Điện động lực học vi mô nghiên cứu về các hiện tượng điện từ, có xét đến cấu trúc phân tử, nguyên tử của môi trường và tính gián đoạn của các điện tích.. TƯƠNG TáC GIữA CáC ĐIệN TíCH Và
Trang 1Vật lý lý thuyết có nội dung vật lý và phương pháp toán học Nó tìm
ra được những quy luật tổng quát nhất, phản ánh được bản chất vật lý của nhiều loại hiện tượng xét một cách tổng hợp Một trong những bộ môn quan trọng của Vật lý lý thuyết là Điện động lực học Nó nghiên cứu những quy luật tổng quát nhất của điện từ trường và các hạt tích điện
Điện động lực học vi mô nghiên cứu về các hiện tượng điện từ, có xét đến cấu trúc phân tử, nguyên tử của môi trường và tính gián đoạn của các điện tích Điện động lực học vi mô có thể giải thích được cơ cấu và hiểu
được bản chất của nhiều hiện tượng điện từ như: thuận từ, nghịch từ, siêu dẫn mà điện động lực học vĩ mô chưa giải thích được hay chỉ có thể mô tả
được về mặt hình thức Để có thể nghiên cứu được sâu hơn về những lý thuyết đó tôi đã chọn đề tài:” Điện động lực học vi mô và bản chất điện
từ của môi trường” để có thể giải thích được cơ cấu và hiểu được bản chất của một số hiện tượng điện từ
2 mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về phương pháp cho phép giải thích được cơ cấu và hiểu
được bản chất của nhiều hiện tượng điện từ
Trang 23 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu những quy luật tổng quát nhất của điện từ trường và các hạt tích điện trong phạm vi của điện động lực học
4 phương pháp nghiên cứu
- phương pháp toán học
- phương pháp nghiên cứu tài liệu
5 ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài:” Điện động lực học vi mô và bản chất điện từ của môi trường” có thể giải thích được cơ cấu và hiểu được bản chất của nhiều hiện tượng điện từ mà Điện động lực học vĩ mô chưa giải thích được hay chỉ có thể mô tả được về mặt hình thức
Trang 3
B - phần nội dung
Chương 1 TƯƠNG TáC GIữA CáC ĐIệN TíCH Và
ĐIệN Từ TRƯờNG
1.1 Các phương trình cơ bản của điện động lực học vi mô
Điện động lực học vi mô coi môi trường vật chất là gồm các hạt tích
điện đặt trong chân không Điện từ trường trong môi trường vật chất cũng vẫn chỉ là điện từ trường trong chân không, nhưng đã bị trường của các hạt tích điện đó làm biến đổi Sự có mặt của môi trường vật chất có thể coi như
là sự đưa thêm vào chân không một số điện tích bổ sung và dòng điện bổ sung nào đó Những điện tích bổ sung và dòng điện bổ sung này xuất hiện trong những điều kiện cụ thể nhất định ảnh hưởng của môi trường vật chất
đối với điện từ trường chính là ảnh hưởng của các điện tích và dòng điện đó,
và phụ thuộc sự phân bố cụ thể của các điện tích và dòng điện đó
Theo điện động lực học vi mô, mọi hiện tượng điện từ trong môi trường vật chất, cũng như mọi tính chất điện từ của môi trường vật chất đều
có thể được giải thích bằng tác dụng của các điện tích và dòng điện bổ sung nói trên Như vậy suy đến cùng, điện động lực học vi mô chỉ xét đến điện từ trường trong chân không, và chỉ cần dùng đến hằng số điện môi 0 và độ từ thẩm 0 của chân không
Do êlectrôn trong các nguyên tử chuyển động rất nhanh, mật độ
