị khách nào Khi biết mình quá chén, nàng cố gượng trở về quán trọ hoặc trở về với Shimamura ( người nàng yêu tha thiết) Cuộc sống của nàng lúc thì sôi nổi nhưng cũng có lúc lại lắng sâu tâm hồn như trong những trang nhật kí
Không gian phòng trọ được Y Kawabata dựng lên mang dáng vẻ lặng
lẽ, cô đơn đến xót xa Xót xa cho thân phận tình yêu của Komako, một cô gái chỉ biết dâng hiến, hi sinh, tin tưởng
Việc xây dựng không gian này chính là cách để tác giả mở ra khoảng trống Xã hội bấy giờ sản sinh ra những con người vô cảm trước cái đẹp mà
có những con người như Komako thật đáng quý, đáng trân trọng, trong hoàn cảnh nào đi nữa cũng không được đánh mất mình Mong ước cuộc đời bớt đi những người đàn ông vô cảm, băng giá như Shimamra
1.2.1.2.2 Không gian đám cháy
Không phải là không gian ngôi nhà, khác hẳn với không gian thiên
nhiên đó là không gian đám cháy Đám cháy trong Xứ tuyết chỉ diễn ra ở 10
trang cuối truyện Đây là không gian hoàn toàn mới lạ, sáng tạo trong sáng tác của Y Kawabata
Nếu như toàn bộ nội dung câu chuyện trước đó là tình yêu của Komako với Shimamura thì 10 trang cuối truyện thể hiện rõ nét tình yêu cao cả, thánh
Trang 23Cái chết của Yoko có một dụng ý nghệ thuật cao Yoko được miêu tả trong không gian tương phản, đậm màu sắc lãng mạn Không gian tràn ngập tuyết trắng và rực màu lửa cháy Người con gái ấy chết trong đám lửa đẹp tựa thiên thần trong ánh sáng hào quang, giống như một cánh hoa anh đào rụng giữa độ rực rỡ nhất Khi Komako bế Yoko trên tay, Shimamura cảm thấy dường như “ dải Ngân Hà tuột vào trong người chàng trong một tiếng gầm dữ dội” Cái đẹp đã làm một cuộc hoá thân đau đớn nhưng tuyệt vời
Y Kawabata đã miêu tả cảnh cháy dữ dội, hãi hùng trong kho kén “một cột lửa bốc vụt lên trên những mái nhà”, “ tiếng lửa rần rật cháy”,” Những lưỡi lửa “ném” ra trước mặt” Lửa đã thiêu đốt tất cả Shimamura coi sự bất động của Yoko như một sự hoá thân một giai đoạn trung chuyển, một hình thức cuộc sống thể chất Lửa đã thiêu cả tình yêu và sự sống nhưng cũng khiến Yoko trở nên bất tử Cái đẹp và nàng là cái mà suốt đời Shimamura không thể nắm bắt được đã đi vào cõi vĩnh hằng
“ Dải Ngân Hà” được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần tạo nên sự ám ảnh trong lòng người đọc
Trong cảnh cháy dữ dội của kho kén, dải Ngân Hà xuất hiện như một hiện tượng kỳ lạ, bất ngờ Lúc đầu Shimamura tưởng nó là đám cháy Vẻ đẹp
Trang 24Trường ĐHSP Hà Nội 2 21 K32D- Ngữ Văn
kì diệu của dải Ngân Hà khiến Komako vừa phát hiện thấy đã thốt lên: “ ồ! Dải Ngân Hà! Đẹp quá!”, Shimamura thì “ Không rời mắt Nhìn dải Ngân Hà, tâm hồn lãng mạn của Shimamura còn có những liên tưởng thú vị “ Dải Ngân
Hà nghiêng cái vòng cung xuống, ôm lấy trái đất tối đêm trong cái xiết thanh sạch, vô cảm”
Vẻ đẹp huy hoàng, lộng lẫy của dải Ngân Hà đối lập với ánh lửa bốc cháy rần rật kinh hoàng của kho kén Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh này lại được xuất hiện đúng lúc xảy ra vụ cháy ở kho kén - Nơi đã cướp đi sự sống của người con gái đang tuổi thanh xuân Sự xuất hiện của nó mang dụng
ý nghệ thuật cao: Dải Ngân Hà xuất hiện như một thế giới siêu nhiên đang ra sức bảo vệ cái đẹp, cứu rỗi cái đẹp
Cái chết của Yoko làm Shimamura tỉnh ngộ Chàng cũng trong tâm trạng đau đớn vô cùng “ tiếng kêu thét của Komako đã xuyên suốt người anh
và cái bắp chân co duỗi của Yoko buốt dọc xương sống xuống tận đầu ngón chân” Một nỗi lo âu khó tả làm tim anh thắt lại
