Tác phẩm đã làm rõ vai trò của Phật giáo trong những khoảng thời gian khó khăn nhất của hai cuộc chiến tranh và đã giúp cho người đọc thấy được Phật giáo đã ăn sâu vào tiềm thức, lối sốn
Trang 1NGUYỄN THỊ HỒNG QUYÊN
PHẬT GIÁO TRONG TƯ DUY NGHỆ THUẬT
NGUYỄN XUÂN KHÁNH
( QUA ĐỘI GẠO LÊN CHÙA)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã ngành: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp
Hà Nội 2013
Trang 2Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp-
người thầy tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành đề tài của mình
Em xin trân trọng cảm ơn các nhà nghiên cứu đang công tác tại Viện Văn học, phòng Sau đại học và các thầy, cô giáo khoa Ngữ Văn- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình em học tập và thực hiện luận văn
Em xin gửi lời cảm ơn tới BGH trường THCS Tân Minh A, BGH trường THCS Thị Trấn Sóc Sơn- huyện Sóc Sơn- Hà Nội, những người thân trong gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã động viên, khích lệ đồng thời giúp đỡ em nhiều mặt trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Hà Nội, tháng 10 năm 2013 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Quyên
Trang 3Điệp Tôi xin cam đoan rằng:
- Luận văn này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tác giả
- Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực
- Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được
công bố trước đó
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Quyên
Trang 4Lời cảm ơn………
Lời cam đoan………
I MỞ ĐẦU……… 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Cấu trúc luận văn 7
6 Đóng góp của đề tài 7
II NỘI DUNG 8
Chương 1: CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI 8
1.1 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam trước 1986 8
1.1.1 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX 8
1.1.2 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam từ 1945- 1985 16
1.2 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới 24
1.2.1 Nhìn nhận cuộc sống trong tinh thần nhân văn 24
1.2.2 Cuộc sống trong tính hài hoà giữa các giá trị 27
1.3 Cảm quan Phật giáo trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh 30
Chương 2: CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 44 2.1 Cảm quan Phật giáo như là một sự lựa chọn về lẽ sống của một quốc gia, dân tộc 44
2.2 Cảm quan Phật giáo như một sự lựa chọn ứng xử cá nhân 50
2.3 Triết lí tuỳ duyên 61
Chương 3: CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRÊN NHỮNG BIỂU HIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 70
3.1 Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật 70
Trang 53.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 91
3.3.1 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 92
3.3.2 Giọng điệu 98
III KẾT KUẬN 112
Tài liệu tham khảo 114
Trang 6I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Xuân Khánh là nhà văn tiêu biểu của văn học đương đại Việt
Nam, đặc biệt với bộ ba tác phẩm đồ sộ là Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng
Ngàn (2005) và gần đây nhất là cuốn Đội gạo lên chùa (2011) Là một trong
số không nhiều các nhà văn nhận được đánh giá cao của giới phê bình, nghiên cứu, với sự trở lại đầy ngoạn mục sau cả một thời gian dài vắng bóng trên văn đàn, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự tạo được dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc cũng như trong nền văn học nước nhà
Trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh, những suy tư về lịch sử, văn hóa gắn liền với những suy tư về Phật giáo Cảm thức Phật giáo, tùy duyên
đặc biệt rõ trong tư duy nghệ thuật của ông qua tác phẩm Đội gạo lên
chùa.Viết Đội gạo lên chùa đối với Nguyễn Xuân Khánh chính là một cái
duyên Tác phẩm đã làm rõ vai trò của Phật giáo trong những khoảng thời gian khó khăn nhất của hai cuộc chiến tranh và đã giúp cho người đọc thấy được Phật giáo đã ăn sâu vào tiềm thức, lối sống đạo đức, văn hoá của người Việt Nam như thế nào Đạo Phật giống như một ngôi nhà cho những số phận đau thương mất mát, nơi giúp họ vượt qua mọi nỗi đau, vươn lên trong cuộc sống Phật giáo còn được tác giả khẳng định như một lối sống tốt đẹp và Phật tính luôn luôn ẩn tàng trong mỗi con người Việt, chỉ cần có dịp là bùng phát
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Phật giáo có lúc thịnh lúc suy nhưng luôn ẩn giấu bên trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam Đến nay Phật giáo vẫn phát huy mạnh mẽ giá trị của mình Tư tưởng Phật giáo
trong văn học- một đề tài không mới nhưng không hề cũ đối với Đội gạo lên
chùa của Nguyễn Xuân Khánh Tác phẩm của ông xứng đáng được vinh danh
về những mảng đời thực và những triết lí muôn đời chứa đựng trong đó Đề cập đến lối sống đạo đức, văn hoá, nhà văn nhắc đến vấn đề muôn thuở đáng
Trang 7quan tâm của con người Không chỉ bảo tồn một lối sống tốt đẹp mà còn là nét văn hoá- bộ mặt của cả quốc gia, dân tộc mới vững bền
Chọn Phật giáo làng quê làm đối tượng triển khai, Nguyễn Xuân Khánh, một lần nữa tiếp tục khảo sát các giá trị văn hóa Việt Nam với một cảm quan dân tộc chủ nghĩa đắm đuối Cảm quan này sẽ chi phối cách ông
biện luận trong Đội gạo lên chùa - những phạm trù nổi bật của Phật giáo Việt
Nam
Tư tưởng Phật giáo trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh
truyền tải những vấn đề rất đáng được quan tâm trong xã hội hiện đại ngày nay Nói như nhà văn Hoàng Quốc Hải- người cũng đau đáu với những cuốn tiểu thuyết lịch sử- nêu những điều tâm đắc của mình về cuốn tiểu thuyết của
người đồng nghiệp tài hoa: Anh luôn đụng đến những vấn đề bản chất của
văn hoá Việt, đó là Mẫu thượng ngàn- hiện tượng văn hoá thuần Việt; và giờ đây là đạo Phật- hiện tượng văn hoá du nhập nhưng đã được Việt hoá Đội gạo lên chùa cũng là lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ của văn hoá Việt đang bị phá huỷ, đang dần biến mất Đó là lí do chúng tôi
chọn đề tài “Phật giáo trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh (qua
Đội gạo lên chùa)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
kiến tiêu biểu về nghệ thuật tiểu thuyết và nhân vật trong Hồ Quý Ly, Mẫu thượng
Ngàn và Đội gạo lên chùa đã công bố trên sách báo, luận văn tốt nghiệp
Trang 8Trong cuộc Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly diễn ra
ngày 21/9/2000 do Nhà xuất bản Phụ nữ kết hợp với Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức, đó có rất nhiều ý kiến đánh giá Cụ thể kể đến ý kiến của nhà văn Vũ Bão, Trần Thị Trường, Châu Diên, Nguyễn Kiên, Phạm Xuân Nguyên, nhà nghiên cứu Đinh Công Vĩ Nhìn chung, các tác giả đều đã chỉ ra được nét đặc sắc của Nguyễn Xuân Khánh trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, tạo nên thế giới nhân vật vô cùng chân thực, sống động, hấp dẫn Tuy nhiên, các bài báo, bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát hoặc bước đầu đánh giá thành công hay hạn chế ở một khía cạnh của cuốn tiểu thuyết
Cuộc Hội thảo về Lịch sử và văn hóa cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân
Khánh được tổ chức ngày 15/10/2012 bởi Viện Văn học kết hợp với Nhà xuất
bản Phụ nữ, với sự tham gia của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học: Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Toàn, Hoàng Quốc Hải, Bùi Việt Thắng, Phạm Xuân Nguyên Buổi toạ đàm diễn ra trong không khí trang trọng với mục đích nhằm hướng tới những cách tiếp cận đa chiều về tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, xuất phát từ những suy tư lịch sử- văn hoá trong các sáng tác của ông Toạ đàm đã xoay quanh ba vấn đề chính: Một là làm sáng tỏ vấn đề thể loại; thứ hai là vấn đề đổi mới tư tưởng và thứ ba là nghệ thuật tự sự trong tác phẩm của ông Cũng tại cuộc Hội thảo này, hơn hai mươi lăm bản tham luận đã góp phần luận giải, phân tích sự thành công trong
tư duy nghệ thuật, cấu trúc tư tưởng và diễn ngôn lịch sử trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Mỗi một nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình lại đưa ra những nhận định khác nhau về những sáng tác của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Nhà nghiên cứu Phạm Toàn đã mở đầu cho buổi toạ đàm với
việc phân định lại khái niệm lịch sử, khoa học lịch sử và tiểu thuyết lịch sử
Tiếp đó, giáo sư Trần Đình Sử cho rằng, với những tác phẩm của mình, Nguyễn Xuân Khánh là người có tư tưởng riêng chứ không minh hoạ cho tư
Trang 9tưởng nào khác Rằng ông viết lịch sử là để viết về con người, về những giá trị nhân văn trong đời sống Theo Lại Nguyên Ân thì Nguyễn Xuân Khánh đã
đi được vào từng cảnh ngộ của con người Đến nhà nghiên cứu La Khắc Hoà, ông nhìn thấy ở Nguyễn Xuân Khánh sự đổi mới tác phẩm tự sự từ nguyên tắc sử thi trước 1975 sang nguyên tắc của tiểu thuyết, từ ngôn ngữ kể bằng lời