điện tích và mật độ dòng điện vi mô trong môi trường vật chất biến thiên rất nhanh theo thời gian và từ điểm này sang điểm khác Nên điện từ trường trong điện động lực học vi mô cũng là điện từ trường biến thiên rất nhanh
Trang 4theo toạ độ và thời gian Ta ký hiệu các vectơ điện trường và từ trường là:
(1.4) Mật độ lực tác dụng lên điện tích: f {E[vB]}
Trang 5sẽ có những giá trị và dạng biểu diễn cụ thể tuỳ theo từng trường hợp cụ thể
1.2 Chuyển động của điện tích tự do trong điện từ trường
Xét điện tích e chuyển động với vận tốc v
trong điện từ trường, lực Lorenxơ do điện từ trường tác dụng lên nó có giá trị bằng:
1.2.1 Chuyển động của điện tích trong tĩnh điện trường
Xét điện tích e chuyển động trong tĩnh điện trường:
E grad const
Phương trình chuyển động của điện tích là:
Trang 6Phương trình trên diễn tả định luật bảo toàn năng lượng đối với chuyển động của hạt Số hạng thứ nhất là động năng của hạt, số hạng thứ hai là thế năng tương tác giữa hạt và điện trường
Nếu hạt lúc ban đầu ở trạng thái đứng yên (v ), và sau đó đi qua 0 0
được thế hiệu U, dựa vào (2.4) ta viết được:
Đối với êlectrôn, nếu U = 1 vôn, ta tính ra được v600km s/
Xét một điện tích e chuyển động trong tĩnh điện trường đều E
Chọn trục Oy theo phương của E
và giả sử tại thời điểm t=0, điện tích nằm tại gốc toạ độ O và có vận tốc ban đầu v0
nằm trong mặt phẳng xOy (hình 1)
Chiếu phương trình chuyển động (2.3) xuống các
Trang 7 Như vậy, quỹ đạo của hạt là một đường parabol Nếu điện tích là dương vận tốc ban đầu là v 0
1.2.2 Chuyển động của điện tích trong từ trường không đổi
Phương trình chuyển động của điện tích là: m d v e vB[ ]
Xét một điện tích e chuyển động trong từ trường đều không đổi B
và chọn trục 0z theo phương của B
Chiếu phương trình chuyển động (2.9) xuống các trục toạ độ, ta viết
Trang 8z 0 (2.13)
Phương trình (2.13) chứng tỏ từ trường không làm ảnh hưởng gì đến chuyển động của hạt theo phương 0z (phương của trường) Theo phương này, hạt chuyển động theo quán tính, như khi không có trường Lấy tích phân (2.13) hai lần theo thời gian ta có: zz0 v t z (2.13a)
Trong đó v là vận tốc của hạt theo phương z, tức là thành phần vận z
tốc theo phương của trường
Vậy v mà ta đã chọn ở trên chính là vận tốc của hạt trên mặt xoy, 0
tức là thành phần vận tốc vuông góc với phương của trường
Trang 9Như vậy, chuyển động của hạt theo các phương x và y là chuyển
động điều hoà với tần số góc bằng 0 eB
Quỹ đạo đó là một đường tròn Tần số góc 0 được gọi là tần số
xyclôtrôn, nó chỉ phụ thuộc tỷ số e
m không phụ thuộc vận tốc của hạt Bán
mặt phẳng vuông góc với trường Nếu vận tốc có thành
phần song song với trường (v ), ngoài chuyển động z 0
tròn nói trên, hạt còn tịnh tiến theo phương của trường với
vận tốc không đổi v z const Quỹ đạo của hạt là một
Hình 2
Trang 10đường xoắn, xoắn trên một mặt trụ bán kính v m0
R eB
và trục song song với phương của trường như hình 2
1.3 Chuyển động của êlectrôn trong nguyên tử đặt vào từ trường ngoài
1.3.1 ảnh hưởng của từ trường ngoài lên dao động và bức xạ
của nguyên tử
Xét một nguyên tử gồm hạt nhân và một êlectrôn có khối lượng bằng m (thí dụ nguyên tử hyđrô hoặc nguyên tử kiểu hyđrô) Trong thuyết
cổ điển, nguyên tử bức xạ được coi như một dao động tử điều hoà: điện tích