Trước đó Shimamura có linh cảm về sự xa cách sắp tới mà anh luôn muốn cưỡng lại sự chia ly đó Còn bây giờ vẻ đẹp mà chàng ngưỡng mộ, mong muốn đã bay vào cõi vĩnh hằng để suốt đời chàng không bao giờ với tới được Có lẽ từ đây, Shimamura sẽ nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống, sống có ích hơn chứ không phải suốt đời dành thời gian để tìm những cảm giác mới lạ, những đam mê hời hợt
Hình ảnh biểu tượng: Tuyết - Lửa – Ngân Hà đan xen vào nhau tạo ra bức tranh không gian vùng xứ tuyết vừa tươi đẹp, vừa dữ dội
Hình ảnh Komako bế Yoko trên tay cũng mang nhiều ý nghĩa Nó giống như một sự trừng phạt nặng nề với Komako “ sự cố gắng hằn lên trên khuôn mặt cô nét khắc khổ tuyệt vọng và dưới đó, rất thanh tú là gương mặt thanh thản của Yoko, trắng bệch và bất động, dường như linh hồn đã bay
Trang 25Trường ĐHSP Hà Nội 2 22 K32D- Ngữ Văn
đi…người ta không hề biết cô đang mang một vật dâng hiến cho lễ hoả thiêu hay là sức nặng của hình phạt trong mình” Hai người phụ nữ đã nhập vào một trong cảnh tượng hãi hùng ấy
Không gian đám cháy cũng là một trong những tiêu điểm chính làm nền cho câu chuyện, là hiện thực mà từ đó tâm hồn của Shimamura được bộc
lộ rõ nét hơn
1.2.2 Không gian tâm lý
Không gian tâm lý được tạo ra do dòng ý thức bên trong của nhân vật, thường gắn với hồi ức, tưởng tượng, giấc mơ … Đây là không gian đặc biệt mang cảm quan đời sống của nhà văn Không gian này mang đậm dấu ấn trạng thái tinh thần, đạo đức, tính cách, số phận của từng nhân vật cụ thể, những sắc thái biểu hiện của không gian ngoại cảnh thường được khúc xạ qua lăng kính chủ quan, là một cái cớ để mở rộng suy tư, cảm xúc của nhân vật Không gian chật hẹp có ảnh hưởng đến không gian tâm lí ( từ đó nhân vật sống với hồi ức về một quá khứ không bao giờ trở lại ) Nhân vật tách mình khỏi không gian thực để trở về với không gian quá khứ, không gian tâm tưởng Không gian tâm lí mang tính hướng nội, có vai trò thức dậy tình cảm, cảm xúc của nhân vật Trong sáng tác của Y.Kawabata vấn đề không gian được xây dựng hoàn toàn phụ thuộc vào tâm trạng của nhân vật, đây là một dạng không gian tâm lý- không gian tồn tại chủ yếu trong các sáng tác của ông
Trong Ngàn cánh hạc có rất nhiều không gian liên quan đến tâm trạng
con người Gia đình Kikuji bị Chikakô “ ám” từ khi chàng còn là một cậu bé
và cứ mỗi lần cô ta xuất hiện, chàng lại thấy không gian xung quanh trở nên
ảm đạm, xấu xí Trên đường từ sở về nhà, khi biết Chikakô đã tự ý sắp xếp
Trang 26Trường ĐHSP Hà Nội 2 23 K32D- Ngữ Văn
một buổi trà đạo nho nhỏ trong nhà mình, Kikuji thấy “ khách bộ hành qua lại thưa thớt một cách khác thường Con phố im lìm và hoang vắng…”
Ở Tiếng rền của núi không gian tâm trạng của nhân vật cũng được thể
hiện rõ nét Ông Shingô thường hay nhớ về những khoảng không gian xưa cũ nhưng nhiều kỷ niệm gắn với người chị gái vợ Đó là cảnh vườn nhà cha vợ với hình ảnh chị gái vợ sáng sáng thức dậy dọn dẹp tuyết trên các dãy chậu hoa Ông Shingô vốn nặng lòng với người chị gái vợ và sau này lại thấy cô con dâu phẳng phất dáng nét của người xưa khiến cuộc sống của ông là một chuỗi suy tư, không gian sống của ông chính là không gian tâm lý do bản thân ông tạo ra
Được đánh giá là tác phẩm thuần tuý Nhật Bản khác với lối tư duy trong ngôn ngữ phương Tây vốn nặng nề về gò bó duy lí, Y Kawabata không chỉ xây dựng thời gian tâm lí mà ngay cả không gian cũng là không gian tâm
lí Không gian được miêu tả theo diễn biến của nhân vật Đây là kiểu không
gian chiếm vị trí tương đối trong Xứ tuyết
