Từ đó, hình thành một số kĩ năng khám phá tác phẩm hoặc sáng tạo nên những văn bản tương tự thuộc thể loại ấy, thấy được tính quy luật cũng như sự cách tân của các thể loại ở giữa những
Trang 1(qua “Rừng xà nu” và “những đứa con trong gia
đình”
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS-GVC Vũ Ngọc Doanh
Hà Nội – 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy cô trong khoa, đặc biệt là thầy Vũ Ngọc Doanh đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn
Xuân Hòa, ngày tháng năm 2010
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hiên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
ThS.Vũ Ngọc Doanh Tôi xin cam đoan rằng:
- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Xuân Hòa, ngày tháng năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Hiên
Trang 5Phần mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích của đề tài 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của khoá luận 4
8 Bố cục khoá luận 4
Phần nội dung Chương 1: Những vấn đề chung 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học 5
1.1.2 Hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học 8
1.1.3 Đọc hiểu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phẩm văn học 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
Chương 2: Đọc - hiểu tác phẩm tự sự hiện đại giai đoạn chống Mĩ trong trường trung học phổ thông 16
2.1 Khái quát về văn học chống Mĩ 16
2.1.1 Bối cảnh chung của đất nước giai đoạn chống Mĩ 16
2.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn học chống Mĩ 17
2.2 Đặc trưng thể loại tự sự 18
2.2.1 Đặc trưng thể loại tự sự 18
2.2.2 Đặc trưng thể loại tự sự chống Mĩ 21
2.3 Đọc hiểu các văn bản Ngữ văn trong trường trung học phổ thông 26
2.3.1 Khái quát về đọc hiểu 26
2.3.2 Các bước đọc hiểu 27
Trang 62.4 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm tự sự chống Mĩ theo đặc trưng thể
loại 29
2.4.1 Giúp học sinh nắm được cốt truyện 29
2.4.2 Giúp học sinh cảm thụ được sâu sắc và đánh giá được nhân vật trong tác phẩm 32
2.4.3 Giúp học học sinh nắm được đặc điểm về ngôn ngữ 35
Chương 3: Thiết kế giáo án thực nghiệm 39
3.1 Cơ sở thiết kế giáo án 39
3.2 Giáo án thực nghiệm 39
- “Rừng xà nu” - Nguyễn Trung Thành 39
- “Những đứa con trong gia đình” - Nguyễn Thi 54
Phần kết luận 67
Tài liệu tham khảo 68
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 71 Lí do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục
được coi là quốc sách hàng đầu và đổi mới giáo dục được coi là nhiệm vụ trọng tâm Đổi mới giáo dục tất yếu phải đổi mới chương trình sách giáo khoa Với tinh thần đó, sách giáo khoa Ngữ văn được xây dựng theo hướng tích hợp ba phân môn: Văn - Tiếng việt - Làm văn Do đó, sách giáo khoa Ngữ văn không chỉ có các tác phẩm nghệ thuật mà còn có các tác phẩm thuộc các phong cách chức năng khác Vì vậy, dạy học theo phương pháp diễn giảng không còn phù hợp Và đọc hiểu được coi là kiểu dạy học quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức
Đồng thời, sách giáo khoa Ngữ văn được xây dựng theo nguyên tắc thể loại Nên việc dạy đọc hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại có ý nghĩa quan trọng Bởi khi dạy các bài học được xếp theo các cụm thể loại trong sách giáo khoa thì việc lặp đi lặp lại nhiều lần một thể loại sẽ giúp người học nắm vững được đặc điểm thể loại Từ đó, hình thành một số kĩ năng khám phá tác phẩm hoặc sáng tạo nên những văn bản tương tự thuộc thể loại ấy, thấy được tính quy luật cũng như sự cách tân của các thể loại ở giữa những tác phẩm cùng một thể loại của nhà văn
Mặt khác, tương quan giữa các thể loại văn học: trữ tình, kịch, tự sự, thì
tự sự chiếm lượng kiến thức lớn trong chương trình giáo dục phổ thông
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tác giả chỉ tập trung tìm hiểu
về tự sự hiện đại Do vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu trong khóa luận là “Đọc
hiểu tác phẩm tự sự hiện đại giai đoạn chống Mĩ trong trường trung học phổ thông (qua “Rừng xà nu” và “Những đứa con trong gia đình”)
Qua đề tài, bản thân người viết muốn có dịp nâng cao kiến thức, tự rèn luyện năng lực sư phạm của người giáo viên Ngữ văn tương lai
2 Lịch sử vấn đề
Từ thời cổ đại, khi xuất hiện chữ viết đã có hình thức đọc để hiểu Hiện nay, viết về vấn đề đọc để hiểu chưa có một công trình nghiên cứu nào hoàn
Trang 8chỉnh nhưng đã có nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu này
Trên thế giới, V.A.Nhicônxki trong “Phương pháp dạy trong nhà trường phổ thông” (Do Ngọc Toàn và Bùi Lê dịch, NXBGD, 1978) đã chú ý đến hoạt động đọc đặc biệt là đọc diễn cảm
I.A.Rez trong “Phương pháp luận dạy văn học” (NXBGD, 1983) đã trình bày một cách có hệ thống các phương pháp, biện pháp dạy học Trong
đó, tác giả cũng chú ý đến đọc sáng tạo và coi đây là phương pháp đặc biệt, đặc thù nhằm phát triển, cảm thụ nghệ thuật, hình thành những thể nghiệm nghệ thuật: giáo viên gọi học sinh đọc diễn cảm, giáo viên đọc diễn cảm và giảng trình
Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu:
Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng có một số bài viết Trong cuốn “ Văn học
và nhân cách”, nhà xuất bản Văn học, 1994, tác giả có bài viết về mối liên hệ giữa liên tưởng và tưởng tượng với đọc văn: “Sự phát triển của quá trình đọc được vận dụng trong hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và giới thiệu nghệ thuật”
Trong bài viết “Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc”, tác giả cũng chỉ ra việc đọc hiểu sẽ giúp hình thành củng cố và phát triển năng lực nắm vững và sử dụng tiếng việt một cách thành thạo Từ bình diện văn hóa ấy, bài viết cũng xác định: đọc là một hoạt động văn hóa có ý nghĩa cơ bản với việc phát triển nhân cách
Trong chuyên đề “Đọc và tiếp nhận văn chương”, tác giả khẳng định:
“tiếp nhận tác phẩm văn học là một quá trình vì nó chỉ diễn ra một hoạt động duy nhất là đọc văn”
Giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn “Đọc văn, học văn” quan niệm rõ ràng về đọc hiểu văn và xem đây là quá trình không thể thiếu trong quá trình học văn
giải pháp”, tác giả nhấn mạnh đến một trong ba mục tiêu của việc dạy học
Trang 9văn, rèn luyện khả năng đọc hiểu các văn bản đặc biệt là các văn bản nghệ thuật là tạo cho học sinh khả năng biết đọc văn một cách có văn hóa, có phương pháp không suy diễn tùy tiện
Giáo sư Phan Trọng Luận trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” phân tích tầm quan trọng của hoạt động đọc, đọc từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc để âm vang, đọc để tri giác được bằng mắt, tai tất cả những hình ảnh, chi tiết, từ ngữ Quá trình đọc ở đây là quá trình tiếp cận văn học từng bước thâm nhập vào nội dung, ý nghĩa của tác phẩm
Như vậy, tất cả các nhà nghiên cứu trong các bài viết của mình đều cho rằng đọc là hoạt động đầu tiên tiếp nhận văn chương Dựa vào thành quả nghiên cứu trên, trong khóa luận này, chúng tôi tiến hành tổ chức các bước đọc hiểu tác phẩm tự sự chống Mĩ
3 Mục đích của đề tài
Mục đích của khóa luận dựa vào lí thuyết về thể loại tự sự hiện đại đi sâu vào một hướng tiếp nhận văn chương trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông Việc tiếp nhận tác phẩm văn học từ đặc trưng thể loại là một hướng đi mang tính tích cực trong việc dạy học Cho nên, mục đích của đề tài nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn ở trường phổ thông Khi tìm hiểu tác phẩm tự sự hiện đại theo đặc trưng loại thể sẽ góp phần giúp học sinh tìm hiểu sâu sắc tác phẩm, từ đó nắm vững tác phẩm, nâng cao hiệu quả dạy
và học tác phẩm tự sự
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các vấn đề về thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học;
hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học, đọc hiểu
- Xác định đặc trưng thể loại tự sự hiện đại
- Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm tự sự chống Mĩ trong trường
trung học phổ thông
- Thiết kế giáo án thực nghiệm:
+ “Những đứa con trong gia đình” - Nguyễn Thi
+ “Rừng xà nu” - Nguyễn Trung Thành
Trang 105 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung tìm hiểu các vấn đề lí thuyết về thể loại, tiếp nhận
văn học, đọc hiểu, từ đó tổ chức hướng dẫn học sinh đọc hiểu một số tác
phẩm tự sự chống Mĩ tiêu biểu trong trường trung học phổ thông
6.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết để tìm ra cơ sở lí luận
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp phân tích tổng hợp
7 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp một phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ vấn đề tiếp nhận tác
phẩm tự sự hiện đại giai đoạn chống Mĩ thông qua việc đọc hiểu hai tác phẩm
“Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành) và “Những đứa con trong gia đình”
(Nguyễn Thi) theo đặc trưng thể loại, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng
dạy và học Ngữ văn trong trường phổ thông
2.3 Đọc hiểu các văn bản Ngữ văn trong trường trung học phổ thông
2.4 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm tự sự chống Mĩ theo đặc
trưng loại thể
Chương 3: Thiết kế giáo án thực nghiệm
3.1 Cơ sở thiết kế giáo án
3.2 Giáo án thực nghiệm
Trang 11PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học
1.1.1.1 Vấn đề thể loại
* Thể loại là gì?