âm dao động xung quanh điện tích dương đặt ở gốc toạ độ, tương tự như dao động của một lò xo đàn hồi
Có thể coi như êlectrôn dao động dưới tác dụng của một lực đàn hồi F d
đến tần số bức xạ)
Đặt nguyên tử vào từ trường ngoài đều và không đổi B
, và chọn
trục 0z theo phương của B
Bây giờ, ngoài lực đàn hồi F d
còn có lực Lorenxơ Fm
tác dụng lên êlectrôn : Fm e r B0[]
(3.3) Trong đó là điện tích của êlectrôn , có giá trị âm (e0 e0 ) 0
Trang 11Chúng ta tìm nghiệm của (3.6) và (3.7) dưới dạng:
Trang 12Muốn cho cặp phương trình đó có x0 0;y0 thì định thức của nó 0phải bằng 0 Tức là:
Khoảng cách giữa hai vạch bức xạ bằng: 2 0
2
L
e B m
Trang 13Hiện tượng trên gọi là hiệu ứng Ziman và tần số 0
L
e B m
gọi là tần số Lacmo Khoảng cách giữa hai vạch bức xạ cho phép xác định tỉ số
0
e
m của êlectrôn
1.3.2 Chuyển động tiến động của êlectrôn
Xét chuyển động của êlectrôn trong nguyên tử Để đơn giản, ta cũng xét một nguyên tử gồm hạt nhân đặt ở gốc tọa độ và một êlectrôn quay quanh hạt nhân với vận tốc dài bằng v
Mômen xung của êlectrôn là: Lm rv[]
(3.14) Vì êlectrôn chuyển động theo quỹ đạo khép kín, nên mômen từ của
cũng là những lượng đã trung bình hóa Chúng không phụ thuộc tọa độ, ta coi chúng như những hằng số và đưa chúng ra ngoài dấu tích phân: 1 0
và ngược chiều
Trang 14Nếu nguyên tử có nhiều êlectrôn, mỗi êlectrôn đều có mômen từ và
động, giống như một con quay hồi phục
Phương trình chuyển động của con quay hồi phục là: d L N
Trang 15 Biết rằng phương trình chuyển động của một vật rắn quay quanh một trục cố định với vận tốc góc bằng
đạo cũ của êlectrôn (khi chưa có từ trường ngoài) quay quanh trục 0z với vận tốc góc bằng L
Như vậy, khi đặt nguyên tử vào từ trường ngoài, mỗi êlectrôn của
nó sẽ tham gia đồng thời vào hai chuyển động: chuyển động quanh hạt nhân ( tức là quanh gốc 0) với vận tốc góc là 0 và chuyển động quanh phương của từ trường (tức là quanh trục 0z) với vận tốc góc bằng L Chuyển động của êlectrôn như vậy gọi là sự tiến động Lacmo Tất cả các êlectrôn đều tiến động với cùng một vận tốc góc L và theo cùng một chiều
Sự tiến động Lacmo của các êlectrôn chính là nguyên nhân gây ra hiệu ứng Ziman đã khảo sát ở trên
1.4 Hàm lagrangiơ của hạt chuyển động trong điện từ trường
Hàm Lagrangiơ của hạt chuyển động tự do với vận tốc v<<c, là:
1 2
2
L mv (4.1) Xung lượng của hạt và lực tác dụng lên nó cũng được xác định bằng:
Trang 16Nếu phương trình Lagrangiơ (4.4) chứa hàm Lagrangiơ (4.5), nó tương đương với phương trình chuyển động của hạt trong điện từ trường
Thực vậy, ta tính xung lượng suy rộng của hạt:
Trang 17Chương 2: ĐIệN MÔI Và Từ MÔI
2.1 Sự phân cực của điện môi trong điện trường
Mỗi phân tử điện môi là một hệ trung hoà về điện Chúng ta biết rằng một hệ như vậy có thể coi gần đúng như một lưỡng cực điện, có mômen lưỡng cực xác định theo: pr dV' (1.1)
Ta có thể phân loại các điện môi thành hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các điện môi mà các phân tử không có mômen lưỡng cực (phân tử không cực) khi chưa có điện trường ngoài, thí dụ như CO H ; nhóm thứ 2, 2hai gồm các điện môi mà các phân tử đã có momen lưỡng cực xác định
Trang 18ngay khi chưa có điện trường ngoài ( phân tử có cực) thí dụ như H2O,
SO HCl