Thủ pháp “ dòng ý thức” đã tạo ra không gian nghệ thuật của tác phẩm thay đổi không phụ thuộc vào không gian nhỏ hẹp của căn phòng mà luôn đưa nhân vật trở lại những bối cảnh khác nhau với những con người tạo nên những trường nhìn khác nhau Chính vì vậy không gian tâm lý thay đổi rất đa dạng theo diễn biến tâm trạng của nhân vật Shimamura Không gian rất khoáng đạt vì nó được tái hiện theo những dòng hồi tưởng theo những phút riêng mình
Trong Xứ tuyết chủ yếu là dạng không gian của những dòng hồi tưởng,
liên tưởng- đây là dạng không gian xuất hiện trong ý thức nhờ những mối liên
hệ ngẫu nhiên, những cảm xúc bất chợt, những liên tưởng đan xen và những dòng hồi ức triền miên của nhân vật
Trang 27Trường ĐHSP Hà Nội 2 24 K32D- Ngữ Văn
Không gian của những dòng hồi tưởng, liên tưởng là không gian của những con đường, không gian những mảnh vườn, triền núi non, cánh đồng… những khoảng không gian này không còn là không gian thiên nhiên đơn thuần nữa mà nó đã phản ánh rõ nét sự góp mặt của dòng ý thức- cái làm nên chất hiện đại trong lời văn của Y Kawabata
Shimamura có sở thích là được đi một mình đến các vùng núi Sau một tuần lễ đi khắp dãy núi Ba Tỉnh anh đã tới xứ tuyết “ Khi từ núi xuống, anh
tự nhủ ngôi làng có vẻ đơn sơ kiểu nông thôn nhưng chắc là thú vị và tiện nghi lắm” Trước đó, Shimamura chưa hề đặt chân tới đây nhưng anh đã cảm nhận được bản chất sâu sắc nơi anh đến Và quả đúng vậy, ngôi làng nơi anh trọ là một trong những làng phồn thịnh nhất xứ tuyết khắc nghiệt này Ở đây anh đã có một kỳ nghỉ thú vị và đầy ấn tượng, anh gặp nàng geisha Komako – một người “ xứng đáng được anh chia sẻ sự hứng khởi cao quý và sự thanh thản mà anh có được ở vùng núi cao này” Nàng là một cô gái biết lắng nghe, biết chia sẻ và nàng cũng hết sức thoải mái, cởi mở kể về quá khứ của mình Mỗi lần nói chuyện với nàng, Shimamura đều cảm nhận được sự yên tĩnh và thanh bình “ Với một cảm giác kì lạ, Shimamura thấy mình tựa lưng vào cái cây già nhất, một thân cây không hiểu tại sao ở mé phương Bắc chỉ toàn cành chết và cành gãy…” Không gian nơi xứ tuyết đã mở ra trong tâm hồn chàng những cảm xúc, cảm giác mới mẻ, được thả hồn vào thiên nhiên, cảm nhận sự yên tĩnh, thanh bình của cuộc sống
Trên chuyến tàu đến với xứ tuyết lần thứ hai, Shimamura ngồi cùng toa với một người đàn ông ốm yếu và một cô gái trẻ Họ đã trở thành mối suy ngẫm trong anh Khi ngắm gương mặt người con gái, đặc biệt là đôi mắt của nàng qua gương, Shimamura như bị cuốn theo những dòng mơ tưởng Khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy còn kì diệu biết bao khi được tâm hồn lãng mạn của
Trang 28Trường ĐHSP Hà Nội 2 25 K32D- Ngữ Văn
Shimamura soi chiếu trong một không gian rộng lớn của phong cảnh núi non lúc buổi tối Vẻ đẹp ấy được thiên nhiên tác động, được thiên nhiên làm nền khiến nàng hiện lên càng lung linh hơn Đó là lúc Shimamura nhìn thấy “ một ánh lửa tít xa trong núi bỗng loé sáng ở giữa gương mặt đẹp của người đàn bà trẻ, khiến cho vẻ đẹp không thể nào tả xiết ấy đạt tới đỉnh điểm” Đó là khi phong cảnh núi non đã bị bầu trời đêm bao phủ khiến cho nó “ chẳng còn màu sắc gì” “ chẳng còn gì để nhìn” “Tất cả lướt qua như một lớp sóng mờ ảo, đơn điệu và nhạt nhẽo dưới đường nét của người đàn bà trẻ” Sự đối lập giữa khuôn mặt người phụ nữ trẻ trong đêm tối khiến khuôn mặt đó càng ngời sáng đến trong suốt Shimamura còn có tưởng tượng kỳ diệu hơn khi đốm lửa lạnh lẽo thấp thoáng xa xa kia dịch chuyển đúng đồng tử của người đàn bà trẻ “ khi ánh mắt và ánh lửa trùng khít nhau thì đó là vẻ đẹp huyền diệu lạ kỳ, con mắt rực sáng ấy như lệnh đênh trên đại dương đen tối và những con sóng xô nhanh của núi non” và “ anh như đang mê đi trước bức tranh vừa không thực lại vừa siêu nhiên, anh bị quyến rũ bởi sắc đẹp lạ kỳ của khuôn mặt đang lướt trên nền phong cảnh ban đêm” Không còn biết mình mơ hay tỉnh, anh tưởng rằng như đang ngắm “ một khuôn mặt phụ nữ bên ngoài, một khuôn mặt bồng bềnh trên nền phong cảnh quái dị và tối om lướt qua nhanh không dứt” Đó là
