Hai công trình này các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đề ra một vài phương pháp, ý kiến chung khi giảng dạy về biện pháp tu từ tiếng Việt trong trường phổ thông, những phương pháp đó c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới cô Dương Thị Mỹ Hằng, người đã hướng dẫn tận tình và thường xuyên động viên em trong quá trình hoàn thành đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Do thời gian và khuôn khổ cho phép của đề tài còn nhiều hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và tiếp tục xây dựng đề tài của quý thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Vũ Thị Thanh Hòa
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và có sự hướng dẫn tận tình của cô Dương Thị Mỹ Hằng
Khóa luận với đề tài: “Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một
số biện pháp tu từ cho học sinh THPT” Khóa luận chưa từng được công bố
trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm
Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm2013
Sinh viên
Vũ Thị Thanh Hòa
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Dự kiến đóng góp của khóa luận 7
9 Kết cấu của khóa luận 7
PHẦN II NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Kĩ năng và sự hình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập 9
1.1.1.1 Quan niệm về kĩ năng, kĩ xảo 9
1.1.1.2 Quan niệm về hệ thống bài tập 10
1.1.1.3 Sự hình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập 11
1.1.2 Một số biện pháp tu từ 12
1.1.2.1 Một số biện pháp tu từ ngữ âm 12
1.1.2.2 Một số biện pháp tu từ từ vựng 13
1.1.2.3 Một số biện pháp tu từ cú pháp 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Khảo sát về nội dung dạy học một số biện pháp tu từ trong SGK Ngữ văn THPT 20
1.2.2 Thực trạng dạy học của giáo viên 21
1.2.3 Thực trạng học tập của học sinh 22
Trang 41.2.4 Đánh giá chung về thực trạng 23
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ CHO HỌC SINH THPT 25
2.1 Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập 25
2.1.1 Nguyên tắc khoa học 25
2.1.2 Nguyên tắc hệ thống và phát triển 26
2.1.3 Nguyên tắc vừa sức 27
2.1.4 Nguyên tắc tích hợp 28
2.2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT 30
2.2.1 Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập 30
2.2.2 Hệ thống bài tập 32
2.2.2.1 Bài tập nhận diện 32
2.2.2.2 Bài tập tái hiện 37
2.2.2.3 Bài tập phân tích đánh giá hiệu quả của một số biện pháp tu từ trong văn bản 40
2.2.2.4 Bài tập tạo lập 45
2.2.2.5 Bài tập chữa lỗi 49
2.2.3 Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT 54
2.2.3.1 Phương hướng vận dụng hệ thống BTRKN sử dụng một số biện pháp tu từ trong dạy đọc hiểu văn bản ở THPT 54
2.2.3.2 Phương hướng vận dụng hệ thống BTRKN sử dụng một số biện pháp tu từ trong dạy học tiếng Việt ở THPT 55
2.2.3.3 Phương hướng vận dụng hệ thống BTRKN sử dụng một số biện pháp tu từ trong dạy học tạo lập văn bản miêu tả, biểu cảm ở THPT 56
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM 59
Trang 53.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.2 Đối tượng thực nghiệm 59
3.3 Chủ thể thực nghiệm 59
3.4 Thời gian làm thực nghiệm 60
3.5 Nội dung thực nghiệm 60
3.6 Cách thức tiến hành thực nghiệm 60
3.7 Kết quả cuối đợt thực nghiệm 61
PHẦN III KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO………64 PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt là một trong những bộ phận giữ vị trí quan trọng trong bộ môn Ngữ văn nói riêng và trong các môn học cơ bản nói chung của chương trình phổ thông Với tư cách là một môn học, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, Tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và tư duy nên môn Tiếng Việt còn đảm nhận thêm một chức năng kép mà các môn học khác không có Đó là chức năng trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp: Tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học của nhà trường Có thể thấy mục tiêu của dạy học tiếng Việt là chú trọng tới việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh Những kĩ năng đó chỉ được hình thành thông qua hành động, mà hình thức để thực hiện hành động đó chính là việc luyện tập thông qua các bài tập Các bài tập Tiếng Việt là một phương tiện có hiệu quả không thể thay thế được trong việc giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ, phát triển tư duy Hoạt động cho học sinh giải các bài tập Tiếng Việt là một điều kiện để thực hiện tốt các mục đích dạy học tiếng Việt Việc tổ chức tốt các hoạt động thực hành bằng bài tập
là một yêu cầu để nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt hiện nay
Trong hoạt động giao tiếp, con người luôn trăn trở nói viết như thế nào
để đạt được hiệu quả giao tiếp cao Khi ngành phong cách học ra đời đã đem lại những hiểu biết nhất định về việc lựa chọn lời nói sao cho đạt được hiệu quả thực tiễn Theo lí luận mà phong cách học đã xây dựng, các biện pháp tu
từ có vai trò không nhỏ trong việc biểu đạt sắc thái tu từ của các phương tiện ngôn ngữ Trong nhà trường các biện pháp tu từ được đưa vào giảng dạy từ bậc Tiểu học với một số biện pháp như so sánh, nhân hóa Lên đến Trung học
cơ sở (THCS) học sinh tiếp tục được làm quen thêm một số biện pháp tu từ
Trang 7như ẩn dụ, hoán dụ, liệt kê, điệp ngữ… Tới bậc Trung học phổ thông (THPT) học sinh được củng cố, ôn lại những kiến thức lí thuyết về biên pháp tu từ thông qua hệ thống bài tập luyện tập thực hành Những bài tập này không chỉ khắc sâu những kiến thức cũ mà còn được nâng cao phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh Việc dạy các biện pháp tu từ cho học sinh có vai trò vô cùng quan trọng, nó góp phần giúp học sinh đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, biểu cảm, hấp dẫn, tránh được những sai sót khi nói và viết Tuy nhiên, với tình hình học tập bộ môn Ngữ văn hiện nay thì phần Tiếng Việt chưa thực sự được quan tâm, chú trọng Hệ quả là học sinh sử dụng tiếng Việt còn nhiều hạn chế như: Viết câu sai ngữ pháp, dùng từ thiếu chính xác diễn đạt không trúng và không đúng ý, lời văn thiếu sự sinh động, hấp dẫn Câu văn chưa chính xác, chưa biết đa dạng các kiểu câu hay diễn đạt một vấn đề theo nhiều cách khác nhau trong Làm văn cũng như trong thực tế giao tiếp Từ thực tế giao tiếp với học sinh cũng như qua các bài kiểm tra, bài viết của các em, các thầy cô giáo đều có chung nhận xét: Kĩ năng trình bày, diễn đạt của học sinh phần nhiều chưa tốt, có em có ý tưởng nhưng không biết trình bày, lúng túng khi diễn đạt, nói viết vụng về, sơ sài hoặc lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu lôgic khiến người nghe không nắm bắt được các vấn đề mà các em muốn trình bày
Và một trong những lỗi mà chúng ta thường bắt gặp trong cách nói và viết của học sinh có liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tu từ
Bản thân là một sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn em thấy việc nghiên cứu đề tài này có thể giúp học sinh rèn luyện được kĩ năng xây dựng và lĩnh hội văn bản, đánh giá được thái độ và ý định của người nói qua văn bản, nhất
là đánh giá được giá trị thẩm mĩ của văn bản qua việc nhận diện được và sử dụng, phân tích được một số biện pháp tu từ Chính những biện pháp tu từ đã góp phần làm nên những câu văn hay, những câu thơ hay, những tác phẩm hay Bởi vậy để góp phần cải thiện, nâng cao hiệu quả dạy học một số biện
Trang 8phỏp tu từ cho học sinh THPT em chọn đề tài “ Hệ thống bài tập rốn luyện kĩ năng sử dụng một số biện phỏp tu từ cho học sinh THPT”
2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề
Khai thác các biện pháp tu từ là một trong những phương pháp giúp học sinh cảm thụ tác phẩm Văn học tốt nhất cũng như vận dụng chỳng vào cỏc bài viết văn Các em được học một số các biện pháp tu từ (so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, nói quá, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, chơi chữ) từ THCS Từ việc nắm bắt
lý thuyết đến vận dụng trong từng bài tập cụ thể học sinh có thể phát hiện và phân tích biện pháp tu từ, từ đó các em vận dụng vào việc cảm thụ tác phẩm Văn học Cỏc biện phỏp tu từ cú vai trũ quan trọng trong việc giỳp học sinh phõn tớch cỏc tỏc phẩm Văn học, đặc biệt là cỏc tỏc phẩm trữ tỡnh và rốn luyện khả năng làm văn của học sinh Thế nhưng nếu chỉ tớnh riờng những bài nghiờn cứu, những tài liệu dạy học về biện phỏp tu từ thỡ vẫn chưa thực sự phong phỳ, đa dạng Vỡ vậy, nhỡn lại lịch sử vấn đề này cho ta cỏi nhỡn toàn diện hơn về việc dạy học biện phỏp tu từ trong nhà trường hiện nay
Việc dạy học biện phỏp tu từ trong nhà trường phổ thụng là vấn đề được nhiều nhà lớ luận, nhà sư phạm nghiờn cứu Tiờu biểu như tỏc giả Đinh
Trọng Lạc với cuốn “Tu từ học với vấn đề giảng dạy Ngữ văn” Với cụng
trỡnh nghiờn cứu này tỏc giả đó đưa ra những vấn đề lớ thuyết chung nhất về tu
từ học cũng như vai trũ tỏc dụng của nú trong việc giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường Thế nhưng cuốn sỏch này vẫn chỉ dừng lại ở những vấn đề lớ thuyết chung trong giảng dạy chứ chưa cú sự đào sõu thụng qua luyện tập thực hành
Trong cuốn “Phương tiện và biện phỏp tu từ” và “Vấn đề nhận định, phõn loại và miờu tả cỏc phương tiện tu từ và cỏc biện phỏp tu từ Tạp chớ ngụn ngữ số 4/1992” vẫn của tỏc giả trờn cũng đó phản ỏnh những cố gắng
tỡm tũi về mặt lớ thuyết cũng như về mặt ứng dụng Thế nhưng những cụng
Trang 9trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở những vấn đề lí thuyết chung và cơ bản nhất chứ chưa đi sâu vào hoạt động thực hành luyện tập Đó mới chỉ là những nhận định ban đầu của các tác giả trong việc nghiên cứu và phân loại các biện pháp tu từ chứ chưa đưa ra hệ thống bài tập cụ thể để luyện tập thực hành cho học sinh
Vẫn tác giả trên, trong cuốn “300 bài tập phong cách học Tiếng Việt”,
tác giả đã đi sâu hơn vào những vấn đề thực hành phong cách học trong đó có một phần lớn bài tập luyện tập về biện pháp tu từ Đây là cuốn sách bài tập viết theo hướng mở rộng cả lí thuyết và thực hành Tuy nhiên đó mới chỉ dừng lại ở những bài tập khái quát nhất, chưa có sự tích hợp với phần đọc hiểu văn bản, chưa đưa ra cách thức hướng dẫn học sinh làm các bài tập thực hành
Hay trong cuốn giáo trình “Phong cách học Tiếng Việt” hai tác giả
Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa cũng có viết rất rõ về các biện pháp tu
từ trong tiếng Việt, từ biện pháp tu từ ngữ âm, biện pháp tu từ từ vựng và biện pháp tu từ cú pháp Song giáo trình chỉ đưa ra những đóng góp về lí thuyết phong cách học, làm cơ sở cho bước nghiên cứu sau này của phong cách học Tiếng Việt Trong cuốn sách này, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những vấn đề lí thuyết cơ bản về các biện pháp tu từ mà đi vào xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện thực hành cho học sinh
Đái Xuân Ninh với cuốn “Phương pháp giảng Văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học”, Mai Xuân Miên với “Vài ý kiến về dạy, học các biện pháp tu từ tiếng Việt ở trường phổ thông trung học” Hai công trình này các tác giả mới
chỉ dừng lại ở việc đề ra một vài phương pháp, ý kiến chung khi giảng dạy về biện pháp tu từ tiếng Việt trong trường phổ thông, những phương pháp đó chưa được các tác giả cụ thể hóa thành một hệ thống bài tập thực hành cho học sinh luyện tập Nhìn chung các công trình trên đều chỉ ra được mục tiêu,
Trang 10cách thức, biện pháp để dạy học về biện pháp tu từ với những vấn đề lí thuyết chung nhất Đó là những vấn đề mang tính chiến lược cho ngành giáo dục song chưa được cụ thể hóa với tưng phần, từng nội dung trong nhà trường phổ thông Bởi vậy, vấn đề mà khóa luận nghiên cứu là một vấn đề mới có sự
kế thừa từ những công trình nghiên cứu đã có nhưng vẫn còn bỏ ngỏ Ứng dụng lí thuyết vào việc rèn luyện kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ cho học sinh là việc làm thiết thực, bổ ích giúp người nghiên cứu, giảng dạy nhận thức sâu sắc hơn về dạy một số biện pháp tu từ trong chương trình môn Ngữ văn nói chung và chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT nói riêng
Trong sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên (SGV) từ bậc Tiểu học đến bậc THCS và THPT các tác giả biên soạn cũng đã đưa một số biện pháp
tu từ tiêu biểu vào trong dạy học tiếng Việt cho học sinh Trong các cuốn SGK mà học sinh được học từ Tiểu học đến THPT đã bắt đầu có sự đầu tư tiết học về biện pháp tu từ nhưng chủ yếu dừng lại nhiều ở lí thuyết, số lượng bài tập đưa ra vẫn còn chưa thực sự phong phú với nhiều kiểu, dạng khác nhau
Đa số bài tập chỉ dừng lại ở nhận biết đơn giản, chưa có nhiều bài tập phân tích, tạo lập và chữa lỗi
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn giải quyết một trong những vấn đề trọng tâm của việc dạy học tiếng Việt hiện nay đó là xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt, tổ chức luyện tập thực hành rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ cho học sinh qua một số bài tập Nhờ đó nâng cao chất lượng dạy học về tiếng Việt nói chung và dạy học về các biện pháp tu từ nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề cơ bản như hệ thống hóa cơ sở lí luận với những vấn đề lí thuyết chung nhất về biện pháp tu từ cũng như sự hình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập Khóa luận còn nghiên
Trang 11cứu cở sở thực tiễn của đề tài qua việc khảo sát hệ thống bài tập trong SGK Ngữ văn THPT, khảo sát thực trạng dạy học của giáo viên và tình hình học tập của học sinh Từ những vấn đề lí luận và thực tiễn đó người viết sẽ nghiên cứu việc xây dựng nên một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT Cuối cùng là tổ chức thiết kế giáo án thực nghiệm và dạy thể nghiệm bước đầu ở phổ thông
5 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi tập trung vào nghiên cứu hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn ở phạm vi khảo sát các bài tập về biện pháp tu từ trong SGK Ngữ văn THPT, khảo sát thực trạng dạy học về một số biện pháp tu từ ở trường THPT Văn Quán Từ đó xây dựng bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cơ bản được giảng dạy trong chương trình, SGK Ngữ văn THPT Ở đây chúng tôi sẽ tập trung vào các biện pháp tu từ được dạy học trong SKG Ngữ văn từ lớp 10 đến lớp 12 Bài tập được xây dựng chủ yếu ở phạm vi đoạn văn trong SGK Ngữ văn ban cơ bản
7 Phương pháp nghiên cứu
7.2 Phương pháp điều tra khảo sát
Được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế về tình hình dạy và học một số biện pháp tu từ ở trường THPT Văn Quán trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
7.3 Phương pháp thực nghiệm
Trang 12Ở đề tài này do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu việc thực nghiệm sẽ
ở phạm vi tổ chức dạy thể nghiệm giáo án đề xuất trong sự đối chứng với các giáo án thông thường để kiểm nghiệm khả năng ứng dụng và tính hiệu quả của việc xây dựng các hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT
7.4 Phương pháp thống kê
Được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát, thực nghiệm bổ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan
8 Dự kiến đóng góp của khóa luận
Xét về phương diện khoa học: Khóa luận góp thêm một tiếng nói trong việc xây dựng nên một hệ thống bài tập khoa học về biện pháp tu từ từ đơn giản đến phức tạp Nếu xây dựng được một hệ thống bài tập phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dung kiến thức Ngữ văn về biện pháp tu từ, cũng như đề
ra cách hướng dẫn học sinh giải quyết những bài tập đó một cách đúng đắn có thể phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Xét về phương diện thực tiễn: Vận dụng tốt các kĩ năng rèn luyện bài tập về tu từ học cho học sinh thì sẽ kích thích học sinh học tập Tiếng Việt tích cực, sáng tạo góp phần nâng cao năng lực giao tiếp của học sinh, đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên Giúp học sinh sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong việc tạo lập văn bản nói và viết Góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Tiếng Việt trong trường THPT hiện nay
9 Kết cấu của khóa luận
Gồm 3 phần:
Phần I Mở đầu Phần này trình bày những vấn đề khái quát về đề tài nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nêu rõ lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, phương pháp nghiên cứu
Trang 13Phần II Nội dung Phần nội dung của khóa luận được chúng tôi triển khai trong 3 chương Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tập trung vào hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng và sử dụng
một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT Trong đó bao gồm: Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập và trình bày một số dạng bài tập tiêu biểu Từ đó đưa ra phương hướng vận dụng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT
Chương 3: Thực nghiệm Phần này trình bày cách thức vận dụng đề
tài vào quá trình dạy và học Từ đó thấy được những kinh nghiệm cũng như hiệu quả trong việc vận dụng kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ trong quá trình nói, viết của học sinh
Phần III Kết luận: Tóm tắt lại vấn đề và nêu hướng dẫn áp dụng hệ thống bài tập vào việc giảng dạy biện pháp tu từ trong nhà trường phổ thông
Trang 14PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Kĩ năng và sự hình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập
1.1.1.1 Quan niệm về kĩ năng, kĩ xảo
* Kĩ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lí học, giáo dục học quan
tâm Xung quanh khái niệm này đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau Chẳng hạn theo Bùi Văn Huệ thì kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức, khái
niệm, định nghĩa, định luật vào thực tiễn Lưu Xuân Mới trong cuốn “Lí luận dạy học” cho rằng: Kĩ năng là sự biểu hiện kết quả thực hiện hành động trên
cơ sở kiến thức đã có Theo từ điển Việt Nam thì kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới Mỗi tác giả đưa ra một cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng Tuy nhiên tựu chung lại, các quan điểm trên về cơ bản là thống nhất Tổng kết
các quan niệm của tác giả, chúng ta đi đến cách hiểu “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở cấp độ tiêu chuẩn xác định” [11, tr.90] Khi xem
xét kĩ năng cần lưu ý một số điểm sau:
- Kĩ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể nào đó và được xem như một đặc điểm của hành động Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động Không có kĩ năng chung chung hay nói cách khác kĩ năng không phải là một hiện tượng tự thân mà nó luôn luôn gắn với một hành động cụ thể
- Bất cứ kĩ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết Cơ sở lí thuyết
đó chính là kiến thức Kĩ năng chỉ có được khi con người biết vận dụng kiến
Trang 15thức vào trong thực tiễn một cách có kết quả Ngược lại, kĩ năng được hình thành vững chắc sẽ làm cho việc ghi nhớ kiến thức vững vàng và sâu sắc hơn
- Bên cạnh đó tính đúng đắn, sự thành thục, linh hoạt cũng là một tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển của kĩ năng
- Kĩ năng là cái không phải sinh ra đã có của mỗi người, nó là sản phẩm của hoạt động thực tiễn, là kết quả của một quá trình hành động mà nên
* Kĩ xảo: Mọi hành động của con người là hành động có ý thức Cho
nên mục đích và hành động được ý thức ngay từ đầu Nhưng không phải mọi lúc và mọi khâu của hành động, ý thức bao giờ cũng có mặt Cho nên trong một chuỗi hành động, có những khâu, những phần không có hoặc có ít sự tham gia của ý thức Thành phần tự động hóa đó là kĩ xảo.Vậy kĩ xảo là hành động đã được củng cố và tự động hóa [7, tr.82]
1.1.1.2 Quan niệm về hệ thống bài tập
Hệ thống được hiểu là tập hợp những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau theo một thứ tự sắp xếp có quy củ
Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học (làm bài tập ở lớp, bài tập về nhà) Bài tập Tiếng Việt được coi như một trong những đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học tiếng Việt Thông qua việc thiết kế hệ thống bài tập và hướng dẫn học sinh làm bài tập của giáo viên, quá trình làm bài tập của học sinh, giáo viên có thể kiểm tra kết quả hoạt động dạy của mình còn học sinh củng cố được những tri thức tiếng Việt mà mình vừa tiếp nhận được và nắm vững kĩ năng sử dụng tiếng Việt Bài tập ở bài học lý thuyết chủ yếu giúp học sinh nắm vững khái niệm, củng cố các đơn
vị kiến thức lý thuyết vừa học Còn bài tập trong bài tập thực hành chủ yếu giúp học sinh hình thành, phát triển các kĩ năng Qua bài tập giáo viên đưa học sinh vào những hoạt động được tính toán và sắp đặt hợp lí, có như thế mới giúp học sinh đạt tới những kĩ năng nhất định
Trang 161.1.1.3 Sự hình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập
Vấn đề hình thành kĩ năng được nhiều nhà tâm lí học trong và ngoài nước quan tâm Mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau, song đều thống nhất với nhau rằng: Kĩ năng được hình thành trong hoạt động Bất cứ kĩ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết đó là kiến thức Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ cấu trúc kĩ năng (phải hiểu mục đích, cách thức đi đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức đó) Sự vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi chính là kĩ năng Trong thực tế dạy học, học sinh thường gặp khó khăn khi vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các bài tập cụ thể chính là do kiến thức không chắc chắn, khái niệm trở nên chết cứng và không biến thành cơ sở kĩ năng Muốn kiến thức là cơ sở của kĩ năng thì kiến thức phải phản ánh đầy đủ thuộc tính của bản chất, được thử thách trong thực tế và tồn tại trong ý thức với tư cách là công cụ của hành động các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng
Quá trình hình thành kĩ năng có nhiều ý kiến khác nhau Một số nhà tâm lí học như V.A Crechet xki, Phạm Minh Học, N.D Leevitor, A.V.Petropxki, Trần Quốc Thành…cho rằng quá trình hình thành kĩ năng hành động gồm ba bước:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều
kiện hành động nhằm đạt được mục đích đặt ra
Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích và cách thức, điều kiện hành động là quan trọng nhất Nhưng nếu chỉ dừng lại ở bước này thì chưa có
kĩ năng vì nó chỉ thể hiện ở mặt lí thuyết, tri thức về hành động chứ chưa có mặt kĩ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng Ở giai đoạn này,
Trang 17con người một mặt thực hiện các thao tác theo mẫu để hình thành kĩ năng, một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác hành động nhằm đạt kết quả, giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến hành luyện tập để hoàn thiện kĩ năng Ở giai đoạn này các tri thức về hành động được củng cố nhiều hơn, các tri thức hành động cũng được ôn luyện có
hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói kĩ năng được hình thành Tuy nhiên đến đây kĩ năng vẫn chưa ổn định Kĩ năng chỉ thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau Tâm lí học hiện đại đã khẳng định: Chỉ trong hoạt động thì kĩ năng mới hình thành và phát triển [7, tr.112] Như vậy bài tập là một tập hợp yêu cầu hoạt động để đạt tới kết quả nào đó Nếu làm một loại bài tập cùng kiểu lặp đi lặp lại tới mức độ cần thiết thì sẽ hình thành được kĩ năng tương ứng Tóm lại trong các bài học thực hành có thể nói bài tập là phương tiên, kĩ năng
là mục đích trọng yếu cần đạt tới
1.1.2 Một số biện pháp tu từ
Biện pháp tu từ được định nghĩa một cách khái quát nhất đó là sự phối hợp sử dụng trong hoạt động giao tiếp các phương tiện ngôn ngữ (không kể trung hòa về nghĩa hay biểu cảm) nhằm tạo ra hiệu quả tu từ (tức là tác dụng gợi hình, gợi cảm, nhấn mạnh ) do sự tác động qua lại của các yếu tố ngôn ngữ trong một ngữ cảnh rộng Các biện pháp tu từ được chia thành biện pháp
tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản [10, tr.61)
1.1.2.1 Một số biện pháp tu từ ngữ âm
Biện pháp điệp âm là biện pháp dùng láy phương tiện âm thanh để tạo
cộng hưởng ý nghĩa, hoặc là tô đậm thêm hình tượng hoặc xúc cảm, gợi tưởng tưởng [10, tr.271] Trong điệp âm có điệp phụ âm đầu, điệp vần
Trang 18Ví dụ: Điệp phụ âm đầu có câu ”Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” của
Nguyễn Khuyến, người đọc hình dung cảnh bóng trăng lan dần, tỏa rộng trên làn nước gợn sóng lăn tăn Không có gì thay thế được những phụ âm (l) trong câu thơ tuyệt đẹp đó
Biện pháp điệp vần là biện pháp láy lại một số vấn đề gia tăng ý nghĩa
Ví dụ :
“Lá bàng đang đỏ ngọn cây Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời
Mùa đông còn hết em ơi?”
(Tố Hữu)
Những khuôn vần nối tiếp ang ang ang miêu tả một mùa đông kéo dài, quá dài, chậm chạp trôi đi không muốn dứt hẳn
Biện pháp điệp thanh: Trong thơ đường luật, lục bát thì luật phối thanh
được quy định chặt chẽ tạo ra sự cân đối trong câu thơ Còn trong thơ mới, thơ hiện đại, thơ lục bát biến thể người ta có thể linh hoạt sử dụng thanh điệu
để tạo nên hiệu quả tu từ
Ví dụ:
“Chân trời lui mãi lan lan rộng
Hi vọng tràn lên đồng mênh mông”
(Tố Hữu)
Sử dụng nhiều thanh bằng làm hiện lên một không gian bát ngát mở ra trước mắt người tù vừa vượt ngục và một niềm hi vọng bao la tràn lên theo chân trời đó Sử dụng 6 thanh bằng ở dòng thứ 2 chính là một thủ pháp gợi hình ảnh và truyền cảm xúc cho người đọc
1.1.2.2 Một số biện pháp tu từ từ vựng
Biện pháp so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này
đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào
Trang 19đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe [10, tr.189] Về hình thức, bao giờ cũng có hai vế là vế
so sánh và vế được so sánh Về nội dung, các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại có nét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ: So sánh tu từ có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm Biện pháp tu từ này cũng được vận dụng rộng rãi trong nhiều phong cách khác nhau như khẩu ngữ, chính luận, thông tấn, nghệ thuật
Ví dụ: “Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
(Ca dao)
Biện pháp nhân hóa là biện pháp tu từ dùng từ chỉ hành vi, động tác,
cách cảm, cách nghĩ của người cho đối tượng không phải là người nhằm diễn đạt sinh động, có hồn và biểu cảm về đối tượng
Ví dụ: Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Nghe thấy tiếng sấm phất cờ mà lên
Biện pháp ẩn dụ theo tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa thì đó thực
chất là sự so sánh ngầm, trong đó vế so sánh được giảm lược đi chỉ còn lại vế
Trang 20được so sánh Như vậy, phép ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của một đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng nào đó [10, tr.194] Về hình thức, ẩn dụ chỉ phô bày một đối tượng – đối tượng dùng để biểu thị, còn đối tượng định nói đến được biểu thị thì dấu đi,
ẩn đi không phô bày ra như so sánh tu từ Về nội dung, ẩn dụ tu từ giống như
so sánh tu từ (do đó người ta gọi là so sánh ngầm) Nghĩa là cần phải liên tưởng rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng Ẩn dụ tu từ có hai chức năng
là biểu cảm và nhận thức Các dạng thể hiện của ẩn dụ có: Ẩn dụ phẩm chất,
ẩn dụ cách thức, ẩn dụ hình thức, ẩn dụ chức năng, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
Ví dụ ẩn dụ hình thức: “Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”, tác giả
dùng lửa để liên tưởng đến hoa lựu vì cả lửa và hoa lựu đều có màu đỏ
Biện pháp hoán dụ theo tác giả Đinh Trọng Lạc thì đó là phương thức
chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó [10, tr.203]
Phân loại : Hoán dụ có dùng dấu hiệu để chỉ vật có dấu hiệu, dùng vật chứa để chỉ vật bị chứa, dùng bộ phận để chỉ toàn bộ, dùng số lượng xác định
để biểu thị số lượng không xác định, dùng tên riêng để biểu thị tên chung và ngược lại
Về hình thức : Giống ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ chỉ có một vế biểu hiện,
vế được biểu hiện không phô ra Về nội dung: Nếu ẩn dụ dựa trên quan hệ liên tưởng về nét tương đồng thì hoán dụ dựa vào mối quan hệ có thực, quan
Trang 21hệ tiếp cận Hoán dụ chủ yếu có chức năng nhận thức, biện pháp tu từ được dùng rộng rãi trong các phong cách chức năng tiếng Việt
Phép điệp là biện pháp tu từ lặp lại từ, ngữ, câu nhằm để nhấn mạnh
ý nghĩa, biểu đạt cảm xúc và gợi hình ảnh
Ví dụ : “Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”
(Chinh phụ ngâm)
Phép đối là cách sử dụng các từ ngữ tương đồng hoặc tương phản về ý
nghĩa, âm thanh, nhịp điệu để tạo ra những câu có sự cân xứng về cấu trúc, hài hòa về âm thanh và cộng hưởng về ý nghĩa
Ví dụ : “Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Nói giảm (còn được gọi là nhã ngữ hay khinh từ) là biện pháp tu từ
dùng phương thức diễn đạt tế nhị trong hoàn cảnh giao tiếp mà người nói không tiện nói ra vì sợ quá phũ phàng hoặc sợ xúc phạm đến người nghe Nói giảm không có phương tiện riêng mà thường được thực hiện thông qua các hình thức ẩn dụ hay hoán dụ tu từ
Ví dụ:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
(Tây Tiến - Quang Dũng)
Trang 22Biện pháp tu từ này thường được dùng để nói về cái chết
Nói giảm có chức năng nhận thức và biểu cảm Biện pháp này được dùng nhiều trong các PC: Khẩu ngữ, văn chương, chính luận
Chơi chữ : Là biện pháp tu từ dựa trên sự vận dụng linh hoạt tiềm năng
về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt để tạo nên phần tin mới, bất ngờ, khác loại với phần tin cơ sở và song song tồn tại với phần tin cơ sở, nhằm gây tác dụng châm biếm, đả kích hoặc đùa vui
Tác dụng chính của chơi chữ là tạo ra những liên tưởng bất ngờ, kích thích tình cảm và trí tuệ con người Nó mang cả hai chức năng nhận thức và tình cảm Nó được dùng trong lời nói và sinh hoạt hằng ngày, lời nói chính luận, đặc biệt trong văn thơ Nó thường được dùng trong phong cách như: Khẩu ngữ, chính luận, văn chương
Ví dụ:
“Con công đi chùa làng kênh
Nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại.”
(Ca dao)
Biện pháp cường điệu (nói quá) là biện pháp tu từ dùng sự cường điệu
quy mô, tính chất, mức độ, của đối tượng được miêu tả so với cách biểu hiện bình thường nhằm mục đích nhấn mạnh vào một bản chất nào đó của đối tượng được miêu tả
Ví dụ :
“Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng hạt ớt thấy ngọt ngay như đường.”
(Ca dao)
Biện pháp này có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm Nói quá được dùng nhiều trong các PC: Khẩu ngữ, văn chương, thông tấn
Trang 231.1.2.3 Một số biện pháp tu từ cú pháp
Biện pháp tu từ cú pháp tập trung vào ba dụng ý sau đây: Thứ nhất, người nói muốn nhấn mạnh ý nghĩa một thông báo Thứ hai, người nói muốn nhấn mạnh một phần trong thông báo Thứ ba, người nói muốn thể hiện các
tình thái khác nhau Với những dụng ý trên tiếng việt sử dụng rất nhiều biện pháp tu từ
Lặp cú pháp là lặp nhiều câu có cấu tạo ngữ pháp giống nhau trong
một ngữ cảnh để tạo ra sự cân đối hài hòa cho lời văn, lời thơ nhằm mục đích tác động vào tình cảm của người đọc Tăng cường nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo nhạc tính cho bài văn, bài thơ
Ví dụ:
“Từ lòng khe hẹp thung ra Suối dang tay hát khúc ca ngập đồng Suối gặp bạn hóa thành sông Suối gặp bạn hóa mênh mông đất trời.”
( Tố Hữu)
Phép liệt kê là phương thức xếp đặt một loạt các khái niệm, sự vật,
hình ảnh, có khi chỉ là những tên riêng, những con số lạnh lùng để tự nó nói lên hay tự nó kích thích trí tưởng tượng của người đọc [10, tr.212]
Ví dụ : “Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm ; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng ; đi thủy thì ta cho tiền, đi bộ thì ta cho ngựa ; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì”
( Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn)
Trang 24Đảo trật tự cú pháp là biện pháp thay đổi các trật tự thông thường
của các thành phần ở trong câu, các thành tố trong cụm từ nhằm tăng cường nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo sắc thái biểu cảm cho lời văn, lời thơ
Phân loại có đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ, đảo trong câu ghép chính phụ, đảo trong cụm động từ, đảo trong cụm tính từ, đảo trong cụm danh từ…
Ví dụ: Đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ
“Đã ngừng đập một trái tim
Đã ngừng đập một trái tim đại bàng.”
Biện pháp tách câu là tách một bộ phận của câu ra khỏi câu chứa nó
và biến nó thành một câu hoặc một ngữ độc lập nhằm nhấn mạnh nội dung thông báo Tách câu gồm có tách vị ngữ, tách bổ ngữ, tách trạng ngữ, tách định ngữ…
Ví dụ: Tách định ngữ: “ Rừng Hoành Bồ có một nương dó Rộng và sâu lắm.”
Tách câu có giá trị thông báo, tác dụng nhấn mạnh Ngoài ra nó còn có giá trị biểu cảm được dùng nhiều trong văn bản nghệ thuật
Phụ chú ngữ là thành phần phụ nhằm giải thích ý nghĩa của một từ
hay một ngữ để cụ thể hóa hay để nhấn mạnh một nét nghĩa nào đó khi mà người nói hay người viết muốn truyền đạt [10, tr.244] Ví dụ:
“Cô bé nhà bên (có ai ngờ) Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi).”
(Quê hương – Giang Nam) Câu hỏi tu từ là câu hỏi không yêu cầu người nghe trả lời mà bản thân
nó đã có hàm ý trả lời Hàm ý trả lời đó có thể là khẳng định, phủ định hoặc biểu thị sắc thái tình cảm nhất định
Trang 25Ví dụ:
“Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi?”
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy các bài tập về biện pháp tu từ trong
SGK có một sô ưu điểm và hạn chế sau đây:
Ở một chừng mực nào đó các bài tập này có đảm bảo tính hướng đích Hầu hết các mô hình bài tập được giới thiệu trong SGK là những mô hình có giá trị cả về mặt khoa học và về mặt sư phạm Các bài tập trong SGK về cơ bản đã thể hiện được các khía cạnh khác nhau của việc rèn luyện kĩ năng nói viết sử dụng các biện pháp tu từ một cách hiệu quả, kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh THPT
SGK Tiếng Việt ở THPT hiện nay nói chung và các bài tập rèn luyện
kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ nói riêng còn tồn tại một số điểm chưa hợp lí: Mặc dù SKG đã chú trọng đến phương pháp thực hành nhưng số lượng bài tập chưa thực sự phong phú, những bài tập sáng tạo vẫn còn ít, kiến thức dạy học sinh còn mang tính trừu tượng nên học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khó
Khảo sát SGK chúng tôi thấy có những bài học lí thuyết chung về biện pháp tu từ được tích hợp trong một số bài về phong cách học, hay một số bài như: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (lớp 11), giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (lớp 12)…
Trang 26Những bài học thực hành về biện pháp tu từ trong sách SGK THPT được phân chia đồng đều ở ba lớp 10,11,12 nhưng số lượng tiết học về các biện pháp tu từ nói riêng và Tiếng Việt nói chung vẫn còn ít và lẻ tẻ Cụ thể, trong SGK lớp 10 cơ bản có những bài về biện pháp tu từ như: Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ Thực hành các phép tu từ : Phép điệp và phép đối Những yêu cầu khi sử dụng Tiếng Việt Bài thực hành về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Trong SGK lớp 11 có bài: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân, phong cách ngôn ngữ chính luận Trong SGK lớp 12 cơ bản có những bài sau: Thực hành một số phép tu từ ngữ âm Bài thực hành một số phép tu từ cú pháp
Qua phần khảo sát trên chúng tôi thống kê được có khoảng 30 bài tập thực hành về biện pháp tu từ trong SGK Ngữ văn (cơ bản) Trong đó, bài tập nhận diện có 15 bài chiếm 50%, bài tập phân tích, đánh giá gồm có 10 bài chiếm 33,3%, bài tập tạo lập có 4 bài chiếm 13,3%, số bài tập tái hiện trong SGK không đáng kể
Nhìn chung cả trong ba bộ sách giáo khoa lớp 10,11,12 đều có những bài dành riêng cho việc rèn luyện các biện pháp tu từ với đa dạng các kiểu dạng bài tập khác nhau như bài tập nhận diện, bài tập phân tích đánh giá, bài tập vận dụng sáng tạo, trong đó dạng bài tập nhận diện vẫn chiếm số lượng nhiều nhất
1.2.2 Thực trạng dạy học của giáo viên
Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy còn nghèo, chưa biết dùng đoạn văn mẫu để các em học tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh…Người giáo viên gặp không ít khó khăn như cơ sở vật
Trang 27chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít Những bài học về biện pháp tu từ trong chương trình phổ thông còn hạn chế nên giáo viên vẫn chủ yếu dừng lại ở việc đưa ra lí thuyết và một số bài tập rèn luyện thực hành các biện pháp tu từ trong SGK chứ chưa có sự mở rộng hệ thống bài tập sao cho phong phú, đa dạng Đối với việc lựa chọn bài tập về biện pháp tu từ giáo viên thường lấy các bài tập có sẵn trong SGK mà không soạn ra một hệ thống bài tập bổ sung phục vụ cho giảng dạy Rất ít giáo viên cho học sinh làm bài tập củng cố hoặc cho về nhà, nếu cho bài tập về nhà thì đó cũng là những bài tập củng cố và vận dụng kiến thức một cách cơ bản nhất Trong những bài tập
đó không chứa đựng sự rèn luyện kĩ năng cho học sinh Việc hướng dẫn học sinh giải bài tập hầu hết là giáo viên gọi học sinh lên bảng làm những bài tập đơn giản còn với những bài tập phức tạp thì giáo viên thường đưa ra luôn đáp
án cho học sinh mà không có những câu hỏi định hướng tư duy hoạt động giải quyết bài tập cho các em Cũng có nhiều giáo viên quan tâm đến việc dạy học tiếng Việt nhưng lại gặp khó khăn trong quá trình giúp học sinh tiến hành giải quyết các bài tập nên giờ học vẫn chưa đạt được những kết quả như mong muốn
1.2.3 Thực trạng học tập của học sinh
Do điều kiện kinh tế cũng như sự quan tâm của phụ huynh chưa cao, cùng với ý thức tự học của các em còn thấp: Lười học, không chịu suy nghĩ động não… Chính vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được hiệu quả cao
- Học các phép tu từ các em chưa xác định được khái niệm của mỗi phép tu từ, còn lẫn lộn giữa các phép tu từ, chưa phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các phép tu từ đó, nên dẫn đến việc hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của mỗi phép tu từ
Trang 28- Trong mỗi bài kiểm tra Tiếng Việt cỏc em cũn rất lỳng tỳng khi xỏc định cỏc phộp tu từ và phõn tớch ý nghĩa trong mỗi đoạn thơ, đoạn văn, kết quả mà cỏc em đạt được chưa cao
Do khả năng tư duy của học sinh cũn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản , trực quan nờn việc cảm thụ nghệ thuật cỏc biện phỏp tu từ cũn hạn chế Vốn kiến thức Văn học của học sinh cũng chưa sõu rộng nờn khi tiếp thu cỏc bài học về cỏc biện phỏp tu từ cũn khú khăn, học sinh cú nhiệm vụ ghi chộp thụ động, làm bài tập đối phú qua loa Học sinh nắm các biện pháp tu từ chưa chuẩn xác, còn bị nhầm lẫn, việc vận dụng phân tích các biện pháp tu từ trong việc cảm thụ tác phẩm, khả năng cảm thụ Văn học nhìn chung còn yếu
Trong quá trình viết văn, các em chưa biết vận dụng kiến thức đã học về biện pháp tu từ vào bài viết nên bài văn còn khô khan, chưa có hình ảnh sinh
động, bài viết chưa có sức thuyết phục Thực tế cho thấy học sinh chưa thực
sự hứng thỳ trong những giờ học Tiếng Việt, lớp học cũn trầm thiếu đi sự sụi nổi Khả năng sử dụng cỏc biện phỏp tu từ của học sinh trong việc phõn tớch cảm hiểu những tỏc phẩm văn học cũn hạn chế, cỏch đặt cõu, viết đoạn văn vẫn cũn lủng củng, diễn đạt chưa thoỏt ý Đa số học sinh khi học về biện phỏp
tu từ mới chỉ bước đầu nắm được những vấn đề lớ thuyết chung mà cỏc em đó được học chứ chưa cú kĩ năng vận dụng những vấn đề lớ thuyết đú vào việc giải quyết hệ thống bài tập và làm cỏc bài kiểm tra
1.2.4 Đỏnh giỏ chung về thực trạng
Qua khảo sỏt SGK và tỡnh hỡnh dạy học về biện phỏp tu từ của giỏo viờn và học sinh, chỳng tụi nhận thấy bờn cạnh một số kết quả đạt được như việc dạy học được tiến hành một cỏch cú kế hoạch, mang tớnh chủ động cú tỏc dụng nhất định đối với phõn mụn đọc – hiểu, Làm văn cũn cú khỏ nhiều hạn chế và bất cập
Trang 29Trước hết, về mặt giảng dạy rất nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức một tiết dạy về biện pháp tu từ Đa số giáo viên có tâm lí ngại dạy Tiếng Việt nói chung và biện pháp tu từ nói riêng, hiệu quả giảng dạy còn thấp Giáo viên còn chưa nắm chắc mục đích, tác dụng, cấu tạo, quy trình dạy… của từng kiểu loại bài tập về biện pháp tu từ cho nên chưa đưa ra cách hướng dẫn học sinh làm bài tập thích hợp Giáo viên vẫn còn tình trạng thụ động, lệ thuộc vào SGV mà do khuôn khổ của sách, SGV hướng dẫn gợi ý rất
sơ lược Do đó giáo viên khó tránh khỏ sự lúng túng trong khi tổ chức luyện tập thực hành về một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT Về phía học sinh,
ít có hứng thú học tập, thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện một cách máy móc, rập khuôn Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài tập, lười biếng suy nghĩ Học sinh chưa thật sự chú ý nghe giảng, ý thức học tập còn thụ động, đối phó là một rào cản lớn đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học Học sinh thụ động tiếp thu bài giảng
dễ mỏi mệt, từ đó nảy sinh tâm lí ngại học về các biện pháp tu từ Những tình trạng đó một phần xuất phát từ SGK còn chưa chú ý tới tính hoạt động, tính hấp dẫn khi xây dựng hệ thống bài tập.Vì vậy, việc dạy học biện pháp tu từ ở THPT hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập như đã nói ở trên cũng
là điều dễ hiểu Chúng tôi hi vọng rằng hệ thống bài tập rèn luyện biện pháp
tu từ được xây dựng ở khóa luận này với những mặt hợp lí, tích cực của nó sẽ góp phần cải thiện tình hình dạy học về biện pháp tu từ ở THPT, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học cho học sinh THPT
Trang 30CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ CHO HỌC SINH THPT
2.1 Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập
Các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập được coi là kim chỉ nam cho việc xây dựng nội dung hình thức bài tập thực hành Đây chính là một cơ sở không thể thiếu trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập Một số nguyên tắc
cụ thể là:
2.1.1 Nguyên tắc khoa học
Từ “Khoa học” xuất phát từ tiếng Latin “Scienta”, nghĩa là tri thức Theo Webter’s New Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “Những tri thức đạt được qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”
Tính khoa học của việc dạy tiếng Việt trước hết đòi hỏi các bài tập không những phải đảm bảo tính vừa sức, chính xác , khoa học, hiện đại mà còn đòi hỏi sự tương đối thống nhất của nhiều nhà nghiên cứu, bài tập được xây dựng phải hướng đến mục tiêu dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học
về biện pháp tu từ nói riêng Nguyên tắc này còn yêu cầu việc sắp xếp bố trí nội dung tri thức về biện pháp tu từ phải vừa phản ánh được cấu trúc, sự hoạt động của tiếng Việt , vừa hợp với quy luật tiếp nhận và khả năng tâm lí của học sinh THPT Các kiến thức về một số biện pháp tu từ trang bị cho học sinh phải là những kiến thức cơ sở cho việc nghiên cứu và sử dụng tiếng Việt Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập phải cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học chân chính, tri thức tự nhiên và xã hội trong các bài tập phải đảm bảo tính chính xác, hợp lí, không tùy tiện Yêu cầu mà bài tập đưa ra phải ngắn gọn, rõ ràng, không mơ hồ, phải tránh trường hợp yêu cầu bài tập
và ngữ liệu đưa ra không phù hợp với nhau Bài tập đưa ra phải phù hợp với lí
Trang 31luận dạy học hiện đại, phải có nội dung liên quan đến các biện pháp tu từ, đúng chuẩn về nội dung diễn đạt, khoa học về mặt sư phạm
Ngôn ngữ được đưa ra trong bài tập phải chuẩn, tránh trường hợp ngôn ngữ đưa ra sai văn phạm, không tự nhiên, phản ánh không đúng hiện thực.Tính khoa học còn đòi hỏi việc trình bày hệ thống các bài tập sao cho phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, phục vụ đắc lực cho mục đích dạy tiếng Việt, phù hợp với quy luật nội tại của hệ thống tiếng đó
2.1.2 Nguyên tắc hệ thống và phát triển
Theo cách hiểu chung, “Hệ thống” là một thể thống nhất bao gồm các
các phần tử có quan hệ và liên hệ lẫn nhau Mỗi đối tượng trọn vẹn làm một
hệ thống, chẳng hạn: Một cái cây, một con vật, một gia đình Nói đến hệ thống, cần phải nói đến hai điều kiện: Tập hợp các yếu tố và những mối quan
hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó Phần tử ở đây chính là các dạng bài tập cơ bản về biện pháp tu từ được sắp xếp theo lớp lang, chúng có mối liên
hệ và tác động qua lại với nhau Dạng bài tập sau khó hơn bài tập trước song
nó được hình thành dựa trên dạng bài tập đã cho Và các dạng tập đó làm nên một hệ thống bài tập giúp người học có thêm những kĩ năng trong việc thực hành về biện pháp tu từ Mỗi bài tập về các biện pháp tu từ phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập Tiếng Việt góp phần hoàn chỉnh kiến thức của học sinh, giúp họ nắm vững kiến thức rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo Đồng thời tạo cho học sinh thói quen vận dụng kiến thức đã chiếm lĩnh được và phát triển năng lực của học sinh trong việc giải quyết những vấn đề học tập và thực tiễn Một trong những mục đích của chương 2 là nghiên cứu để xây dựng, xác lập các kiểu loại bài tập về một số biện pháp tu từ, các mô hình bài tập thích hợp với việc dạy thực hành biện pháp tu từ ở THPT Ở đây vấn đề đặt ra
là số lượng các kiểu loại, mô hình bài tập về biện pháp tu từ khá nhiều Các bài tập này không thể là những tập hợp hỗn độn mà phải được sắp xếp, phân
Trang 32phối dựa trên những tiêu chí nhất định để tạo thành một hệ thống tối ưu Bên cạnh đó hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ cho học sinh phải được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, kế thừa mang đầy đủ đặc trưng của một hệ thống: Đó là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố (yếu tố ở đây là nhóm, loại, kiểu, dạng bài tập) có liên quan với nhau và giá trị của một yếu tố được xác định bởi mối quan hệ giữa nó và các yếu tố khác trong cùng hệ thống Giống như các trường hợp khác, hệ thống bài tập về biện pháp tu từ cũng có tính cấp bậc: Nhóm (bậc 1), loại (bậc 2), kiểu (bậc 3), dạng (bậc 4)… Nguyên tắc hệ thống yêu cầu phải trình bày các bài tập về biện pháp tu
từ một cách toàn diện theo một thứ tự hợp lí và nêu được mối quan hệ giữa chúng với nhau Trình tự trình bày các kiến thức phải đảm bảo cho học sinh
có cơ sở tiếp thu kiến thức mới trên cơ sở kiến thức cũ, sao cho học sinh luôn cảm nhận được cái mới trong quá trình học tập
Các bài tập được đưa ra cũng cần phải đảm bảo sự kế thừa và phát triển
từ những công trình nghiên cứu về biện pháp tu từ trước đó, kế thừa từ chương trình Ngữ văn THCS tránh tình trạng “ Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” Những hiểu biết mà học sinh đã tích lũy được ở THCS cần phải được
sử dụng để tiếp nhận tri thức mới, xây dựng thêm những bài tập ở mức độ cao hơn phù hợp với tâm sinh lí cũng như trình độ hiểu biết của học sinh
2.1.3 Nguyên tắc vừa sức
Những thành tựu của tâm lí học hiện đại đã khẳng định: Học sinh ở mỗi lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm tâm lí riêng trong quá trình tiếp thu kiến thức và kĩ năng mới Việc xác định dung lượng về độ khó của nội dung bài tập tùy thộc vào những đặc điểm này của học sinh Khác với lứa tuổi ở các cấp dưới, học sinh THPT đã trưởng thành về mặt tâm lí, khả năng tư duy đã tương đối hoàn thiện Vì vậy khi xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh THPT cần phải tính đến lợi thế này để vừa đáp ứng yêu cầu vừa sức , vừa tạo
Trang 33sức cho học sinh Khi xác định nội dung bài tập, áp dụng và lựa chọn phương pháp giảng dạy người giáo viên cần phải xuất phát từ trình độ nhận thức của học sinh, trình độ tiếng mẹ đẻ của các em Nếu nội dung các bài tập quá khó với học sinh thì các em phải tiếp thu một cách máy móc, thụ động làm cho giờ học trở nên nặng nề, buồn tẻ Ngược lại nếu nội dung bài tập quá dễ không đòi hỏi sự nỗ lực của học sinh thì các em sẽ chủ quan, không chịu suy nghĩ và giảm hứng thú học tập Tuân theo nguyên tắc này thì hệ thống bài tập đưa ra
và người thầy giáo phải nắm chắc đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh, nắm chắc trình độ tiếng Việt của học sinh để xây dựng hệ thống bài tập về biện pháp tu từ sao cho phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh Bên cạnh đó số lượng bài tập trong hệ thống phải phù hợp với thời gian quy định của chương trình học và thời gian học ở nhà của học sinh chuẩn bị và tiến hành dạy tiếng sao cho các em đủ khả năng và hứng thú tiếp thu kiến thức, hình thành các kĩ năng và kĩ xảo lời nói Nguyên tắc này còn yêu cầu trong quá trình dạy học đòi hỏi giáo viên phải vận dụng những nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với trình độ phát triển của học sinh trong lớp, đồng thời phù hợp với trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh, thậm trí của từng học sinh Nguyên tắc này phải đảm bảo cho học sinh đều có thể phát triển ở mức độ tối đa so với khả năng của mình Bên cạnh đó khi giảng dạy trên lớp người giáo viên phải thường xuyên theo dõi tình hình lĩnh hội của học sinh để kịp thời điều chỉnh hoạt động của bản thân cũng như học sinh, nhất là những học sinh thuộc đối tượng yếu kém
2.1.4 Nguyên tắc tích hợp
Theo tác giả Nguyễn Hải Châu tích hợp trong dạy học là sự hợp nhất liên kết giữa các môn có liên quan, giữa các phân môn có quan hệ hỗ trợ nhau nhằm tạo thành một thể thống nhất…qua đó rèn luyện khả năng liên môn để người học phát huy khả năng tư duy sáng tạo tổng hợp [3, tr.16] TS Đỗ Ngọc
Trang 34Thống và GS,TS Nguyễn Thanh Hùng lại có cùng quan điểm về tích hợp: Tích hợp là tinh thần của ba phân môn hợp nhất hòa trộn trong nhau, học cái này thông qua học cái kia và ngược lại
Theo từ điển tiếng Việt tích hợp là sự hợp nhất, sự hòa nhận, sự kết hợp Theo từ điển giáo dục học thì tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy Kế hoạch giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học Cũng theo tác giả của từ điển này thì có hai kiểu tích hợp thường gặp đó là: Tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau
Tích hợp dọc là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau Đây là tích hợp đồng tâm, tích hợp theo từng vấn đề trong từng phân môn, cụ thể đó là hướng tích hợp theo mối liên hệ (trực tiếp hoặc gián tiếp), giữa các vấn đề trong cùng một phân môn, giữa các bài học với nhau trong cùng một lớp, giữa lớp trước
và lớp sau thậm trí giữa các cấp học Đó là mối liên hệ kiến thức theo chiều dọc, là mối liên hệ theo kiểu xâu chuỗi, móc xích một cách chặt chẽ [2, tr.10] Khi xây dựng hệ thống bài tập cần tận dụng tất cả những hiểu biết lí thuyết về biện pháp tu từ mà học sinh đã được học ở lớp dưới để xây dựng bài tập
Tích hợp ngang là dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề Nói cụ thể thì tích hợp ngang được hiểu là tích hợp liên môn, liên phân môn và là hình thức tích hợp theo từng thời điểm Nói cụ thể hơn đó là sự khai thác triệt
để mối liên hệ kiến thức giữa các phần Văn, tiếng Việt và Làm văn trong từng đơn vị bài học, cũng có khi là giữa các đơn vị bài học với nhau [2, tr.8]
Trang 35Các bài tập đưa ra làm sao phải kết hợp thật tốt việc hình thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học với việc hình thành các
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết vốn là hai quá trình hữu cơ và hỗ trợ nhau hết sức đắc lực Dạy học biện pháp tu từ tiếng Việt theo hướng tích hợp cần khai thác triệt để những yếu tố thuận lợi để đạt hiệu quả cao
2.2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT
2.2.1 Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập
Dựa trên lý thuyết về hoạt động lời nói có thể thấy rằng muốn hình thành một kĩ năng cho học sinh thì phải xây dựng được một quy trình luyện tập và phải thông qua hoạt động luyện tập thường xuyên, luyện tập có ý thức Do vậy, muốn học sinh có kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ thì các em phải được rèn luyện kĩ năng đó thông qua một hệ thống bài tập đầy đủ và hợp lí Bài tập đưa
ra phải phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức và phải gắn với những tình huống cụ thể, sinh động để kích thích hứng thú học tập của các em
Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ cho học sinh THPT được đưa ra từ mức độ dễ đến khó, từ đơn giản như bài tập nhận diện đến những bài tập phức tạp hơn như bài tập tạo lập Các kiểu dạng bài tập đó đều được miêu tả kĩ lưỡng, có mẫu minh họa và đưa ra cách thức thực hành, hướng dẫn học sinh giải quyết được các bài tập tu từ mà giáo viên đưa
ra Toàn bộ hệ thống bài tập mà khóa luận xây dựng được thể hiện khái quát theo sơ đồ sau:
Trang 372.2.2 Hệ thống bài tập
2.2.2.1 Bài tập nhận diện
Miêu tả bài tập
Khái niệm: Đây là loại bài tập cho sẵn một ngữ liệu và yêu cầu học sinh
xác định, nhận diện, chỉ ra những biện pháp tu từ đã học có trong ngữ liệu đó
Có thể trong ngữ liệu cho sẵn của bài tập, khái niệm được biểu hiện trong nhiều dạng, nhiều vẻ Học sinh cần phải dựa vào những đặc trưng cơ bản của khái niệm, có thể bỏ qua những biểu hiện chi tiết để nhận diện và phân tích các khái niệm
Cấu tạo bài tập: Loại bài tập này thường gồm hai phần: phần trình bày
yêu cầu và phần dẫn ngữ liệu Phần trình bày yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: tìm, xác định, cho biết, tìm hiểu, phân loại, thống kê…Đồng thời có thể kết hợp thêm các yêu cầu khác như giải thích, lí giải, so sánh các hiện tượng tu từ
Bài tập minh họa:
Bài tập 1: Cho đoạn thơ sau:
“Máu đọng chưa khô máu lại đầy
Hỡi miền Nam trăm đắng nghìn cay Hai lăm năm chẳng rời cây súng
Đi trước về sau đã dạn dày”
Tác dụng của loại bài tập: Đây là loại bài tập yêu cầu thấp nhất nhưng
lại góp phần làm học sinh nhớ lại những tri thức đã được học, giúp học sinh
Trang 38nhận diện được các biện pháp tu từ, nó mang tính khởi động khơi gợi khả năng ghi nhớ kiến thức cơ bản về các biện pháp tu từ Loại bài tập này còn làm sáng tỏ, củng cố và khắc sâu một số khái niệm, đồng thời phát triển những khái niệm về biện pháp tu từ mà học sinh đã được tiếp thu từ bài học lí thuyết Không chỉ vậy, trong ngữ liệu khái niệm về các biện pháp tu từ có thể được biểu hiện nhiều vẻ, nhiều dạng hơn so với lí thuyết đã học Dạng bài tập này không những giúp giáo viên và học sinh củng cố tri thức về biện pháp tu
từ mà còn giúp học sinh có thêm những kĩ năng cơ bản trong quá trình nói và viết về một vấn đề nào đó trong văn chương cũng như trong đời sống
Cách thức hướng dẫn học sinh làm bài tập
- Căn cứ vào đặc trưng của khái niệm bài tập để nhận diện đúng các biện pháp tu từ đã được học Muốn làm được điều đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhớ lại các kiến thức lí thuyết đã học về biện pháp tu từ, tìm hiểu đặc điểm của những loại bài tập dạng này
- Vận dụng vào ngữ liệu của bài tập để xác định đối tượng cần nhận diện, phân tích Từ đó xác định, chỉ ra đúng những biện pháp tu từ được sử dụng trong ngữ liệu đó trên cơ sở lí thuyết đã học
- Phân tích đối tượng vừa tìm được để xác định đặc điểm của biện pháp tu từ đó, xem nó có đáp ứng đầy đủ các đặc trưng của khái niệm lí thuyết không Học sinh có phát hiện ra biện pháp tu từ cần tìm hay không, xét
về bản chất, đặc điểm về phong cách học có phù hợp hay không Từ đó có thể củng cố thêm một số khái niệm liên quan đến phong cách học cũng như biện pháp tu từ mà học sinh đã được học
Ví dụ: Ở bài tập minh họa trên phải gợi nhắc lại khái niệm mà học sinh
đã học, hướng dẫn học sinh căn cứ vào khái niệm về biện pháp ẩn dụ, hoán dụ
để nhận diện đúng hình ảnh có sử dụng những biện pháp này Qua đó, củng
cố thêm kiến thức về biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ mà học sinh đã được học
Trang 39 Một số dạng bài tập nhận diện
* Bài tập luyện nhận diện một số biện pháp tu từ ngữ âm
Loại bài tập này đưa ra ngữ liệu có chứa một số biện pháp tu từ ngữ âm như điệp âm, điệp vần, điệp thanh yêu cầu học sinh chỉ ra những biện pháp
tu từ ngữ âm cụ thể để học sinh củng cố lí thuyết về biện pháp tu từ ngữ âm
đã được học
Bài tập 1: Cho đoạn thơ sau trong bài “ Tống biệt hành”:
“Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.”
( Thâm Tâm)
Em hãy cho biết vần nào trong đoạn thơ trên được lặp lại nhiều nhất?
Nó có tác dụng gì với nội dung chủ đề của đoạn thơ?
Câu cuối thanh nào được lặp lại? Nó có tác dụng gì trong việc thể hiện cảm xúc của nhân vật?
Bài tập 2: Em hãy xác định các phép tu từ ngữ âm được sử dụng trong
các ngữ liệu sau:
a “ Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên”
( Tố Hữu)
b “Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương”
( Tản Đà)
* Bài tập luyện nhận diện một số biện pháp tu từ từ vựng
Bài tập loại này gồm có một số biện pháp như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp, đối…Đây là loại bài tập yêu cầu học sinh căn cứ vào khái niệm
Trang 40chỉ ra những biện pháp tu từ từ vựng cụ thể chứa trong ngữ liệu để học sinh củng cố lí thuyết đã được học
Bài tập 1: Cho bài thơ sau:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành thành cây lá vàng”
(Tương tư – Nguyễn Bính)
Em hãy cho biết biện pháp tu từ từ vựng được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên? Hãy chỉ ra cơ chế tạo lập của biện pháp tu từ đó?
Bài tập 2: Cho các ngữ liệu sau:
a “Cưới nàng, anh toan dẫn voi,
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân
Miễn là có thú bốn chân, Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.”
(Ca dao)
b “Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo”
(Ca dao)
Em hãy thống kê một số biện pháp tu từ từ vựng được tác giả dân gian
sử dụng trong hai ngữ liệu trên? Những biện pháp tu từ đó được thể hiện qua hình ảnh cụ thể nào?