Theo Từ điển tiếng Việt 2008, thể loại là “hình thức sáng tác văn học,
nghệ thuật, phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn ngữ” [15; 1159]
Theo Từ điển thuật ngữ Văn học, thể loại văn học là “dạng thức của tác
phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các loại hiện tượng đời sống ấy” [5; 299]
Thực chất, thể loại là một khái niệm kép bao gồm khái niệm về thể và khái niệm về loại
của tác phẩm văn học Nó cho người ta biết phương thức nhà văn sử dụng chiếm lĩnh, tái hiện đời sống và thể hiện tư tưởng Đồng thời, nó qui định cách thức giao tiếp với tác giả thông qua tác phẩm
phẩm
Nếu loại hình văn học mang tính ổn định, bền vững, số lượng hữu hạn thì thể thường xuyên vận động, biến đổi và có số lượng phong phú hơn
Trang 12Tóm lại, loại thể là hệ thống chỉnh thể của tác phẩm Nó chỉ qui luật loại
hình của tác phẩm trong đó một nội dung tương ứng với một hình thức nhất định Trong một loại thể bao giờ cũng có sự thống nhất về đề tài, chủ đề, cảm hứng, hệ thống nhân vật, hệ thống kết cấu lời văn
* Phân loại
Dựa vào phương thức phản ánh hiện thực, Arixtôt trong cuốn “Nghệ
thuật thi ca” đã chia tác phẩm văn học làm ba loại: tự sự, trữ tình, kịch Trong mỗi loại bao gồm một số thể loại như thể loại tự sự có các thể truyện, kí…loại trữ tình có các thể như thơ ca, ngâm khúc…loại kịch có các thể: chính kịch, bi kịch, hài kịch… Và trong mỗi thể lại có các thể nhỏ hơn như trong thể kí có các thể: phóng sự, kí sự, bút kí, hồi kí…
* Mối quan hệ và tác động qua lại giữa các thể loại
Sự phân chia thể loại trên mang tính chất tương đối Trong quá trình phát triển văn học, các thể loại văn học luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau
Đó không phải là những tác động loại trừ mà là tác động hỗ trợ, bổ sung cho nhau Trong thể loại này có chứa yếu tố của thể loại kia Ví dụ, chúng ta có thể tìm thấy yếu tố tự sự trong tác phẩm trữ tình như thơ trữ tình chính trị của
Tố Hữu hay yếu tố trữ tình trong một tác phẩm tự sự như “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
* Thể loại với vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học
Hoạt động tiếp nhận như là cơ sở lí thuyết của phương pháp dạy học,
thuộc về khoa học giáo dục Vấn đề thể loại thuộc phạm trù lí luận văn học, khoa học cơ bản của khoa văn học Giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi loại văn mang trong mình một hình thức đặc thù và một nội dung,
nó qui định cách thức giao tiếp của bạn đọc với tác giả
Lí thuyết về thể loại được sử dụng như công cụ quan trọng trong tiếp nhận tác phẩm văn học Thể loại là phương thức nhà văn sáng tạo tác phẩm
Trang 13Tiếp nhận tác phẩm không chỉ biết tác phẩm viết gì mà còn phải biết tác phẩm được sáng tạo bằng cách nào Tức người đọc phải đi lại con đường tác giả sáng tạo tác phẩm Mỗi loại văn qui định cách tiếp nhận khác nhau Chọn con đường tiếp cận theo kiểu đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thể loại tức người giáo viên chỉ đạo học sinh cắt nghĩa, lí giải các khía cạnh của tác phẩm theo các đặc trưng thể loại Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi tập trung vào thể loại tự sự
1.1.1.2 Thể loại tự sự
* Khái niệm tự sự
Theo Từ điển tiếng Việt 2008, tự sự là “thể loại văn học phản ánh hiện
thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua một cốt truyện tương đối hoàn chỉnh” [15; 1132]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tự sự là “phương thức tái hiện đời
sống Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người” [5; 385]
Theo các nhà lí luận văn học, tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó
Arixtôt cho rằng tự sự là tác phẩm văn học, ở đó nhà văn không nói bất
cứ gì thuộc về mình mà chỉ nói những cái diễn ra bên ngoài mình
* Cách phân chia thể loại tự sự
Có nhiều cách phân chia thể loại tự sự:
Chia theo tiến trình lịch sử, ta có được tự sự dân gian, tự sự trung đại,
tự sự hiện đại
Chia theo phương pháp sáng tác, ta có tự sự chủ nghĩa cổ điển, tự sự chủ nghĩa lãng mạn, tự sự chủ nghĩa hiện thực…
Trang 14Chia theo nội dung thể loại, ta có tác phẩm mang chủ đề lịch sử dân tộc, thế sự, đạo đức, đời tư
Việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối Nhưng nó giúp người đọc định hướng đúng khi tiếp nhận tác phẩm văn học
1.1.2 Hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học
1.1.2.1 Vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học
Theo Từ điển tiếng Việt 2008, tiếp nhận là “đón nhận cái từ người
khác, nơi khác chuyển giao cho” [15; 1225]
Theo Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong “Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương” cho rằng: “tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố
và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trong đời sống”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học là “hoạt động
chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể…” [5; 325]
Về thực chất, tiếp nhận tác phẩm văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo Trong tiếp nhận văn học, người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt, vừa quên mình, nhập thân vừa sống
và thể nghiệm nội dung của tác phẩm vừa phân thân, duy trì khoảng cách thẩm mĩ để nhìn nhận tác phẩm từ bên ngoài, để thưởng thức tài nghệ hoặc nhận ra điều bất cập, hoặc cắt nghĩa khác với tác giả
Trang 15Nếu trong đời sống việc tiếp nhận tác phẩm văn học thường do tính tự phát bởi nhu cầu, thị hiếu của mỗi cá nhân cũng như mục đích tiếp nhận của mỗi cá nhân là không giống nhau thì tiếp nhận tác phẩm văn học trong nhà trường trung học phổ thông là hoạt động mang tính tự giác và có mục đích rõ ràng Việc giảng dạy các tác phẩm văn học thực chất là tổ chức cho người học cách đọc các tác phẩm, do vậy mục đích của dạy học là giúp học sinh hiểu và cảm nhận tác phẩm từ đó các em tự hoàn thiện nhân cách của mình
1.1.2.2 Phương thức sáng tạo của nhà văn
Thời đại, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc là bốn yếu tố tạo nên quá trình sáng tác và thưởng thức văn học Trong đó, nhà văn với tư cách là chủ thể sáng tạo giữ vai trò quan trọng nhất
Phương thức sáng tạo của nhà văn bắt nguồn từ sự quan sát đối tượng thẩm mĩ khách quan trong thời đại và quan sát nhu cầu thị hiếu của người đọc Mục đích của hoạt động sáng tạo là biến đối tượng thẩm mĩ khách quan thành nhu cầu thẩm mĩ xã hội Qúa trình biến đổi ấy là quá trình sáng tác Nhưng trong quá trình sáng tác, nhà văn đã sử dụng phương thức nào để sáng tạo tác phẩm?
