1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK ngữ văn 12

74 489 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 573,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, trong văn bản nghị luận xã hội lại có nghị luận chính trị bàn đến các vấn đề chính trị…, nghị luận tư tưởng đạo lí bàn đến sự nhận thức, tâm hồn, đạo đức, quan hệ gia đình, xã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Hà Nội - 2011

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

Th.S PHẠM KIỀU ANH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Th.s Phạm Kiều Anh - cô giáo đã giúp đỡ em tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Đồng thời em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả Quý Thầy Cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội 2 Nhờ có

sự giúp đỡ lớn lao của Quý Thầy Cô em mới có thể hoàn thành luận văn này

Xuân Hoà, ngày tháng 05 năm 2011

Tác giả luận văn

Đàm Thị Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sỹ Phạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố

Tác giả luận văn

Đàm Thị Hà

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 11

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 15

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 15

5 Phương pháp nghiên cứu 15

6 Đóng góp của luận văn 17

7 Bố cục của luận văn 17

NỘI DUNG 19

Chương 1: Văn bản nghị luận và kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 19

1.1 Phương thức biểu đạt và văn bản nghị luận 19

1.1.1 Phương thức biểu đạt 19

1.1.2 Văn nghị luận 21

1.1.2.1 Khái niệm 21

1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của văn bản nghị luận 24

1.1.3 Phân loại văn bản nghị luận 34

1.2 Kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 35

1.2.1 Khái niệm về kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 35

1.2.2 Đặc điểm của kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 36

1.2.3 Cách thức tạo lập kiểu “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 39

1.2.4 Kĩ năng lập dàn ý văn bản nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 32

Chương 2: Dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 45

2.1 Nhận xét chung về việc triển khai nội dung bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 45

Trang 7

2.2 Thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” ở trường

PTTH 47

2.2.1 Thực trạng dạy của giáo viên 47

2.2.2 Thực trạng học của học sinh 49

2.3 Nội dung cơ bản bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 50

2.4 Quy trình dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 54

Chương 3: Thực nghiệm 57

3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 57

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 57

3.3 Kế hoạch thực nghiệm 58

3.4 Nội dung thực nghiệm 58

3.5 Kết quả thực nghiệm 70

KẾT LUẬN 72

Danh mục tài liệu tham khảo 74

Trang 8

về đời sống Nghị luận nảy sinh từ nhu cầu giao tiếp của con người và quay trở lại phục vụ đời sống xã hội Văn nghị luận chiếm khối lượng lớn trong kho tàng văn hoá của loài người Trong xã hội hiện tại, nhu cầu bàn luận của con người ngày càng cao nên văn nghị luận ngày càng có vai trò to lớn Có thể nói, hiện nay, văn nghị luận phát triển mạnh và thâm nhập vào mọi mặt của đời sống Hằng ngày, người ta đọc văn nghị luận trên sách báo, nghe văn nghị luận qua đài phát thanh và truyền hình, sử dụng văn nghị luận trong nhà trường và trong các hội nghị Không chỉ vậy, văn nghị luận còn được coi là công cụ khoa học chính xác, là vũ khí tư tưởng sắc bén giúp con người nhận thức đúng vấn đề của cuộc sống Điều này cho thấy, việc nghiên cứu và giảng dạy kiểu văn bản này cho con người là cần thiết, bởi qua đó con người biết sử dụng kiểu văn bản này đúng lúc, đúng chỗ nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất định

Phát triển đến ngày nay, văn nghị luận ngoài việc làm phong phú và hoàn thiện thì nhận thức của con người đối với nó cũng sâu sắc và đầy đủ Mặc dù vậy, trên thực tế cho đến nay, việc nghiên cứu về kiểu bài này vẫn còn hạn chế Lý thuyết về kiểu văn bản này đến nay mới chỉ đạt ở mức độ cần

Trang 9

thiết Hơn thế, việc nghiên cứu về kiểu bài này còn tồn tại nhiều mâu thuẫn Chẳng hạn: sự thiếu nhất quán khi phân chia các kiểu bài văn nghị luận cũng gây ra nhiều vấn đề cần xem xét Có tác giả quan niệm văn nghị luận gồm các kiểu bài như: giải thích, chứng minh, bình luận, tổng hợp…quan niệm này tận dụng các thao tác nghị luận được sử dụng khi tạo lập văn bản làm cơ sở để phân loại các kiểu bài văn nghị luận Trước đây, cách phân chia này rất phổ biến Tuy nhiên cho đến nay qua quá trình nghiên cứu, cách phân chia này cần phải xem xét lại Điều này dẫn tới quan niệm thứ hai là chia văn nghị luận theo nội dung vấn đề Theo quan niệm này, người ta chia nghị luận thành văn bản nghị luận văn học và văn bản nghị luận xã hội Mặc dù chia thành hai kiểu nhưng mỗi kiểu lại có các thể loại khác nhau cần tìm hiểu, và mỗi kiểu nhỏ này lại có những đặc trưng riêng bên cạnh các đặc trưng chung Chẳng hạn, trong văn bản nghị luận xã hội lại có nghị luận chính trị (bàn đến các vấn

đề chính trị…), nghị luận tư tưởng đạo lí (bàn đến sự nhận thức, tâm hồn, đạo đức, quan hệ gia đình, xã hội, ứng xử, hành động của con người trong cuộc sống), và nghị luận về hiên tượng đời sống (đề cập đến các đề tài gần gũi với đời sống như tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường…) Chính vì vậy, việc dạy làm văn nói chung và việc dạy học văn bản nghị luận nói riêng gặp phải nhiều khó khăn

Từ thực tế về tình hình nghiên cứu làm văn tồn tại trong nhiều năm như vậy, khiến cho việc dạy học làm văn ở trường phổ thông gặp nhiều khó khăn Cái khó của phân môn này được thể hiện ở nhiều phương diện như: kiến thức dạy học, tài liệu tham khảo, thời gian, phương pháp dạy học Cũng vì thế, nhiều khi phần làm văn dường như bị bỏ quên trong quá trình dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông… Bởi lẽ, khi dạy học làm văn nhiều giáo viên rất lúng túng khi xác định nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp dạy học cho phân môn này Còn người học, cái khó là ở chỗ kiến thức thì khô khan, không

Trang 10

có sức hấp dẫn, lý thuyết thì xa rời thực hành, việc tổ chức dạy học thì sơ sài, cứng nhắc… Chính từ những thực tế đó, đòi hỏi việc cần thiết phải xây dựng được một hệ thống cơ sở lý thuyết về Làm văn đảm bảo tính khoa học Mặt khác, cần thiết phải có sự thống nhất trong quan niệm nhằm giúp cho việc dạy học Làm văn được thuận lợi hơn Nghiên cứu rõ bản chất, cách làm một bài văn nghị luận tư tưởng đạo lí sẽ là một cơ sở để chúng ta phân biệt kiểu bài này với kiểu bài khác và đó cũng là cơ sở để chúng ta có thể phân chia các kiểu bài văn nghị luận được chính xác và khoa học