vẻ đẹp mà không bao giờ Shimamura nắm bắt được
Trong căn phòng trọ ở xứ tuyết Shimamura cảm nhận được sự yên tĩnh bao trùm lên phong cảnh với vẻ khắc nghiệt, khô khan “ trời không có trăng, Nhưng các ngôi sao lại quá nhiều đến nỗi không biết chúng có thật không, chúng lấp lánh ngay gần tới mức tưởng như trông thấy chúng lao vút vào trong khoảng không” “ các đỉnh núi cao chồng lẫn vào nhau thành một đường gấp khúc oai nghiêm đối mặt với bầu trời sao tạo lên một đường chân trời lớn lao và đen sẫm, gợi cảm giác âu lo”, cảm giác âu lo qua đi lại hiện hữu một
Trang 29Khi nghe Komako nói chuyện về văn học, Shimamura bắt đầu nghĩ rằng với những mơ mộng của anh về ba lê phương Tây, anh cũng khá giống
cô ở vài phương diện, “ anh ngạc nhiên hiểu rằng bây giờ, khi cô đã là một geisha, cách xử sự của anh không thoải mái hơn, cũng chẳng tự do hơn”
Khi đến căn phòng của Komako anh quan sát rồi tự hỏi “ không biết bên kia lớp vách của căn phòng nhỏ bé, chót vót giữa không trung này là cái
gì và anh cảm thấy khó chịu như thể anh đang ở trên một cái ban công kín mít, lơ lửng giữa trời” “ Bỗng anh thấy buồn cười khi nghĩ rằng ánh sáng xuyên thấu vào cơ thể sống động của Komako”
Khi gặp Yoko ở phòng trọ của Komako anh đã thật sự xúc động và
“anh nhớ lại vẻ đẹp tinh khiết, khó tả nên lời của đốm lửa lạnh lẽo ở xa kia”, “
và trong tâm trạng ngất ngây mơ mộng anh dễ dàng quên mất thế giới con người đã tác động vào trò chơi những phản chiếu bồng bềnh và những hình ảnh kỳ lạ đã làm anh say mê” đan xen với không gian thực tại, không gian liên tưởng còn là không gian thuộc về quá khứ của nhân vật Tất cả cùng xuất hiện như một dòng chảy miên man trong tâm hồn Shimmamura
Khi muốn tìm về quá khứ thì con người ta phải dùng trí óc để làm phương tiện “ hồi tưởng lại” Đây chính là cách thức để con người có thể đến được với ký ức của mình Y Kawabata đã để Shimamura tự hồi tưởng lại quá khứ của mình nhờ một sự việc gợi nhắc từ hiện tại Nhờ có dòng hồi tưởng
Trang 30Tiềng đàn của Komako được miêu tả với những cung bậc: Lúc thì khoan thai kỹ lưỡng, đoạn thì lướt nhanh dồn dập… đặc biệt là tiếng đàn của nàng trở lên tuyệt diệu hơn trong khung cảnh thiên nhiên mùa đông ngập tràn tuyết trắng Chính Komako cũng phải thừa nhận sự tuyệt diệu này “ khi thời tiết thế này tiếng đàn nghe khác hẳn” độ âm vang phong phú, sức hoà âm mạnh mẽ, quả thật đúng như lời cô nói Và còn nhiều cái đặc biệt nữa, bởi khung cảnh trong sự cô đơn thân mật này, xa những nhốn nháo của thành phố,
xa những xảo thuật của sân khấu, không có những bức tường của nhà hát, không có công chúng, ở giữa lòng buổi sáng mùa đông quang đãng này, ở giữa sự trong suốt như pha lê mà ở đó chất pha lê của âm nhạc hình như tung tiếng hát rung cảm và tinh khiết của nó đến tận những đỉnh núi đầy tuyết ở tít
xa, tận đường chân trời” Đó là sự cảm nhận một tiếng đàn tinh khiết giữa không gian tinh khiết, nguyên chất, không bị pha lẫn bởi âm thanh nào khác Shimamura có ý nghĩ rằng chính thiên nhiên nơi đây đã tôi luyện cho con người này thêm vững vàng, bản lĩnh “ tự tập đàn hát ở vùng hẻo lánh này phải