Thể loại chính là phương thức nhà văn sáng tạo tác phẩm Theo sự phân chia thông thường, tác phẩm văn học gồm tự sự, trữ tình, kịch
Nếu tác phẩm trữ tình lấy cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng con người làm đối tượng thể hiện chủ yếu, tác phẩm kịch thông qua lời thoại và hành động của các nhân vật để thể hiện những xung đột xã hội thì tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực cuộc sống bằng các hình ảnh khách quan
Về phương diện triết học, khách quan ở đây phải được hiểu là khách quan 2 Khách quan 1 chính là đời sống Nhà văn nhận thức khách quan 1 phản ánh vào trong tác phẩm thông qua lăng kính chủ quan của mình trở thành khách quan 2 chính là nội dung tác phẩm Như vậy, trong tác phẩm văn
Trang 16học có nội dung khách quan và nội dung chủ quan Nói cách khác, khách quan được phản ánh thông qua nhận thức, đánh giá của nhà văn Như vậy, quá trình sáng tác của nhà văn là khách quan 1 nhận thức đánh giá biểu hiện khách quan 2 (tác phẩm tự sự)
Việc tìm hiểu phương thức sáng tạo của nhà văn là điều kiện, tiền đề cho việc tiếp nhận văn học đúng hướng
1.1.2.3 Cơ chế hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học
Cơ chế hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học gồm bốn bước: đọc, phân tích, cắt nghĩa, bình giá Tác phẩm tự sự cũng dựa trên cơ chế ấy
* Hoạt động đọc
Đó là sự khởi đầu việc tiếp nhận văn bản, đây là hoạt động sáng tạo và mang tính trực cảm Văn bản tồn tại khách quan, là hình thức ngôn ngữ được
tổ chức theo một kiểu, loại nào đó tùy thuộc vào chức năng nó thực hiện hoặc
bị qui định bởi phương thức sáng tạo mà nhà văn lựa chọn Mục đích của đọc
là hiểu văn bản Mỗi loại văn bản khác nhau có cách đọc khác nhau Đọc tác phẩm tự sự khác đọc tác phẩm trữ tình và tác phẩm kịch
* Hoạt động phân tích
Tuy nhiên, cũng không thể đi phân tích tất cả các yếu tố cấu thành tác phẩm
mà chỉ có thể tiến hành với một số yếu tố Điều này buộc sau khi phân tích chia nhỏ đối tượng thành các phần nhỏ cần thực hiện thao tác lựa chọn Khi lựa chọn phải xây dựng hệ thống tiêu chí phù hợp Tiêu chí ấy được xác định bởi các căn cứ như chất lượng của cái được chọn, đặc trưng của mỗi thể loại
* Hoạt động cắt nghĩa
cao hơn là cắt nghĩa tác phẩm Đây là quá trình phân tích tổng hợp
Trang 17Hoạt động cắt nghĩa tác phẩm văn học ngoài những hiểu biết khoa học cần vận dụng hiểu biết xã hội, lịch sử, mĩ học giải quyết vấn đề Đây là lúc người đọc thoát khỏi sự ràng buộc với thời đại của tác phẩm, với tác giả và văn bản nghệ thuật để có một khung văn học rộng lớn để thưởng thức cái hay, cái đẹp của tác phẩm Điều đó cũng là qui luật của cơ chế tiếp nhận văn chương bao giờ cũng kèm theo đánh giá, bình giá tác phẩm với những quan điểm tư tưởng và tiêu chuẩn thẩm mĩ đậm màu sắc cá nhân
* Hoạt động bình giá
phẩm Bình giá là hoạt động dựa trên các căn cứ của hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa Nó đòi hỏi tri thức sâu sắc, có hiểu biết phong phú về văn học nghệ thuật, tấm lòng chính trực Hoạt động bình giá giúp cho người đọc tiếp nhận tác phẩm sâu sắc và trọn vẹn
Tóm lại, tiếp nhận tác phẩm văn học bao gồm một hệ thống các hoạt
động đọc, phân tích, cắt nghĩa, bình giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và trình tự hệ thống này không thể đảo ngược Đọc là hoạt động định hướng cho
sự phân tích, hoạt động cắt nghĩa xác định tính chính xác của nội dung phân tích, hoạt động bình giá mở rộng, đi sâu hơn vào giá trị tác phẩm bằng sự phong phú và đầy cá tính của tiếp nhận tác phẩm
Trên đây là cơ chế tiếp nhận tác phẩm văn học Nhưng thực chất khi đọc văn, học văn, người đọc còn bắt gặp rất nhiều khó khăn cần được giải quyết đặc biệt là khó khăn về khoảng cách
1.1.2.4 Những khó khăn về khoảng cách khi tiếp nhận tác phẩm văn học
Tiếp nhận tác phẩm văn học là một quá trình Có nhiều con đường để người đọc cảm thụ tác phẩm nhưng một con đường đặc trưng là đọc Đọc để tiếp nhận tác phẩm văn chương tức là biến cái khách quan thành cái chủ quan
Trang 18của mình Khi đọc, người đọc gặp phải những khó khăn gọi là khoảng cách tiếp nhận mà Đặng Thanh Lê gọi là “sự chuyên chế của khoảng cách” Đó là:
a Khoảng cách ngôn ngữ
Mỗi thời đại, mỗi tác giả có thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau khi xây dựng các hình tượng nghệ thuật khác nhau Nó bao gồm các khoảng cách:
phẩm dịch Khi dịch các tác phẩm văn học nước ngoài ra tiếng Việt sẽ có hạn chế bởi sự khác nhau về đặc trưng ngôn ngữ nên giữa bản dịch và văn bản tác phẩm đã có khoảng cách, khi đến với người đọc khoảng cách đó càng lớn
dụng ngôn ngữ khác nhau
b Khoảng cách về không gian
tiếp nhận tác phẩm lại trong không gian hoàn toàn khác Vì vậy, yếu tố về không gian đã trở thành yếu tố cơ bản của quá trình tiếp nhận
c Khoảng cách thời gian
Thời gian được miêu tả trong văn bản khác thời gian tác giả sáng tác văn bản và thời gian tiếp nhận văn bản
d Khoảng cách tâm lí
Khoảng cách tâm lí tác giả và tâm lí người đọc: đó là sự khác nhau về tình cảm, cách cảm, cách nghĩ với cùng một hiện tượng Điều này đòi hỏi khi tiếp nhận tác phẩm văn học phải có sự đồng điệu với tác giả
Khoảng cách tâm lí thời đại: tác phẩm ra đời bị chi phối bởi tư tưởng tác giả, tư tưởng, tâm lí thời đại mà nó xuất hiện Do vậy, khi tiếp nhận tác phẩm văn học phải gắn với hoàn cảnh ra đời, phải tìm hiểu tác phẩm theo cả quan niệm đồng đại và lịch đại
Trang 19Các khó khăn về khoảng cách trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Rút ngắn được khoảng cách này sẽ thu hẹp khoảng cách kia Vấn đề đặt
ra là biện pháp khắc phục những khoảng cách đó Trong khóa luận này, chúng tôi lựa chọn con đường giải quyết khó khăn trên bằng cách đọc và tiếp nhận tác phẩm trên cơ sơ đặc trưng thể loại
1.1.3 Đọc - hiểu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phẩm văn học 1.1.3.1 Quan niệm về đọc - hiểu
Đọc là hoạt động văn hóa đặc trưng của con người nhằm tiếp nhận
thông tin, hướng tới thỏa mãn một nhu cầu nào đó của cuộc sống Muốn đọc thì phải học, phải biết chữ để nhìn vào kí hiệu ngôn ngữ, cách phát âm để chuyển các kí hiệu thành các tín hiệu âm thanh
Đọc là hoạt động văn hóa vì đọc không chỉ chuyển các kí hiệu thành
tín hiệu âm thanh mà mục đích của đọc là tiếp nhận thông tin hiểu được nội dung thông tin từ văn bản Do vậy, cần phải học để có một vốn văn hóa, vốn hiểu biết nhất định ở mức phổ thông sau đó chuyên sâu vào lĩnh vực nào đó