Trong quá trình dạy học Ngữ văn, mục đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn ở trường phổ thông là giúp học sinh có thể tạo lập được những văn bản hay, có tính sáng tạo Để đạt được cái đích cuối cùng ấy, việc cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức về các kiểu văn bản là cần thiết Hơn nữa, trong một thời gian dài, chúng ta quan niệm các thao tác lập luận thành các kiểu bài riêng biệt nên khi làm một bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí, học sinh chỉ biết sử dụng một thao tác duy nhất và nhiều khi không phân biệt sự giống

và khác nhau của những thao tác này Và cũng trong một thời gian dài, văn nghị luận xã hội nói chung và văn bản nghị luận về một tư tưởng đạo lí nói riêng chưa đóng vai trò quan trọng trong chương trình học, còn văn bản nghị luận văn học vẫn đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, trước

sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, nền kinh tế phát triển đến chóng mặt thì mục đích dạy học cũng thay đổi.Với mục đích giáo dục không chỉ đào tạo những con người biết những kiến thức trong sách vở mà còn phải đào tạo những con người vừa hồng vừa chuyên, biết vận dụng kiến thức đã học ra ngoài thực tế và nắm rõ về các vấn đề xã hội nên nghị luận xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học Bên cạnh đó, việc dạy văn bản nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông sẽ giúp học sinh biết nhìn nhận

và giải quyết vấn đề sâu sắc, triệt để Do đó, dạy văn bản nghị luận chúng ta

Trang 11

không thể xem nhẹ văn bản nghị luận xã hội nói chung và văn bản nghị luận

về một tư tưởng đạo lí nói riêng Ở các sách giáo khoa Làm văn trước đây, nội dung này đã được triển khai nhưng vẫn còn qua loa Còn trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay, tri thức nghị luận nói chung và nghị luận về một tư tưởng đạo lí nói riêng đã được trình bày cụ thể, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành

Thêm vào đó, theo cấu trúc đề thi Đại học từ năm 2010 của BGD-ĐT, môn Văn có câu hỏi về kiểu bài nghị luận xã hội Đó có thể là dạng bài cụ thể

về nghị luận tư tưởng, đạo lí hay nghị luận về một hiện tượng đời sống Qua

đó, chúng ta càng thấy được vai trò quan trọng của dạy và học văn bản nghị

luận xã hội trong nhà trường Và việc nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về

một tư tưởng đạo lí” sẽ giúp giáo viên nắm được bản chất của thể loại này,

đồng thời có thể rèn luyện cho học sinh khả năng tạo lập một văn bản nghị luận đúng, hay, có sức thuyết phục

Tuy nhiên, để dạy học bài này đạt hiệu quả thì đòi hỏi học sinh phải có năng lực xử lí thông tin khéo léo Từ yêu cầu cụ thể đó, sách giáo khoa Ngữ

văn 12, tập 1 đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về “Nghị luận về một tư

tưởng đạo lí” Và việc nghiên cứu nhằm tìm ra một hướng dạy học “Nghị luận về một tư tưởng đạo lí” là cần thiết Bởi qua đó, ta có thể đưa ra những

cách trang bị kiến thức khoa học nhất giúp các em lĩnh hội tốt bài học này

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Dạy học bài:

“Nghị luận một tư tưởng đạo lí” trong SGK Ngữ văn 12

2 Lịch sử vấn đề

Làm văn hay Tập làm văn từ trước đến nay vẫn được coi là một trong ba phân môn của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Và việc dạy phân môn này vẫn đóng vai trò quan trọng trong môn Văn Nghị luận bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở lại phục vụ đời sống xã hội nên

Trang 12

văn nghị luận cũng có vai trò to lớn đối với con người và xã hội Xuất phát từ vai trò to lớn ấy, các nhà nghiên cứu về Làm văn luôn luôn chú trọng nghiên cứu loại văn bản này

Khi nghiên cứu loại văn bản này, các nhà nghiên cứu dù ít hay nhiều đã chú trọng đến việc phân loại văn bản nghị luận thành các kiểu nhỏ hơn Bởi mỗi một loại có cách tạo lập chung của kiểu bài đó, nhưng bên cạnh công thức chung lại có cách thức riêng phù hợp với đặc trưng của từng kiểu bài đó Việc phân loại văn nghị luận có nhiều cách theo các tiêu chí khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều chia văn nghị luận thành hai loại là nghị luận xã hội và nghị luận văn học Việc phân chia các loại văn bản sẽ tạo điều kiện cho người viết nắm được đặc điểm riêng của kiểu bài và sẽ có khả năng tạo lập văn bản nghị luận đúng, hay

Trong cuốn “Làm văn” do Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) các giả đã chỉ rõ

“ Nghị luận chính trị- xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc về một vấn đề chính trị, đạo đức, luân lí hay một vấn đề xã hội” [11, 229] Ở đây, tác giả đã chỉ ra

các phạm trù của nghị luận xã hội đó là: nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức

tư tưởng; nghị luận hiện tượng đời sống xã hội Bên cạnh đó, trong cuốn sách này, tác giả cũng đã lưu ý một số điểm khác nhau khi làm đề văn nghị luận xã hội với nghị luận văn học; giữa nghị luận về một tư tưởng đạo lí với nghị luận một hiện tượng đời sống Mặc dù vậy, những lưu ý đó mới chỉ được tác giả nêu ra một cách khái quát Và khi chỉ ra cách làm bài văn nghị luận, tác giả mới trình bày cách làm của văn bản nghị luận chung chung, chưa quan tâm

đến cách làm cụ thể đối với mỗi kiểu bài Cụ thể: các tác giả có viết “Đề văn này thuộc loại nào? NLVH hay NLXH? Nếu là NLVH thì đề thuộc nhóm nào? […] Nếu là NLXH thì đề thuộc nhóm nào?” [11, 231] Như vậy, ở đây các tác

giả đã bàn đến sự khác nhau giữa các kiểu bài trong đề văn Từ việc chỉ ra sự khác nhau đó, các tác giả cho chúng ta thấy với mỗi kiểu bài này sẽ có cách

Trang 13

tiếp cận, cách tạo lập khác nhau Nếu là NLXH thì có hướng tiếp cận của kiểu bài NLXH và nếu đó là NLVH sẽ có hướng tiếp cận của kiểu bài NLVH Nhóm tác giả Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Giang Khắc Bình trong

cuốn “Văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở” cũng chỉ

ra cách phân loại văn nghị luận căn cứ vào nội dung vấn đề Theo tiêu chí đó, văn nghị luận gồm các loại sau: nghị luận chính trị (có nội dung là các vấn đề chính trị), nghị luận xã hội (nội dung là các vấn đề xã hội), nghị luận đạo đức (nội dung là các vấn đề đạo đức, nhân sinh quan), nghị luận văn học (nội dung

là các vấn đề về văn học) Ở đây, tác giả tách nghị luận chính trị, nghị luận đạo đức ra thành kiểu bài riêng, không nằm trong nghị luận xã hội như các tác

giả trong cuốn “Làm văn” Dù phân chia như vậy, nhưng tác giả cũng đã đề

cập đến sự khác nhau về đề tài của các kiểu văn nghị luận xã hội và nêu được đặc trưng cơ bản của nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo đức…

Tác giả Nguyễn Quốc Siêu trong cuốn “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông” đã đề cập đến những thể loại nghị luận thường dùng gồm có: bình luận

tư tưởng, chính luận, bài nói, tạp văn, bình luận văn học, luận văn học thuật,

cám nghĩ, báo cáo điều tra tổng kết Theo tác giả “Bình luận tư tưởng là bình luận về tình hình các mặt trạng thái tư tưởng, tác phong, phương pháp và nhận thức …diễn biến của con người” Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Quốc