sang ngôn ngữ kết cấu và nhà văn đã xây dựng được một “mã truyện kể” đó
chính là cái trục âm tính- dương tính mà sự thắng thế của âm tính được coi là lựa chọn của nhà văn Còn PGS.TS Nguyễn Thị Bình đi vào trường hợp cụ
thể với tác phẩm “ Đội gạo lên chùa” để nhận định, Nguyễn Xuân Khánh là
người tự do trên sân chơi tiểu thuyết Ông đã đưa ra những suy tư về giá trị sống, giá trị văn hoá tại các thời điểm lịch sử Cho nên, tác phẩm ấy của ông
chứa đựng Phật giáo theo kiểu riêng ông và ông đã đề xuất lẽ sống tuỳ duyên
của mình trong việc ca ngợi tự do, không áp đặt, không định kiến về kẻ khác
Luận văn Thạc sĩ Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua góc nhìn trần
thuật học của Hoàng Thị Hiền Lương Công trình này người viết khai thác về
vấn đề trần thuật học như: thời gian, không gian trần thuật; kết cấu, điểm nhìn trần thuật và ngôn ngữ trần thuật Trong đó, bài viết có khảo sát qua ba tiểu
thuyết: Miền hoang tưởng, Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân
Khánh
2.2 Các ý kiến bàn về vấn đề Phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa
Phần lớn các công trình nghiên cứu về Nguyễn Xuân Khánh thường
tập trung xoay quanh hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn.Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa tuy mới xuất bản chưa lâu nhưng trên báo chí cũng
có số lượng bài viết không thua kém hai tiểu thuyết trước đó
Trang 10Một số bài viết đáng chú ý như: Tiểu thuyết như một tham khảo Phật
giáo(Đọc Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh) -Mai Anh Tuấn, Tinh thần dân chủ của Phật giáo Việt Nam qua tiểu thuyết Đội gạo lên -Văn
Chinh,Một cách kiến giải khác về lịch sử dân tộc qua “Đội gạo lên chùa” –
Đỗ Ngọc Yên, Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa- mang đậm màu sắc Phật giáo-
Trần Hoài, Hoàng Duyên, Nguyễn Xuân Khánh- Đội gạo lên chùa của Thu
Hà Những bài viết này chủ yếu giới thiệu, đánh giá về tác giá, tác phẩm chứ chưa đi sâu nghiên cứu vào một vấn đề cụ thể nào
Tư tưởng Phật giáo là cái nền, cái cốt làm nên cái hay, cái đẹp của Đội
gạo lên chùa Trong tác phẩm, Nguyễn Xuân Khánh đã nói về cái tâm từ bi
của nhà Phật chính là sức mạnh cải hóa, cảm hóa chúng sinh Trong bất cứ
hoàn cảnh nào, người tu thiền đích thực vẫn có thể tùy duyên mà vượt qua
được mọi sóng gió với cái tâm an nhiên, tự tại
Một số bài viết được in trong cuốn Lịch sử và văn hóa cái nhìn nghệ thuật
Nguyễn Xuân Khánh -PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp chủ biên có bàn về vấn đề
Phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa: Trong một hình bóng một đại
sự(Đọc Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh)Nguyễn Chí Hoan đã đưa
ra, phân tích nhiều chi tiết giúp người đọc hiểu rõ kiểu hội thoại đặc trưng, giọng điệu, bố cục – tính đăng đối cho văn phong của nhà văn Nguyễn Xuân
Khánh trong cuốn tiểu thuyết này Bài viết Khi tâm thức Phật giáo hòa vào
tâm thức Việt( Nhân đọc Đội gạo lên chùa) Tôn Phương Lan đã bàn về tính
chất thể loại, lối sống từ bi hỉ xả, về cải cách ruộng đất, về những cách tân hình thức nghệ thuật giúp người đọc hiểu rõ con đường hành đạo của một số nhân vật là phật tử và đệ tử, tu tại chùa hoặc tu tại tâm, đã được Nguyễn Xuân Khánh tạo dựng nên từ một thế giới đa sắc của người có niềm tin vào tâm
linh, vào thuyết lí giao hoà âm dương và luật nhân quả Bài viết Đội gạo lên
chùa- một cách hiểu về Phật tính, Nguyễn Thị Bình đã bàn về duyên nghiệp-
Trang 11những luận giả riêng về Phật giáo, Phật tính và cái nhìn không định kiến về
“kẻ khác” giúp người đọc hiểu rõ hơn quan niệm của nhà văn về triết lí tuỳ
duyên- lối sống nhà Phật và Phật tính- nhân tính Bài viết Tâm thức Phật giáo
trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh, Phan Trần Thanh Tú cũng
bàn về tâm thức Phật giáo- một yếu tố chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm đã được nhà văn thể hiện một cách nhuần nhị mà sâu lắng khi được đặt trong bối cảnh của thời kì mạt pháp, lúc cái ác ngự trị và kiếp người điêu
linh Còn trong bài viết Đội gạo lên chùa- sự đối đầu giữa các giá trị văn hóa,
Phan Trọng Hoàng Linh đã giúp người đọc có cái nhìn khách quan về các mối quan hệ giữa các giá trị văn hoá để rồi từ đó nhìn lại và đề xuất cách ứng xử đối với những vấn đề của dân tộc hôm nay Những bài viết này cũng mang tính chất giới thiệu, nhận xét , đánh giá về yếu tố Phật giáo có trong tác phẩm
Vì thế, Phật giáo trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh qua tác phẩm
Đội gạo lên chùa vẫn còn rất mới mẻ và rất đáng được quan tâm
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Luận văn hướng tới việc đưa ra một cái nhìn, một sự nhận diện và cắt nghĩa trên mức độ khái quát nhất về những ý nghĩa, tư tưởng mà nhà văn muốn truyền đạt thông qua việc đưa Phật giáo vào tác phẩm Từ đó thấy được đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh cho nền văn học Việt Nam đương đại 3.2 Đề tài này quan tâm đến vấn đề Phật giáo trong tư duy nghệ thuật
Nguyễn Xuân Khánh qua tiểu thuyết lịch sử Đội gạo lên chùa Vì thế, đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài này là tiểu thuyết Đội gạo lên chùa và yếu tố Phật giáo trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh được biểu hiện với
những sắc thái như thế nào, có ý nghĩa và những đóng góp tích cực gì
3.3 Trong khuôn khổ luận văn, để làm nổi bật vấn đề, chúng tôi sẽ khảo sát một số tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh và một số sáng tác của nhà văn khác nhằm làm nổi bật nét đặc sắc trong sáng tác của ông
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp:
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai thành ba
chương:
Chương 1 Cảm thức Phật giáo trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới Chương 2 Cảm thức Phật giáo trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3 Cảm thức Phật giáo trên những biểu hiện hình thức nghệ
thuật
6 Đóng góp của đề tài
Tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu và những ý kiến gợi mở từ các công trình, bài viết luận văn khái quát một số vấn đề về tôn giáo trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới, vận dụng để tìm hiểu cái nhìn Phật giáo trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
Phân tích những khía cạnh mới, những tư tưởng mới, những nét độc
đáo trong cách nhìn nhận vấn đề Phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa
của Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Qua đó góp thêm một tiếng nói khẳng định những đóng góp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vào quá trình cách tân thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Trang 13II NỘI DUNG
CHƯƠNG I- CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG VĂN HỌC VIỆT
NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1.1 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam trước 1986
1.1.1 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX
Phật giáo xuất hiện đầu tiên ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại ( nay thuộc Nê Pan) vào cuối thế VI trước Công nguyên Khi ấy trong xã hội tình trạng phân chia đẳng cấp rất khắc nghiệt Sự ra đời của Phật giáo đã thể hiện tinh thần phản kháng của những người nghèo,chống lại thuyết bốn đẳng cấp của đạo Bàlamôn tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ triền miên trong xã hội nô lệ Ấn Độ
Người sáng lập ra Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni (Nghĩa là Ông thánh hay nhà hiền triết của dân tộc người Thích Ca) Trong suốt những năm còn tại thế, đức Phật đã du hành và thuyết pháp độ sinh Tuy nhiên ngài không dạy cho mọi người những gì ngài biết khi chứng ngộ, mà thay thế vào đó ngài dạy cho mọi người làm thế nào để nhận thức rõ tính giác ngộ vốn sẵn có ngay trong bản thân của họ Ngài dạy rằng bản chất giác ngộ chỉ đến khi kinh nghiệm trực tiếp chứ không thể thành tự thông qua bằng niềm tin và các giáo điều
Nhiều thế kỉ sau khi ngài nhập diệt, Phật giáo đã được truyền bá khắp các nước Châu Á và trở thành một tôn giáo có sức ảnh hưởng lớn ở lục địa này
Phật giáo đến Việt Nam từ rất sớm, ngay từ những thế kỷ đầu Công
nguyên với chứng tích đầu tiên là truyện cổ Chử Đồng Tử có nhắc đến việc
Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ
Sử liệu đã khẳng định sự hiện hữu và đồng hành mật thiết của Phật giáo với dân tộc Việt Nam trải qua suốt chiều dài lịch sử hơn 2000 năm Chính
Trang 14tinh thần hoà nhập nhuần nhuyễn của Phật giáo đã tạo thành mô hình Phật giáo Việt Nam có sắc thái độc đáo, tràn đầy sức sống Khoảng thời gian đó cũng đủ để người dân Việt Nam hình thành nên đạo đức, lối sống mang đậm chất Phật giáo Mà lối sống chính là bộ mặt văn hoá của một xã hội
Ảnh hướng tới tất cả mọi mặt của đời sống, mạnh nhất là thời Lý- Trần, Phật giáo xâm nhập cả vào các hình thức nghệ thuật như: kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ Đặc biệt, Phật giáo cũng góp phần đáng kể qua những tác phẩm thơ, văn, làm sáng danh nền văn học Việt Nam trải qua những giai đoạn khá dài trong đó có thể loại tiểu thuyết
Trước thế kỉ XX văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng nghệ thuật của văn hoá Trung Quốc Văn học chính thống do nhà nho viết, sinh hoạt văn chương thu hẹp trong giới trí thức nho sĩ Lúc này văn chương chưa thật sự phổ biến, không phải là một nghề mà sáng tác chủ yếu do nhu cầu cá nhân hay để tặng các bằng hữu Văn giáo huấn được coi trọng hơn văn nghệ thuật Văn thơ chữ Hán được coi trọng hơn chữ Nôm Thơ được tôn trọng hơn văn xuôi Tiểu thuyết thường được viết bằng chữ Hán với kết cấu chương hồi Văn chương có tính quy phạm, niêm luật chặt chẽ Từ đề tài, nhân vật, cốt truyện đến hình ảnh, ngôn ngữ và cách tả cảnh, tả người, tả không gian, thời gian đều nằm trong một hệ thống ước lệ
Sang đầu thế kỉ XX, khi đất nước còn ngập trong đế giày xâm lược của bọn thực dân, khi mà chế độ Phong kiến còn hoành hành, chà đạp, đè nén lên quyền sống, quyền hạnh phúc của người nông dân, khi mà tư tưởng Nho giáo tồn tại, thống trị độc tôn đất nước trong suốt 400 năm đã sụp đổ; tư tưởng phương Tây và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã bị đại đa số tri thức
và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ thuộc địa và thực dân Pháp nên không được chấp nhận; khi ý thức hệ cộng sản và các tư tưởng mới khác chưa ra đời thì Phật giáo cũng bước vào chặng đường suy đồi Cả một
Trang 15khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị to lớn bao trùm lên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức Và đây cũng chính là điều kiện lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới liên tiếp diễn ra từ những ngày đầu thế kỉ XX đến cuối đệ nhất thế chiến Mãi cho đến những năm 20 của thế kỉ XX, khi một loạt các tổ chức cộng sản ra đời ở Việt Nam, khi nhiều phong trào cách mạng nổ ra để chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và sự chèn ép của chế độ Phong kiến đương thời thì Phật giáo mới được thức dậy, được chấn hưng và hiện đại hoá hơn
Trong bối cảnh lịch sử ấy, ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, khi thể loại tiểu thuyết mới bắt đầu hình thành bao gồm cả truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài, các nhà văn và các học giả của Việt Nam đã đưa những tác phẩm của mình gắn với hiện thực cuộc sống và có mang hơi hướng hiện đại, ảnh hưởng của phương Tây Nhưng trong đó, dù không thật sự rõ nét nhưng tư tưởng Phật giáo vẫn giống như dòng chảy âm ỷ xuyên thấu qua các tác phẩm của các nhà văn trong đó có việc các nhà văn luôn coi tiểu thuyết là phương
tiện để truyền bá đạo đức Thay vì các truyện xưa, tích cũ, những “tử viết”,
“thư văn” lấy từ văn học cổ Trung Quốc, từ lịch sử, từ kho tàng văn học dân
gian, các nhà tiểu thuyết đã đi đến những điều gần gũi, quen thuộc đang diễn
ra trong hiện thực cuộc sống Quan điểm đạo đức thường xuyên chi phối quá trình sáng tác của các nhà văn Viết tiểu thuyết, trong quan niệm của họ,
không gì hơn là nhằm “gián tiếp mà giúp cho sự giáo dục”, “làm giáo khoa
bổ tập” để chỉnh đốn, khuyên răn “nhân tâm, phong tục” Trong hồi ký Đời của tôi văn nghệ, Hồ Biểu Chánh nói rõ: “ Viết tiểu thuyết để cảm hoá đặng lần lần dắt quần chúng trở về đường chính đáng quang minh”
Rõ ràng, trong con mắt của các nhà văn trong những năm đầu thế kỉ, sức mạnh của luân lý, đạo đức đối với văn chương đương thời còn rất nặng
Trang 16nề Hàng loạt các tác phẩm như: Hoàng Tố Anh hàm oan (Trần Thiên Trung, 1910), Phan Yên ngoại sử, Tiết phụ gian truân ( Trương Duy Toản, 1910), Tô
Huệ Nhi ngoại sử, Phùng Kim Hương ngoại sử ( Lê Hoằng Mưu, 1920), Nghĩa tình khẳng khái (Bửu Đình), Cay đắng mùi đời (Hồ Biểu Chánh,
1923) Đây là những câu chuyện đề cao đạo đức nhân nghĩa, thương người hoạn nạn, thẳng thắn mà thuỷ chung, biết vượt lên chính số phận của mình, những vấn đề nghiệp duyên, nhân quả Những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh cho đến cuối cùng, những người nghèo giàu đạo đức nhân nghĩa cũng được sống sung sướng, còn bọn nhà giàu bất lương, bạc ác thì bị trừng trị đích
đáng Trong cốt truyện Con nhà nghèo và Tiền bạc bạc tiền, nhà văn đã khéo
léo vận dụng quan điểm quả báo của nhà Phật để trừng phạt những kẻ nhà giàu không có nhân nghĩa Bằng một tai nạn xe hơi bất ngờ, tác giả đã giết chết mụ tri phủ Khánh Long, in một cái sẹo vào giữa mặt Đỗ Thị và biến huyện hàm Phan Phú Thư thành một anh thọt chân Và theo logic chủ quan của tác giả, nhiều nhân vật cuối cùng đã biến thành những nhân vật tu nhân tích đích: Lê Văn Đó, Trần Thượng Trí ) Nhà văn đã giống như một nhà tuyên truyền của đạo Phật thông qua các tác phẩm của mình với những lý thuyết về số kiếp, về quả báo, về việc tu nhân tích đức, không nên báo oán (
kể cả đối với kẻ thù), tư tưởng thoát tục Suốt cuộc đời mình, Lê Văn Đó đã sống theo gương của hoà thượng Chánh Tâm để hoàn thiện bản thân mình
Đó cũng chính là những giáo lí nhà Phật răn dạy đã ăn sâu vào tiềm thức của con người Việt Nam
Tuy nhiên, phần lớn các nhà văn thời kì này đều tập trung quan tâm và đưa ra những vấn đề xã hội, hướng đến mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh để tố cáo hiện thực xã hội Có những nhà văn lại hướng vào chiều sâu
thế giới bên trong tâm hồn con người như Hoàng Ngọc Phách với Tố Tâm
Mối quan tâm lớn của họ lúc này đặc biệt là các nhà tiểu thuyết thuộc nhóm
Trang 17Tự lực văn đoàn đều hướng văn học trở về với những quan tâm thường nhật
của cuộc sống Điều đó cũng có nghĩa là họ phản đối thứ văn chương tuyên truyền đạo lý một cách lộ liễu, nói như các nhà văn, nghệ sĩ không phải là nhà đạo đức mà phải thực hiện thiên chức nghệ sĩ trung thực với cuộc sống thực tại Vì thế , thay vì những câu chuyện đề cao lối sống nhân nghĩa, thuỷ chung, thương người hoạn nạn, ở hiền gặp lành theo giáo lí nhà Phật thì tiểu thuyết
của nhóm Tự lực văn đoàn thường là những chuyện tình xoay quanh tình yêu, hôn nhân của những “Chàng”, những “Nàng” tân thời, học chữ Tây, sống ở
thành thị, hấp thụ văn minh Châu Âu Họ đã vượt qua mọi hủ tục của lễ giáo phong kiến, những lề thói gia trưởng để tự khẳng định nhu cầu tự do của mình
như nhân vật Mai (Nửa chừng xuân) hay cô Loan (Đoạn tuyệt) Nhưng đâu
đó qua những tác phẩm của Tự lực văn đoàn, người đọc vẫn bắt gặp hình ảnh
những mái chùa rêu phong ở Kinh Bắc
Do bối cảnh lịch sử, có những lúc ta tưởng như rằng yếu tố Phật giáo đã
bị lãng quên bởi thay vào đó các nhà văn đã dùng cây bút của mình phản ánh đúng hiện thực cuộc sống Có những tác phẩm tập trung viết về cuộc sống
hiện thực của người công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị như Lầm than (Lan Khai), Con trâu (Trần Tiêu) Có những nhà văn lại dùng tiểu thuyết để
ca ngợi Hội ánh sáng, ca ngợi những chủ ấp tân học từ thiện, những địa chủ
tư sản đang áp dụng một chương trình cải lương cho dân quê như: Trống mái,
Gia đình (Khái Hưng), Hai vẻ đẹp (Nhất Linh), Con đường sáng (Hoàng
Đạo) Các nhà văn hiện thực phê phán đầu những năm 30 lại phản ánh khá đầy đủ và phong phú hiện trạng xã hội đương thời Đó là cuộc sống cơ cực của người nông dân- nạn nhân đau khổ của bọn cường hào, địa chủ, quan lại tham nhũng, của chính sách thuế khoá hà khắc của thực dân Họ bị tra tấn, kìm kẹp, bị phá sản, bị đẩy vào con đường lưu manh Các tác phẩm ấy đã trở
Trang 18thành “hình bóng cuộc đời” để nâng cao nhận thức chứ không phải chỉ dừng
lại ở việc răn dạy như văn học thơì trước
Mặc dù vậy, bởi đã từ lâu Phật giáo thâm nhập vào tâm hồn, nếp nghĩ, nếp sống của dân tộc Việt Nam vì thế trong tâm hồn mỗi người Việt Nam dù
ở bất cứ thời kì lịch sử nào vẫn luôn sẵn có mầm mống tinh thần Phật giáo Cho nên, bên cạnh các trào lưu văn học trên, tư tưởng Phật giáo ít nhiều cũng
ra khỏi bờ mê, đi đến bến giác như: Nguyện cầu và sau đó là Lử từ bi
Trước những năm 30 của thế kỉ XX, tiểu thuyết nước ta bắt đầu bước lên trên con đường định hình và phát triển Nếu ở Nam Bộ, tiểu thuyết lịch sử phát triển để đáp ứng thị hiếu của đại đa số người đọc là lớp người bình dân
thì ở miền Bắc một loạt tác phẩm có giá trị tiêu biểu như: Kim Anh lệ sử (1924, Trọng Khiêm), Tố Tâm (1925, Hoàng Ngọc Phách), Quả dưa đỏ (1925, Nguyễn Trọng Thuật), Nho Phong (1926, Nguyễn Trường Tam) hay
những cây bút truyện ngắn như Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh cũng bắt đầu viết Các tác phẩm của những nhà văn trên ít nhiều cũng mang theo hơi thở Phật giáo Bởi từ xưa, Phật giáo vốn là tôn giáo vì con người và về con người, hướng con người vươn tới tình thương yêu bao la, mênh mông, với tư tưởng từ bi hỉ xả, đặc biệt chú trọng đến con
người đau khổ Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm đề cập tới cái khổ của một
cuộc đời lưu lạc, đau khổ ê chề của một người phụ nữ con nhà nề nếp vì gia
Trang 19đình sa sút nên phải nhận lấy cuộc sống ba chìm bảy nổi Bị rơi vào cảnh lưu lạc giang hồ, Kim Anh phải làm vợ hết người này đến người khác, lúc rơi vào cảnh nàng hầu tên tri huyện Nam Bình, lúc làm bạn tình với Phán Bậu, lúc làm cô đầu ở hàng Giấy, có lúc lại gá nghĩa với lão tư sản Vạn Hồng Và khi tuyệt vọng, không còn lối thoát Kim Anh đã tìm đến, đem thân nương nhờ nơi của Phật với mong muốn tìm được bến đỗ bình yên Bên cạnh dó, nhiều kiếp người, nhiều cảnh ngộ xã hội, nhiều nhân vật có ý nghĩa được nhà văn đưa vào tác phẩm để phản ánh nhiều khía cạnh của hiện thực xã hội đương thời
Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách trong câu chuyện của một đôi trai gái
yêu nhau nhưng mang theo cái khổ vì lễ giáo phong kiến mà không được sum
họp Ở Tố Tâm thể hiện tính chất hiện đại trong việc lựa chọn đề tài chuyện
tình yêu trai gái Có thể coi đây là bản tình ca ngoài lễ giáo, thật mới mẻ, hiện đại của một lớp thanh niên trí thức trẻ vào những thập niên đầu thế kỉ Ở đó,
ta còn bắt gặp thuyết “luân hồi sinh tử” trong Phật giáo khi Tố Tâm với
những đau khổ về tinh thần vì bị mẹ ép gả cho một người mà cô không yêu,
sau ba mươi sáu ngày lên xe hoa cô ốm chết Tố Tâm đã để lại bao dư vị
trong lòng người đọc và trở thành cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên trong lịch
sử văn học Việt Nam
Sau này, truyện ngắn Hồn bướm mơ tiên (1933)- sáng tác đầu tay của
Khái Hưng là tác phẩm có không gian nhà chùa Thông qua tác phẩm, Khái Hưng cho thấy tư tưởng chủ đạo của yếu tố Phật giáo trong tác phẩm chính là
sự luân hồi của vạn vật, sự vô thường vô ngã giả tạm và sinh tử của kiếp người, những nỗi khổ của con người trong cuộc sống thế nhân, và cuối cùng
là trở về cảnh giới Niết bàn như một sự cứu cánh cho con người sau khi trải qua hành trình tu chứng
Trang 20Lan là một người thiếu nữ vừa mới lớn có một quá khứ đầy bất hạnh: cha mẹ mất sớm, cô về sống với người chú ruột Vì không muốn bị chú ép duyên, cộng thêm lời hứa với mẹ trước lúc lâm chung mà Lan đã cải trang thành nam nhân đến chùa Long Giáng quy y tu học Với Lan, cái quá khứ bất hạnh kia dường như đã trôi vào dĩ vãng từ lâu, trước mắt Lan là cuộc sống tu hành, tuy đơn sơ đạm bạc mà lại yên bình, thanh thoát đến lạ thường Lan chỉ chuyên tâm tu học kinh Phật để chuyển hoá cái duyên nghiệp ái tình đã tạo nên hình hài một chú tiểu Lan có hoàn cảnh bất hạnh như thế, và để cho những nỗi muộn phiền thuộc về dĩ vãng kia rụng rơi theo tháng năm Nhưng rồi sau hai năm tu luyện, sau khi gặp Ngọc, Lan mới chợt nhận ra cơn dông bão ái tình thật dữ dội, và nếu không có sự cố gắng vượt qua chính mình thì Lan không dễ gì được tiếp tục đi trên con đường đã chọn Mặc dù đã có lúc Lan tỏ rõ thái độ với Ngọc, quyết tâm giữ lời thề với mẹ và Phật tổ nhưng Lan cũng phải chịu nhiều nỗi dằn vặt và đấu tranh nội tâm quyết liệt với chính
mình, cho nên trạng thái tâm thức này của Lan đúng như lời Phật dạy “yêu
nhau mà không đến được với nhau là khổ”- một trong tám loại khổ cơ bản mà
Đức Phật có nói đến trong bài thuyết pháp đầu tiên cho năm anh em Kiều Trân Như tại vườn Thượng Uyển Sau khi trải qua bao thử thách cam go, Lan đã đủ nghị lực để xa lánh trốn trầm luân trong tâm thức của mình, và lại
tiếp tục dấn bước trên con đường tu đạo Đức Phật từng nói “ Chiến thắng ba
quân, không bằng tự thắng mình Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”, và Lan được xem như người chiến sĩ dũng cảm đã vượt qua những
mật ngọt cám dỗ của tình yêu lứa đôi, dù trái tim đã hơn một lần rung động
dữ dội vì mối tình đầu chớm nở của người thiếu nữ đang độ xuân sắc nhưng cuối cùng Lan đã vượt qua chính mình, và vẫn là người nữ tu xuất gia thoát tục, giữ vẹn được lời thề với mẹ và với đức Phật từ bi
Trang 21Tuy nhiên, Hồn Bướm mơ tiên của Khái Hưng là một trong số ít những
tác phẩm thể hiện rõ nét tư tưởng Phật giáo trong nền văn học giai đoạn này Những năm đầu của thế kỷ XX, văn học Việt Nam thuộc thời kì đầu vận động chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học cận hiện đại.Vì thế những đề tài mang tính truyền thống để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của tầng lớp bình dân trong xã hội đặc biệt ở khu vực Nam Bộ vẫn được hướng tới Cả sau này, giai đoạn 1930- 1945 , trên văn đàn công khai thì những giá trị đáng kể nhất chính
là tiểu thuyết hiện thực phê phán khi các nhà tiểu thuyết đã nghiêm khắc lên
án cái xã hội thực dân bán phong kiến ở chặng đường tan rã của nó, trở thành người bạn đường của giai cấp công nhân, với những tên tuối lớn: Nguyễn Công Hoan , Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Tú Mỡ, Nguyên Hồng, Đồ Phồn, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Đình Lạp cùng nhiều tác phẩm để lại nhiều dư âm
trong lòng người đọc: Tắt đèn, Bước đường cùng, Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu,
Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê Tóm lại, tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỉ
XX với nhiều tác phẩm lớn đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình
1.1.2 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam từ 1945-1985
Tiểu thuyết là thể loại non trẻ trong nền văn học Việt Nam vì thế các nhà tiểu thuyết luôn có xu hướng hấp thu cái đi trước, cái mới Cái đi trước mà các nhà tiểu thuyết Việt Nam luôn hấp thu, học tập chính là tư duy sử thi, cụ thể là sử thi Phương Đông Sử thi phương Đông luôn tôn thờ, nhấn mạnh những phẩm chất cao cả, mà tiêu biểu là sử thi Ấn Độ với Mahabharata và Ramayana Mahabharata dài 22 vạn câu dài gấp bảy lần Iliat và Ođixe của Hy Lạp cộng lại Ramayana dài gần 5 vạn câu Sử thi Ấn Độ vừa miêu tả chiến tranh vừa rất coi trọng miêu tả sự xung đột giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo lí
và phi đạo lí
Mục đích của chiến tranh là hoà hợp Điều luật của chiến tranh là lẽ công bằng Những điều ấy đã góp phần tạo ra một “tinh thần Ấn Độ” đặc sắc
Trang 22Tinh thần Ấn Độ ảnh hưởng đến các nước Đông Nam Á trước Công nguyên
đi cùng với con đường truyền bá đạo Phật Tư tưởng Phật giáo luôn hướng tới
sự cao cả, thánh thiện Biểu tượng Đức Phật nghìn tay nghìn mắt là một hình ảnh rõ nét nhất, tập trung nhất về khát vọng cao cả nhìn thấu bốn cõi (nghìn mắt) để thấy sự đau khổ trầm luân của chúng sinh mà ra tay (nghìn tay) cứu
độ Nhờ có những nét tương đồng mà tinh thần Phật giáo đã nhanh chóng hoà nhập, ăn sâu rồi trở thành quốc giáo một thời gian dài ở đất nước Đại Việt
Tinh thần Ấn Độ, tư tưởng tích cực của đạo Phật ảnh hưởng tới và cùng với văn hoá bản địa góp phần tạo ra một tính cách Việt khoan hoà, nhân ái, hướng thượng, không thích chiến tranh, nếu buộc phải chiến tranh thì cũng vì mục đích hoà giải, hoà hợp, hoà bình Đó chính là cái mà văn học hướng tới
để miêu tả, phản ánh Cũng đúng với quy luật, trong thời có chiến tranh thì tính cách kia thể hiện rõ hơn và văn học phản ánh sâu đậm hơn
Giai đoạn văn học từ năm 1945 đến năm 1985 do ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt cho nên các tác phẩm liên quan đến Phật giáo ít xuất hiện Đây là một giai đoạn lịch sử ghi dấu những biến động vô cùng lớn của dân tộc: hai cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và chống Mĩ Hiện thực chiến tranh cách mạng, có thể nói là sống động, hào hùng và hoành tráng nhất trong lịch sử chiến tranh vệ quốc bởi ta phải chiến đấu, đối mặt và giành
thắng lợi trước những “đế quốc to” của thế giới, với sự tham gia của nhiều
thế hệ và sự hi sinh mất mát là vô cùng lớn Cũng bởi thế, có lẽ chưa bao giờ yêu nước, tinh thần cộng đồng dân tộc lại được khơi dậy trong mỗi con người Việt Nam mạnh mẽ đến như vậy Trước vận mệnh sống còn của dân tộc, nhiều thế hệ người Việt Nam đã sẵn sàng hi sinh hạnh phúc, quyền lợi riêng
tư, nối tiếp nhau lên đường ra trận Bối cảnh lịch sử ấy khiến văn học dân tộc giai đoạn này phát triển mạnh theo khuynh hướng sử thi Tiểu thuyết cũng vậy, theo xu hướng chung các nhà tiểu thuyết cũng sáng tác những tác phẩm
Trang 23vì một Việt Nam độc lập, thống nhất Hầu hết các nhà văn đi theo tiếng gọi của Đảng đã cùng với những đoàn quân tiến ra chiến trường hay đi vào thực
tế lao động của nhân dân Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử văn học Việt Nam, các nhà văn lại ý thức sâu sắc về sứ mệnh của mình và lao động nghệ thuật phục vụ đất nước say mê như ở giai đoạn này Vì thế, theo tiểu thuyết, các nhà văn đều ngợi ca, cổ vũ sự tự tôn dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc trong con người Việt Nam Tiểu thuyết còn phản ánh cuộc sống mới, con người mới, xây dựng hình mẫu con người Việt Nam mới với tư thế, tâm hồn, tài năng góp phần đắc lực thực hiện những nhiệm vụ cách mạng dân tộc Những đề tài, nội dung mà tiểu thuyết thời kì này đề cập cũng chính bởi sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo Phật dù rằng các nhà tiểu thuyết không trực tiếp nhắc tới trong các sáng tác của mình
Gắn liền với những biến động lịch sử của dân tộc, của thời đại, tiểu thuyết trở thành tấm gương phản ánh lịch sử Tinh thần hoà hiếu, tấm lòng nhân ái, vị tha, yêu chuộng hoà bình, hướng thượng trong tư tưởng đạo Phật cũng ảnh hưởng sâu sắc tới văn học thời kì này đặc biệt là tiểu thuyết trong quá trình phản ánh lịch sử
Cách mạng tháng Tám thành công chưa lâu, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang thời kì còn non trẻ, thực dân Pháp tiếp tục quay trở lại xâm lược Cả dân tộc bước vào cuộc trường chinh để bảo vệ độc lập tự do cho Tổ quốc Tinh thần Phật giáo hoà chung với đề tài lớn của một nền văn
học cách mạng còn non trẻ: đề tài kháng chiến Đội ngũ sáng tác giai đoạn
này khá hùng hậu, đông đúc Bên cạnh lớp nhà văn đã có bề dày sáng tác ở giai đoạn trước là một thế hệ nhà văn kiểu mới của cách mạng Nhà văn với tư cách là một công dân và một nghệ sĩ say sưa và choáng ngợp trước sự phát hiện về sức mạnh lớn lao và vẻ đẹp của cả dân tộc trỗi dậy trong đời sống cộng đồng Hoài Thanh đã từng reo vui, hào hứng như một phát hiện mới lạ:
Trang 24“ Tôi cảm thấy khắp nơi ở chung quanh tôi và trong lòng tôi một cuộc tái sinh màu nhiệm” Còn Nguyễn Đình Thi thì khẳng định: “ Mỗi người chúng ta, bao trùm gia đình làng xóm chúng ta còn một cái gì lớn lao chung: ấy là dân tộc” Và với một đội ngũ sáng tác đông đảo, với nhiều cá tính sáng tạo và bút
pháp khác nhau, họ đã gặp nhau ở những điểm chung về lí tưởng, cùng hoà nhập vào với hàng ngũ của Đảng, cùng hoà nhập với công- nông- binh, vừa cầm bút vừa sẵn sàng đến những vùng mũi nhọn của cuộc sống nhằm phục vụ
mục đích: kháng chiến kiến quốc Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái đã
ăn sâu vào trong tiềm thức của con người Việt Nam từ bao đời được khai thác, khám phá và thể hiện ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất
Thành quả đầu tiên của tiểu thuyết giai đoạn này là những tác phẩm:
Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Con trâu ( Nguyễn
Văn Bổng) qua hai cuộc thi Giải thưởng văn nghệ ( 1951- 1952 và 1954- 1955) đã phác hoạ được bức chân dung phong phú, chân thực về các cuộc vận động lớn như chiến đấu và sản xuất, tiền tuyến và hậu phương Tiểu thuyết
Vùng mỏ của Võ Huy Tâm đã tái hiện một cách sinh động, nóng hổi về cuộc
đấu tranh thắng lợi dòn dã của công nhân mỏ trong vùng tạm chiến Tinh thần đoàn kết chiến đấu được thể hiện rõ nét qua hình tượng đám đông quần chúng công- nông- binh đầy ắp hơi thở của sự sống Tinh thần ấy còn được thể hiện qua hình ảnh đám đông cuồn cuộn sức sống đấu tranh chống thực dân Pháp
của dân công và bộ đội trong Xung kích- tác phẩm đầu tay của Nguyễn Đình
Thi với chiến thắng vang dội của nhân dân Vĩnh Yên và Bình Trị Thiên Hay
tiểu thuyết Con trâu của Nguyễn Văn Bổng đã tái hiện được hình ảnh người
nông dân trong tinh thần quyết chiến quyết thắng, ra sức bảo vệ trâu để ổn định sản xuất phục vụ cho tiền tuyến Thành công của các tác phẩm trên là
đã miêu tả khá sinh động sức mạnh của quần chúng tập thể, cao hơn là sức mạnh của toàn dân tộc đang cùng một lòng đứng lên theo lời kêu gọi của Hồ
Trang 25Chủ Tịch, đã góp phần tích cực trong việc phản ánh, cổ vũ động viên cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện gian khổ và anh dũng của quân dân ta trong những năm đầu kháng Pháp Ở đó, người đọc bắt gặp hình ảnh của những anh hùng mới trong quần chúng lao động, những người chủ nhân mới của xã hội với những hành động dũng cảm, những chiến công lẫy lừng, với vẻ đẹp tinh thần của lý tưởng yêu nước và lòng căm thù giặc đã mang đến một sức sống mới, một không khí tưng bừng, lạc quan cho tiểu thuyết kháng chiến
Một trong những đỉnh cao không chỉ của văn học kháng chiến chống Pháp mà của cả dòng tiểu thuyết sử thi Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến 1975
chính là tiểu thuyết Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc (1956)- giải nhất
Giải thưởng văn học Hội văn nghệ Việt Nam (1954- 1955) Có lẽ tất cả tinh thần Việt Nam, tâm hồn Việt Nam đều được đúc kết trong tác phẩm này Từ đối tượng miêu tả, nội dung phản ánh đến cách biểu hiện của tác giả là cả một
sự bứt phá đáng khâm phục Tác phẩm đã lấy bối cảnh của cuộc kháng chiến của dân tộc Ba Na (Tây Nguyên) đánh Pháp kiên cường, bất khuất trong một cuộc đấu tranh lâu dài bền bỉ, dưới sự lãnh đạo của Đảng để giành lại độc lập,
tự do cho quê hương Tây Nguyên và mang tầm vóc cuộc đấu tranh vĩ đại được thu nhỏ của cả dân tộc Việt Nam Nguyên Ngọc đã không xây dựng hình ảnh làng quê Bắc Bộ với những mái chùa cổ kính, nhà văn cũng không xây dựng nhân vật xuất phát từ thầy tu hay nguyên mẫu của một nhà sư thế nhưng người đọc vẫn thấy quá trình trưởng thành của nhân vật anh hùng Núp- một người con của dân tộc Ba Na mang đầy đủ tâm hồn, tinh thần của con người Việt Nam và trở thành nhân vật điển hình cách mạng: vừa cao cả, ngời sáng, vừa hiện đại nhưng lại gắn với những truyền thống, nếp suy nghĩ lâu đời của con người Việt Nam
Khi hoà bình lập lại, đất nước phát triển đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, lớp lớp nhà văn đã hướng ngòi bút của mình đi theo con đường mà cả
Trang 26dân tộc đang đi theo: hiện thực xã hội chủ nghĩa Không nhiều tác phẩm giành
trang viết của mình cho tư tưởng đạo Phật Có chăng cũng chỉ là thoáng qua nhưng cũng đủ để người đọc nhận ra sức ảnh hưởng của Phật giáo trong lối
sống và nếp nghĩ của người Việt Xung Kích (tập một) của Nguyễn Khải đã
mang đến luồng không khí lành mạnh cho văn học những năm 1956- 1957 Tác phẩm đã phản ánh một cách sâu sắc cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp trong cải cách ruộng đất và trong thời kì sửa sai ở một vùng nông thôn công giáo toàn tòng tỉnh Nam Định Ngòi bút sắc sảo đầy tính chiến đấu của Nguyễn Khải đã vạch trần bộ mặt của bọn phản động đội lốt thầy tu đang điên
cuồng phá hoại những thành quả của cải cách ruộng đất Trong Một truyện
chép ở bệnh viện, chúng ta thấy chiến tranh đã xâm phạm đến chỗ đau xót
nhất trong tình cảnh của một người vợ, một người mẹ Chiến tranh đã giết mất người chồng, chỗ nương tựa cuối cùng của người đàn bà, để lại một đứa con nhỏ hai năm và một cháu bé chưa lọt lòng Nhưng người phụ nữ ấy- chị Tư Hậu không gục ngã, không buông xuôi mà nhờ có sự giúp đỡ của Đảng và tình cảm ấm áp của bà con thôn xóm, chị đã vượt qua những đau thương để trưởng thành và khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp của một người đàn bà nghèo khổ Chị đã bất chấp sự phũ phàng của chiến tranh, chị đã cầm lấy vũ khí để giải phong chính mình, giải phóng cho dân tộc mình Tiếp đó hàng
loạt các tiểu thuyết mang khuynh hướng sử thi ra đời: Trước giờ nổ súng (1960), Sống mãi với thủ đô (1961), Cao điểm cuối cùng (1961), Những người
cùng làng (1961), Làng tề (1962), Một chặng đường (1962), Đất lửa (1963)
Và khi đế quốc Mĩ nhảy vào xâm lược miền Nam, cả dân tộc lại đoàn
kết thành một khối “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy
tương lai”(Tố Hữu) Chưa bao giờ không khí sử thi lại bùng lên mạnh mẽ như
vậy Những tiểu thuyết mang tính sử thi nguyên khối, tinh chất không pha tạp
ra đời mang theo cả hơi thở, nhịp sống, tâm hồn của con người Việt Nam:
Trang 27Vào lửa (1966), Hòn Đất (1966), Cửa sông (1967), Gia đình má Bảy (1968), Rừng U Minh (1970), Đất Quảng (1971), Dấu chân người lính (1972), Thôn ven đường (1973) với những nhân vật đậm chất lí tưởng, toả chiếu ánh sáng
lý tưởng soi rọi, hướng người đọc đi về phía cái cao cả, cái anh hùng
Trên một phương diện nào đó, dù chiến tranh cách mạng là đề tài trung tâm của tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa, của tiểu thuyết lịch sử nhưng
ở những cuốn tiểu thuyết ra đời trong thời kì này- thời kì trên đất nước không lúc nào ngừng tiếng súng chống ngoại xâm, vẫn phảng phất hơi thở, những tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hoá- lối sống của con người Việt Nam trong trường kì lịch sử Đó là Phật tính trong văn hoá Việt, là tâm từ bi của nhà Phật có sức mạnh cải hoá, cảm hoá chúng sinh, là tinh thần nhập thế tích cực của Phật giáo Việt Nam Bởi thế mà lớp lớp những người con đất Việt đã nhận thức sâu sắc sứ mệnh lịch sử của mình, không ngại ngần cầm súng ra trận chiến đấu, xông xáo thâm nhập vào các mặt trận và tìm thấy con đường
đi, lí tưởng sống cho mình, cho dân tộc mình
Kan Lịch viết về những người anh hùng du kích của các dân tộc ở rẻo
cao Trường Sơn Thôn ven đường dựng lên trước mắt ta cuộc đấu tranh chống
kế hoạch bình định của Mỹ- nguỵ ở một vùng sâu Trị Thiên- Huế Dấu chân
người lính là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở miền Bắc đã miêu tả một cách hết
sức hấp dẫn, lôi cuốn cuộc trường chinh vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, cuộc hành quân của trung đoàn và sư đoàn bộ binh, pháo binh vượt Trường Sơn, tham gia chiến dịch Khe Sanh ở miền Tây Quảng Trị Rõ ràng, các nhà tiểu thuyết đã đi sâu vào các mũi nhọn của cuộc sống và trực tiếp miêu tả cái hiện thực nóng bỏng mang tính thời sự của dân tộc
Tiểu thuyết chống Mỹ đã thể hiện rõ cái thế giới tinh thần phong phú
và vẻ đẹp lý tưởng của những người con anh hùng, mối quan hệ giữa cái bình thường và cái vĩ đại, giữa người anh hùng và tập thể quần chúng anh hùng,
Trang 28giữa anh hùng ca và tình ca và những đặc điểm của người anh hùng Việt
Nam Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu đã xây dựng khá thành
công hai nhân vật Kinh và Lữ đại diện cho hai thế hệ khác nhau của những người cầm súng Trong đó, Kinh tiêu biểu cho một cán bộ chính uỷ trong quân đội đã từng tham gia hai cuộc kháng chiến, vừa đức độ vừa tình cảm, thu hút cán bộ chưa phải bằng sức mạnh của trí tuệ thông minh và tài ba lỗi lạc mà bằng ánh sáng của lý tưởng cộng sản và bằng cái tâm trong sáng, tấm lòng nhân hậu đã từng trải trong cuộc đấu tranh Cái đức độ và lòng nhân hậu thuỷ chung, cách sống giản dị, thanh bạch, gần gũi với quần chúng, phong thái điềm tĩnh hơi có vẻ cổ xưa nhưng tâm hồn lại rất mới, rất trẻ đã tạo nên một chính uỷ Kinh một cái gì đó rất Việt Nam
Rõ ràng, việc ưu tiên cho đề tài Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh thống nhất đất nước khiến cho các nhà văn ít có điều kiện để nói về vấn đề tôn giáo Mà nếu có nói thì cũng chủ yếu xoay quanh vấn đề đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa ta và địch Nhưng dẫu sao sau những biến cố, thăng trầm của đất nước với thành công của cuộc Cách mạng tháng Tám, với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược cùng công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho nhà văn cả một cuộc sống xã hội rộng lớn Chưa bao giờ tiểu thuyết lại gắn bó chặt chẽ với cuộc sống như vậy
Ở đó, giá trị nhân văn, đạo đức con người, tinh thần từ bi hỉ xả, khoan hoà, thân ái của đạo Phật vẫn luôn được đề cao như một phần bản ngã bên trong mỗi con người Dù không trực tiếp nhắc đến, không trực tiếp thể hiện nhưng đằng sau những nhân vật, những số phận, những cảnh đời người đọc vẫn luôn nhận ra ước nguyện, con đường đi của những con người, những cảnh đời, những số phận ấy là hướng đến những điều tốt đẹp, cái kết thúc có hậu trong vòng luân hồi sinh tử của Phật giáo Việt Nam Và phải đến sau 1975 đặc biệt
từ đổi mới đến nay khi mà hàng loạt các vấn đề nhân sinh được đặt ra, khi mà
Trang 29việc lựa chọn các giá trị trong vô vàn các quan hệ phức tạp được đặt ra ráo riết thì lúc đó cảm quan tôn giáo nói chung và cảm quan Phật giáo nói riêng mới xuất hiện trở lại
1.2 Cảm quan Phật giáo trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới
1.2.1 Nhìn nhận cuộc sống trong tinh thần nhân văn
Trong cơ cấu tư tưởng và văn hoá Việt, Phật giáo luôn tồn tại, xuyên suốt và lâu dài nhất trong lịch sử dân tộc Xuất hiện và nắm giữ quyền uy sớm hơn cả Nho giáo, cho đến khi Nho học suy tàn, Kyto giáo và cách mạng dần chiếm lĩnh vũ đài chính trị- tư tưởng thì Phật giáo vẫn luôn duy trì được nguồn mạch của nó Vì thế, thông qua tác phẩm của các nhà văn, trải qua thời gian dẫu có khi thăng trầm, có khi bị cấm đoán, tù đày, cưỡng bức hoàn tục thì Phật giáo vẫn luôn khẳng định được vị trí, vai trò và sức mạnh của mình trong đời sống tinh thần người Việt Phật giáo đã tham dự một cách sâu rộng
và đầy quan trọng vào quá trình dựng nước và giữ nước Phật giáo coi trọng
từ bi, ở thời nào cũng thế, Phật giáo là phần âm nhu trong cơ cấu tư tưởng- văn hoá Việt, Phật giáo không hề bàng quang, đứng ngoài sự vận động của lịch sử, Phật giáo luôn nhìn nhận cuộc sống trong tinh thần nhân văn
Cũng như vậy, trong văn học thời kì đổi mới, Phật giáo vẫn được xem là
bộ phận tư tưởng mang tính nhân bản, nắm giữ cội nguồn và bản chất giá trị tinh thần của tâm hồn người Việt Nam Đây là giai đoạn ghi dấu những diễn biến khá đặc biệt của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam Học giả ngoại
quốc Philip Taylor từng cho rằng: “ Tôn giáo ở Việt Nam đang trở nên hưng
thịnh Nhà thờ, chùa chiền và các địa điểm hành hương luôn đông đúc bởi những người mộ đạo, những vật phẩm cúng tiến biểu thị đức tín nhiệt thành
và lòng tin tôn giáo đầy sức sống” Sự tiếp nhận và phát triển đạo Phật gắn
chặt với sự bền vững của tâm tính văn hoá bản địa Bởi thế, không chỉ phát triển theo những quy luật nội tại của bản thân, văn học thời kì đổi mới còn có
Trang 30nhiệm vụ giải quyết hàng loạt những mâu thuẫn mới nảy sinh do tác động khách quan của những điều kiện chính trị- xã hội Đây là khoảng thời gian
mà đồng tiền trở thành thước đo của mọi giá trị Đạo đức, nhân cách bị coi là dại dột, lỗi thời, người tốt bị cô đơn, lép vế, bị rơi vào tình trạng bi kịch Văn học trong giai đoạn này cũng rơi vào sự thử thách trong bản lĩnh và nhân cách của mỗi cá nhân Như một mạch ngầm xuyên suốt, chảy dài trong tiềm thức mỗi người, Phật giáo với tinh thần nhân văn cao cả đã tác động mạnh
mẽ tới ngòi bút của các nhà văn, khiến cho hàng loạt các tác phẩm trong giai
đoạn này ra đời đều thiên về “hướng nội” Các tác phẩm ấy nhằm mục đích
giúp người đọc thức tỉnh, tự vấn lương tâm giữa cuộc sống xô bồ, hối hả với nguy cơ xuống cấp về đạo đức và nhân cách con người Người đọc có thể bắt
gặp những: Hạt mùa sau (Nguyễn Thị Ngọc), Sao đổi ngôi (Chu Văn), Mưa
mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không giấy giá thú (Ma Văn
Kháng), Góc tăm tối cuối cùng (Khuất Quang Thuỵ), Chim én bay (Nguyễn
Tri Huân) Thông qua các tác phẩm này, các nhà tiểu thuyết đã tấn công vào những chuyện tiêu cực, những vi phạm trắng trợn, chà đạp lên đạo lí, dân chủ
và công bằng xã hội, phản ánh cuộc sống của một bộ phận xã hội bị tha hoá, những bọn phe phẩy ăn chơi, những cô gái sống phóng túng, buông thả, những kẻ cơ hội, đầu cơ, sống trên lưng đồng chí của mình
Giữa lúc mà cuộc sống có sự đấu tranh gay gắt giữa đạo đức và phi đạo đức, nhân cách và phi nhân cách, giữa cái thiện với cái ác, các nhà tiểu thuyết
đã đi sâu vào tâm lí bên trong, nhìn nhận cuộc sống theo hướng tích cực, những phần tốt đẹp, họ để cho các nhân vật của mình soi bóng vào nhau hoặc
tự khám phá mình, như là một sự lắng lại, suy ngẫm về cuộc đời đã qua, hồi tưởng những kỉ niệm đáng ghi nhớ- những kỉ niệm đẹp đẽ luôn toả sáng lấp lánh, trở thành điểm tựa tinh thần cho những năm dài về sau Các nhân vật thường nhìn lại bản thân một cách trầm tĩnh để nhận ra những giá trị đích thực
Trang 31của mình, tự mình đối diện với mình như một sự tự phán xét về nhân cách, nhằm hướng tới một nhân cách hoàn thiện hơn
Hơn thế, dù hiện thực có ngổn ngang, bề bộn, phức tạp, các nhà tiểu thuyết vẫn không quên ngợi ca những giá trị tinh thần truyền thống của con người Việt Nam, của gia đình Việt Nam và các mối quan hệ cộng đồng khác Các nhà tiểu thuyết vẫn luôn nhìn thấy những phần tốt đẹp, ngời sáng trong tâm hồn con người, cảm thông , chia sẻ, yêu thương với những cảnh đời,
những số phận bất hạnh Sao đổi ngôi của Chu Văn vừa ca ngợi Chủ nghĩa
anh hùng cách mạng của những người lính Trường Sơn, vừa khẳng định con đường đi lên tất yếu của Chủ nghĩa xã hội ở nông thôn Cuốn tiểu thuyết một phần thể hiện thái độ phẫn nộ trước những hiện tượng biến chất, suy thoái về đạo đức ở chiến trường và hậu phương; một mặt thể hiện tấm lòng nhân ái, sự
sẻ chia, đồng cảm, quan tâm đến số phận những con người bị thiệt thòi, bị oan khiên do những vấn đề xã hội phức tạp còn tồn tại sau những năm tháng chiến
tranh Lời nguyền trong Bến không chồng của Dương Hướng đã như một lưỡi
gươm oan nghiệt gây nên tấn bi kịch cho bao số phận các nhân vật ở làng Đông Từ mấy thế hệ, lời nguyền đã trói buộc quyền sống, quyền hạnh phúc của các cá nhân con người Nhưng đằng sau lời nguyền ấy, hiện lên ý nghĩa nhân văn cao đẹp của tác phầm Nhà văn đã thật sự cảm thông, sẻ chia với những số phận bi kịch của con người, đã bênh vực người đàn bà dám vượt lên những đau khổ, bất hạnh để giành giật lấy niềm hạnh phúc của cá nhân, của đời mình Đó cũng chính là phần tốt đẹp ẩn sâu bên trong lớp vỏ bọc bên ngoài của mỗi người
Trong niềm tin sâu sắc vào những triết lí mà Phật giáo mang lại, các nhà tiểu thuyết, một lần nữa đã không thể để tiếng nói tâm linh, tín ngưỡng,
tôn giáo tiếp tục bị nín lặng Họ đã công khai hoá sự “tái mê tín’ của người
Việt trên tinh thần kiểm thảo nó như một nhân tố kiến tạo an toàn nhân sinh
Trang 32Các tác phẩm sau này: Con gái thuỷ thần (Nguyễn Huy Thiệp, 1988/1998),
Khải huyền muộn (2006) của Nguyễn Việt Hà đã tác động đến nhận thức
của độc giả
Và như thế, Phật giáo đã trở thành hơi thở của nhiều tác phẩm nhưng
nó không phải là một tiếng thở dài mà nó chính là luồng âm khí dịu dàng, nhẹ nhàng, xoa dịu và dìu dắt tâm hồn người đọc nhiều thế hệ
1.2.2 Cuộc sống trong tính hài hoà giữa các giá trị
Cuộc sống là sự tổng hoà của các giá trị Trong đó có sự hài hoà giữa giá trị cá nhân với giá trị cộng đồng, giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, có
sự hài hoà của dân tộc với nhân loại Vượt lên trên vai trò và vị trí là một tôn giáo, một hệ tư tưởng, Phật giáo trở thành nét văn hoá có tính phổ quát ăn sâu vào tính cách dân tộc Việt Nam Phật giáo là một lối sống, lối hành xử mang tính triết học nhân bản, tư tưởng của Phật giáo biểu hiện trong mọi hành chức, hoạt động của đời sống Giáo lí nhà Phật vẫn răn dạy đối với mỗi cá nhân về sự tồn tại của mình cũng phải bình đẳng với sự tồn tại của người khác Hay nói cách khác , trong cuộc sống, làm điều thiện cho người khác cũng chính là làm điều thiện cho bản thân mình Vì thế, sự hài hoà giữa những lợi ích trước mắt với những lợi ích lâu dài là vô cùng quan trọng Bởi
với mỗi người, để sống đẹp, sống có “tâm”, sống thanh thản và để đến được
với cõi Niết Bàn cực lạc thì việc gây điều nhân chính là sự chuẩn bị vững bền nhất cho tương lai Đạo Phật luôn đề cao sự hoà hiếu,cho nên trong sự phát triển của thời cuộc, lợi ích dân tộc cũng chính là lợi ích nhân loại
Giai đoạn sau 1986 là giai đoạn sôi nổi nhất của đời sống văn nghệ Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới Với nguyên tắc “tôn trọng sự thật” , nó được
xem như sự thật linh hồn của nghệ thuật chân chính của văn học thời kì đổi mới Chiến tranh qua đi, cuộc sống hoà bình bắt đầu với bao vấn đề mới mẻ nhưng cũng đầy bức xúc thời hậu chiến Điều này đã mở ra một hướng đi mới
Trang 33cho văn học Phạm vi hiện thực cũng đựơc mở ra toàn diện hơn và cũng chân thực hơn Những mảng đề tài phong phú từ hiện thực chính trị tới cuộc sống đời tư, từ sinh mệnh lớn lao của cả cộng đồng tới số phận từng cá nhân cùng bao vấn đề bề bộn, phức tạp của đời thường đã đem lại cho văn học thời kì này một gương mặt mới mẻ, chân thực, đậm chất nhân văn và sự gần gũi với con người
Ở nước ta, từ bao đời nay, chủ nghĩa nhân ái luôn gắn với chủ nghĩa yêu nước, số phận của mỗi cá nhân luôn được gắn với số phận của cộng đồng Bởi chúng ta luôn hiểu, không có độc lập, tự do cho Tổ quốc thì cũng không
có tự do, hạnh phúc cho cá nhân Và tiểu thuyết thời kì đổi mới đã góp phần giải quyết những vấn đề sống còn ấy của đất nước, của chủ nghĩa xã hội Hạnh phúc cá nhân, số phận cá nhân sẽ không là gì nếu không có sự giải quyết thoả đáng trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng, dân tộc Vì thế, các nhà tiểu thuyết không hề ngần ngại, thậm chí họ còn hết sức mạnh dạn khi phê phán, khi đả kích, giễu nhại những thói ích kỉ, xa rời quần chúng, phanh phui mọi mặt trái xã hội họ tập trung vào giải phóng cá nhân, nói nhiều hơn đến số phận cá nhân, hạnh phúc cá nhân nhưng đặt trong mối quan hệ cộng đồng, xã hội khi mà lợi ích cá nhân đó luôn được gắn với những lợi ích chung
Thời gian này xuất hiện một loạt những tác phẩm nổi bật như: Một cõi
nhân gian bé tí, Cha và con (Nguyễn Khải); Ngôi nhà trên cát (Dương Thu
Hương), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường) Nguyễn
Minh Châu cũng hướng ngòi bút của mình về cuộc sống hàng ngày, về số phận cá nhân trong cộng đồng Các tác phẩm của ông trong thời gian này như:
Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra , tuy vẫn bám sát đề tài chiến
tranh nhưng nhà văn đã có một cái nhìn đầy đủ hơn trên các mặt của cuộc sống kháng chiến hết sức quyết liệt và phong phú Đặc biệt từ sau đổi mới,
Trang 34những số phận con người, những trăn trở đời tư được Nguyễn Minh Châu
khám phá rõ nét hơn Hàng loạt các tác phẩm như: Cỏ lau, Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê, Phiên chợ Giát là một cái nhìn mới,
chân thật, đau xót về số phận con người Tác giả đã tìm đến những mảng hiện thực đời thường, chiếu sáng nó bằng ánh sáng của sự phân tích sắc sảo, đặt nó trong mối quan hệ chung và ý thức trách nhiệm với cuộc đời, để từ đó lách sâu vào đời sống, đào sâu những mạch ngầm ở trong tâm hồn, thăm dò những tầng ngầm bí ẩn của quy luật nhân sinh, khiến họ nhận ra giá trị đích thực trong cuộc đời
Sau đổi mới, với tinh thần đối chứng trước tính chất kì lạ của con người, tiểu thuyết đã đi sâu vào từng ngõ ngách, những khuất nẻo nhân sinh
để thể hiện những con người trần thế với tất cả những thuộc tính của nó Vượt qua được cái bóng của sự kiện, con người dường như được soi thấu một cách kĩ lưỡng hơn khi họ được đặt dưới cái nhìn mang ý thức khám phá của chủ thể sáng tạo Cho nên, hình ảnh con người không thuần nhất mà chứa đựng trong nó bề bộn những phức tạp khó hiểu và được thể hiện ở nhiều khía
cạnh khác nhau Những tác phẩm như: Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Minh Châu), Bến không chồng (Dương Hướng), Chim én bay (Nguyễn Tri
Huân) là số phận những người phụ nữ nơi hậu phương cũng như những người trở về sau cuộc chiến Đó là những con người đã nguyện quên bản thân mình vì sự nghiệp chung Viết về họ, các nhà văn muốn gửi tới bạn đọc mọt thông điệp: hãy chia sẻ với người phụ nữ- những người đã trải qua bao nỗi đau trong chiến tranh- và hãy cảm thông cho thiên chức thiêng liêng của họ- thiên chức làm mẹ
Trong mỗi con người, ai ai cũng có chút Phật tính Trước sự chi phối mạnh mẽ của đồng tiền, nhiều giá trị đạo đức, nhiều mối quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội bị đảo lộn khi đất nước đã hoà bình Trong thời kì kinh tế
Trang 35thị trường, đồng tiền càng có cơ hội để bộc lộ sức mạnh của nó, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực, tất cả các mối quan hệ, kể cả những mối quan hệ mang tính truyền thống và thiêng liêng là tình cha con, tình vợ chồng, thậm chí cả tình yêu đôi lứa Đồng tiền làm băng hoại giá trị đạo đức vốn đã trở thành truyền thống hết sức tốt đẹp và đáng tự hào của dân tộc, nó làm cho con người trở nên tha hoá, mất nhân tính Ta có thể thấy rõ điều này qua các tác phẩm:
Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Mùa trái cóc ở miền Nam (Nguyễn Minh
Châu), Mùa lá rụng trong vườn ( Ma Văn Kháng) Thông qua các tác phẩm
ấy, các nhà tiểu thuyết đều muốn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, đánh thức Phật tính trong tâm hồn mỗi con người, giúp họ nhìn lại và giữ gìn những giá trị làm người cho xã hội
Nhìn chung tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới đã đi qua một chặng đường gần 20 năm Trong hai mươi năm ấy, các nhà văn, nhà tiểu thuyết đã không ngừng nghỉ phản ánh hiện thực khách quan với hình tượng con người, cuộc sống theo hướng đa chiều, phức tạp, trong sự tương quan, hài hoà giữa các giá trị cơ bản Ở đó, người đọc nhận ra hình ảnh của bản thân trong đó, giúp họ có dịp nhìn lại, suy ngẫm về chính bản thân mình để hướng tới những giá trị đích thực, tốt đẹp theo giáo lí nhà Phật- nét đẹp truyền thống trong tiềm thức của con người Việt Nam
1.3 Cảm quan Phật giáo trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
Trong sự nghiệp sáng tác văn chương của mình, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh từng chia sẻ rằng, sứ mệnh của văn chương là phải nói được những tầng sâu bí ẩn ngầm của dân tộc chứ không phải chỉ là vấn đề của từng cá nhân Vì thế, trong các sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã khai phá được một trong những tầng sâu bí ẩn của dân tộc, phần âm của tính
cách dân tộc, tư tưởng mang bản sắc văn hoá Việt rõ nét nhất: Tư tưởng Phật
giáo
Trang 36Ngay khi trở lại văn đàn, tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly ( xuất bản năm 2000) đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong lịng độc giả Ở Hồ Quý Ly,
nhà văn đã thể hiện sự va chạm giữa hai dịng tư tưởng Nho giáo và Phật giáo, hai thế lực tân- cựu ( Hồ Quý Ly và hồng tộc triều Trần) là cơ sở để lí giải những thăng trầm của một giai đoạn lịch sử dân tộc (thế kỷ XIV) Trong giai đoạn lịch sử ấy, Phật giáo vẫn luơn giữ vai trị quan trọng trong cơ cấu tinh
thần- tư tưởng- văn hố Việt Nam Nĩi như Nguyễn Xuân Khánh “ Phật giáo
là phần âm của hồn dân Việt Đạo Phật giữ phần linh thiêng, phần chìm, phần lặng lẽ và thâm thuý của núi sơng Đã bao đời nay, nĩ vẫn ngân nga trong tiếng chuơng chùa làng, lẩn khuất trong đầu ngọn tre, dưới mái rạ, để xoa dịu, nâng đỡ hồn người dân quê trong những lúc nhiễu nhương, loạn lạc ” [1; 495] Cĩ những lúc Thiền Phật được ơng ngoại mang ra thuyết
giảng cho Hồ Nguyễn Trừng: “ Người xưa nĩi: Đạo Phật như giếng trời, cịn
Khổng và Lão chỉ như hang và khe Đạo Phật như mặt trời, cịn Khổng và Lã chỉ như những bĩ đuốc” [1; 31] Là mặt trời, tư tưởng kiêm ái sẽ khơng
bao giờ tắt Nhưng đĩ là thứ Phật giáo đã được chuyển hố vào trong hồn Việt, tinh thần Việt Cĩ những lúc nhân vật tự đối thoại với mình Tiếng nĩi của Phật vang lên trong đầu ĩc Nguyễn Cẩn là cách để nhân vật phân thân để
tự trấn an Đĩ là lí do để tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh lựa chọn vận nước và con đường đổi mới
Đến Mẫu Thượng Ngàn- cuốn tiểu thuyết lịch sử xuất bản năm 2006,
Nguyễn Xuân Khánh đã viết về đề tài nơng thơn Việt Nam, về văn hố, phong tục Việt thơng qua cuộc sống và những người dân ở một vùng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Trong bối cảnh đất nước lầm than dưới đế giày xâm lược của thực dân Pháp, đạo Phật suy tàn, đạo Khổng bị gạt
bỏ, đạo Thiên Chúa lan rộng, người dân Việt trở về với Đạo Mẫu- một tơn giáo đã cĩ từ ngàn đời nay của dân tộc Thế nhưng, giống như một dịng chảy
Trang 37âm ỷ xuyên qua thời gian, tư tưởng Phật giáo như đã thấm sâu, trở thành tư tưởng chủ đạo trong tiềm thức mỗi người Bên cạnh Đạo Mẫu, đạo Thiên Chúa được nhắc đến trong tác phẩm thì đạo Phật cũng được nhà văn thể hiện
dù không nhiều, không phải là chủ đạo nhưng cũng đủ để người đọc nhận ra
và thêm một lần nữa tin yêu vào tư tưởng đạo Phật Hình ảnh ông Hộ Hiếu gầy gò, ốm yếu sống nơi cửa Phật- một ngôi chùa làng dù sập sệ nhưng là niềm hy vọng, niềm tin của người dân làng Cổ Đình Ông có khả năng nhìn vào ai là biết người đó đau đớn ở chỗ nào Ông dùng bùa chữa bệnh đặc biệt những khi ông bị thánh ốp, những lúc ấy khả năng chữa bệnh của ông trở nên cao nhất Bàn tay ông như bàn tay của đức Phật giang rộng để cứu độ chúng sinh, cứu giúp con người ra khỏi bể khổ Nguyễn Xuân Khánh vẫn luôn tin vào điều đó, vẫn luôn tin vào sức mạnh của đức Phật như những quan niệm, những quy tắc bất biến thấm đẫm vào mọi tâm hồn Việt
Sau Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa ra đời đã làm
tốt sứ mệnh của mình khi giúp người đọc hiểu rõ hơn Phật giáo là một hiện
tượng văn hoá thuần Việt, dù đã được du nhập nhưng đã được Việt hoá Đội
gạo lên chùa cũng là lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ
của văn hoá Việt đang bị phá huỷ, đang dần biến mất Với Nguyễn Xuân Khánh, Phật giáo vào Việt Nam đã không giữ được nguyên tính sơ khởi của
nó, thậm chí nhanh chóng hoà đồng vào đời sống, tâm tính và được duy trì trong nền văn hoá Việt Có thể coi đó là tư tưởng Phật giáo Việt Nam- một tư tưởng đã thế tục hoá để bao chứa những phẩm chất dung dị, khoan hoà, hữu
ái Chọn bối cảnh kéo dài theo trục thời gian hai cuộc kháng chiến chống xâm lược cho đến ngay sau khi đất nước hoà bình, thống nhất năm 1975 Lấy Phật giáo làm cảm hứng chủ đạo, nhà văn đã thể hiện cái nhìn và lí giải nhiều yếu
tố Phật giáo trong xã hội hiện đại ngày nay Nhà văn đã đi sâu khám phá
Trang 38những vấn đề bản chất của Phật giáo và đặc biệt là những yếu tố có quan hệ mật thiết và gần gũi với đời sống con người Việt
Lấy Phật giáo làm điểm nhìn để soi rọi, Nguyễn Xuân Khánh cũng đồng thời nuôi dưỡng cho ý tưởng về một mạch nguồn Phật giáo trong tâm
hồn dân tộc Nhà văn muốn chỉ rõ vai trò của Phật giáo qua một nhận đinh “
Phật giáo là một lối sống” Đồng thời, Đội gạo lên chùa cũng là lời cảnh báo
về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ của văn hoá Việt đang bị phá huỷ, đang dần bị biến mất
Phật giáo trong Đội gạo lên chùa không mang tính chất giải thích Kinh
Phật hay toàn bộ giáo lí nhà Phật mà chỉ thể hiện những gì gần gũi và chi phối đến cuộc sống người Việt Trong đó, điều cơ bản chính là mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh (bể khổ), giữa người với người (từ bi)
và với chính bản thân mình (tìm đường đi cho mình, dựa vào chính mình)
Ba đạo lí cơ bản có trong Đội gạo lên chùa được Nguyễn Xuân Khánh
nhắc đến cũng chính là ba đạo lí nền tảng cho tất cả các tông phái Phật giáo nguyên thuỷ cũng như Đại thừa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam,
đó là: nhân duyên, tứ diệu đế, bát chánh đạo
Nói đến cuộc đời- bể khổ, nhà Phật cho rằng: hết thảy chúng sinh đều phải chịu đủ loại khổ đau, sợ hãi và thất vọng, cuộc đời là đau khổ của sinh, lão, bệnh, tử Nguyễn Xuân Khánh đã mượn lời nhân vật để nói về cái khổ
trong nhân gian: “Sống ở cõi nhân gian là sống giữa những đau khổ” [3;204]; “ Phật dạy có sinh là có khổ” [3; 617], “Con người sinh ra là thế, ai
cũng khổ” [3; 66] hay “Ở gầm trời này, chẳng đâu là không sóng gió” [3;
449] Trải qua hai cuộc chiến tranh và cuộc cải cách ruộng đât còn nhiều sai sót, chữ khổ xuất hiện nhiều trong tác phẩm Đồng thời trong suốt tác phẩm
ta cũng gặp nhiều cảnh đời, cảnh người éo le, ngang trái, lâm vào bước đường cùng Con người sinh ra ở đời vốn ai cũng phải sống vì nghĩa vụ và trách
Trang 39nhiệm Trước hết là trách nhiệm với chính bản thân mình làm sao để tồn tại, sau đó mới nghĩ đến những lí tưởng cao đẹp cho xã hội Nhà văn quan niệm, mỗi con người sinh ra ai cũng có cái khổ, điều mà ông muốn nhắc nhở chúng
ta chính là phải tự mình vượt qua cái khổ đó, tự đứng dậy và bước đi trên đôi chân mình Mỗi người đều có cảnh đời riêng biệt, không ai trên đời sinh ra đã giàu có, sung sướng Muốn diệt khổ điều đầu tiên phải vượt qua được chính mình
Nguyên nhân dẫn đến cái khổ chính là những tham muốn của con người Nó nằm ngay trong mỗi con người chúng ta Ba nguyên nhân chính là
“tham’, “sân”, “si”- nguồn gốc của mọi sự khổ đau, khi tham muốn của con
người không được thoả mãn về vật chất hay tinh thần, tức khắc sẽ gây ra sự không hài lòng hay đau khổ
Trong Đội gạo lên chùa, trải qua hai cuộc kháng chiến đẫm máu, con
người phải đấu tranh để giành giật sự sống và cái chết; trong cuộc cải cách, con người lại phải đấu tranh giành giật tấc đất cắm dùi, giành giật miếng cơm manh áo Người ta đấu tố nhau, giết hại lẫn nhau Đó là quá khứ Còn hiện tại, sống trong thời đại hoà bình nhưng hoà bình không có nghĩa là có tất cả, không phả lo lắng, không gì tự nhiên đến với ta Con người lại tất bật cuộc mưu sinh, thương trường là chiến trường Trong thời đại kinh tế thị trường và hội nhập văn hoá hiện nay, sự cạnh tranh càng khốc liệt hơn bao giờ hết Không phải đấu tranh bằng đạn dược mà là sự đấu tranh bằng trí tuệ, cạnh tranh về kinh tế Cuộc đấu tranh ấy mang tính thực dụng Ngày nay, thực dụng là một lối sống phổ biến trong xã hội Tham vọng về quyền lợi và kinh
tế có nguy cơ vượt ra khỏi sự kiểm soát Vì mối lợi cá nhân mà con người ta
có thể làm tổn hại đến lợi ích của các cá nhân khác, đẩy người khác vào con đường khó khăn Đó là sự đấu tranh của đạo đức, văn hoá Nếu một xã hội không giữ dược lối sống lành mạnh thì nền văn hoá tốt đẹp cũng không còn
Trang 40nữa, xã hội sẽ trở nên vô cùng hỗn loạn và độc ác Vì lối sống đạo đức của nhân dân làm nên bộ mặt văn hoá của đất nước Đây là vấn đề mà Nguyễn Xuân Khánh quan tâm trong suốt cuộc đời viết tiểu thuyết của mình Ông đã dùng Phật giáo làm lăng kính khúc xạ những mảnh đời nhỏ bé, tác giả đã đưa
ra nhiều cảnh đời khác nhau và những cách hành xử khác nhau Nếu “tham,
sân, si” là nguyên nhân dẫn đến cái khổ thì thiền và những uốn nắn con người
theo triết lí nhà Phật là biện pháp để giải trừ nỗi khổ ấy, mà Phật tồn tại ngay trong mỗi chúng ta
Cuộc sống của những nhân vật trong Đội gạo lên chùa, dường như mỗi
nhân vật một số phận éo le theo những cách khác nhau An và Nguyệt những đứa trẻ vì chiến tranh mà mất cha, mất mẹ phải lưu lạc Khoan Độ đứa con
mồ côi mẹ, khi lớn lên lại mất đi người con gái mình yêu thương nhất, trải qua bao gian nan cuối cùng tìm được đường đi đích thực cho cuộc đời mình Nhà sư Vô Uý cả đời làm việc lành, việc thiện mà cũng không tránh khỏi bao thăng trầm của cuộc đời, phải vào tù ra tội Bà Vãi Thầm nửa tỉnh nửa điên Nhưng tất cả những số phận ấy theo Nguyễn Xuân Khánh họ đã được nương nhờ của Phật, được đức Phật từ bi che chở Phật đã sẵn sàng giang tay cứu giúp những mảnh đời lưu lạc, khốn cùng Khi bị tra tấn trong nhà giam, nhò
có Phật mà sư Vô Uý đã đủ tinh thần để chống trọi lại nỗi đau về thể xác Chỉ
cần niệm: A di đà Phật, “Nó như câu thần chú, đem lại cho thầy tôi một sức
mạnh kì diệu để chống lại đau đớn thể xác, để không làm rái với niềm tin củ
cả đời mình” [3; 209] Ở những khoảnh khắc khó khăn nhất của cuộc đời,
người ta tìm đến với sức mạnh của tinh thần: “Thầy chỉ còn biết niệm Phật để
mong cho mình có sức mạnh mà chịu đựng” [3; 210]
Với Nguyễn Xuân Khánh, qua Đội gạo lên chùa sự khổ được lí giải bởi
cái nghiệp của bản thân mỗi con người Nghiệp là những hành động về thân thể, về lời nói, ý nghĩa mà Phật gọi là Thân nghiệp, Khẩu nghiệp và Ý nghiệp