Xét một thể tích nhỏ vĩ mô V , tức là khá nhỏ để có thể coi các đại lượng vĩ mô ( ,E H , , , T
) trong thể tích đó là không đổi, nhưng khá lớn để chứa một số lớn phân tử
tùy thuộc tính chất của điện môi
2.1.1 Sự phân cực của các điện môi có phân tử không cực
Các điện tích trong phân tử là điện tích liên kết, chúng không thể di chuyển tự do trong điện môi được Khi ta đặt điện môi vào một điện trường ngoài, các điện tích trong mỗi phân tử bị dịch chuyển đi một ít, phân tử bị biến dạng và trong từng phân tử xuất hiện một mômen lưỡng cực p
Các
điện tích dương bị dịch chuyển theo phương của điện trường, các điện tích
âm bị dịch chuyển ngược lại, do đó mômen lưỡng cực p
bao giờ cũng cùng
phương, cùng chiều với E
Trang 19
Đối với các điện môi có mật độ vật chất rất nhỏ (thí dụ của các chất khí loãng), sự phân cực của điện môi là yếu, ta có thể coi rằng điện trường tác dụng lên mỗi phân tử đúng bằng điện trường vĩ mô E
Mômen lưỡng cực p
số phân tử trong đơn vị thể tích, ta có: PN 0 0E
(1.4)
Ta gọi N0 trong đó là độ cảm điện môi, tức là độ phân cực của điện môi, và ' 1 N0 (1.5)
Độ phân cực của phân tử 0 do các tính chất nội tại của phân tử xác
định, nó không phụ thuộc các đại lượng vĩ mô như mật độ vật chất, áp suất, nhiệt độ, vv Do đó hằng số điện môi trong trường hợp này là hàm bậc nhất của mật độ vật chất, nó không phụ thuộc tường minh vào nhiệt độ
Đối với các điện môi có mật độ vật chất khá lớn (thí dụ: các chất khí đặc, các chất lỏng), hiện tượng xảy ra cũng tương tự như trên, nhưng
điện trường tác dụng lên phân tử không phải là trường vĩ mô E
Trường vĩ
mô E
là trường trung bình của tất cả các điện tích trong điện môi Nhưng khi ta coi một phân tử như một lưỡng cực, và xét trường tác dụng lên nó, ta phải xét trường của tất cả các phân tử khác, trừ phân tử đang xét
Gọi E t
là trường tác dụng lên phân tử ta xét Chúng ta tưởng tượng một hình cầu vĩ mô nhỏ có tâm O tại phân tử ta xét Trường tác dụng Et
là tổng của hai trường: trường E1
của tất cả các điện tích ở phía ngoài cầu O và
Trang 20trường E2
của các điện tích ở trong cầu O, trừ các điện tích của phân tử
đang xét, khi đó: Et
=E1+E2
(1.6) Nếu ta chỉ xét những điện môi có cấu trúc phân tử đối xứng, hoặc các chất khí mà các phân tử xếp đặt hoàn toàn hỗn độn, thì E2
trường là E
, và vectơ phân cực trung bình của môi trường là P
Nếu trong môi trường đó ta khoét bỏ đi quả cầu O, thì điện trường của phần còn lại sẽ
Khi quả cầu chưa bị phân cực, các điện tích trong
nó được xếp đặt một cách hỗn độn hoặc đối xứng Khi quả cầu bị phân cực, các điện tích dương của nó bị dịch chuyển một khoảng bằng l
và các điện tích âm bị dịch chuyển một khoảng l
Ta có thể coi như quả cầu O cũ đã tách thành hai
quả cầu khác: cầu O mang điện tích âm và 1
cầu O mang điện tích dương Tâm của hai 2
cầu này cách nhau 2l
Điện trường tại O là sự chồng chập Hình4
Trang 21của hai trường: trường của cầu âm O và trường của cầu dương 1 O Chúng ta 2
dùng định lý Ôstrôgratski – Gauxơ để tính trường của cầu dương Vẽ một mặt cầu tâm O và đi qua O Vì lý do đối xứng cầu nên ta có: 2
Trang 22hay 0
0 0
13
N N
2.1.2 Sự phân cực của các điện môi có phân tử có cực