Siêu còn tổng kết, khái quát, nâng cao và chỉ ra kĩ xảo của việc luyện tập để viết thể loại văn nghị luận Tuy nhiên, bình luận tư tưởng là cách chia đã lâu

và nó chưa bao quát hết các bình diện của nghị luận tư tưởng, đạo lí Ở đây, thể loại bình luận tư tưởng mới đề cập đến tư tưởng bỏ qua phần đạo lí

Hay trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 12” (Vũ Quốc Anh – Nguyễn Hải Châu – Nguyễn Khắc Đàm –

Bùi Minh Đức – Nguyễn Duy Kha – Trần Đăng Nghĩa – Bùi Xuân Tân – Bùi Minh Toán – Nguyễn Thị Hồng Vân) cũng đề cập đến mức độ cần đạt đối với

Trang 14

văn bản nghị luận là “Hiểu yêu cầu và cách thức vận dụng tổng hợp các thao tác và các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận [ ] Biết vận dụng kết hợp các thao tác nghị luận và các phương thức biểu đạt để viết bài văn nghị luận.” [7, 15] Đây cũng là mức độ cần đạt đối với bài viết về một tư

tưởng đạo lí Như vậy, các tác giả đã đề ra những yêu cầu cơ bản nhất cần đạt được khi dạy học về văn bản nghị luận Tuy nhiên, các kiến thức này vẫn còn

sơ lược chưa được cụ thể

Tác giả Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử (Và các tác giả khác) trong

cuốn “Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn” (Tài liệu dùng trong các lớp bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình và SGK lớp 12” cũng viết “Làm văn trong SGK Ngữ văn 12 tiếp tục rèn luyện cho học sinh các kĩ năng làm văn: thực hành lập luận [ ], viết phần mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luận” [2, 69], và đối với kiểu

bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí các tác giả cũng chỉ ra những yêu cầu, các nội dung cần đạt, các lưu ý học sinh khi làm kiểu bài này Nhìn chung, đây là tài liệu hướng dẫn giáo viên thực hiện chương trình SGK nói chung và kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí nói riêng Tuy nhiên, tài liệu này chỉ

mang tính chất định hướng cho nên khi dạy học bài “Nghị luận về một tư

tưởng đạo lí” giáo viên cần phải nghiên cứu và tìm hiểu thêm ở nhiều tài liệu

khác để bài dạy đạt được mục tiêu đề ra

Chương trình Làm văn lớp 12 quy định giảng dạy các kỹ năng phân tích, bình luận văn học, bình luận xã hội, đồng thời cũng chú ý hoàn thiện cách mở bài, kết bài, chuyển đoạn Chương trình mới không phân chia tách bạch các kĩ năng phân tích, bình giảng, bình luận mà chú ý đến những thao tác tư duy có tính chất tổng hợp hơn như xây dựng luận điểm, luận cứ và cuối cùng là luyện tập các kiểu bài bình luận xã hội và bình luận văn học Trên đại thể, chương trình mới không rèn luyện các kiểu bài quen thuộc trong nhà trường như phân

Trang 15

tích, bình luận mà chỉ chú trọng kiểu bài nghị luận trên cơ sở hình thành các thao tác nghị luận như xây dựng luận điểm, luận cứ Và việc dạy học bài

“Nghị luận về một tư tưởng đạo lí” cũng theo tinh thần đó

Tuy nhiên, trong chương trình THCS, THPT trước kia, kiểu bài “Nghị

luận về một tư tưởng đạo lí” cũng được đề cập nhưng chỉ chú trọng tới một

thao tác chính Đó là do các tác giả chưa thống nhất cách phân chia các kiểu bài nghị luận mà vẫn coi mỗi thao tác lập luận là một kiểu bài riêng Điều này

dẫn đến thực trạng khi nghiên cứu cụ thể về kiểu bài “Nghị luận về một tư

tưởng đạo lí” còn ít và chưa sâu sắc

Đến chương trình mới, kiểu bài này đã được đưa thành một bài riêng với cách làm cụ thể trong SGK lớp 9, tập 2 và SGK lớp 12, tập 1 các em lại được tiếp cận ở mức cao hơn

Chính sự thay đổi trong quan niệm và mục đích dạy học kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí ở chương trình mới so với chương trình cũ đã gây khó khăn cho giáo viên về nguồn tư liệu, đồng thời người viết còn lúng túng không nắm chắc cách thức tạo lập văn bản này Việc dạy học văn bản nghị

luận nói chung và kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng đạo lí” nói riêng ở

trường THPT đòi hỏi cần phải xây dựng được cơ sở lý thuyết và cách làm kiểu bài này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc trình bày những kiến thức cơ bản về văn bản nghị luận về một tư tưởng đạo lí, chúng tôi muốn vận dụng vào việc tổ chức dạy học nội dung này cho HS THPT, đặc biệt là HS lớp 12 Qua đó, giúp HS nắm được cách thức tạo lập một bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, trước hết là

kỹ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý Bên cạnh đó, giúp HS có ý thức và khả năng tiếp thu những quan niệm đúng đắn và phê phán những quan niệm sai

Trang 16

lầm về tư tưởng đạo lí Đồng thời, giúp HS có đủ kiến thức và tự tin tham gia nghị luận về bất kì một tư tưởng đạo lí nào với lập luận chặt chẽ, chính xác, hợp lí, toàn diện và có sức thuyết phục cao

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khoá luận có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Trình bày hệ thống những kiến thức về văn bản nghị luận và kiểu bài

“Nghị luận về một tư tưởng đạo lí”

- Vận dụng những tri thức đó vào việc thực hiện dạy học bài “Nghị luận

về một tư tưởng đạo lí” trong SGK 12, tập 1

- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên

cứu quá trình tổ chức dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng đạo lí” cho HS

THPT, đặc biệt là HS lớp 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tập trung tìm hiểu những kiến thức chung về nghị luận về một tư tưởng đạo lí trong SGK lớp 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi làm khoá luận này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn

Đây là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học Bản chất của phương pháp này là dựa trên các thông tin đã có bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các kết luận khoa học Phương pháp này được sử dụng để thu thập nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử vấn đề và cơ sở lý thuyết của đề tài

5.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 17

Phương pháp này được thể hiện thông qua một số khía cạnh:

- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội dung dạy học Cơ sở thực nghiệm được xác định dựa vào các tri thức về giáo dục, tâm lý, về trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào hệ thống

tri thức về văn bản “Nghị luận về một tư tưởng đạo lí” trong SGK lớp 12, tập

1

- Tổ chức giảng dạy ở trường phổ thông

- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy, đánh giá nhận thức của HS và đánh giá nội dung về làm văn trình bày trong SGK, từ đó đưa ra một số đề xuất về nôi dung cũng như về việc giảng dạy làm văn cho HS lớp 12

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp một phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ thêm về cách dạy kĩ

năng làm văn cho học sinh thông qua một kiểu bài nghị luận – kiểu bài “Nghị

luận về một tư tưởng đạo lí”

7 Bố cục của luận văn

Để triển khai đề tài, chúng tôi chia khoá luận thành ba phần lớn: mở đầu; nội dung; kết luận Cụ thể:

Mở đầu: tập trung trình bày các nội dung cơ bản có tính định hướng

cho việc nghiên cứu nội dung đề tài là: lý do chọn đề tài; lịch sử vấn đề; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu Ngoài ra, tôi còn giới thiệu về đóng góp và bố cục của luận văn

Nội dung: gồm 3 chương Mỗi chương được chúng tôi tập trung trình

bày các phương diện khác nhau của đề tài Cụ thể:

+ Chương 1: Văn bản nghị luận và kiểu bài “Nghị luận về một tư

tưởng đạo lí”

+ Chương 2: Dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng đạo lí”

+ Chương 3: Thực nghiệm

Trang 18

Kết luận: Đây là nội dung cuối cùng của luận văn Trong phần này,

chúng tôi tập trung khái quát lại, hệ thống lại vấn đề đã được triển khai trong các phần trên

Trang 19

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VÀ KIỂU BÀI

“NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ”

1.1 Phương thức biểu đạt và văn bản nghị luận

1.1.1 Phương thức biểu đạt

Giao tiếp là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của con người Thông qua giao tiếp, con người có thể trao đổi, giãi bày ý kiến đó với mọi người và khiến mọi người có thể hiểu, thông cảm với bản thân hoặc thống nhất trong lao động để tạo ra những hiệu quả nhất định

Hoạt động giao tiếp là hoạt động có mục đích Mục đích ở đây được hiểu

là trao đổi thông tin, truyền đạt một nội dung, một vấn đề, một chuyện gì đó, hay một việc gì đó với nhau Mục đích này không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên là có Nó xuất phát từ chỗ một nhân vật giao tiếp cảm thấy có “nhu cầu” nào đấy thôi thúc phải trao đổi thông tin với người kia Nói một cách khác, hoạt động giao tiếp bao giờ cũng chỉ được thực hiện khi con người có động cơ nhất định nhằm đạt được một mục đích nhất định Và để “nhu cầu” giao tiếp nảy sinh thì điều kiện quan trọng và cần thiết chính là môi trường giao tiếp Môi trường ấy vừa tạo ra nhu cầu, vừa là không gian tiến hành giao tiếp

Để ghi lại nội dung lời nói trong hoạt động giao tiếp, chúng ta có thể dùng lời nói hoặc chữ viết Dùng lời nói ghi lại nội dung ta có các ngôn bản, còn dùng chữ viết ghi lại nội dung giao tiếp sẽ cho ta các văn bản Như vậy, văn bản chính là sản phẩm của hoạt động giao tiếp Đó là hệ thống các ngôn ngữ được tổ chức sắp xếp hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp, thực hiện một hoặc một số mục đích nhất định

Trang 20

Để văn bản đạt hiệu quả giao tiếp cao, điều quan trọng khi tạo lập văn bản chính là việc người viết phải căn cứ vào động cơ, mục đích giao tiếp phù hợp Mục đích giao tiếp vừa là cơ sở để đánh giá, vừa là thước đo giá trị của văn bản Hình thức thể hiện văn bản là yếu tố ghi lại nội dung của văn bản được gọi là kiểu văn bản

Mỗi kiểu văn bản được sử dụng để truyền tải những nội dung cụ thể với những mục đích cụ thể Vì vậy, mỗi kiểu văn bản sẽ có những phương pháp luận riêng dựa trên đặc trưng của từng kiểu văn bản Mỗi phương pháp luận quy định cách thức diễn đạt nội dung cho phù hợp với từng kiểu văn bản như vậy được gọi bằng thuật ngữ “phương thức biểu đạt”

Theo “Từ điển tiếng Việt”, tường giải và liên tưởng thì “phương thức biểu đạt là toàn thể những đặc điểm xác định cách thức, tiến hành, áp dụng.” (Sđd Tr.657)

Căn cứ vào cách giải thích phương thức như trên, chúng ta có thể hiểu: phương thức biểu đạt chính là toàn bộ những đặc điểm xác định, quy định cách thức tổ chức diễn đạt nội dung cho từng văn bản nhằm tạo ra được một văn bản trọn vẹn, mạch lạc về nội dung và trọn vẹn về hình thức Hay nói cách khác, phương thức biểu đạt là khái niệm dùng để chỉ các quy định về cách thức tổ chức diễn đạt nội dung cho văn bản nhằm tạo ra được một văn bản phù hợp về nội dung và mục đích giao tiếp Phương thức biểu đạt chỉ được hình thành khi xác định được nội dung và mục đích tạo lập văn bản và

nó được biểu hiện cụ thể trong những hoàn cảnh giao tiếp Như vậy, phương thức biểu đạt cũng là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, là công cụ, phương tiện, là hình thức để truyền tải nội dung giao tiếp nhằm tạo nên tính hoàn chỉnh về hình thức, thống nhất về cấu trúc văn bản Hơn nữa, phương thức biểu đạt giúp con người có thể tường minh một cách trọn vẹn nội dung giao tiếp và nhờ có nó, người đọc, người nghe mới có thể tiếp nhận đầy đủ nội

Trang 21

dung giao tiếp, và xác định được mục đích của cuộc giao tiếp ấy Không chỉ vậy, phương thức biểu đạt còn là cơ sở để con người đánh giá và xác định giá trị của văn bản trong mối quan hệ với mục đích giao tiếp đó

Là một sản phẩm của hoạt động giao tiếp, văn bản được tạo ra nhằm giúp con người thực hiện một hoặc một số mục đích nào đó Vì vậy, muốn xác định được cách tổ chức nội dung văn bản, người ta thường căn cứ vào mục đích giao tiếp Hiện nay, căn cứ vào mục đích giao tiếp, các nhà khoa học cho rằng có sáu kiểu văn bản tương ứng với sáu phương thức biểu đạt đó là: tự sự; miêu tả; biểu cảm; hành chính công vụ; thuyết minh; lập luận Tương ứng với sáu phương thức này tạo ra sáu kiểu văn bản là: văn bản tự sự; văn bản miêu tả; văn bản biểu cảm; văn bản hành chính công vụ; văn bản thuyết minh; và văn bản lập luận Mỗi kiểu văn bản đều có đặc trưng riêng, tính chất riêng song chúng vẫn tác động lẫn nhau Vì vậy, trong quá trình làm văn, người viết cần biết chúng để trình bày vấn đề một cách cụ thể chân thực nhằm giúp người tiếp nhận có thể hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tạo ra những hiệu quả nhất định

1.1.2 Văn nghị luận

1.1.2.1 Khái niệm

Trong hoạt động giao tiếp, nhiều khi con người phải đánh giá và bày tỏ ý kiến, thái độ của mình đối với các vấn đề được trình bày Để làm được điều

đó, con người phải sử dụng tới phương thức lập luận

Phương thức lập luận là phương thức biểu đạt trong văn bản nghị luận Trong Hán ngữ cổ thì “nghị” chỉ việc phát biểu ngôn luận, còn “luận” là bình luận, thảo luận làm cho lí lẽ rõ ràng, khúc chiết và có tính thuyết phục

“Nghị” là hoạt động nhằm đi đến quyết định, “luận” thiên về sự phân định phải, trái, đúng, sai Song chúng đều cùng một ý nghĩa là con người để bàn luận các vấn đề của xã hội