có liên quan đến công việc mục đích của mình
Hiểu là mục đích trực tiếp của người đọc Hiểu nghĩa là anh nắm được thông tin chứa đựng trong văn bản, nhận ra bản chất thông tin đó, hiểu ra ý đồ người cung cấp thông tin Hiểu cần được xem xét trên một nghĩa rộng, nó bao gồm nhiều cấp độ: nắm được thông tin, nhận ra các tầng ý nghĩa có trong văn bản Hiểu cũng có nghĩa là đặt các nội dung thông tin của các văn bản ấy trong các mối quan hệ khác nhau: quan hệ với bản thân người đọc, môi trường văn hoá lúc hoạt động đọc diễn ra, môi trường lịch sử để hiểu đúng nội dung thông tin trong văn bản
Hiểu là mục đích trực tiếp của việc đọc văn bản nhưng hiểu không phải mục đích cuối cùng của việc dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn Hiểu chỉ là điều kiện thực hiện mục tiêu của môn văn Tất cả những hiểu biết có được
Trang 20thông qua đọc hiểu như tri thức, phương pháp, kĩ năng sẽ trở thành công cụ, phương tiện để người học tiếp tục học tập, làm việc, sống một cách bình thường
Tóm lại, đọc - hiểu là một hình thức tổ chức dạy học các văn bản Ngữ
văn hay một kiểu dạy học Để thực hiện được kiểu dạy này người ta bắt buộc phải sử dụng các phương pháp đọc, diễn giải, thuyết trình, vấn đáp…để đạt được mục tiêu chiếm lĩnh đối tượng, chuyển các đối tượng vốn tồn tại khách quan bên ngoài mỗi cá nhân thành vốn hiểu biết mỗi cá nhân
1.1.3.2 Đọc - hiểu là con đường đặc trưng tiếp nhận tác phẩm văn học
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là thế giới của mơ mộng tưởng tượng
Vì vậy, để cảm được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học thì trước tiên ta phải hiểu được nội dung tác phẩm Do đó, đọc là con đường đặc thù của việc dạy học tác phẩm văn chương Chỉ thông qua đọc mới tiếp cận được văn bản,
từ đó tiếp nhận tác phẩm Nên trong dạy học văn, giáo viên phải dạy học sinh học đọc để học văn, từ đó hình thành năng lực đọc, rèn luyện kĩ năng tự đọc, dần dần nâng cao thành văn hóa đọc cho học sinh
Mặt khác, đọc hiểu văn bản không chỉ giúp học sinh tìm hiểu thế giới nghệ thuật, nhận thức về đời sống mà còn tạo ra sự đồng điệu, đồng sáng tạo giữa tác giả và bạn đọc, từ đó rút ngắn ngắn khoảng cách giữa người đọc và nhà văn
Như vậy, đọc hiểu chính là con đường đặc thù để tiếp nhận tác phẩm văn học
1.2 Cơ sở thực tiễn
Phúc Nguyên trong báo Văn nghệ số 36 (9/9/2006) đã nhận xét thực trạng việc dạy học văn hiện nay: “theo một lối mòn quá cũ giáo viên chỉ làm nhiệm vụ rót kiến thức vào bình chứa học sinh” mà không cần biết các em có
“tiêu hóa” được kiến thức đó không, còn học sinh tiếp thu kiến thức một cách
Trang 21thụ động để rồi trả lời thầy nguyên si như thế và làm theo những ý tưởng của thầy học theo những bài mẫu có sẵn Cách dạy học theo kiểu này đã thủ tiêu vai trò chủ động, sáng tạo của học sinh trong học văn, không khơi dậy những tiềm năng văn học của học sinh”
Lâu nay, việc dạy các tác phẩm văn học trong trường phổ thông nói chung thường theo chủ đề, nội dung mà chưa thực sự chú ý đến đặc trưng từng thể loại nên việc dạy tác phẩm vẫn theo lối xáo mòn, áp đặt, chưa có sự bao quát và thấy được sự phối hợp giữa nội dung và hình thức của tác phẩm
để tạo nên một chỉnh thể tác phẩm hoàn chỉnh
Mặt khác, tình trạng phổ biến của học sinh hiện nay là đọc văn bản không nghiêm túc nên khó nắm vững nội dung tác phẩm Bởi vậy, học sinh chưa hiểu kĩ, hiểu sâu về tác phẩm Do đó, cùng phương hướng đổi mới phương pháp dạy và học thì dạy đọc hiểu tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm tự sự hịên đại trong trường trung học phổ thông theo đặc trưng loại thể nói riêng phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh trong việc tiếp nhận tác phẩm
Trang 22CHƯƠNG 2: ĐỌC - HIỂU TÁC PHẨM TỰ SỰ HIỆN ĐẠI GIAI ĐOẠN CHỐNG MĨ TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Khái quát về văn học chống Mĩ
2.1.1 Bối cảnh chung của đất nước giai đoạn chống Mĩ
tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám 1945 đã giật tung xiềng xích hơn tám mươi năm thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đồng thời lật nhào ngai vàng mục ruỗng của chế độ phong kiến hàng nghìn năm, giành chính quyền
về tay nhân dân, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra một trang mới vẻ vang trong lịch sử dân tộc
Nhưng thực dân Pháp rắp tâm quay trở lại xâm lược nước ta, cả nước ta phải tiến hành cuộc kháng chiến kéo dài chín năm đầy gian khổ, hi sinh để bảo vệ nền độc lập mới giành được Tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơnevơ được kí kết, hòa bình lặp lại trên đất nước ta, miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội
Ngày 5/8/1964, quân Mĩ đem không quân và tàu chiến ra đánh phá miền Bắc, kể từ đây cuộc đấu tranh chống Mĩ cứu nước bùng nổ trên phạm vi toàn quốc Cả nước đứng lên đánh giặc với tinh thần “không có gì quí hơn độc lập tự do”, “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước thì ta phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi” (Hồ Chí Minh)
Và trong những ngày này, lịch sử được chứng kiến một cuộc ra quân đồng loạt chưa từng có của văn nghệ sĩ Một cuộc ứng chiến kịp thời của đội quân tinh nhuệ đã được rèn luyện qua hai thập kỉ Còn nguồn cảm hứng được hun đúc từ hàng ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm Chưa bao giờ truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc lại được khai thác một cách sâu sắc và đầy
ý nghĩa như thế Vì vậy, văn học thời kì này đã đạt được nhiều thành tựu
Trang 232.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn học chống Mĩ
Văn học giai đoạn này tập trung phản ánh cuộc đấu tranh gian khổ, quyết liệt của nhân dân cả nước giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc Vì vậy, văn học được coi như những thước phim lưu lại những trang sử hào hùng sống mãi cùng dân tộc Và khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn là đặc điểm bao trùm văn học giai đoạn này
Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, vận mệnh dân tộc đứng trước thử thách quyết liệt: Tổ quốc còn hay mất, độc lập, tự do hay nô lệ tù đày, cả dân tộc sát cánh vì lí tưởng chung Do đó, văn học không thể là tiếng nói của mỗi cá nhân Nó phải đề cập đến số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc Chủ đề bao trùm phải liên quan đến vận mệnh đất nước Đó là “bám đất, bám làng, dám chống Mĩ, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng”
Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm văn học thời kì chống Mĩ và
nó được thể hiện đậm nét trong văn xuôi Hầu hết các tác phẩm đều đề cập đến những vấn đề hệ trọng của dân tộc, thời đại, vận mệnh của đất nước, nhân
dân như “Hòn đất” (Anh Đức), “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành), “Dấu
chân người lính” (Nguyễn Minh Châu)…Nhân vật chính thường tiêu biểu cho
lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng Con người được khám phá chủ yếu ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ý thức chính trị, ở lẽ sống và tình cảm lớn Cái riêng tư đời thường nếu được nói đến thì cũng chỉ nhấn mạnh thêm trách nhiệm và tình cảm của cá nhân với cộng đồng Lời văn
sử thi cũng thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng, hào hùng và trộn lẫn sắc thái căm hờn giặc sâu sắc
Khuynh hướng sử thi gắn liền với cảm hứng lãng mạn Cảm hứng lãng mạn chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của
Trang 24cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc
2.2 Đặc trƣng thể loại tự sự
2.2.1 Đặc trƣng thể loại tự sự
Thể loại tự sự có ba đặc trưng cơ bản: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ Nên tự sự hiện đại cũng mang đầy đủ những đặc trưng đó Tuy nhiên, được qui định bởi yếu tố lịch sử, thời đại, phong cách nghệ thuật của nhà văn nên
nó vẫn có những nét riêng
a Cốt truyện
Theo Từ điển tiếng Việt 2008, cốt truyện là “hệ thống sự kiện làm nòng
cốt cho sự diễn biến các mối quan hệ và sự phát triển của tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học loại tự sự” [15; 276]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể
được tổ chức theo yêu cầu, tư tưởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [5; 99]
Như vậy, cốt truyện là tập hợp các tình tiết, sự kiện, biến cố diễn ra trong tác phẩm, được tổ chức sắp xếp một cách hợp lí, logic nhằm phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả Tình tiết là những yếu tố cụ thể trong một sự kiện Sự kiện là những biến đổi, tác động, sự cố có ý nghĩa quan trọng đối với nhân vật làm cho nhân vật và mối quan hệ của chúng không giữ nguyên hiện trạng mà phải biến đổi theo Còn biến cố là những sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt quyết định đối với cuộc đời, số phận của nhân vật
Cốt truyện có thể được tổ chức theo hai trục:
Trục thời gian tuyến tính hay thời gian phi tuyến tính
Trục không gian: các không gian được tái hiện theo một ý đồ nào đó
Nó phù hợp với ý đồ của người kể chuyện
Trang 25Một cốt truyện hoàn chỉnh là tập hợp biến cố, sự kiện có liên quan đến nhau được sắp xếp theo một trật tự, logic mà người ta có thể chia ra gồm năm thành phần: trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào), và kết thúc (mở nút) Nhưng không phải cốt truyện nào cũng đủ năm thành phần trên Một số tác phẩm tự sự mờ nhạt về cốt truỵên như “Tỏa nhị kiều” (Xuân Diệu), “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
Cốt truyện dù đơn giản hay phức tạp thì nó đều trải qua một tiến trình vận động có hình thành, phát triển và kết thúc
Về phương diện kết cấu và quy mô nội dung, nhìn chung có thể chia cốt truyện thành hai loại: cốt truyện đơn tuyến (có một loại xung đột) và cốt truyện đa tuyến (có nhiều loại xung đột có thể tạo ra nhiều tuyến nhân vật khác nhau)
b Nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật văn học là “con người cụ thể
được miêu tả trong tác phẩm văn học” [5; 235]
Lí luận văn học quan niệm, nhân vật văn học là hình tượng các cá thể con người (hoặc các con vật, cây cỏ sinh thể hoang đường…được gán cho những đặc điểm giống với con người) trong tác phẩm văn học, cái đã được nhận thức, tái tạo, thể hiện bởi nhà văn bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ Nhân vật có thể có tên riêng, có thể không có tên riêng Có khi lại là một hiện tượng nào đó của tự nhiên mang nội dung biểu tượng
Nhân vật văn học là đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ, là kết quả của
hư cấu nghệ thuật Do vậy, không thể đồng nhất nó với con người thật trong cuộc sống
Có nhiều tiêu chí phân loại nhân vật văn học:
vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ
Trang 26Dựa vào thể loại văn học, ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch
năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng
Sự phân chia trên chỉ mang tính chất tương đối
c Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện, công cụ, chất liệu tạo nên hình tượng tác phẩm văn học M.Gorki khẳng định “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”
Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố thể hiện
cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn
Tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm
là những thuộc tính của ngôn ngữ văn học Ngoài ra, nó còn mang tính hình tượng, tính hệ thống Những thuộc tính này được biểu hiện qua những thể loại văn học với những sắc thái khác nhau
Ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự vừa mang đặc điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật vừa mang đặc điểm riêng Nhà văn ít dùng ngôn ngữ cách điệu nên ngôn ngữ tự sự gần ngôn ngữ đời thường Và điều quan trọng là ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự gắn liền với các nhân vật Nó phải phù hợp với từng nhân vật, từng kiểu nhân vật Nên ngôn ngữ loại hình tự sự có thể chia thành: ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện
* Ngôn ngữ nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ nhân vật là “lời nói của
nhân vật trong các tác phẩm thuộc các loại hình tự sự và kịch” [5; 214]
Ngôn ngữ nhân vật là một trong những phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật Thông qua ngôn ngữ mà nhân vật thể hiện những đặc tính tự nhiên của nó với những nét
Trang 27tiêu biểu về ngoại hình, tính cách, hành động thậm chí đại diện cho một lớp người trong xã hội
* Ngôn ngữ người kể chuyện
Nhân vật kể chuyện không chỉ là người quan sát mà còn là người tham gia trực tiếp vào các sự kiện, các biến cố Thậm chí, nhân vật kể chuyện là nhân vật trung tâm của tác phẩm
liệu tạo nên hình tượng tác phẩm tự sự, là nơi bộc lộ tư tưởng tình cảm, cá tính, phong cách của nhà văn
2.2.2 Đặc trƣng thể loại tự sự chống Mĩ
a Cốt truyện
Cốt truyện là thành phần thiết yếu của tác phẩm tự sự nhưng nó không
quyết định đến thành công của tác phẩm Nó thể hiện tài năng, phong cách của người nghệ sĩ Bởi có những tác phẩm có cùng một cốt truyện nhưng mức
độ thành công lại khác nhau như Nguyễn Du với tài năng nghệ thuật độc đáo
đã mượn cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân mà viết nên kiệt tác “Truyện Kiều” thậm chí có tác phẩm không có cốt truyện Ở mỗi thời đại, cốt truyện có sự khác nhau
Trong tự sự dân gian và tự sự trung đại, cốt truyện là yếu tố tất yếu
“không có cốt truyện là điều không có khả năng” (Nguyễn Đăng Na) và cốt truyện được xây dựng theo trật tự thời gian tuyến tính Cốt truyện tự sự hiện đại chống Mĩ có sự thay đổi
Trước cuộc chiến chống Mĩ cam go, ác liệt văn học không thể ngoảnh mặt với vận mệnh của tổ quốc, với tinh thần yêu nước vô song của nhân dân Mang trong mình tiếng nói lịch sử, văn học không có điều kiện đặt ra vấn đề
Trang 28về số phận cá nhân, thể tài đời tư Vì vậy, văn học giai đoạn này là văn học của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa yêu nước anh hùng cách mạng Nên tất cả các sự kiện, biến cố trong cuộc đời nhân vật đều gắn với vận mệnh chung của tổ quốc, mang tính chất cộng đồng và xung đột
chủ yếu là xung đột giữa ta và địch Trong truyện ngắn “ Đất”, Anh Đức đã
tái hiện những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ ở Nam Bộ Kẻ thù ráo riết, điên cuồng thực hiện chủ trương dồn dân lập ấp chiến lược Tác phẩm phản ánh cuộc đấu tranh chống lại chủ trương, hành động của địch vô cùng quyết liệt, thể hiện tinh thần kiên cường bám đất giữ làng, lòng trung thành với lí tưởng cách mạng của đồng bào miền Nam Hay
tiểu thuyết “Dấu chân người lính” đã dựng lại khung cảnh rộng lớn và hào
hùng của cuộc chiến tranh với các cuộc vượt Trường Sơn của các binh đoàn chủ lực, những chiến dịch Khe Sanh - Tà Cơn với những trận chiến ác liệt trên vùng đất Quảng Trị…Từ đó, các nhà văn khai thác những cốt truyện giàu kịch tính, có tình huống căng thẳng, bất ngờ thể hiện những xung đột gay gắt
và bộc lộ phẩm chất, tính cách nhân văn Ví dụ các truỵên “Đất”, “Khói”,
“Con chị Lộc” của Anh Đức, “Chiếc lược ngà”, “Quán rượu người câm” của Nguyễn Quang Sáng…Trong “Quán rượu người câm”, tác giả đã xây dựng
nhiều cảnh dữ dội, căng thẳng tạo nên những tình huống nghẹt thở Đó là cái chết quyết liệt của cháu gái mười sáu tuổi trước sự tra tấn, dụ dỗ của kẻ thù khiến tất cả anh em tù kinh ngạc, cảm thương và khâm phục Đó là cảnh các
cô, dì, chị em đi đấu tranh, cảnh bà con tụ hội mừng đồng khởi thắng lợi Họ hướng về phía lễ đài, chờ đợi xem người chỉ huy ngày đồng khởi là ai Họ kinh ngạc, vui mừng vì đó chính là một người im lặng bốn năm Người chiến
sĩ cách mạng đó bất chấp mọi thử thách khắc nghiệt, trụ vững ở vị trí chiến đấu của mình, lãnh đạo thành công cuộc đồng khởi ở quê hương Truyện ngắn của Nguyễn Thi là những bức tranh sinh họat thường ngày trong gia đình,
Trang 29làng xóm mà lại thể hiện được những vấn đề cơ bản bao trùm của thời đại,
vận mệnh nhân dân như tác phẩm “Mẹ vắng nhà”, “Ở xã Trung Nghĩa”,
“Người mẹ cầm súng”, “Những đứa con trong gia đình”…
Cốt truyện tự sự chống Mĩ được tổ chức theo trục thời gian nhưng
không phải thời gian khách quan hiện hữu mà là thời gian tâm lí Như “Những
đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi) kể về chuyện gia đình anh giải phóng
quân tên Việt Truyện được kể theo dòng ý thức của nhân vật Việt
Truyện ngắn “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành) được tổ chức theo trật tự thời gian đan xen hiện tại, quá khứ và tương lai Thậm chí, “Rừng xà
nu” có hai mạch truyện lồng ghép vào nhau Hai mạch truyện này được kể
theo thời gian trần thuật có nhiều tình tiết, sự kiện được diễn tả trong thời gian dài, nhịp kể lúc nhanh lúc chậm, có sự nén lại và có sự bùng vỡ cao trào của cốt truyện, có kịch tính nhưng tất cả chỉ gói gọn trong một đêm trong thời gian của truyện Đó là câu chuyện về cuộc đời Tnú và câu chuyện về làng
Xô Man đồng khởi Trong đó, cuộc đời Tnú là cốt truyện chính Tnú là linh hồn, là ngòi nổ kích hoạt cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man Hai câu chuyện này được kể trong một đêm nhưng là cái đêm dài bằng một đời người, bằng một giai đoạn lịch sử của dân tộc Stra
Như vậy, cốt truyện tự sự hiện đại không những mang đặc trưng chung của cốt truyện tự sự mà nó còn có sự vận động, phát triển phong phú phù hợp với thời đại
b Nhân vật
Nhân vật là điều kiện thiết yếu cho sự miêu tả thế giới của văn học có được chiều sâu và tính hình tượng Mọi loại hình văn học đều có nhân vật Mỗi loại hình có một phương pháp xây dựng nhân vật mà nó tạo ra một kiểu nhân vật Nếu nhân vật trong tác phẩm trữ tình là nhân vật cảm xúc, trong
Trang 30kịch là nhân vật hành động thì nhân vật trong tác phẩm tự sự là nhân vật tính cách, nhân vật chức năng, nhân vật có số phận…
Nhân vật tự sự có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó vừa là hình thức vừa
là nội dung tác phẩm văn học Nhân vật tự sự là nhân vật có số phận, có tên gọi, ngôn ngữ, ngoại hình, tâm lí, hành động, có quan hệ xã hội, quan hệ với môi trường sống
Nhân vật tự sự chống Mĩ cũng có những đặc điểm chung của nhân vật
tự sự Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, chủ đề, cảm hứng chi phối nên nó vẫn có những nét riêng, nét đổi mới
Trong tự sự dân gian, tự sự trung đại thường là những nhân vật tượng trưng, ước lệ, nhân vật chức năng, cái tôi cá nhân không được đề cao, có tính chất đơn giản một chiều (trừ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du) ít được miêu tả nội tâm Nhân vật tự sự hiện đại có một số thay đổi Văn học hiện đại quan niệm con người không chỉ là con người hành động mà còn là con người tâm
lí, con người với thế giới nội tâm sâu thẳm, bí mật, riêng biệt Cho nên, nhà văn phải làm một cuộc “nội soi” thế giới nội tâm, diễn biến tâm lí, tư tưởng của con người Nhà văn phải là nhà giải phẫu tâm hồn, thế giới tinh thần của con người rồi phơi trải sự thật bên trong ấy của con người lên trang viết của mình thông qua hình tượng nhân vật
Nhân vật trung tâm của văn học chống Mĩ là người lính Đó là những con người tiêu biểu cho khát vọng và ý chí chiến đấu quyết thắng của cả dân tộc, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng của thời đại, cho sức mạnh và phẩm chất của con người Việt Nam kết tinh những truyền thống từ mấy nghìn năm lịch sử và sức mạnh của cách mạng Họ có ý thức sâu sắc về vị trí, ý nghĩa
của cuộc chiến đấu, thấu hiểu chân lí của thời đại cách mạng “kẻ thù đã cầm
súng, chúng ta phải cầm lấy giáo” (lời cụ Mết trong “Rừng xà nu”), “người sống phải sống bí mật đã đành một lẽ, còn người chết cũng phải chết bí mật
Trang 31nữa… sống như thế, chết như thế hỏi vậy làm sao mà chịu được ? Chúng ta buộc phải cầm súng” (nhân vật tôi trong “Chiếc lược ngà”), chị Út Tịch đã
nói câu nói nổi tiếng “còn cái lai quần cũng đánh […] mình không đánh nó,
nó cũng đánh mình”
Những người lính trong văn xuôi chống Mĩ là những hình tượng cao
đẹp như Tnú trong “Rừng xà nu”, Nguyệt, Lãm trong “Mảnh trăng cuối
rừng”, chị Sứ trong “Hòn đất”, anh Nguyễn Văn Trỗi trong “Sống như
anh”…Họ được xây dựng như những con người toàn diện trong các mối quan
hệ chung và riêng, thủy chung trọn vẹn với đất nước, quê hương, với cách mạng và cả trong tình nghĩa gia đình, trong tình yêu
Mặt khác, nhân vật tự sự hiện đại được miêu tả trong mối quan hệ với
xã hội, giai cấp, với thời đại lịch sử Do vậy, các nhân vật anh hùng cũng thường đặt trong những hoàn cảnh, thử thách gay go, những tình huống căng thẳng, nghiệt ngã trong chiến tranh để làm bộc lộ vẻ đẹp và những phẩm chất cao cả của họ
Bên cạnh hình tượng người lính, tác phẩm tự sự chống Mĩ còn xây
dựng hình ảnh người nông dân Đó là ông Sần trong “Về làng”, bác Tám Sành trong “Lửa đêm” của Phan Tứ Họ chiến đấu để giành áo cơm, ruộng
đất để giải phóng những người bị áp bức, bóc lột Hay đó là má Bảy trong
“Gia đình má Bảy” (Phan Tứ) Từ gia đình nhỏ ấy, từ chân dung bà mẹ như
bao bà mẹ khác, Phan Tứ mở ra trước mắt chúng ta bức tranh của những con người miền Nam giữa những ngày tháng đấu tranh quyết liệt để giành lại từng thôn xóm, mảnh ruộng…
Nhân vật của Nguyễn Thi là những con người yêu nước mãnh liệt, thiết tha, thủy chung với tổ quốc, đồng bào Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “yêu thương và căm hờn, đó là nguồn sức mạnh tạo nên tính cách đặc biệt ngoan cường của nhân vật Nguyễn Thi”
Trang 32Và nhân vật của Nguyễn Trung Thành cũng là nhân vật đại diện cho tầm vóc, sức mạnh, ý chí, khát vọng của cộng đồng, của dân tộc, đất nước như
Tnú trong “Rừng xà nu”, chị Thanh trong “Đất lửa”, Hoa trong “Trận đánh
bắt đầu từ hôm nay”, chị Thắm, Vi, Hoàng trong “Đất Quảng”
c Ngôn ngữ
Nếu trong tự sự dân gian với đặc trưng là “tính truyền miệng” và “tính
dị bản” nên ngôn ngữ chủ yếu là ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ trong
tự sự trung đại là ngôn ngữ ước lệ, tượng trưng theo công thức thì ngôn ngữ
tự sự hiện đại có những vận động mới mẻ, phù hợp
Ngôn ngữ tự sự chống Mĩ do sự chi phối mạnh mẽ của khuynh hướng
sử thi và cảm hứng lãng mạn nên mang giọng điệu trang trọng, sùng kính,
hùng hồn, ngợi ca hào sảng, ngôn ngữ sang sảng như lời cụ Mết trong “Rừng
xà nu”: “Thế là bắt đầu rồi Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người
đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông Đốt lửa lên!”
2.3 Đọc - hiểu các văn bản Ngữ văn trong trường trung học phổ thông 2.3.1 Khái quát về đọc - hiểu
Đọc - hiểu là quá trình tổng hợp, người đọc không chỉ đơn thuần thực hiện cuộc giao tiếp với văn bản mà còn giao tiếp với nhà văn, với chính mình, với người nghe
Đọc - hiểu là phương tiện nghiên cứu tác phẩm văn học, là phương tiện
để phát triển tích cực, sáng tạo năng lực văn học của học sinh và đồng thời cũng là phương tiện giáo dục thẩm mĩ
Giáo sư Phan Trọng Luận chia đọc hiểu thành ba bước: đọc thô, đọc bằng sức mạnh của hồi ức của trí tưởng tượng, liên tưởng và đọc cắt nghĩa bình giá
Trang 33Các tác giả biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn chia đọc hiểu thành bốn bước:
Bước 1: Đọc thông - đọc thuộc
Đây là bước đầu tiên của quá trình đọc hiểu
Đọc thông là hoạt động tri giác ngôn ngữ Yêu cầu đọc thông là đọc rõ ràng, mạch lạc, đúng chính âm, chính tả Mục đích của nó là chuyển ngôn ngữ
từ dạng kí hiệu (chữ viết) sang dạng tín hiệu (âm thanh) nhằm tạo ra sự tác động đồng thời vào các giác quan kí ức bằng khả năng tưởng tượng, liên tưởng của người đọc Trước hết phải tìm hiểu ngôn ngữ văn bản, có cái nhìn bao quát toàn văn bản Nó được xem như hoạt động mở đầu cho quá trình khám phá văn bản
chỉ thực hiện được với các văn bản thơ trữ tình có dung lượng không lớn và
có thể là một đối thoại đặc sắc trong văn bản tự sự, kịch, các câu chủ đề chứa đựng trong các luận điểm của văn bản chính luận Đối với các tác phẩm có dung lượng quy mô lớn, đọc thuộc tức là đọc có thể nhớ và tóm tắt một cách tương đối chính xác
b Đọc kĩ - đọc sâu
Đọc kĩ tức là đọc nhiều lần, đọc nghiền ngẫm, đọc phát hiện ra những
nội dung chủ yếu trong văn bản nói chung Trong văn bản nghệ thuật, đọc kĩ
Trang 34tức là phát hiện ra một hệ thống các hình ảnh, các chi tiết tiêu biểu, các biến
cố, sự kiện quan trọng, các nhân vật trung tâm Vì mỗi văn bản là tập hợp các yếu tố được tổ chức sắp xếp thành một hệ thống nhưng các yếu tố trong hệ thống không bình đẳng về tư tưởng, nghệ thuật Nên trong quá tình khám phá tác phẩm chỉ có thể tập trung vào một vài yếu tố có giá trị nghệ thuật cao để chuẩn bị cho bước tiếp theo
Đọc sâu là đọc phát hiện cấu trúc nội tại của các thông tin chứa đựng trong một văn bản Nếu trong văn bản chính luận thì đó chính là những logic, luận điểm, hệ thống phương pháp được sử dụng, cách triển khai các luận cứ Nếu là văn bản nghệ thuật thì đó chính là logic vận động của hình tượng, những điều không thể phát hiện ra bằng các giác quan và để phát hiện ra nó phải bằng các thao tác tư duy và năng lực phán đoán, khả năng tìm ra mối liên
hệ bên trong đối tượng mà mình cần chiếm lĩnh
c Đọc hiểu - đọc sáng tạo
Đọc hiểu là yêu cầu bắt buộc chủ thể phải huy động kiến thức của nhiều lĩnh vực liên quan đến văn bản của tác phẩm, phải sử dụng một số phương pháp thích hợp để tìm hiểu nội dung và ý nghĩa của văn bản chứ không đơn thuần là một bước cho một phương pháp Xét đến cùng, việc đọc tất cả các văn bản Ngữ văn trong sách giáo khoa là để hiểu và vận dụng trong học tập và đời sống Một trong những tính chất cơ bản của môn Ngữ văn là môn học có tính công cụ, những tri thức, kĩ năng từ môn này sẽ trở thành công cụ học tập và sống
Đọc sáng tạo: “sáng tạo” tức là “tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần” Bất kì văn bản nghệ thuật nào cũng tồn tại những khoảng trống, để hiểu văn bản, người đọc bắt buộc phải liên tưởng lấp đầy khoảng trống đó Trong nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn, người ta gọi đây là quá trình đồng sáng tạo tức là người đọc cũng là người sáng tạo và nhờ sự sáng tạo ấy người
Trang 35đọc có thể hiểu, cảm tác phẩm Ngoài ý nghĩa đó, nó còn có ý nghĩa cộng sinh
do tác động của môi trường, thời đại, công chúng độc giả thêm vào
d Đọc đánh giá - đọc ứng dụng
Đọc đánh giá tức là đọc để bày tỏ thái độ của người đọc đối với nội
dung các thông tin trong văn bản
Đọc ứng dụng: mục đích việc học không chỉ học để biết mà quan trọng hơn là học để làm (ứng dụng) nên khi tổ chức cho học sinh đọc hiểu các văn bản Ngữ văn, người dạy cần quan tâm đến khả năng ứng dụng của người học
2.4 Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu tác phẩm tự sự chống Mĩ theo đặc trưng thể loại
Cốt truyện không phải là toàn bộ truyện, tuy nhiên nội dung tư tưởng của tác phẩm được thể hiện qua cốt truỵên Vì vậy, để có thể đọc hiểu một tác phẩm tự sự, giáo viên cần giúp học sinh nắm được cốt truyện ngay từ bước đầu tiên
2.4.1 Giúp học sinh nắm được cốt truyện
những hướng đi thích hợp cụ thể như sau:
2.4.1.1 Đọc chọn ra các biến cố, sự kiện trong tác phẩm và sắp xếp các biến cố, sự kiện đó theo trật tự logic mà tác giả đã sắp xếp
Cốt truyện là tập hợp các tình tiết, sự kiện, biến cố diễn ra trong tác phẩm, được sắp xếp một cách logic thể hiện ý đồ nghệ thuật tư tưởng của tác giả Tuy nhiên, khi đến với độc giả, nó chỉ tồn tại với tư cách là những kí tự chết Và theo Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương” thì đọc chính là quá trình “giải mã văn bản tác phẩm” Vì vậy, để nắm được cốt truyện, trước tiên phải đọc tác phẩm để có cái nhìn khái quát nhất về tác phẩm Từ đó, chọn ra các biến cố, sự kiện và sắp xếp theo trình tự logic mà tác giả đã sắp xếp
Trang 36Chẳng hạn, khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm “Rừng xà nu”
(Nguyễn Trung Thành) thì trước hết phải cho học sinh đọc toàn bộ tác phẩm, trên cơ sở đó hướng dẫn học sinh chọn lọc và tìm ra được các chi tiết, sự kiện nổi bật Đó là việc Tnú được nghỉ phép về thăm làng Trong cái đêm Tnú ở làng Xô Man, giữa nhà ưng, cụ Mết kể lại câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú và về cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man Sau một ngày nghỉ phép, Tnú lại lên đường trở về đơn vị
Việc đọc và chọn ra các chi tiết, sự kiện rồi sắp xếp theo trình tự mà tác giả đã sắp xếp giúp học sinh có cái nhìn bao quát tác phẩm cũng như có định hướng cho hoạt động tiếp theo trong việc tìm hiểu tác phẩm
2.4.1.2 Chỉ ra mối liên hệ giữa các biến cố, sự kiện ấy
Các sự kiện, biến cố trong tác phẩm được sắp xếp theo một trình tự logic nhất định nên giữa chúng có mối liên hệ với nhau Do đó, sau khi đọc và chọn các biến cố, sự kiện học sinh cần phải chỉ ra được mối liên hệ giữa các biến cố, sự kiện, chúng có tác động, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau như thế nào
Trở lại tác phẩm “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành), chúng ta thấy
tác phẩm có hai câu chuyện đan cài vào nhau: chuyện về cuộc đời Tnú và chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man Đêm đau thương của Tnú cũng
là đêm rừng Xô Man ào ào rung động, dân làng đã giết sạch bọn tay sai bằng chính giáo mác và lòng căm thù của họ
Những phẩm chất anh hùng của Tnú chính là vẻ đẹp của cộng đồng Xô Man anh dũng, quật cường Đêm Tnú bị tra tấn, đó là đêm đau thương của dân làng, làng vùng lên quật khởi đánh Mĩ Tnú trưởng thành ra đi, khi Tnú trở về, làng dang rộng vòng tay ôm ấp và tiếp thêm sức mạnh cho anh… Cuộc đời Tnú chính là trang sử hào hùng của làng Xô Man Từ trong đau thương mất mát, họ vùng lên bằng sức mạnh của sự đoàn kết, sức mạnh cộng đồng
Khi họ nhận ra chân lí: “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” thì cũng
Trang 37có nghĩa là họ đã nhận ra vai trò, trách nhiệm của mình đối với sự tồn vong của quê hương, đất nước
Tuy nhiên, việc chỉ ra mối liên hệ giữa các chi tiết, sự kiện không phải
là dễ đối với những cốt truyện phức tạp nhiều sự kiện, chi tiết, biến cố chồng chéo, đan xen nhau hay có những cốt truyện dựa trên dòng suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật Khi đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân tích một cách tổng thể toàn diện, đồng thời phát hiện đâu là những biến cố quan trọng đối với cuộc đời nhân vật và có tác động như thế nào tới toàn bộ câu chuyện
2.4.1.3 Tìm hiểu về trình tự sắp xếp các biến cố, sự kiện trong truyện
“Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi) là câu chuyện về một gia
đình cách mạng, mọi thành viên trong gia đình đều là chiến sĩ diệt Mĩ, thù nước nợ nhà là một Việt và chị gái là Chiến cùng đi bộ đội một ngày Trong một trận đánh lớn, Việt dùng thủ pháo diệt một xe bọc thép của Mĩ Việt bị thương nặng và ngất đi, bị lạc đơn vị ba ngày đêm Tỉnh rồi lại mê, mê rồi lại tỉnh, anh nhớ lại những kỉ niệm vui buồn của tuổi thơ, nhớ lại ba má, anh chị
em, nhớ chú Năm Lần thứ hai, Việt tỉnh dậy bò đi tìm đồng đội Anh nhớ lại chuyện đi soi ếch hồi ở nhà, chuyện về chú Năm và cuốn sổ gia đình Lần thứ
ba, anh nhớ lại chuyện cái ná thun, chuyện hi sinh của ba, chuyện về má Lần thứ tư tỉnh dậy, anh nhớ chuyện đi bộ đội của mình và chị Chiến Và sau anh Tánh cùng đồng đội tìm thấy Việt và đưa anh về bệnh viện, rồi giục Việt viết thư cho chị Chiến
Như vậy, các tình tiết, và sự kiện trong truyện đã không được kể lại theo trật tự thời gian tuyến tính mà nó được tổ chức sắp xếp theo dòng tâm tưởng, những hồi ức đứt nối của Việt khi bị thương nơi chiến trường Vì vậy, câu chuyện trở nên linh hoạt, tự nhiên hơn, chuyện gọi chuyện, sự việc này gợi liên tưởng đến sự việc khác Cứ như thế, câu chuyện về gia đình giống như một cuốn phim quay chậm lần lượt hiện ra với những kí ức sâu đậm Câu chuyện về việc đăng kí đi bộ đội của hai chị em trong lần tỉnh dậy lần thứ tư này của Việt được gợi lại từ bóng dáng thấp thoáng của hình ảnh người mẹ