Từ việc kế thừa, tổng hợp những định nghĩa của những nhà lí luận văn học đi trước, tác giả Nguyễn Thị Hải Phương trong bài “Người kể chuyện – nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -o0o -
MAI HẠNH NGÂN
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHÙNG GIA THẾ
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo,
TS Phùng Gia Thế - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, động viên
và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ văn và đặc biệt là các thầy cô trong tổ bộ môn Lí luận văn học đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận
Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô
và các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục được hoàn thiện
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Mai Hạnh Ngân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo,
TS Phùng Gia Thế Tôi xin cam đoan rằng:
- Khóa luận này là kết quả tìm tòi, nghiên cứu của riêng tôi
- Những tư liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu được công bố nào
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Mai Hạnh Ngân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……….… 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……… 5
5 Phương pháp nghiên cứu……… 5
6 Đóng góp của khóa luận………….…… 5
7 Bố cục của khóa luận……….…… 5
NỘI DUNG 12
Chương1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN VĂN HỌC 12
1.1 Khái niệm về người kể chuyện……… 7
1.2 Chức năng của người kể chuyện……… 10
1.3 Các hình thức của người kể chuyện 12
1.3.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất 17
1.3.2 Người kể chuyện ngôi thứ hai 19
1.3.3 Người kể chuyện ngôi thứ ba 20
1.4 Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả 21
Chương 2 SỰ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH 24
2.1 Ngôi kể của người kể chuyện 24
2.1.1 Người kể chuyện ngôi thứ ba 24
2.1.2 Người kể chuyện ngôi thứ nhất 26
2.1.3 Sự xen cài, luân chuyển giữa các ngôi kể 29
2.2 Điểm nhìn của người kể chuyện 33
Trang 52.2.1 Điểm nhìn bên trong 34
2.2.2 Điểm nhìn bên ngoài 39
2.2.3 Điểm nhìn không gian, thời gian 41
2.2.4 Điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc 43
2.3 Người kể chuyện không đáng tin 46
2.3.1 Người kể chuyện hàm hồ về tư liệu 47
2.3.2 Người kể chuyện hàm hồ về nhận thức 49
2.3.3 Yếu tố huyền ảo và tính bất khả tín của hiện thực 50
2.4 Ngôn ngữ người kể chuyện 52
2.4.1 Ngôn ngữ thông tục, suồng sã 53
2.4.2 Ngôn ngữ giễu nhại 55
2.5 Giọng điệu người kể chuyện 58
2.5.1 Giọng quan hoài, da diết 59
2.5.2 Giọng bỗ bã, dung tục 61
2.5.3 Giọng triết lí, tranh biện 63
2.5.4 Giọng trữ tình, ngọt ngào 65
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Người kể chuyện (narrator) là một thuật ngữ trung tâm của trần thuật
học Trước đây khái niệm này hầu như bị bỏ qua, người ta chỉ nghiên cứu nhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện, các biện pháp tu từ v.v, người kể chuyện trong văn bản biến mất, gần như vô hình hoặc bị đồng nhất với tác giả Những năm gần đây, do quá trình tiếp thu các thành tựu lí luận trên thế giới, người ta thấy cần có sự phân biệt giữa tác giả và người kể chuyện Vì vậy, người kể chuyện trở thành vấn đề rất được giới nghiên cứu quan tâm chú ý
Tz Todorov đã tuyên bố: “Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện” [dẫn theo 28, tr.116 – 117] Có thể hiểu tuyên bố này như là một sự khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của người kể chuyện đối với một tác phẩm tự sự
Người kể chuyện là nhân vật do tác giả sáng tạo ra có nhiệm vụ tổ chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận văn bản Chính bởi vậy, việc xây dựng hình tượng người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là biểu hiện của sức sáng tạo ở mỗi tác giả Lựa chọn hình thức người kể chuyện này hay khác sẽ góp phần quan trọng làm nên thành công của tác phẩm và khẳng định tài năng của nhà văn
1.2 Văn học Việt Nam từ sau 1975 đã và đang có những nỗ lực cách
tân đáng ghi nhận Sớm được biết đến như một nhà văn có khát vọng mãnh liệt trong việc đổi mới, Tạ Duy Anh không ít lần “làm nóng” bầu không khí phê bình văn học bằng những sáng tác gây nhiều tranh cãi Qua những sáng tác khen, chê không dứt ấy, Tạ Duy Anh khẳng định một bản lĩnh “bước qua lời nguyền”, “viết như một sự vượt qua chính mình” Thực tế cho thấy nhà văn đã có những đóng góp mới mẻ cho nền văn học nước nhà trên nhiều phương diện: nhân vật, cốt truyện, kết cấu… làm thay đổi sâu sắc diện mạo
Trang 7nền văn học Việt Nam đương đại, đem đến cho người đọc những tác phẩm mới mẻ, góp phần làm thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng
1.3 Dù có người đã cáo chung cho thể loại tiểu thuyết thì thể loại này
vẫn phát triển mạnh mẽ, có vị thế cột sống và đóng vai trò quyết định căn cốt diện mạo một nền văn học, là thể loại của thời đại hôm nay Đối với Tạ Duy Anh, tiểu thuyết chính là nơi thể hiện rõ nhất tài năng cũng như sự dấn thân
“khước từ truyền thống” của ông để xác lập những hình thức nghệ thuật mới cho văn học Cho đến nay, Tạ Duy Anh đã trình làng sáu cuốn tiểu thuyết:
Khúc dạo đầu, Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt bóng tối, Sinh ra để chết Trừ tiểu thuyết đầu không gây được tiếng vang, năm tiểu
thuyết còn lại đã dành được sự quan tâm đặc biệt của công chúng Với việc
nghiên cứu đề tài Người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh, chúng tôi
mong muốn tìm hiểu đặc điểm, vai trò cũng như sự độc đáo của người kể chuyện – sản phẩm sáng tạo của nhà văn nhằm thể hiện quan niệm, tư tưởng nghệ thuật về cuộc sống và con người Từ đó, khóa luận góp phần giúp bạn đọc thấy được sức sáng tạo mạnh mẽ của Tạ Duy Anh và những đóng góp của ông đối với tiến trình văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng như đối với đời sống văn xuôi đương đại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Trong những năm gần đây, giới nghiên cứu đã chú ý quan tâm đến
vấn đề người kể chuyện trong tác phẩm tự sự Có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu như: “Người kể chuyện – nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự” của Nguyễn Thị Hải Phương [29, tr.196 - 207], “Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong kể chuyện” của Đặng Anh Đào [29, tr.169 – 178]
Ở đây, các tác giả đã đưa ra khái niệm và chức năng của người kể chuyện đồng thời nêu lên mối liên hệ giữa người kể chuyện với các yếu tố khác trong kết cấu tác phẩm
Trang 8Trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8/2009, tác giả Cao Kim Lan có bài “Người kể chuyện và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả”
trong đó trình bày các quan niệm về người kể chuyện theo lí thuyết tự sự học cũng như mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả
Các bài viết trên chủ yếu đề cập đến vấn đề người kể chuyện trên phương diện lí thuyết nhằm cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết cơ bản về người kể chuyện Tuy nhiên, việc ứng dụng tìm hiểu người kể chuyện trong tác phẩm cụ thể vẫn chưa được nhiều tác giả quan tâm triển khai
2.2 Cuối những năm 80 của thế kỉ trước, trong trào lưu đổi mới của
toàn xã hội, văn học cũng nhanh nhạy xuất hiện những tên tuổi cùng những tác phẩm đáng chú ý Người ít tuổi nhất trong số các tên tuổi ấy chính là Tạ Duy Anh Đến nay, với hơn 20 năm cầm bút, ông đã cho ra đời một số lượng tác phẩm đáng kể với sáu tiểu thuyết, hàng chục tập truyện ngắn, tản văn, truyện thiếu nhi… Điều đáng nói là trong số đó, có rất nhiều tác phẩm của ông ngay từ khi mới ra đời đã gây chú ý đặc biệt trong công chúng và giới phê bình Luôn có ý định cách tân văn học một cách mạnh mẽ, Tạ Duy Anh nhận được nhiều sự ủng hộ song cũng không ít lời phản bác của độc giả Các nhà nghiên cứu đã dành nhiều trang viết về Tạ Duy Anh, song mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ở quy mô nhỏ lẻ, các bài báo, phỏng vấn, điểm sách… Ở cấp độ lớn nhất đó là những khoá luận, luận văn khoa học Có thể kể ra một
số ý kiến đánh giá, những nghiên cứu ở nhiều công trình với các cấp độ khác nhau như sau:
Báo Thể thao và Văn hóa số 47 năm 2004 đánh giá về nội dung giá trị
tác phẩm Tạ Duy Anh: “Mối quan tâm lớn nhất của Tạ Duy Anh là cái vong bản, đánh mất mình của con người, dưới sự giằng xé xiêu dạt của lịch sử Trên con đường truy tìm lại mặt mình, cũng như khả dĩ gương mặt của quá khứ, con người vấp phải và bị phong tỏa bởi thói gian trá, đớn hèn, vật dục,
Trang 9tàn ác, kể cả trong mỗi cá nhân Phúc âm duy nhất là tình yêu, tình cảm trong sạch bản thể của hiện tại và cái nhìn trung thực, nhân đạo đối với những vết thương, lỗi lầm trong quá khứ Có thể gọi ông là nhà văn của đạo đức Văn chương ông có lúc hiện lên bằng gương mặt thế sự, đau đáu riết róng chuyện thánh thiện, tàn ác, liêm sỉ và vô lương… nhưng không phải như những khái niệm truyền bảo chết khô mà thông qua sự cảm nhận đau đớn về số phận” [dẫn theo 1 – tr.134]
Báo Giáo dục và Thời đại số 80 năm 2004 viết: “Gần như thành thông
lệ ở ta, khi nhà văn nào có được một tác phẩm nổi tiếng thì thường họ quay về nhấm nháp niềm vinh quang, sớm thỏa mãn và cứ như thế họ mất hút trong mắt độc giả Tạ Duy Anh từng có “Bước qua lời nguyền” gây chấn động văn đàn và nhiều người đã nghĩ anh khó vượt qua nghiệt lệ ấy Nhưng rồi anh cho
ra đời “Lão Khổ”, một cuốn sách mà người ta sẽ càng ngày càng phải tìm đọc lại bởi nói như giáo sư Hoàng Ngọc Hiến: “Đây là một cuốn tiểu thuyết quan trọng” Tiếp đó, anh cho ra đời hàng chục tập truyện ngắn Nhưng một thành tựu không nhỏ như vậy vẫn còn là quá ít với anh Trong khi văn đàn đang có dấu hiệu rệu rã thì liên tiếp trong hai năm, Tạ Duy Anh cho ra hai cuốn tiểu thuyết gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước, trước hết bởi sự kì lạ về hình thức và vấn đề nhức nhối mà nó quan tâm” [dẫn theo 1 – tr.168]
Đáng chú ý nhất trong các công trình nghiên cứu về Tạ Duy Anh là
cuốn: Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh (NXB Hội Nhà văn, 2007) dày 400
trang trình bày ba luận văn lấy đề tài từ sáng tác của Tạ Duy Anh đã được Hội đồng Giám khảo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đánh giá cao
Cụ thể gồm:
Thứ nhất, Tạ Duy Anh với việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết của
Nguyễn Thị Hồng Giang, nghiên cứu việc “làm mới” văn chương, “làm mới” trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Trang 10Thứ hai, Thế giới nhân vật trong sáng tác Tạ Duy Anh của Vũ Lê Lan
Hương đi sâu khám phá hành trình văn học Tạ Duy Anh, một thế giới nhân vật ngoại biên và những thủ pháp xây dựng nhân vật đáng chú ý trong sáng tác Tạ Duy Anh
Thứ ba, Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tạ Duy
Anh của Võ Thị Thanh Hà nghiên cứu Tạ Duy Anh trong bối cảnh đổi mới
tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, quan niệm nghệ thuật về con người và đặc sắc thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của ông
Qua các bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên, các nhà phê bình cơ bản đã thống nhất ghi nhận những nỗ lực của Tạ Duy Anh trong việc đổi mới văn học, về những cách tân trong tư duy và lối viết, trong đó ít nhiều đề cập đến vấn đề người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông Phân tích các công trình nghiên cứu tiểu thuyết Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận thấy chưa có một công trình nào tìm hiểu về người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông một cách toàn diện và triệt để Chính vì lẽ đó, trên cơ sở gợi ý của những người đi trước, tác giả khóa luận mong muốn tập trung tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết
Tạ Duy Anh để góp phần làm nổi bật những tìm tòi, đổi mới trong nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận hướng đến mục đích tìm ra điểm độc đáo của người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh trên cơ sở khai thác các hình thức kể chuyện truyền thống và những sáng tạo mới nhằm khẳng định nỗ lực của tác
giả trong việc đổi mới nghệ thuật tự sự tiểu thuyết
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Nêu ra khái niệm về người kể chuyện, chức năng, các hình thức người kể chuyện và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả
Trang 113.2.2 Nghiên cứu vấn đề người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy
Anh qua một số tiểu thuyết tiêu biểu: Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Giã biệt
bóng tối
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu về người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh trên các bình diện cơ bản như: ngôi kể, điểm nhìn, người
kể chuyện không đáng tin, ngôn ngữ, giọng điệu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp và khả năng làm chủ tư liệu có hạn, chúng tôi không có tham vọng đi tìm hiểu người kể chuyện trong tất cả các tiểu thuyết của Tạ Duy Anh mà chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu vào ba tiểu thuyết quan trọng:
1 Lão Khổ; 2 Thiên thần sám hối; 3 Giã biệt bóng tối
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp hệ thống
6 Đóng góp của khóa luận
- Cung cấp những hiểu biết khái quát và có hệ thống về người kể chuyện
- Đi sâu tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh, từ đó chỉ
ra sự sáng tạo độc đáo của nhà văn trong sáng tác văn chương
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm hai chương Cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề chung về người kể chuyện trong nghiên cứu lí luận
văn học
Chương 2: Sự độc đáo của người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN VĂN HỌC
1.1 Khái niệm về người kể chuyện
Người kể chuyện là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại nhưng phải đến đầu thế kỉ XX, vấn đề này mới được giới nghiên cứu quan tâm Những người có công đầu tiên trong việc đề xuất nghiên cứu
về người kể chuyện đó là các nhà hình thức chủ nghĩa Nga (A.Veksler, I.Gruzdev, V.Shklovski, B.Eikhembaum) và nhóm các nhà nghiên cứu Bắc
Âu viết bằng tiếng Đức (W.Dibelius, K.Friedemann, K.Forstreuter) Tuy nhiên, phải qua công trình của những nhà nghiên cứu thế hệ sau, những người đặt nền móng cho “trần thuật học” như P.Lubbock, N.Friedman, E.Leibfried, F.Stanzel, W.Kayser, Iu.Lotman, B.Uspenski, R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette, S.Chatman… “phương pháp hình thức” kết hợp với “mĩ học tiếp nhận” mới đưa ra được quan điểm tương đối rõ ràng về người kể chuyện Chúng tôi xin dẫn ra một số khái niệm về người kể chuyện của một số tác giả tiêu biểu:
Theo G.N Pospelov thì người kể chuyện là “người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [dẫn theo 29, tr.196]
Trong quan niệm của W Kayser, người kể chuyện là một khái niệm mang tính chất cực kì hình thức: “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc
về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học Ở nghệ thuật kể, không bao giờ người kể chuyện là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [dẫn theo 29, tr.196]
Trang 13Tz Todorov tuyên bố: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng… Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị trí hoàn toàn đặc biệt…” [dẫn theo 28, tr 116 – 117] Theo quan điểm của ông, người kể chuyện không chỉ là người kể mà còn là người định giá: “Người kể chuyện là một nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu Chính người kể chuyện là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá” [dẫn theo 29, tr.196 – 197]
Từ việc kế thừa, tổng hợp những định nghĩa của những nhà lí luận văn học đi trước, tác giả Nguyễn Thị Hải Phương trong bài “Người kể chuyện – nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự” đã đưa ra khái niệm người
kể chuyện thông qua sự phân biệt nó với người kể chuyện thực tế trong đời sống, với nhân vật và tác giả Tác giả bài viết cho rằng người kể chuyện là một công cụ do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện Người kể chuyện là sản phẩm của quá trình hư cấu của nhà văn, nó khác với người kể chuyện thực tế trong đời sống Nếu như người kể chuyện thực tế trong đời sống là những con người
cụ thể, hữu hình, có hình hài, giọng nói, điệu bộ… thì đến người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, tất cả những yếu tố hữu hình, cụ thể này đều được chuyển vào trong văn bản thông qua các thủ pháp nghệ thuật Hai kiểu người kể chuyện này sẽ lựa chọn cách kể chuyện khác nhau Nếu người kể chuyện trong thực tế thường kể chuyện theo trật tự tuyến tính và hoàn toàn có thể điều chỉnh câu chuyện theo phản ứng của người nghe thì ngược lại, người kể chuyện trong tác phẩm tự sự có thể sử dụng lối kể đảo tuyến, đan xen giữa hiện tại, quá khứ, tương lai Câu chuyện mà họ kể ra đã được cố định trong văn bản, không thể thêm bớt hay sửa chữa gì [29, tr.196 – 208]
Trang 14Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Thị Hải Phương còn khẳng định người kể chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự Người kể chuyện không chỉ là một nhân vật tham gia trong tác phẩm như các nhân vật khác mà còn có chức năng tổ chức các nhân vật khác, đánh giá về các nhân vật khác Vị trí của nhân vật người kể chuyện trong tác phẩm thay đổi rất linh hoạt, tùy thuộc vào động cơ và thái độ của tác giả
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, người kể chuyện là “hình tượng ước lệ
về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả…, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra…, có thể là một người biết một câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có nhiều người kể chuyện Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối cảnh” [14, tr.221]
Qua việc khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy mỗi định nghĩa khai thác khái niệm “người kể chuyện” ở một phương diện khác nhau, nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm cơ bản sau về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự:
- Người kể chuyện là một dạng hình tượng do tác giả hư cấu, sáng tạo nên, là người đại diện phát ngôn cho tác giả trong tác phẩm tự sự
- Trong phạm vi tác phẩm, người kể chuyện là chủ thể của lời kể, là người đứng ra kể chuyện và là nhân tố trung tâm chi phối việc tổ chức, kết cấu cấu trúc của văn bản tự sự
- Người kể chuyện giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và người đọc
Trang 151.2 Chức năng của người kể chuyện
Người kể chuyện có vai trò đặc biệt quan trọng, thực hiện nhiều chức năng trong tác phẩm tự sự:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, người kể chuyện đảm nhiệm năm
chức năng: “1) chức năng kể chuyện, trần thuật; 2) chức năng truyền đạt, đóng vai một yếu tố của tổ chức tự sự; 3) chức năng chỉ dẫn, thuộc phương pháp trần thuật; 4) chức năng bình luận; 5) chức năng nhân vật hóa” [14, tr.223] Người kể chuyện là sản phẩm của sự sáng tạo nghệ thuật, là công cụ do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện Việc nhà văn lựa chọn hình thức người kể chuyện nào có vai trò đặc biệt quan trọng trong tác phẩm, quyết định sự thuyết phục và thành công của câu chuyện
Trên cơ sở quan niệm người kể chuyện là nhân vật trung gian nối liền
giữa nhà văn, tác phẩm và bạn đọc, trong bài viết: “Người kể chuyện - nhân
vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự”, tác giả Nguyễn Thị Hải Phương đã nghiên cứu chức năng của người kể chuyện trong ba mối quan hệ này để hình thành nên ba chức năng cơ bản:
Một là, người kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm Người kể chuyện phải thay mặt nhà văn cố gắng tìm cho mình một kết cấu tối
ưu để làm cho câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn được người đọc Với các cách kể khác nhau, cách xuất hiện khác nhau của người kể chuyện, ta sẽ có các dạng cốt truyện khác nhau: cốt truyện tuyến tính, cốt truyện tâm lý, cốt truyện
“chuyện lồng chuyện”…
L Timofeev cũng đã khẳng định: “Hình tượng này có tầm quan trọng hết sức to lớn trong việc xây dựng tác phẩm bởi các quan niệm, các biến cố xảy ra, cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể” [dẫn theo 29, tr.204]
Trang 16Hai là, người kể chuyện có chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật, giúp người đọc hiểu rõ hơn, sâu hơn về nhân vật, hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ và đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về cuộc đời
Trong nhiều trường hợp, người kể chuyện còn tiến hành đối thoại, tranh luận với người đọc để cùng nhau kiếm tìm, khám phá chân lí cuộc sống
Ba là, người kể chuyện thay mặt nhà văn trình bày những quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật Mỗi nhà văn khi sáng tạo ra một tác phẩm văn chương đều mong muốn gửi gắm vào đó một quan điểm, một tư tưởng về cuộc sống,
về con người Tuy nhiên, các nhà văn không trình bày tư tưởng của mình bằng những lời phát biểu trực tiếp mà trình bày một cách nghệ thuật thông qua các hình tượng do mình hư cấu nên trong đó có hình tượng người
kể chuyện
Trong 150 thuật ngữ văn học, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cũng đưa
ra quan niệm của mình về người kể chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật
tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [7, tr.360] Theo quan điểm này, nhà lí luận một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến và giải thích của hình tượng này Đây là những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện người kể chuyện trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay
Có thể khẳng định, người kể chuyện đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tác phẩm tự sự Nó có chức năng tổ chức các nhân vật khác, tổ chức kết cấu tác phẩm, dẫn dắt, định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại, tranh luận của người đọc Ngoài ra, người kể chuyện còn là một điểm tựa để tác giả bộc
lộ những quan điểm của mình về cuộc sống, nghệ thuật Chính dựa trên chức
Trang 17năng này của người kể chuyện mà Tz.Todorov đã tuyên bố: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng… Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện” [dẫn theo 29, tr.196 – 197]
Với vai trò đặc biệt của người kể chuyện, việc xây dựng hình tượng người kể chuyện trong tác phẩm tự sự luôn được các nhà văn quan tâm, chú ý Lựa chọn hình thức người kể chuyện phù hợp sẽ góp phần quan trọng làm nên thành công của tác phẩm và khẳng định tài năng của nhà văn
1.3 Các hình thức người kể chuyện
Trong tác phẩm tự sự, việc xây dựng người kể chuyện cũng có nhiều hình thức khác nhau, từ đó tạo nên các kiểu người kể chuyện tương ứng Thông thường, hình thức người kể chuyện gắn liền với ngôi kể Người kể chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba
1.3.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất
Hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất xuất hiện muộn (ở châu Âu từ đầu thế kỉ XX) Đây là hình thức người kể là một nhân vật trong truyện, xưng
“tôi” chứng kiến các sự kiện đứng ra kể lại Trường hợp kể chuyện ngôi thứ nhất xưng “chúng tôi” (số nhiều) có xuất hiện, nhưng rất ít Ví dụ như các tác
phẩm: 26 người đàn ông và một cô gái của M Gorki hay Hoa hồng cho Emily của W Faulkner
Người kể chuyện ngôi thứ nhất là lời của nhân vật trong tác phẩm nên
nó lộ diện, có tên tuổi, tính cách, số phận cụ thể Trong hình thức này, người
kể chuyện có điều kiện tham dự vào cuộc đàm thoại, được nhận xét trực tiếp
về các sự kiện và các nhân vật, được nói tiếng nói riêng của mình Từ đó, bạn đọc nhận ra tính cá biệt hóa của người kể chuyện với các nhân vật trong truyện cả trên phương diện xã hội thẩm mĩ, góp phần tạo ra cái nhìn nghệ thuật cho tác phẩm
Trang 18Nói về người kể chuyện ngôi thứ nhất, nhà bác học Nga M Bakhtin đã từng khẳng định: “Trần thuật từ ngôi thứ nhất là tương tự với sự trần thuật của người kể chuyện Đôi khi, hình thức này do dụng ý dựa trên lời kể của kẻ khác quy định, đôi khi như lối kể của Tuôcghênhiep, nó có thể tiếp cận và cuối cùng
là hòa nhập với lời trực tiếp của tác giả, tức là hoạt động với lời một giọng của ngôi thứ hai” [28, tr 380]
Người kể chuyện ngôi thứ nhất cũng mang những ưu điểm và hạn chế nhất định Vì người kể ở đây là một nhân vật trong tác phẩm tham gia vào hầu hết các tình tiết, sự kiện trong tác phẩm nên câu chuyện được kể trở nên đáng tin cậy hơn so với việc câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba Không những thế,
vì là một nhân vật trong truyện đứng ra kể nên câu chuyện được kể mang tính chủ quan hơn và thông tin được kể trở nên thấm thía hơn Tuy nhiên, do nhân vật tham gia vào chuyện nên nó không thể mang cái nhìn bao quát như người
kể chuyện đứng ngoài mà biết đến đâu, kể đến đấy Do vậy, dung lượng hiện thực được phản ánh thường hạn chế
Dù vậy, số tác giả viết truyện sử dụng hình thức người kể chuyện này
vẫn giữ số lượng lớn Có thể kể đến Nam Cao với: Những cánh hoa tàn, Dì
Hảo, Lão Hạc, Cái mặt không chơi được, Những chuyện không muốn viết, Mua nhà…, Nguyễn Công Hoan với: Mánh khóe, Nhân tài, Tôi chủ báo, nó chủ báo…, Nguyễn Minh Châu với: Mảnh trăng cuối rừng, Bức tranh, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành…, Nguyễn Huy Thiệp với: Chảy
đi sông ơi, Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ, Tướng về hưu…
Trong đời sống hiện đại, do nhu cầu thể hiện và tự thể hiện cái tôi cá nhân nên hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất chiếm một vị trí quan trọng Bằng việc sử dụng hình thức kể mới này, các nhà văn từ thế kỉ XX đến nay đã cho ra đời nhiều sáng tác nghệ thuật có giá trị đóng góp vào tiến trình phát triển của văn học nhân loại
Trang 191.3.2 Người kể chuyện ngôi thứ hai
Người kể chuyện ngôi thứ hai là hình thức kể chuyện ít được sử dụng Trong tác phẩm, người kể chuyện ngôi thứ hai thường xưng “bạn”, “anh”,
“chị”, cũng mang cái tôi của người kể song nó tạo ra được một không gian gián cách, một cái tôi khác, một cái tôi được kể ra chứ không phải một cái tôi
tự kể như ngôi thứ nhất Bạn đọc sẽ bắt gặp hình thức người kể chuyện ngôi
thứ hai trong một số tác phẩm như: Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Không khóc
ở California của Nguyễn Huy Thiệp, Niềm vui sướng của Mạc Ngôn, Thay đổi của M Butor hay một số đoạn trong Chuyện của thiên tài của Nguyễn
thuyết Thay đổi, M Butor đã nói: “Nhất thiết là truyện phải được kể từ điểm
nhìn của một nhân vật Nhưng vì đây là việc băn khoăn chọn lựa phải theo bề nào, do đó không nên để nhân vật xưng “tôi” Tôi cần đến một độc thoại nội tâm dưới tầm ngôn từ của chính nhân vật, ở dạng trung gian giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Cái ngôi thứ hai ấy giúp tôi miêu tả được tình huống của nhân vật và cái cách ngôn từ nảy sinh ở anh ta”
Nếu ở các nhà văn khác, việc sử dụng người kể chuyện ngôi thứ hai rải
rác trong tác phẩm thì trong Thay đổi của M Butor trừ một vài đoạn hiếm hoi,
ông đã sử dụng phổ biến từ đầu đến cuối hình thức người kể chuyện này Như vậy, giống với người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba, hình thức người kể chuyện ngôi thứ hai cũng có khả năng đem
Trang 20đến cho tác phẩm những ý nghĩa riêng Người kể chuyện vẫn là hình tượng nghệ thuật có thể thay mặt tác giả thể hiện quan niệm, tư tưởng nghệ thuật về cuộc sống và con người
1.3.3 Người kể chuyện ngôi thứ ba
Cùng với hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất, người kể chuyện ngôi thứ ba là hình thức kể chuyện quen thuộc và phổ biến được các nhà văn
sử dụng khi viết các tác phẩm tự sự Tuy nhiên, nếu hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất mới chỉ xuất hiện khoảng hai thế kỉ trở lại đây thì hình thức người kể chuyện ngôi thứ ba là hình thức trần thuật đã ngự trị trong văn học từ thời cổ trung đại Hình thức kể này cho phép người kể có thể kể tất cả những gì họ biết Đây là hình thức người kể chuyện giấu mặt, đứng ở một vị trí nào đó trong không gian, thời gian bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra trọn vẹn và thuật lại với chúng ta Dù người kể chuyện không xuất hiện, ta không biết tên tuổi, hình hài, tư cách ra sao nhưng ngầm hiểu trước sau vẫn một người ấy
Tác giả Nguyễn Thái Hòa khi bàn về người kể chuyện ngôi thứ ba đã khẳng định: “Ở lối kể này, người kể đứng ở vị trí khách quan “giả vờ” không dính líu đến câu chuyện Nói cách khác, là giữ một khoảng cách giữa người
kể và nhân vật, cốt truyện để rộng đường hư cấu và đảm bảo tính khách quan của hiện thực, làm người thư kí của thời đại” [15, tr.54] Trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều tác phẩm có giá trị sâu sắc khi sử dụng hình thức
người kể chuyện ngôi thứ ba Có thể kể đến: Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt
đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Chí Phèo
của Nam Cao, …
Do người kể chuyện ở đây đứng ngoài câu chuyện nên hình thức kể ngôi thứ ba, nhất là ngôi thứ ba toàn thông có ưu điểm vượt trội là khả năng bao quát nghệ thuật rộng lớn, từ đó dung lượng hiện thực được phản ánh vào
Trang 21tác phẩm là rất lớn, câu chuyện nhờ đó cũng mang tính khách quan hơn Thái
độ khách quan cho phép người kể chuyện phát huy tối đa sự can thiệp của mình đối với thế giới hình tượng, những chi tiết, tình huống, diễn biến, hành động của nhân vật trong truyện kể được tái hiện lại thông qua vai trò định hướng toàn năng của người kể chuyện
Qua việc tìm hiểu các hình thức khác nhau của người kể chuyện, chúng
ta thấy mỗi hình thức kể đều có những ưu điểm riêng, không nên tuyệt đối hóa hình thức nào mà nên biết tận dụng ưu thế của từng loại trong quá trình sáng tác và tìm hiểu tác phẩm
Như vậy, nếu phân chia các hình thức người kể chuyện gắn với ngôi kể
sẽ có ba hình thức như trên Trong đó, hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba là phổ biến hơn cả Với các hình thức người kể chuyện này, ở mỗi nhà văn khi sử dụng lại có sự sáng tạo và đổi mới, đặc biệt là các nhà văn hiện đại, làm cho hình thức kể trong tác phẩm tự sự trở nên ngày một phong phú và hấp dẫn
1.4 Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả
Trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả Có nhà nghiên cứu tách biệt người kể chuyện với tác giả, có nhà nghiên cứu lại đồng nhất hai khái niệm này Tuy nhiên, việc đồng nhất hay tách biệt hoàn toàn hai yếu tố này sẽ đều là không thỏa đáng Khảo sát thực tế ở các tác phẩm tự sự, chúng tôi nhận thấy giữa người kể chuyện và tác giả có nhiều điểm thống nhất nhưng không hoàn toàn đồng nhất
Như đã nhắc tới ở trên, người kể chuyện là người do tác giả sáng tạo ra
để thực hiện hành vi kể, xây dựng kết cấu tác phẩm, bày tỏ quan điểm, tư tưởng nghệ thuật của tác giả về cuộc sống cũng như con người Do đó, người kể chuyện ít nhiều sẽ mang dấu ấn tác giả M Bakhtin từng nói: “Ta đoán định âm
Trang 22sắc tác giả qua đối tượng câu chuyện kể cũng như qua chính câu chuyện và hình tượng người kể chuyện bộc lộ trong quá trình kể” [dẫn theo 29, tr.199] Mọi nội dung tư tưởng, ý đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra nhưng anh ta không trực tiếp đứng ra kể lại mà sáng tạo ra một người kể chuyện để thay mình làm việc đó
Tuy nhiên, không nên đồng nhất tác giả với người kể chuyện Tác giả không bao giờ hiện diện trong truyện kể như một người kể, người phát ngôn
mà chỉ xuất hiện như một tác giả hàm ẩn, một cái tôi thứ hai của nhà văn với
tư cách là người ghi chép hay nghe trộm người kể Người kể chuyện là kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể Và sản phẩm của hành vi trần thuật đó là văn bản tự sự
Thêm vào đó, thái độ của người kể chuyện đối với thế giới câu chuyện được kể có thể phần nào trùng với quan điểm của tác giả, nhưng không bao giờ trùng khít hoàn toàn Thứ nhất là bởi quan điểm tác giả bao giờ cũng rộng hơn, nó không thể được thể hiện một cách toàn diện qua bất kỳ một chủ thể lời nói riêng biệt nào trong tác phẩm
Ngay cả trong những tác phẩm có tính tự truyện thì giữa người kể chuyện và tác giả vẫn có những nét khác nhau Mặc dù trong tác phẩm tự truyện, tác giả thường viết về mình, lấy cuộc đời mình làm đối tượng phản ánh song rõ ràng, thế giới tồn tại của người kể chuyện và tác giả là khác nhau: khác nhau về thời gian, không gian và cả tư tưởng, cảm xúc
Thứ hai là bởi vì ngoài phần thái độ chủ quan được thừa hưởng của tác giả, người kể chuyện mang trong mình cả một phần nội dung khách quan của thế giới được phản ánh vào tác phẩm Bất cứ người kể chuyện nào về nguyên tắc là một “cái tôi – được sáng tạo nên”, là sự thống nhất thuộc về tác giả với cái thế giới khách quan ngoài tác giả để tạo nên cái “chúng ta” chung
Trang 23Người kể chuyện chịu sự chi phối của tác giả, là sản phẩm do tác giả sáng tạo ra nhưng vẫn có cuộc sống tương đối độc lập trong cấu trúc tác phẩm
và đôi khi vượt khỏi mong muốn và ý định của người cầm bút Nói như Bakhtin: “Người ta không thể bịa đặt ra hình tượng nghệ thuật dù nó như thế nào bởi vì bản thân nó có logic nghệ thuật, có quy luật riêng của nó” [8, tr.56] Như vậy, giữa người kể chuyện và tác giả có mối quan hệ gắn bó mật thiết, quy định lẫn nhau nhưng vẫn có những nét đặc thù, riêng biệt Hiểu được mối quan hệ này sẽ giúp chúng ta thuận lợi hơn trong việc đi sâu tìm hiểu tác phẩm, phát hiện được những giá trị nghệ thuật mà tác giả gửi gắm qua lời người kể chuyện, từ đó khẳng định thành công của tác phẩm và tài năng của tác giả
Khái niệm người kể chuyện là cơ sở, yêu cầu để nghiên cứu các hiện tượng văn học, cụ thể nhất là Tạ Duy Anh Những vấn đề lí thuyết về người
kể chuyện trên đây là cơ sở quan trọng để tác giả khóa luận đi sâu triển khai
đề tài ở chương 2 Cho dù không phải tất cả các lí thuyết này đều được ứng dụng vào việc tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh song
đó sẽ là phần cơ sở lí luận quan trọng giúp tác giả khóa luận có cái nhìn khái quát và đúng đắn về người kể chuyện và chỉ ra điểm độc đáo của người kể chuyện trong tiểu thuyết của ông một cách dễ dàng và thuận lợi hơn
Trang 24Chương 2
SỰ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH
2.1 Ngôi kể của người kể chuyện
Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng khi kể chuyện Người
kể chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba Hình thức ngôi kể
mà tác giả lựa chọn cho người kể chuyện sẽ quyết định đến việc câu chuyện được kể lại như thế nào
Trong ba tiểu thuyết: Lão Khổ, Thiên thần sám hối và Giã biệt bóng tối
của Tạ Duy Anh, chúng tôi thấy xuất hiện hai hình thức người kể chuyện đó
là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và người kể chuyện ở ngôi thứ ba
2.1.1 Người kể chuyện ngôi thứ ba
Trong Lão Khổ, có thể thấy hình thức kể chuyện ngôi thứ ba là hình
thức đóng vai trò chủ đạo, xuyên suốt tác phẩm Chủ thể kể chuyện ở đây đứng ngoài chuyện, bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra trọn vẹn và thuật lại với chúng ta
Người kể chuyện ngôi thứ ba trong Lão Khổ đã dẫn dắt người đọc đến
làng Đồng và nghe câu chuyện về số phận chìm nổi của người nông dân tên là
Tạ Khổ trong những biến động dữ dội của lịch sử Lão Khổ trong tác phẩm đã
đi gần hết kiếp người với biết bao thăng trầm, sóng gió, có lúc lên đến vinh quang nhưng cũng không ít lần rơi xuống vực thẳm: “Đời ông Khổ là một bằng chứng cho sự long đong của kiếp người” [2, tr.24], “Lão Khổ lừng danh một thời, ba đào một thời, lụn bại một thời” [2, tr.16] Từ một anh chàng chăn vịt, lão phất lên sau một đêm dẫn đầu toán người vùng lên nắm chính quyền Rồi khi đang thăng hoa trong những năm được nắm giữ chính quyền thì cải cách ruộng đất, lão bị đưa ra truy tố, thành một tên Quốc dân đảng Sau tám
Trang 25tháng cùm chuồng trâu, lão được khôi phục danh hiệu chiến sĩ cách mạng, được đưa lên đến đỉnh cao khi trở thành chủ tịch xã Trong thời gian đó, lão
ôm mộng xây dựng mô hình cuộc sống mới dẫn cộng đồng của lão tới thiên đường để rồi cuối cùng bị quẳng xuống dưới đáy, cuối đời lại thành một kẻ
“mất hết khả năng làm công dân” và phải ra tòa
Bên cạnh việc tái hiện lại cuộc đời đầy bi kịch của một người nông dân phải trải qua hầu hết những biến động lớn của lịch sử Việt Nam thế kỉ XX, Tạ Duy Anh còn đề cập đến vấn đề “nhận thức lại” thường xuất hiện trong văn học sau 1975 Nếu như trong văn học cách mạng, các tác giả cho ta niềm tin chắc chắn vào những điều tốt đẹp, vinh quang khi đi theo ánh sáng của Đảng
thì trong một số tác phẩm sau 1975, trong đó có Lão Khổ, người đọc nhận
thấy hiện thực đôi khi không hoàn toàn như thế Dõi theo cuộc đời trầm luân của lão Khổ, ta nhận ra bộ mặt của lịch sử và con người trong những năm Cải cách ruộng đất Đó là giai đoạn giao thoa giữa hai thể chế cũ và mới mà lão Khổ là người bị kẹt giữa hai thời đại
Với hình thức người kể chuyện đứng ngoài để bao quát toàn bộ câu
chuyện, Lão Khổ là cái nhìn cao hơn lịch sử để đánh giá, phán xét lịch sử, chỉ
ra tính chất “đong đưa” (chữ của Tạ Duy Anh) của nó Trong vòng quay xô dạt của lịch sử, con người chỉ như một con rối, một vật thử nghiệm Khi ấy, con người dường như không có khả năng tạo ra lịch sử Từ đó, nhà văn rút ra bài học: “Bản thân lịch sử là vô ý, vô cảm và chẳng có giá trị gì với chính nó
Nó chỉ có giá trị với tương lai ở khía cạnh kinh nghiệm và những bài học Những bài học lịch sử, đặc biệt là những bài học rút ra từ thảm họa, cần phải được nhắc đi nhắc lại (…) vì lịch sử luôn có nguy cơ lặp lại Một xã hội nhân văn, biết đề cao phẩm giá luôn phải tạo điều kiện để các công dân của mình tiếp cận với mọi sự thật lịch sử (…) và không ngừng truy tìm tận gốc rễ căn nguyên của từng sự kiện chắc chắc sẽ ảnh hưởng đến họ” [dẫn theo 1, tr.144]
Trang 26Trong tiểu thuyết Lão Khổ, người kể chuyện ở ngôi thứ ba là hình thức
chủ đạo, nhưng bên cạnh đó, chúng tôi còn thấy sự xuất hiện của hình thức kể chuyện theo ngôi thứ nhất ở đầu và cuối tác phẩm Người kể chuyện luôn ý thức được câu chuyện mình kể bằng những lời ngoại đề: “Đến đây chúng tôi cần thấy phải dừng lại để ngó sang những chuyện khác cũng rất quan trọng, liên quan mật thiết với lão Khổ” [2, tr.14], “Bây giờ, để cho nhẹ óc, ta sang những chuyện ngoài rìa Đức Thánh nhân chẳng từng bảo: “Ngôi nhà chỉ giá trị
ở cái phần không có gì đó sao?” [2, tr.17]; hoặc vừa kể vừa phản tỉnh: “Có thể
ai đó khổ tai mà mắng rằng: “Thật phí giấy chép chuyện một kẻ vô danh tiểu tốt Thiên hạ đã hết anh hùng rồi ư?” [2, tr.17]
Cuối tác phẩm, người kể chuyện ngôi thứ nhất lại xuất hiện trong lời chúc tái sinh “màn chót” như người giới thiệu đóng vai trò mở đầu và khép lại một vở kịch cổ điển: “Tôi - người chép lại câu chuyện này hoàn toàn không để kiếm chác chút danh vọng nào (…) Bạn đọc hẳn đã mệt nhoài theo dõi câu chuyện của tôi” [2, tr.202]
Sự xuất hiện của tác giả với tư cách là người dẫn chuyện, xưng “tôi” đứng ra thuyết minh, thức tỉnh, gây hiệu quả gián cách và dẫn dụ bạn đọc, khiến người đọc tin tưởng hơn vào câu chuyện được kể
2.1.2 Người kể chuyện ngôi thứ nhất
Có thể thấy, Tạ Duy Anh khá ưa chuộng hình thức kể chuyện ngôi thứ
nhất số ít, kể cả trong truyện ngắn lẫn tiểu thuyết Thiên thần sám hối nằm
trong số những tiểu thuyết sử dụng hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất của nhà văn Ở đây, tác giả đã trao quyền kể chuyện cho nhân vật hài nhi trong bụng mẹ, còn 72 giờ nữa là chào đời Để cho nhân vật đó kể chuyện, Tạ Duy Anh đã tạo ra một điểm nhìn dị biệt
Người kể chuyện chính là nhân vật trung tâm trong tác phẩm, xưng tôi, trực tiếp nghe thấy mọi chuyện đang diễn ra xung quanh: “Còn bảy mươi hai
Trang 27giờ nữa tôi mới hết giai đoạn bào thai” và “tại đó tôi không chỉ nghe mọi chuyện mà còn hiểu được toàn bộ những ý nghĩ của mẹ tôi” [1, tr.7]
Lựa chọn người kể chuyện là “bào thai” – một thiên thần còn chưa xuất hiện trên cõi đời, trong sáng, ngây thơ, từ đó, Tạ Duy Anh đã làm nổi bật sự đối lập giữa cái thế giới bên ngoài xô bồ, đầy bất trắc với nơi trú ngụ “êm ấm, sạch sẽ, an toàn” của “thiên thần nhỏ”
Câu chuyện bắt đầu khi tôi định “lấy đà” để ra ngoài thì đúng lúc ấy,
“bà hộ lý xuất hiện” và thông qua cuộc đối thoại với bà hộ lý, “bào thai” bắt đầu tiếp cận với những sự thật lạnh lùng đang diễn ra xung quanh, và từ đó,
“bào thai” tự nhủ “Ái chà, xem ra cái cuộc đời ngoài kia cũng bất trắc và nguy hiểm lắm nhỉ” và quyết định “dại gì mà chui đầu vào rọ khi mình có toàn quyền quyết định” [1, tr.11]
Nhân vật hài nhi tự kể những câu chuyện mà mình nghe được trong bệnh viện theo trật từ tuyến tính Trong đó, có thể nhận thấy có tám câu chuyện lớn: Câu chuyện thứ nhất, kể về một bà bị “thằng chó họ Sở nó lừa” Vì đang ngấp nghé chân thủ trưởng, gã đàn ông Sở Khanh đó quyết định không nhận đứa bé mà người phụ nữ mang trong bụng Còn người phụ nữ cũng tàn nhẫn coi đứa con như “cục đá”, như “cái nghiệp chướng” và “giá nó chết ngạt
đi thì càng mừng” Cuối cùng, người đàn bà sau khi sinh đã trốn khỏi viện, bỏ rơi đứa con
Câu chuyện thứ hai kể về chuyện cô gái bị sẩy thai liên tục vì quả báo
do chồng gây nên Ở đây, tác giả đã chuyển điểm nhìn, trao quyền kể chuyện cho nhân vật sản phụ để cho ta thấy môtip “tội ác và trừng phạt” thường xuất hiện trong các tác phẩm của Tạ Duy Anh Xen vào câu chuyện người sản phụ
có thai chết lưu ấy là chuyện ăn đút ở bệnh viện được bào thai kể lại bằng con mắt ngây thơ, hồn nhiên
Trang 28Câu chuyện thứ ba kể về một gã thanh niên coi đứa con sinh ra là tội
nợ Cùng với đó là cái chết của cô sinh viên bị người yêu lừa đã giết đứa con còn trong bụng của mình
Câu chuyện thứ tư là chuyện bà Phước cùng lúc chung đụng với bốn người đàn ông, kết quả là bà sinh ra bốn cái bọc dính vào nhau và đồng ý cho ngâm cồn bốn đứa con chưa thành người để lấy bốn triệu đồng Tiếp đó là sự sám hối của mẹ vì đã từng từ chối đứa con trong bụng mình
Câu chuyện thứ năm là chuyện cô nhà báo Bằng Giang không sinh được con sau lần chối bỏ đứa con đầu tiên không rõ bố nó là ai
Câu chuyện thứ sáu: Một người mẹ đến cầu xin mẹ của bào thai giúp cho con trai của bà được giảm án, sau đó là câu chuyện đứa con giết cha (vì
nó sinh ra do một vụ cưỡng hiếp) bị kết án tử hình
Câu chuyện thứ bảy: Câu chuyện về thiên thần xuất hiện trong giấc mơ của mẹ và thông điệp mà thiên thần mang đến: “Sự sống là đức hạnh mỗi người sẽ đem theo khi trở về” Cùng với đó là sự thống hối, niềm tin và tình yêu của người mẹ
Câu chuyện thứ tám: Sau nhiều giờ trì hoãn, cuối cùng ngày 26/06/1996, bào thai quyết định ra đời
Thông qua tiếng nói của nhân vật hài nhi – hiện thân cho cái đẹp nguyên khởi, thuần khiết, Tạ Duy Anh đã phô bày trên trang viết của mình hiện thực xã hội khủng khiếp, xấu xa, tàn khốc, đáng kinh sợ với bao cái chết của những đứa trẻ chưa được làm người, những thói vật dục, tội ác, cả những
sự ích kỉ, vô trách nhiệm của những người làm cha, làm mẹ Đời sống vật chất lên ngôi làm đảo lộn mọi giá trị chuẩn mực Đạo đức xuống cấp trầm trọng và con người chạy theo lối sống vụ lợi, ích kỉ Tác phẩm là nỗi đau đớn trước tình trạng băng hoại về nhân tính của con người, đồng thời, nó là sự đánh thức lương tâm cho mỗi người, giúp mỗi người nhìn lại chính mình, tránh xa những tội ác và biết nuôi dưỡng niềm hi vọng vào cuộc sống
Trang 292.1.3 Sự xen cài, luân chuyển giữa các ngôi kể
Sự đan xen và dịch chuyển liên tục người kể chuyện cũng là một cách thức tạo nên tính phức điệu của phương thức trần thuật Theo đó, văn bản nghệ thuật trở thành một cấu trúc đa tầng có khả năng phá vỡ tính đơn âm và vang lên nhiều tiếng nói khác nhau
Tạ Duy Anh là nhà văn luôn có ý thức làm mới nghệ thuật trần thuật
Trong Giã biệt bóng tối chúng ta bị ấn tượng bởi sự tổ chức điểm nhìn theo
lối “kính vạn hoa” của nhà văn Nghĩa là tác phẩm không đi theo một tuyến
mà có nhiều tuyến và đặc biệt là sự thay đổi vai kể, ngôi kể, người kể chuyện
Câu chuyện trong Giã biệt bóng tối xoay quanh số phận bi thảm của
thằng bé mồ côi tên Thượng Nó phải lang thang khắp nơi kiếm ăn qua ngày Sau bao lần bị dòng đời xô dạt nay đây mai đó, thằng bé trôi đến cái miếu thành hoàng bỏ hoang của làng Thổ Ô Ở đó, trong một lần ốm nặng, mê man bất tỉnh, nó gặp nhân vật “tao” - “kẻ ẩn mình trong bóng tối” vốn là hồn ma của một lão ăn mày, đã từng được giao làm chủ tịch xã trong cải cách ruộng đất, giết người như ngóe, rồi lại thành thân tàn ma dại ngay sau ngày các ông Đội rút khỏi làng Lang thang khắp nơi kiếm cơm thừa canh cặn cho đến ngày lão bị “bó trong một cái chăn đầy rận, nhét đại xuống cái hố bảo là huyệt cho sang” Chết mà trong lòng đầy thù hận Lão gặp thằng Thượng và gạ gẫm thằng bé kí một “hợp đồng ma quỷ”: “nếu muốn tao sẽ cho mày một điều ước:
hễ kẻ nào hại mày, lập tức nó bị chết bất đắc kì tử” [3, tr.79] Thế là từ đó cứ mỗi khi thằng Thượng giận kẻ nào đè nén, ức hiếp mình, dù chỉ là ý nghĩ oán hận trong đầu, lập tức kẻ đó chết một cách bất đắc kì tử Mà thằng Thượng thì
có rất nhiều kẻ đè nén ức hiếp Và thế là hàng loạt cái chết kì lạ liên tiếp xảy
ra với dân làng Thổ Ô, từ lão Tung, anh San, ông Thìn, mụ Hường béo, ông Phụng, lão Định mắm…
Trang 30Cho đến lần gặp cô giáo dạy lớp Một, mặc dù rất yêu mến cô, nhưng chỉ vì muốn thử quyền năng của lão già – bóng tối, vô tình thằng Thượng đã làm hại cô giáo Từ đó thằng bé vô cùng ân hận, nó quyết tâm từ bỏ cái “hợp đồng” ma quỷ với lão già - bóng tối Một trận chiến đấu thầm lặng giữa một bên là lão già, quyền năng của bóng tối và một bên là thằng Thượng - bé nhỏ, mong manh, côi cút giữa đời Thằng bé quyết định chống lại lão bằng cách không hề hé răng than thở hoặc chỉ thoáng một ý nghĩ nguyền rủa anh chàng Bính, mặc dù người này tự nhiên điên khùng, tra tấn, chửi rủa và đánh đập thằng Thượng một cách man rợ Lòng kiên trì, sự nhẫn nhục của thằng bé được thử thách đến tận cùng trước lão già - bóng tối luôn thường trực đeo bám, cổ vũ cho cái ác Cuối cùng thằng bé đã chiến thắng
Cốt truyện Giã biệt bóng tối chỉ có thế, tuy nhiên ai đọc tác phẩm cũng
thấy mình như bị lạc vào một “mê cung” Tất cả đều lộn tùng phèo, nhàu nát, gấp khúc, vỡ gãy Cảm giác ấy trước hết là do cách kể, cách sắp xếp, dàn dựng khá công phu của tác giả Mạch chính của truyện không liền và gọn như tóm tắt ở trên, nó bị cắt khúc, xé ra làm nhiều mục, đoạn, bằng các chuyện kể của nhiều nhân vật, người, ma, lẫn lộn, đan xen, “chen ngang”, “loạn khẩu” rất nhiều thông qua sự đan xen, luân chuyển giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Ngôi thứ nhất trong cuốn tiểu thuyết này biến hoá khôn lường, theo nguyên tắc một nhân vật ngôi thứ ba như là đối tượng được kể ở chương trước có thể biến thành ngôi thứ nhất đảm nhận vai trò người kể của chương sau Tùy theo người kể mà ngôi thứ nhất xưng tôi, xưng tao, hay xưng tớ Xen
kẽ là phần kể của người dẫn truyện Và nhà văn đã công khai thông báo kĩ
thuật xử lí ngôi kể qua các tiêu đề chương truyện: Lời người dẫn truyện;
Nhân vật xưng tôi: thằng bé; Nhân vật xưng tao: kẻ ẩn mình trong bóng tối; Nhân vật phụ thứ nhất: gã đào mỏ, xưng tớ cho thân tình và dễ phân biệt…
Trang 31Trong Giã biệt bóng tối, người kể chuyện ngôi thứ nhất chiếm tỉ lệ lớn
trên các trang viết Ở đây, dường như Tạ Duy Anh không tạo nên sự khác biệt giữa người kể chuyện là nhân vật chính hoặc nhân vật phụ mà chuyển tất cả
về ngôi thứ nhất Cách sử dụng ngôi thứ nhất tạo nên sự bình đẳng giữa các nhân vật, các nhân vật đều có quyền phát ngôn, đưa ra cái nhìn của cá nhân mình, tạo cho tác phẩm tính đa thanh, đa giọng, tầm khái quát hiện thực từ đó cũng được nâng cao
Lời kể ở ngôi thứ ba chiếm một tỉ lệ rất ít trong tác phẩm (các trang từ
89 đến 98, từ 100 đến 125, từ 213 đến 223, tổng cộng là 45 trang, chiếm 16,4%) tuy nhiên việc xuất hiện của ngôi kể này tạo nên sự xen cài, luân chuyển giữa các ngôi kể, khiến cho câu chuyện trở nên chân thực và đầy hấp dẫn
Ví dụ:
Trang 89 - 98 Ngôi thứ ba Kể lại các sự kiện xung quanh cái chết
của lão Tung, anh San
Trang 99 Ngôi thứ nhất Lời của nhân vật quỷ ẩn mình trong
bóng tối, xưng tao
Trang 100 – 125 Ngôi thứ ba
Kể về nguyên nhân cái chết của những người xấu số còn lại (lão Thìn, mụ Hường, lão Phụng, lão Định mắm)
Trang 125 - 136 Ngôi thứ nhất
Cuộc tranh luận giữa nhân vật quỷ xưng
“tao” và nhân vật thằng bé xưng “tôi”
Trang 32Trang 223 – 240
Trích tự truyện
của một cave
Ngôi thứ nhất Cô cave tự kể về cuộc đời mình từ khi
còn nhỏ cho đến hiện tại – bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm
Sự luân phiên thay đổi giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba cùng với sự gia tăng điểm nhìn tạo nên sự đa dạng trong cách kể và làm tăng tính khách quan của câu chuyện Hiện thực được nói tới trở nên phong phú, nhiều góc
cạnh hơn bao giờ hết Trong Giã biệt bóng tối, chúng ta thấy xuất hiện hình
thức kể trong đó nhiều người cùng kể một chuyện Cách kể đó khiến cho các
sự kiện được nhìn nhận trên nhiều mặt khác nhau, qua những điểm nhìn khác nhau của nhiều người kể chuyện Dường như tác giả muốn nói to với mọi người rằng, cái chuyện làng Thổ Ô ấy không phải chỉ mình tôi biết mà nhiều người, nhiều việc vẫn còn đấy, nhân chứng đây này, có cả người đã chết, có người còn sống, chính họ lên tiếng, chính họ kể về “câu chuyện xảy ra giữa hai thế kỉ” ấy
Có thể nói, phương thức kể chuyện đan xen giữa các ngôi kể sẽ tạo ra nhiều góc khuất khác nhau làm cho đối tượng miêu tả trở nên đa chiều Và có bao nhiêu người kể chuyện là có bấy nhiêu sự việc cảm nhận Đó là tư duy nghệ thuật mới mẻ của Tạ Duy Anh khi phối hợp đan xen cách kể chuyện này Qua câu chuyện trong tác phẩm, Tạ Duy Anh đã không ngần ngại phơi bày trên trang giấy những khía cạnh bi đát nhất, bát nháo nhất của hiện thực
xã hội Việt Nam hiện đại Đó là xã hội đã tha hóa đến tận gốc rễ, không trừ
Trang 33một con người nào, một đẳng cấp, nghề nghiệp nào Đồng thời với sự phơi bày cái ác, nhà văn cảnh tỉnh con người đang đứng trước nguy cơ bị cạn kiệt tình yêu thương, bị tha hóa, bị nghiền nát Bóng tối quánh đặc như bao bọc và chiếm lĩnh mọi ngõ ngách của thiên truyện Bóng tối như dồn các nhân vật vào đường cùng không lối thoát Nhưng rồi bạn đọc cũng thở phào nhẹ nhõm khi đọc những trang cuối của cuốn sách Cuối cùng ánh sáng vẫn chiến thắng bóng tối - chiến thắng bằng lòng tha thứ và đức khoan dung
2.2 Điểm nhìn của người kể chuyện
Vấn đề điểm nhìn trong tiểu thuyết được nhà văn Anna Barbauld nêu từ đầu thế kỉ XIX Đến cuối thế kỉ XIX, vấn đề được Herry James và F.Schlegel trình bày cụ thể hơn Kể từ đó, vấn đề điểm nhìn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm chú ý
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, điểm nhìn là vị trí từ đó người trần
thuật nhìn ra và miêu tả sự việc trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật [14, tr.113]
Pospelov khẳng định vai trò quan trọng của điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự: “Trong tác phẩm tự sự, điều quan trọng là tương quan giữa các nhân vật với chủ thể trần thuật, hay, nói cách khác, điểm nhìn của người trần thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [dẫn theo 6]
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử coi điểm nhìn như một chiếc camera dẫn dắt người cầm bút khám phá hiện thực và đưa người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm Điểm nhìn nghệ thuật sẽ cung cấp một phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặc điểm phong cách ở trong đó
Trang 34Tựu trung lại có thể hiểu điểm nhìn là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả Nó là
vị trí dùng để quan sát, cảm nhận, đánh giá
Có nhiều loại điểm nhìn tồn tại trong tác phẩm văn học: Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trữ tình và của nhân vật; điểm nhìn không gian, thời gian; điểm nhìn bên trong, bên ngoài; điểm nhìn đánh giá tư tưởng cảm xúc; điểm nhìn ngôn từ, quán ngữ
Điểm nhìn trần thuật gắn bó mật thiết với ngôi kể, nhưng rộng hơn ngôi
kể Tiểu thuyết của Tạ Duy Anh được kể theo ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, do đó tạo thành hai điểm nhìn chính là điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài
2.2.1 Điểm nhìn bên trong
Điểm nhìn bên trong là kể xuyên qua cảm nhận của nhân vật Nó được biểu hiện bằng hình thức tự quan sát của nhân vật “tôi”, bằng tự thú nhận hoặc bằng hình thức người trần thuật tựa vào giác quan, tâm hồn nhân vật để biểu hiện cảm nhận về thế giới
Mặc dù Lão Khổ được viết dưới hình thức kể chuyện theo ngôi thứ ba,
người kể chuyện đứng ngoài chuyện song thuật lại câu chuyện không bằng cái nhìn khách quan, lạnh lùng mà như hóa thân vào nhân vật để nhìn nhận, đánh giá các hiện tượng đời sống đang diễn ra
Phải nhìn cuộc sống thông qua cái nhìn của nhân vật bằng điểm nhìn bên trong, người kể chuyện mới có thể diễn tả rõ nét cảm xúc, tâm trạng day dứt, đau đớn trong tâm hồn lão Khổ như: “Đời đáng ngán thật Ví thử ngọn đèn kia nổ tung cho đêm tối ập xuống Đằng này chiếc điếu bát bỗng dưng hôm nay cứ nổ tanh tách, kéo hơi nào say tít hơi ấy Mà khi say thuốc lào, sướng tê đi, ai dở hơi lại nghĩ đến chuyện chết? A! Cái chí “dọc ngang” của lão đã tàn lụi rồi ư? Còn nhan nhản bọn cóc nhái ở cái làng này, chỉ chờ lão
đổ là nhảy lên bàn thờ Dù sao có lão lũ ấy cũng phải gờm! “Trạng chết chúa
Trang 35băng hà” lão phải làm một cái gì kinh thiên động địa rồi chết mới mát gan mát ruột” [2, tr.12]; hay: “Đấy là lúc lão nghĩ đến đứa con tinh quái của lão Những lời nó nói, ức muốn vỡ tim mà chết, nhưng rốt cuộc lão đều thấy hiển nhiên Hóa ra kiếp người không là chó gì” [2, tr.138]
Có lúc, người kể chuyện hiểu thấu tâm trạng của Tư Vọc trên đường trở
về làng Đồng: “Cuộc đời kỳ thú thật Cuộc đời hay tiểu thuyết Sự gặp gỡ giữa ông và anh chàng vô danh tiểu tốt này, phải chăng là sự giàn xếp của số phận? Mà sao anh ta ngủ dễ thế? Cái kiểu ngủ kia chỉ có được ở những người thanh thản, an nhiên trước mọi biến đổi của thời cuộc Sao cái đất này người
ta sống khổ thế, đến giấc ngủ cũng quá ư đơn giản” [2, tr.25] hay những suy nghĩ thầm kín đầy nhục cảm của bà Ba: “Chỉ phải cái bà hay buồn quá, hay buồn quá! Tâm hồn bà cũng phiêu diêu theo những đám mây ngũ sắc lúc chiều xuống Và hình ảnh anh cận vệ - trời ơi – cứ ám ảnh bà như hiện thân của số kiếp tai ngược Ôi anh Tư! Làm sao anh đẹp thế? Ví thử được ngủ với anh một lần, được chết lịm trong tay anh một lần… cô gái nào lại không nhớ suốt đời” [2, tr.109]
Với điểm nhìn bên trong, tâm lí và những suy nghĩ của nhân vật được bộc lộ chân thực và hết sức tự nhiên Người kể chuyện không chỉ tái hiện lại các sự kiện diễn ra trong cuộc đời nhân vật mà còn tập trung đi sâu vào thế giới nội tâm của họ, qua đó nhân vật hiện ra có chiều sâu, đó là những con người luôn luôn trăn trở, suy tư trước cuộc đời, luôn tự nhận thức về mình
Khác với Lão Khổ, trong Thiên thần sám hối, câu chuyện chủ yếu được
kể theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện đồng thời là một nhân vật trong tác phẩm Lựa chọn điểm nhìn dị biệt, đó là điểm nhìn của một hài nhi trong bụng
mẹ, từ đó, hiện thực hiện ra đầy tàn nhẫn, nghiệt ngã, vượt quá sức tưởng tượng của con người
Trang 36Thoạt đầu hài nhi “khao khát chờ đến cái ngày vĩ đại ấy” – ngày cậu được chào đời Nhưng trong khoảng thời gian chỉ còn 72 giờ nữa đó, cậu lại
“ngẫm nghĩ về những điều lạ lùng nói ra từ miệng người đàn bà có giọng khàn khàn Có quá nhiều điều không thể nào hiểu nổi (…) Ái chà! Xem ra cái cuộc đời ngoài kia cũng bất trắc và nguy hiểm lắm nhỉ?” [1, tr.10 - 11] Cứ thế, toàn bộ câu chuyện được kể từ điểm nhìn bên trong của hài nhi và người đọc có dịp chứng kiến sự tha hóa đáng sợ của con người qua những câu chuyện nghe được
Đó là câu chuyện về những người đàn ông đầy dục vọng song lại đểu giả,
vô trách nhiệm, những người đàn bà do chung đụng với nhiều người cùng một lúc mà không biết đứa bé mình đang mang trong bụng là của ai Chính sự vụ lợi, thói thực dụng, vật dục, sự ích kỉ, vô trách nhiệm, độc ác của người lớn chính là nguyên nhân dẫn đến bao cái chết của những đứa trẻ chưa được thành người Bào thai kinh sợ hiện thực quá tàn khốc, nấn ná không muốn chào đời, phân vân giữa việc trở thành người hay quay về làm thiên thần vĩnh viễn Ở trong bụng mẹ, hài nhi “lắng nghe” thế giới, phán xét mảnh đất mà nó sẽ sống, nó làm phép thử cho những bậc sinh thành, xem họ có xứng đáng với tên gọi là “cha”, “mẹ” hay không Nó trăn trở với câu hỏi lớn: Cuộc sống có đáng sống hay không? Để rồi, “khi chỉ còn ba tiếng đồng hồ nữa là hạn chót
mà tự tôi phải đưa ra quyết định có nên làm người hay quay trở về nơi từ đó tôi đến” [1, tr.121], hài nhi nghe thấy lời thiên thần vang vọng, nghe thấy lời
mẹ gọi trong “sự ăn năn và hi vọng lớn lao”; “cuộc sống là ân sủng lớn nhất”
mà nó quyết định chào đời: “Tôi cần phải đến, thay vì bỏ đi” [1, tr.131] Hài nhi quyết định đến với cuộc đời như chấp nhận một cuộc thách đấu với cái ác, cái xấu
Thông qua điểm nhìn bên trong nhân vật bào thai, hiện thực hiện ra vô cùng chân thực, chân thực đến khốc liệt Tính hiệu quả của việc lựa chọn