Trang 22

Nghị luận là một dạng thức giao tiếp cơ bản của con người Nhờ có nó, con người có thể bàn luận và làm rõ các vấn đề của tự nhiên, xã hội Cũng thông qua bàn luận, con người mới có thể hiểu và tin nhau hơn Vì vậy, nghị luận là phương thức nảy sinh do nhu cầu của con người và nó quay lại phục

vụ đời sống xã hội Cho nên, có thể nói nghị luận là hình thức giao tiếp nảy sinh cùng với sự xuất hiện của con người, hình thành và phát triển cùng xã hội loài người Xuất phát từ vai trò quan trọng của phương thức biểu đạt này đối với đời sống và con người nên kiểu văn bản nghị luận cũng rất được chú trọng nghiên cứu Về bản chất, nghị luận là kiểu văn bản, trong đó, người nói (người viết) trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận bao gồm

cả lí lẽ và dẫn chứng để bàn định, nhận xét làm cho người nghe (người đọc) hiểu, tin, đồng tình với những ý kiến của mình, và hành động theo những gì mình đề xuất

Nếu văn bản miêu tả là kiểu văn bản được dùng để mô tả, khắc họa lại hình ảnh, văn bản kể chuyện được dùng nhằm tái hiện đời sống, con người bằng ngôn ngữ chủ yếu là khơi gợi, tác động vào cảm xúc, tư tưởng người đọc (người nghe), thì nghị luận lại thiên về trình bày các ý kiến, các lí lẽ, các dẫn chứng để bàn định, nhận xét nhằm làm sáng tỏ một vấn đề nào đó và qua

đó tác động vào trí tuệ, lý trí của người đọc (người nghe) Vì thế, nghị luận là kết quả của hoạt động tư duy logic Nói khác đi, nghị luận là tên gọi chung cho một thể loại văn bản vận dụng các hình thức của tư duy logic như khái niệm, phán đoán, suy lý để xác định bản chất của sự việc, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai và tiến hành làm sáng tỏ một cách khoa học đối với hiện thực khách quan và quy luật bản chất của sự vật đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan điểm của người nói (người viết) đối với vấn đề được nghị luận Để chứng minh cho điều này, chúng ta cùng xét ví dụ sau:

Trang 23

“Nước ta còn nghèo Muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động, phải cố gắng sản xuất Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta Trong xã hội ta, không nghề nào thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư nếu làm tròn nhiệm vụ thì đều vẻ vang như nhau Ai sợ khó, sợ khổ, muốn “ngồi mát ăn bát vàng” người

đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa.”

(“Cần kiệm xây dựng nước nhà” – Hồ Chí Minh)

Đoạn văn nghị luận trên thật ngắn gọn Trong đoạn văn ấy, Bác đã nêu lên thái độ, nhận thức của mình đối với lao động - hoạt động cơ bản của con người Để làm rõ vấn đề ấy, Bác đã giúp mọi người hiểu đúng thế nào là lao động và thái độ của Người đối với hoạt động lao động: lao động là một hoạt động cao quý, nó không phân biệt nghề nghiệp mà chỉ phân biệt đối với những người không biết ý thức và nỗ lực trong lao động Lao động cao quý chính bởi nó là cơ sở tạo ra của cải vật chất cho xã hội, và là sản phẩm do công sức con người Triển khai vấn đề đó, Bác đã đứng trên lập trường Cách mạng để phát biểu Nêu cơ sở lao động của con người, Bác xuất phát từ đặc

điểm nước ta: “Nước ta còn nghèo” và qua đó Bác khẳng định: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”, làm bất kì nghề gì “nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau” Đọc

đoạn văn, chúng ta thấy, Bác luôn dùng ngôn ngữ dễ hiểu, gần gũi quần

chúng nhân dân và lối diễn đạt tự nhiên như thành ngữ: “ngồi mát ăn bát vàng” Bác đi thẳng vào vấn đề cốt lõi để giải thích, phân tích với lí lẽ giản dị

nhưng sâu sắc, lập luận sắc sảo, chính xác Chính điều đó, Bác đã khiến người đọc hiểu, tin, và đồng tình với ý kiến của Người về lao động

Tóm lại, văn bản nghị luận là loại văn bản trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, những dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức

Trang 24

bàn luận làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mình đề xuất

1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của văn bản nghị luận

* Đặc điểm 1: Văn bản nghị luận là kiểu văn bản gắn liền với đời sống con người

Văn bản nghị luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong cuộc sống Trong văn bản ấy, người viết sẽ trình bày các quan điểm, tư tưởng, chính kiến, nhận xét, đánh giá của mình về vấn đề để thuyết phục người đọc tán đồng và làm theo Văn bản nghị luận mang đậm dấu ấn chủ quan của người viết

Văn bản nghị luận nảy sinh khi có vấn đề cần giải quyết, cần làm sáng

tỏ Như vậy, nghị luận nảy sinh từ đời sống và quay lại phục vụ đời sống xã hội Và bằng hệ thống các luận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng, chính xác, hấp dẫn, lập luận sắc bén, người viết sẽ thuyết phục người đọc tán thành và làm theo tư tưởng, quan điểm đó của mình

Chẳng hạn: Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật, kẻ đang chiếm đóng nước ta lúc bấy giờ, đã đầu hàng Đồng minh Trên toàn quốc, nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền Ngày 26 – 8 – 1945, Chủ tịch

Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách mạng Việt Bắc về Hà Nội Tại căn nhà số 48

phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập” Ngày 2 – 9 –

1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản

“Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới

Văn kiện lịch sử này không chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào mà còn để công bố với thế giới, đặc biệt là những lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm một lần nữa nô dịch đất nước ta Cũng trong thời gian đó, nhà cầm quyền Pháp tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị

Trang 25

quân Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên thuộc quyền “bảo hộ” của người Pháp Xuất phát từ hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, thù trong giặc ngoài luôn lâm le chống lại chính quyền non trẻ, Bác

viết “Tuyên ngôn Độc lập” Và đến lượt nó, “Tuyên ngôn Độc lập” đã kiên quyết bác bỏ luận điệu “bảo hộ” của thực dân Pháp “Tuyên ngôn Độc lập” là

một tác phẩm chính luận đặc sắc, sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc

“Tuyên ngôn Độc lập” là một dạng của văn bản nghị luận, thuộc ngôn

ngữ chính luận Nó là văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: Là lời tuyên bố xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta

Đoạn văn sau thể hiện rõ điều này:

“Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự

Trang 26

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”

(Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)

Đây là một văn bản nghị luận mẫu mực cả về nội dung và nghệ thuật

Về nội dung, “Tuyên ngôn Độc lập” viết ra nhằm mục đích tuyên bố độc lập

của nước nhà, bên cạnh đó còn muốn đập tan luận điệu bảo hộ của thực dân Pháp Về nghệ thuật, ngay mở đầu bản tuyên ngôn, Người đã đưa ra hai văn kiện trong bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ - hai kẻ thù của nước ta làm luận

cứ để chứng minh cho luận điểm của mình Còn gì thuyết phục hơn bằng việc dùng chính lí lẽ, luận điệu của kẻ thù để đáp trả lại chúng Người lấy luận cứ chính xác ai cũng biết để bác bỏ và thông báo với nhân dân toàn thế giới Từ

hai luận cứ ấy, Người đi đến luận điểm: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Câu nói đanh thép, ngắn gọn nhưng lại có tác dụng rất lớn để Người khẳng định: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá

cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” Đây là đoạn văn nghị

luận mẫu mực có tác dụng to lớn đối với hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ, nó góp phần củng cố nền độc lập của nước nhà, đồng thời thấy được khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc ta

Như vậy, chúng ta thấy rằng, các bài văn nghị luận hay, có sức thuyết phục là những bài có nội dung đề cập tới các vấn đề có ý nghĩa xã hội, gắn liền với đời sống, được mọi người quan tâm, có tác dụng thuyết phục họ từ tin đến làm theo các ý kiến trình bày trong bài

*Đặc điểm 2: Văn bản nghị luận chi phối vai trò của lập luận

Nghệ thuật cơ bản của văn bản nghị luận là nghệ thuật lập luận Đó là cách trình bày, sắp xếp các luận cứ dẫn đến luận điểm Lập luận phải chặt chẽ

Trang 27

hợp lí toàn diện mới có sức thuyết phục Văn bản nghị luận mẫu mực phải đảm bảo kết hợp tư duy logic và tư duy lí luận

Giống như các kiểu văn bản khác, văn bản nghị luận cũng được cấu thành bởi các yếu tố nội dung và hình thức Hình thức của văn bản nghị luận được thể hiện qua việc trình bày bố cục của văn bản, việc triển khai và sắp xếp các nội dung cơ bản của bài văn theo trình tự hợp lí để tạo nên hiệu quả nhất định cho văn bản

Ngoài ra, để trình bày nội dung một cách trọn vẹn, văn bản nghị luận triển khai nội dung dựa trên hệ thống lập luận Hệ thống lập luận ấy gồm các yếu tố: luận điểm; luận cứ; luận chứng Trong đó, luận điểm là chủ trương, quan điểm của bài văn nghị luận Luận điểm được hiểu là nội dung cơ bản cần phải được bàn luận cụ thể

Từ luận điểm cơ bản, để làm rõ nội dung của nó, người viết phải sử dụng đến các luận cứ Đó là tài liệu, là chỗ dựa, là cơ sở để đưa ra luận điểm Bởi vậy, so với luận điểm, luận cứ là cơ sở để chúng ta có thể bàn luận nội dung

Bên cạnh đó, để tạo nên nghệ thuật lập luận trong văn bản nghị luận, chúng ta cần biết vận dụng các lập luận hợp lí Trong văn bản nghị luận, chúng ta có nhiều cách lập luận như: lập luận nêu câu hỏi, lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp…Và việc sử dụng cách lập luận như thế nào để đạt mục đích

Trang 28

lập luận là một điều quan trọng Một bài văn có thể sử dụng một cách lập luận nhưng cũng có thể sử dụng hai, ba cách lập luận Sự kết hợp ấy tạo nên sự phong phú, sinh động, hấp dẫn cho bài viết nhưng đòi hỏi người viết phải có kinh nghiệm

Chúng ta cùng xét ngữ liệu sau:

“1 Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không có ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được cho nên không cần cắt nghĩa làm gì Tuy trong sách Nho có câu: “Sửa nhà trị nước rồi mới yên thiên hạ” Hai chữ “thiên hạ” đó tức là xã hội Ngày nay những kẻ học ra làm quan cũng võ vẽ nhắc đến hai chữ đó nhưng chỉ làm trò cười cho kẻ thức giả đấy thôi Cái chủ ý bình thiên hạ đi đã mất từ lâu rồi

2 Cái xã hội chủ nghĩa bên Âu châu rất thịnh hành như thế, đã phóng đại ra như thế, thế mà người bên ta thì điềm nhiên như kẻ ngủ không biết gì là

gì Thương hại thay! Người nước ta không hiểu cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người đã đành, đến cái nghĩa vụ mỗi người trong nước cũng chưa hiểu gì cả Bên Pháp, mỗi khi người có quyền thế, hoặc chính phủ lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay của một hội nào, thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận dụng kì cho được công binh mới nghe

Vì sao mà người ta làm được như thế? Là vì người ta có đoàn thể, có công đức biết giữ lợi chung vậy Họ nghĩ rằng nếu nay để cho người có quyền

đè nén người này thì ắt cũng lấy quyền lực ấy đè nén mình, cho nên phải hiệp nhau lại phòng ngừa trước Người ta có ăn học biết xét kĩ thấy xa như thế, còn người nước mình thì sao? Người nước mình thì phải ai tai nấy, ai chết mặc ai! Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt

Trang 29

cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không can thiệp gì đến mình

Đã biết sống thì phải bênh vực nhau, ông cha mình ngày xưa cũng đã hiểu đến Cho nên mới có câu: “không ai bẻ đũa cả nắm” và “nhiều tay làm nên bộp” Thì đến dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, cũng góp gió làm bão, giụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì như ngày nay

Dân không biết đoàn thể, không trọng công ích là bởi ba bốn trăm năm trở về đây, học trò trong nước mắc ham quyền tước, ham bả vinh hoa của các triều vua mà sinh ra giả dối nịnh hót, chỉ biết có vua mà chẳng biết có dân Bọn ấy muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị của mình được vững mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân

Dẫu trôi nổi, dẫu cực khổ thế nào mặc lòng, miễn là có kẻ mang đai đội mũ, ngất ngưởng ngồi trên, có kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới, trăm nghìn năm như thế cũng xong! Dân khôn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý! Chẳng những thế mà thôi, “một người làm quan, một nhà

có phước”, dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu rút tỉa của dân thế nào cũng không ai phẩm bình, dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai

[…]

3 Nay muốn một ngày kia, nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”

(Về luân lí xã hội ở nước ta – Phan Châu Trinh)

“Về luân lí xã hội ở nước ta” là đoạn trích trong phần III của bài “Đạo đức và luân lí Đông Tây”, được Phan Châu Trinh diễn thuyết tại nhà Hội

Trang 30

Thanh niên (Sài Gòn) vào đêm 19 – 11 – 1925 Đoạn trích đã thể hiện quan niệm của tác giả về luân lí xã hội và khát vọng về một nước Việt Nam độc lập

tự do

Bố cục là một bài văn chính luận, đoạn trích có giọng điệu đanh thép, lập luận chặt chẽ, logic, và là một văn bản nghị luận về một tư tưởng đạo lí mẫu mực Bắt đầu bằng hình thức lập luận phản đề, cách lập luận của tác giả đầy sức thuyết phục Tác giả mở đầu đoạn trích bằng cách tạo ra một tình huống

có vấn đề buộc người đọc phải tìm hiểu, cắt nghĩa, lí giải: “Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không có ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được cho nên không cần cắt nghĩa làm gì” Sau đó, tác giả trình

bày cụ thể những biểu hiện của sự không có luân lí và muốn có luân lí xã hội cần phải làm gì bằng một loạt các luận cứ:

+ Luận cứ 1: Không có luân lí xã hội bởi người nước mình không

biết đoàn kết, liên hiệp lại với nhau, “phải ai tai nấy”, “ai chết mặc ai”

+ Luận cứ 2: Không có luân lí xã hội bởi người nước mình không biết đến đoàn thể, không biết trọng công ích: Bọn học trò trong nước ham quyền tước, vinh hoa, sinh ra giả dối, nịnh hót

+ Luận cứ 3: Không có luân lí xã hội vì giai cấp thống trị, kẻ “mang đai đội mũ”, “kẻ áo rộng khăn đen” để mặc dân cực khổ, nô lệ, mặc sức vơ

vét rút tỉa

Bằng hệ thống luận điểm chặt chẽ giữa các phần, lí lẽ có tính tranh luận, bày tỏ ý kiến và những dẫn chứng cụ thể tác giả đã khẳng định sự tiêu vong hoàn toàn của luân lí xã hội Thêm vào đó, tác giả còn đưa ra hệ thống luận điểm về luân lí xã hội ở phương Tây và ở nước ta đặt trong thế đối chiếu, so

sánh để làm sáng tỏ cho luận điểm khái quát ở đầu đoạn trích: “Xã hội luân lí

Trang 31

thật trong nước ta tuyệt nhiên không có ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều”

Đoạn văn được lập luận theo kiểu tổng – phân - hợp, qua đó thấy được cái nhìn của tác giả trung thực, khách quan, phân tích rạch ròi những mặt xấu, mặt hại của nước mình để từ đó có khả năng thức tỉnh tinh thần và ý thức của

họ

Tóm lại: nội dung bài nghị luận cần được sắp xếp một cách chặt chẽ, rõ rang, mạch lạc; đồng thời các cách lập luận phải được vận dụng linh hoạt và thích hợp

* Đặc điểm 3: Văn bản nghị luận phải hướng tới tính thuyết phục, phải đồng cảm

Văn bản nghị luận phải dùng từ đặt câu chính xác, trong sáng, đảm bảo chức năng thông báo và chức năng thẩm mĩ Đây là yêu cầu quan trọng khi viết văn nghị luận nhằm đảm bảo tính thuyết phục, đồng cảm của thể loại này

Một trong những yêu cầu cần thiết trong văn nghị luận là diễn đạt “trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói”, do đó chúng ta cần phải học cách “dùng từ với một sự chính xác nghiệt ngã” (M.Gocki), phải

học cách viết câu văn chặt chẽ, mạch lạc, giản dị, có sức mạnh lôi cuốn và nhiều khi cần có ngữ điệu hùng hồn Và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong

một lần nói chuyện với các thầy, cô giáo dạy văn, căn dặn: “Mục đích của việc dạy văn là phải rèn luyện cho học sinh có ý thức, từ đó có cố gắng rồi có khả năng tự mình suy nghĩ, suy nghĩ nhiều, suy nghĩ sâu về những điều mình muốn nói, muốn viết và khi nói, khi viết phải diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói” Như vậy, Thủ tướng cũng đã nhấn mạnh việc dùng ngôn ngữ

và khả năng sử dụng ngôn ngữ của học sinh, đồng thời người giáo viên cần thấy dạy học văn việc rèn khả năng diễn đạt rất quan trọng

Trang 32

Nghị luận là công cụ quan trọng để con người nhận thức và phản ánh thế giới một cách khoa học, vạch ra chỉ rõ quy luật phản ánh bản chất của sự vật khách quan Trong văn bản nghị luận, người viết dùng những lí lẽ, dẫn chứng

và bằng lập luận của mình thuyết phục được khối óc, vừa chinh phục được trái tim người đọc, lại thấu tình đạt lí Điều này có sự đóng góp quan trọng trong việc lựa chọn ngôn ngữ và khả năng của người viết

Việc dùng lí lẽ, dẫn chứng, sử dụng từ ngữ chính xác không có nghĩa là văn bản nghị luận khô khan Bên cạnh đó, những câu từ cũng cần có cảm xúc

Và văn bản nghị luận không loại trừ việc dùng từ ngữ có hình ảnh, trái lại do yêu cầu của nội dung nhiều đoạn lại rất cần những từ ngữ, những câu văn giàu hình ảnh Văn nghị luận thuyết phục bạn đọc không chỉ bằng lí mà còn bằng

cả tình cảm Trong văn nghị luận, nếu không có tình cảm , cảm xúc thì bài viết sẽ trở nên khô khan, cứng nhắc, tất nhiên ít thuyết phục bạn đọc Nhưng nếu bài viết quá thiên về tình thì cũng không có đủ cơ sở thuyết phục Vì vậy , khi làm bài nghị luận, người viết cần biết kết hợp hài hoà giữa lí lẽ và tình cảm để đạt được mục đích nghị luận

Chúng ta hãy đọc những câu văn dưới đây trong bài “Ba cống hiến vĩ đại

của Các Mác” (Ăng - ghen):

“Giống như Đác – uyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người: cái sự thật đơn giản nhưng đã bị tầng tầng lớp lớp các tư tưởng phủ kín cho đến ngày nay, đó là con người trước hết cần phải có cái ăn cái uống, quần áo và chỗ ở, rồi sau đó mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo.v.v…; Vì vậy, việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp, và mỗi giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo ra cơ sở để người

ta phát triển các thể chế nhà nước, các đặc điểm pháp quyền, nghệ thật và cả

Trang 33

tôn giáo nữa, cho nên phải xuất phát từ cơ sở đó mà giải thích những cái kia chứ không phải ngược lại, như từ trước đến nay người ta đã làm

Nhưng không chỉ có thế thôi Mác cũng tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra Với việc phát hiện ra giá trị thặng dư trong lĩnh vực này, lập tức một ánh sáng đã xuất hiện, trong khi mọi công trình nghiên cứu trước đây của các nhà kinh tế học tư sản cũng như các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa đều mò mẫm trong bóng tối”

Đây là một văn bản nghị luận mẫu mực bàn về cống hiến vĩ đại của Mác trong lĩnh vực khoa học và kinh tế do Ăng – ghen viết Mặc dù viết nhằm đánh giá công lao của một vĩ nhân trong lịch sử về hai lĩnh vực có phần khô khan nhưng chúng ta lại không hề thấy cứng nhắc, gò bó Ăng – ghen đã chỉ

ra cống hiến vĩ đại của Mác là “tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người” và “quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra” Tác giả đã phân tích cụ

thể bằng hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng, chính xác để bạn đọc nhận ra được các cống hiến đó Ở đây, chúng ta không chỉ nhận thấy các cống hiến vĩ đại của Mác, mà cao hơn, chúng ta còn nhận thấy tình cảm yêu mến, thái độ kính trọng của Ăng – ghen giành cho Mác thông qua việc sử dụng các từ ngữ, hình ảnh quen thuộc, gần gũi với quần chúng và đặc biệt là từ ngữ chuyển

đoạn “nhưng không chỉ có thế thôi” rất uyển chuyển, linh hoạt Từ đó, người

đọc cũng có cái nhìn mở rộng, sâu sắc về Mác, thấy được sự cảm phục sâu sắc, một niềm kính yêu vô hạn của Ăng – ghen đối với Mác Đó là sự tôn vinh chính nghĩa khi Mác đứng về phía nhân loại tiến bộ, về phía giai cấp vô sản toàn thế giới để bảo vệ quyền lợi của họ Nếu không quý mến, không kính trọng Mác thì Ăng – ghen không thể viết ra những cống hiến vĩ đại của Mác

cụ thể, chính xác và tràn đầy cảm xúc đến vậy Ở đây, tác giả đã thuyết phục

Trang 34

bạn đọc không chỉ bằng hệ thống luận điểm, luận cứ chính xác, lập luận rõ ràng, sắc bén mà còn bằng cả tình cảm chân thành của mình giành cho Mác Chính cách lập luận chặt chẽ cùng yếu tố tình cảm trong bài viết mà Ăng – ghen đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc về cống hiến của Mác cũng như tình bạn giữa hai người

Tóm lại, khi viết bài văn nghị luận phải dùng từ chính xác, trong sáng,

có hình ảnh, diễn tả đúng nhất ý tưởng của mình; đồng thời câu văn phải mạch lạc, rõ ràng, hùng hồn và giàu cảm xúc

1.1.3 Phân loại văn bản nghị luận

Khi phân chia văn bản nghị luận, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách phân chia theo các cơ sở phân loại khác nhau Nhưng theo quan niệm hiện nay, căn cứ vào nội dung cần bàn luận và làm sáng tỏ, các nhà nghiên cứu chia văn bản nghị luận thành hai loại là: nghị luận xã hội và nghị luận văn học Tuy nhiên, trong quá trình viết bài văn nghị luận văn học vẫn cần dùng kiến thức xã hội chính trị, cũng như khi viết bài nghị luận xã hội cũng cần những kiến thức về văn học Hai loại nghị luận này lại gồm các kiểu bài nhỏ hơn Cụ thể:

* Nghị luận xã hội: đi sâu vào các vấn đề chính trị, xã hội, tư tưởng, đạo

lí để bàn bạc làm rõ đúng sai, phải, trái, tốt, xấu…Các vấn đề đặt ra trong nghị luận xã hội thường rất rộng, nó có thể là những kinh nghiệm đối nhân xử thế, những quan niệm về cách sống, cách xử lí việc đời … Nói rộng ra, nghị luận xã hội bàn đến mối quan hệ giữa con người với con người, con người với

xã hội Những lời bàn này góp phần làm cho đời sống tư duy của con người thêm phong phú

Nghị luận xã hội gồm các tiểu loại sau:

- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

- Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Trang 35

* Nghị luận văn học: là nghị luận về một vấn đề văn học Vấn đề văn

học ấy có thể là: ý kiến về lí luận văn học, nhận định văn học, một tác gia hoặc tác phẩm văn học

- Nghị luận văn học gồm các tiểu loại sau:

- Nghị luận về một tác phẩm văn học

Nghị luận về một ý kiến, một nhận định văn học

Các hình thức nghị luận này cũng là sự xác định hình thức học tập phù hợp với lứa tuổi Nghị luận xã hội thì chỉ bàn một sự việc, một hiện tượng, một tư tưởng hay đạo lí; còn nghị luận văn học chỉ bàn về một tác phẩm văn học, một ý kiến đối với văn học Nhưng dù thuộc hình thức nghị luận nào thì khi tạo lập các văn bản nghị luận này, người viết phải sử dụng các thao tác nghị luận

Tóm lại, mặc dù phân chia như vậy nhưng giữa nghị luận xã hội và nghị luận văn học vẫn có liên quan với nhau Những vấn đề nghị luận có thể

là những vấn đề lớn hay nhỏ, riêng hay chung, có thể là những vấn đề đạo đức, xã hội, văn học… Không nơi đâu, không lúc nào là không có nghị luận Người ta thường nói đến chất trí tuệ của con người trong cuộc sống hiện đại Việc học tập và rèn luyện về văn nghị luận giúp con người thêm chất trí tuệ

đó

1.2 Kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”

Như trên đã phân loại, nghị luận xã hội gồm có nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống Và trong phạm vi khoá

luận này, chúng tôi nghiên cứu về kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo

lí.”

1.2.1 Khái niệm về kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”

Tư tưởng ở đây được hiểu là sự kết tinh của những cảm nhận, suy nghĩ về cuộc đời Đó là những ý nghĩ, suy nghĩ sâu xa, độc đáo về một vấn đề

Trang 36

của đời sống Còn đạo lí được hiểu là những vấn đề về đạo đức, về lý tưởng Đạo lí là những vấn đề thuộc phạm trù văn hoá Bên cạnh đó, đạo lí gắn liền với quan niệm sống, phong tục tập quán, với lối suy nghĩ, thuần phong mĩ tục của người Việt Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là lấy một tư tưởng đạo lí nào đó đã được nhận thức để bàn luận Từ tư tưởng đạo lí này, người nghị luận cần làm sáng tỏ ý nghĩa xã hội về tư tưởng đạo lí đó để đánh giá bàn bạc Đồng thời, người nói (người viết) cần thuyết phục người đọc (người nghe) nhận thức và hành động theo tư tưởng, đạo lí ấy nếu đó là tư tưởng, đạo lí đúng đắn và biết cách phê phán, điều chỉnh hành vi của mình nếu đó là tư tưởng, đạo lí sai lầm, lệch lạc

Như vậy, kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là một kiểu bài nghị luận mà nội dung vấn đề được bàn luận chính là những nội dung, những vấn

đề thuộc về các lĩnh vực tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời

1.2.2 Đặc điểm của kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.”

Kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” nằm trong văn bản nghị

luận, vì vậy, nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của văn bản nghị luận Đó là:

- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là kiểu văn bản gắn liền với cuộc sống con người

- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thể hiện rõ vai trò của lập luận

- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí phải hướng tới tính thuyết phục, đồng cảm

Ngoài ra, kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” còn có các đặc

trưng khác Đó là:

*Đặc trưng 1: Về nội dung: Văn bản nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

bàn về các vấn đề thuộc lĩnh vực đạo đức, tư tưởng, văn hoá gắn với quan

niệm sống của người Việt Nam

Trang 37

Về đặc điểm này, chúng ta có thể thấy đề tài về kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí rất đa dạng, phong phú Bao gồm:

- Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống…

- Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như:

+ Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung độ lượng…

+ Tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hoà nhã, khiêm tốn…

+ Thói ích kỷ, ba hoa, vụ lợi…

- Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, tình anh em…

- Về quan hệ xã hội như tình thầy trò, tình đồng chí, tình bạn bè…

- Về cách ứng xử; những hành động của mỗi người trong cuộc sống Đặc điểm này cho ta thấy, các vấn đề đặt ra trong kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí rất rộng nhưng cũng rất gần gũi, quen thuộc với con

người

* Đặc trưng 2: Về hình thức, kiểu bài này ngắn gọn, cô đọng, không lan

man, phản ánh nhanh chóng, nhằm thẳng vấn đề mạnh mẽ và thuyết phục cao

Đây là điều tất yếu bởi tư tưởng, đạo lí là những vấn đề được nhận thức

cô đọng, đúc kết, có khi là một câu, một đoạn ngắn như: “Tôn sư trọng đạo”,

“Sống đẹp”, “Học để làm gì?”… Khác với một tác phẩm văn chương, tác giả

có thể tập trung miêu tả chi tiết rõ ràng một nhân vật nào đó rồi có thể tạt ngang vào miêu tả một không gian, một mối quan hệ nào đó của nhân vật mà trong văn chương gọi là các đoạn trữ tình ngoại đề Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí luôn chú ý nhằm vào một vấn đề nào đó, không được nói lan

man, không “bắn” vu vơ, mà bằng những lí lẽ, luận cứ, luận chứng người viết

thuyết phục bạn đọc chú ý đến vấn đề mình đề cập và hành động theo ý kiến

đó

Ngày đăng: 30/11/2015, 21:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHỤ: - Dạy học bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK ngữ văn 12
BẢNG PHỤ: (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w