Khi chưa có điện trường ngoài, mỗi phân tử của điện môi đã có mômen lưỡng cực bằng p0
Tác dụng của trường ngoài một mặt là làm biến dạng phân tử và biến đổi mômen lưỡng cực p0
, tương tự như đối với các phân tử không cực, mặt khác là bắt lưỡng cực p0
phải quay và đổi phương Thông thường tác dụng thứ nhất rất yếu so với tác dụng thứ hai, nên ta không cần xét đến
cực đúng bằng trường vĩ mô trung bình E
, và thế năng của lưỡng cực bằng:
U p E0 cos (1.14)
Trang 23- Khi chưa có trường ngoài, các lưỡng cực p0
xếp đặt hỗn độn theo mọi phương, không phường nào ưu tiên hơn
phương nào
- Khi có từ trường ngoài, ta tìm quy luật
phân bố các lưỡng cực p0
theo góc Gọi N là số lưỡng cực trong đơn vị thể
tích Từ một điểm O bất kỳ trong một thể tích
bất kì bằng đơn vị, ta vẽ một hình cầu bán kính
R Cũng từ O ta vẽ các vectơ p0
song song với tất cả các lưỡng cực trong đơn vị thể tích đang xét (trên hình 5 có vẽ một vectơ p0
như vậy) Chon trục 0z trùng phương với E
, góc chính là góc giữa lưỡng cực với trường ngoài
Ta hãy tìm số lưỡng cực dN’ tạo với điện trường những góc trong khoảng từ tới +d Các vectơ p0
như vậy sẽ xuyên qua cầu O trong phạm vi một đới cầu nằm giữa hai vĩ tuyến và +d, số lượng dN’ các vectơ p0
đó tỷ lệ với điện tích của đới cầu
Diện tích đó bằng : 2Rsin Rd 2R2sin d
Trang 24Theo định lý Boltzmann trong vật lý thống kê, ta biết rằng trong
điều kiện cân bằng nhiệt động học khi đặt điện môi vào tĩnh điện trường (là một trường bảo toàn) quy luật phân bố các lưỡng cực p0
khác với quy luật phân bố khi chưa có trường ngoài bởi một thừa số bằng eU kT trong đó U là thế năng của lưỡng cực trong trường ngoài, k là hằng số Boltzmann (k 1,38.1023J/độ), T là nhiệt độ tuyệt đối
ở đây U p E0 cos
Ta đặt: p E0
a kT
(1.17) Do đó:
cos
'sin
U kT a
Ta viết được (1.18) thành: dN c(1acos )sin d
Do đó giá trị của vectơ phân cực bằng:
Trang 250 0 0
Thừa số thứ hai Np có thể được gọi là “ độ phân cực bão hoà” của 0
điện môi Nó là giá trị cực đại mà vectơ phân cực P
có thể có được, khi mọi lưỡng cực p0
đều đã xoay theo chiều của điện trường Thừa số thứ nhất
càng nhỏ Trong trường hợp E rất lớn hoặc T rất nhỏ,
điều kiện a<<1 không được thoả mãn và công thức (1.21) không còn đúng nữa Khi đó P không còn tăng theo tỉ lệ thuận với E nữa Nó dần tới một giá trị cực đại Pmax Np0 ứng với trường hợp khi mọi lưỡng cực đã xoay theo chiều của điện trường, và sau đó dù có tăng E thì P cũng không tăng nữa
Công thức (1.21) có thể viết dưới dạng vectơ:
2 0
3
Np kT
(1.22) Và:
2 0 0
' 13
Np kT
Trang 262.2 Thuyết cổ điển về tán sắc
Chiết suất tuyệt đối của một môi trường, tức là chiết suất của môi
trường đó đối với chân không là:
Theo thuyết cổ điển, êlectrôn trong nguyên tử được coi như một dao động tử điều hoà, dao động dưới tác dụng của hai lực: lực đàn hồi -
Trang 271' 1 N 1 Ne
Khi đó biểu thức của ' phức tạp hơn, nhưng kết quả tính
ra không khác với trường hợp các khí loãng
Hằng số điện môi ' ở đây là một số phức, và ta biết rằng sóng điện
từ phải bị tắt dần trong điện môi Chiết suất tuyệt đối n tính theo (2.1) cũng
là số phức Phần ảo của chiết suất phức xác định mức độ tắt dần của sóng
Ta có: (022 2) 2 204
Trang 28Do đó: n n tức là phần ảo bằng 0, n là số thực (1 2 0 n10;n2 ) 0và: