Mái tây của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia là hai tác phẩm văn học nổi tiếng, quan trọng và được nhiều người biết đến.. Tuy nhiên để thấy được những điểm chung cùn
Trang 1-
ĐỖ THỊ THẢO
ĐỀ TÀI TèNH YấU TRONG
MÁI TÂY CỦA VƯƠNG THỰC PHỦ
VÀ Rễ - Mấ - ễ VÀ GIU - LI - ẫT
CỦA W SấCH - XPIA
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngành: Lớ luận văn học
Trang 2-
ĐỖ THỊ THẢO
ĐỀ TÀI TèNH YấU TRONG
MÁI TÂY CỦA VƯƠNG THỰC PHỦ
VÀ Rễ - Mấ - ễ VÀ GIU - LI - ẫT
CỦA W SấCH - XPIA
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngành: Lớ luận văn học
Người hướng dẫn khoa học ThS MAI THỊ HỒNG TUYẾT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Mai Thị Hồng Tuyết
Cô đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu cũng như luôn động viên khuyến khích tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Lí luận văn học, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2013
Tác giả khóa luận
Đỗ Thị Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Mai Thị Hồng Tuyết Khóa luận không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm
Hà Nội,ngày 30 tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu vấn đề 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH 8
1.1 Khái niệm về bộ môn Văn học so sánh và sự hình thành của bộ môn Văn học so sánh 8
1.1.1 Khái niệm về Văn học so sánh 8
1.1.2 Sự hình thành của bộ môn Văn học so sánh 10
1.2 Các hướng nghiên cứu 10
1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng 10
1.2.2 Nghiên cứu song song 14
1.2.3 Nghiên cứu liên ngành 17
1.3 Ý nghĩa và tác dụng của bộ môn Văn học so sánh 18
Chương 2 SO SÁNH ĐỀ TÀI TÌNH YÊU TRONG MÁI TÂY VÀ RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT 20
2.1 Sự gặp gỡ của hai tác phẩm khi thể hiện tình yêu 20
2.1.1 Tình yêu như là biểu tượng của tuổi trẻ 20
2.1.2 Tình yêu như là nạn nhân của xã hội 26
2.1.3 Sự trợ giúp của tôn giáo với tình yêu 28
2.2 Những điểm khác biệt của hai tác phẩm khi viết về tình yêu 31
2.2.1 Bối cảnh lịch sử 31
Trang 62.2.2 Tình yêu trong Mái tây là tình yêu vượt qua lễ giáo phong
kiến và mang đậm màu sắc thể xác 33
2.2.3 Tình yêu trong Rô-mê-ô và Giu-li-ét là tình yêu vượt qua định kiến và thù hận dòng họ, một tình yêu trong sáng, thuần khiết 37
Chương 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TÌNH YÊU TRONG MÁI TÂY VÀ RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT 44
3.1 Xung đột kịch 44
3.2 Nhân vật kịch 45
3.3 Hành động kịch 51
3.4 Ngôn ngữ kịch 53
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mái tây của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô và Giu-li-ét của
Sếch-xpia là hai tác phẩm văn học nổi tiếng, quan trọng và được nhiều người biết đến Hai tác phẩm đại diện cho hai dân tộc, hai nền văn hóa khác nhau đó là phương Đông và phương Tây Nghiên cứu về hai tác phẩm nổi tiếng này đã
có rất nhiều những bài viết, những lời nhận xét, đánh giá Nó được nhìn nhận
ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau nhưng chưa được nhìn nhận ở phương diện văn học so sánh
Tác phẩm Mái tây của Vương Thực Phủ là một tác phẩm tạp kịch nổi
tiếng và thành công nhất của Vương Thực Phủ Giả Trọng Minh cũng có nói trong bài điếu từ rằng : “Tạp kịch mới, truyền kì cũ, Tây sương kí, nhất thiên hạ” [16; 263]
Tây sương kí đã miêu tả cuộc tình duyên vượt qua môn đăng hộ đối,
“cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy Nghiên cứu về tình yêu trong tác phẩm này sẽ giúp chúng ta phần nào hiểu thêm về quan niệm tình yêu của phương Đông và phương Tây Tuy nhiên để thấy được những điểm chung cùng những nét riêng độc đáo trong tình yêu của
phương Đông và phương Tây thì việc nghiên cứu đối sánh tình yêu trong Mái
tây của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia là một việc
làm bổ ích
Rô-mê-ô và Giu-li-ét được coi là một tác phẩm bi kịch viết về tình yêu
bất hủ của Sếch-xpia Nhắc đến Rô-mê-ô và Giu-li-ét là nhắc tới mối tình
vượt qua thù hận và những định kiến dòng họ Một mối tình trong sáng, sẵn sàng chết để bảo vệ tình yêu, bất chấp những ngăn cấm, thù hận
Trang 8Chính vì những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật đã khiến hai tác phẩm văn học trên trở thành những tác phẩm nổi tiếng và bất hủ đối với bạn đọc thế giới
1.2 Hiện nay, Văn học so sánh là một bộ môn quan trọng Nó đã được đưa vào giảng dạy cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng Trước kia,
Ở Việt Nam, bộ môn Văn học so sánh chưa có được vị thế như một bộ môn nghiên cứu văn học chính thức Hiện nay, Văn học so sánh đã ngày càng được quan tâm một cách đúng mức
1.3 Đã có một số chuyên luận giới thiệu lí thuyết và các công trình nghiên cứu cụ thể về Văn học so sánh xuất hiện trên các sách, báo, nhất là Tạp chí văn học Nghiên cứu Văn học so sánh hiện nay chỉ dừng ở mức độ lí thuyết, rất ít tác phẩm đưa vào nghiên cứu trong thực tiễn văn học Ở Việt Nam, đã có một vài công trình nghiên cứu về Văn học so sánh như: Nghiên
cứu so sánh thơ Hai-cư với thơ Lục bát và Tứ tuyệt; so sánh Truyền kì mạn
lục của Nguyễn Dữ với Tiễn đặng tân thoại của Cù Hựu; Hình tượng con
người – nạn nhân chiến tranh trong hai tiểu thuyết Một nỗi đau riêng và Nỗi
buồn chiến tranh… Các công trình này có đóng góp là áp dụng lí thuyết văn
học so sánh vào việc nghiên cứu văn học trong thực tiễn Tuy nhiên, hiện trạng nghiên cứu của bộ môn này hiện nay còn chưa xứng với tiềm năng của
nó
1.4 Dựa trên tinh thần nghiên cứu đó, chúng tôi chọn: “Đề tài tình yêu
trong Mái tây của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia
với mục đích làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trên phương diện tình yêu của hai tác phẩm Đồng thời, với đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp một phần công sức vào việc khẳng định vị trí của bộ môn Văn học so sánh và ứng dụng bộ môn này trong thực tiễn nghiên cứu văn học hiện nay
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về hai tác phẩm này ở Việt Nam có một số ý kiến như sau:
Lý Trác Ngô đã viết trong lời tựa Mái tây như sau: “Người viết vở Mái
tây là thợ trời Người viết vở Tỳ Bà chỉ là thợ vẽ Người thợ vẽ, có thể cướp
được cái khéo của thợ trời Nhưng thực ra thợ trời nào có khéo đâu Cứ thế
mà suy, thì thợ vẽ khéo cho mấy nữa, cũng vẫn là hạng kém”[17; 17] Nếu như người viết vở Tỳ Bà được Lý Trác Ngô ca ngợi bởi sự khéo léo mô
phỏng lại thì Mái tây lại được ca ngợi bởi sự sáng tạo Ở cuối bài viết, Lý
Trác Ngô còn thốt lên: “Trời ơi! Ước gì tôi được gặp một người như người
người viết vở Mái tây” [17; 19] Điều đó thể hiện lòng ngưỡng mộ của ông
đối với tác giả Vương Thực Phủ
Kim Thánh Thán nhận xét về Mái tây như sau: “Ai bảo vở Mái tây là
dâm thư, người ấy ngày sau nhất định phải sa xuống ngục “nhổ lưỡi”! Sao
thế? Vở Mái Tây không phải bỡn, mà là văn hay của Trời Đất…” [17; 283] Kim Thánh Thán đã lên tiếng khẳng định Mái tây không phải là dâm thư mà
là một áng văn hay Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu còn đánh giá rất cao về tài
năng quan sát, miêu tả của tác giả Vương Thực Phủ trong Mái tây: “Viết văn
hay nhất là mắt nhìn chỗ này, tay tả chỗ kia, nếu có lúc mắt muốn nhìn chỗ này thì tay tất phải tả chỗ kia…Nếu không hiểu ý ấy, mắt nhìn chỗ nào, tay tả
chỗ ấy, thì xem xong là hết ngay…Người viết Mái tây thì hiểu ý ấy lắm”[17;
286]
Bài viết về Tây sương kí của nhà thơ Lưu Trọng Lư đã ca ngợi giá trị
và sức sống lâu bền của tác phẩm Mái tây: “Ở phương Tây, kịch Rô-mê-ô và
Giu-li-ét còn sống mãi, thì kịch Tây sương kí ở phương Đông cũng còn chưa
chết trong lòng người Thật là một con người đã cắm neo ngoài dòng thời đại Thôi Oanh Oanh ở trong lòng mọi người đàn bà, Trương Quân Thụy ở trong
Trang 10lòng mọi người đàn ông Trương và Thôi không phải là giống riêng, do một thời đại nào tạo nên, một xã hội nào sản xuất ra cả.”[17; 302]
Nguyễn Phương Chi đã từng nhận xét về Mái tây: “Cùng với Truyện
Kiều, Phan Trần… Tây sương kí đã góp thêm tiếng nói tích cực vào trào lưu
văn học vì quyền sống, quyền hạnh phúc của con người đã nổi lên mạnh mẽ ở Việt Nam từ giữa thế kỉ XVIII” [5; 1615] Nguyễn Phương Chi đã khẳng định
giá trị nhân văn rộng rãi của tác phẩm Mái tây ở nước ta
Những lời nhận xét về tác phẩm Mái tây của Vương Thực Phủ của các tác giả văn học thế giới và Việt Nam đã khẳng định giá trị của tác phẩm Mái
tây Từ xưa đến nay người ta thường quan tâm nghiên cứu tác phẩm Mái tây
trên nhiều phương diện khác nhau nhưng việc nghiên cứu tác phẩm này trên tinh thần so sánh, đối chiếu thì vẫn còn rất hạn chế
Nếu như Mái tây được các tác giả hết lời ca ngợi thì Rô-mê-ô và
Giu-li-ét của Sếch-xpia cũng đã có rất nhiều những bài nghiên cứu, đánh giá:
Tác giả Đặng Anh Đào đánh giá Rô-mê-ô và Giu-li-ét là tác phẩm đầu tiên cho hàng loạt bi kịch thời kì văn học Phục hưng Anh: Rô-mê-ô và Giu-li-
ét là vở bi kịch đầu tay của Sếch-xpia, ra đời giữa lúc mà ông đang hào hứng
sáng tác kịch lịch sử, hài kịch và đang gặt hái những thành công vang dội với hai thể loại này Ngay lập tức công chúng nước Anh mà trước hết là ở Luân Đôn, đã chào đón nó hết sức nồng nhiệt Vở bi kịch đã gây xúc động chưa
từng thấy trên kịch trường và trong dư luận Từ đó đến nay Rô-mê-ô và
Giu-li-ét đã được lịch sử sân khấu thế giới nói chung thừa nhận là một trong
những kiệt tác hàng đầu”.[9; 213] Điều này đã phần nào khẳng định được giá trị to lớn của tác phẩm trong nền văn học thế giới
Đặng Anh Đào còn nêu lên nguồn gốc của tác phẩm như sau: “Câu
chuyện về mối tình oan trái, bi thảm của Rô-mê-ô và Giu-li-ét vốn là câu
Trang 11chuyện có thật, từng xảy ra ở Italia dưới thời Trung cổ Nó đã được một số nhà văn, nhà thơ Italia ghi chép lại, nhuận sắc thêm, ”[9; 214]
Bà còn nêu lên đánh giá của mình về nội dung chủ yếu và giá trị to lớn
của tác phẩm như sau: “Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã khơi trúng một nỗi đau khá
triền miên, dai dẳng đã và vẫn còn gây nhức nhối cho xã hội loài người Hận thù, những thành kiến, tệ phân biệt chủng tộc, màu da, đẳng cấp, tôn giáo, tiền tài, địa vị đã và vẫn còn ngáng trở, chia cắt, giết chết bao nhiêu là đôi lứa yêu nhau.” [9; 214]
Trương Đăng Dung trong bài viết: “Văn học dịch và những vấn đề lí
luận của văn học so sánh” đã nhận xét: Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia là
một tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng văn học Anh.”Vở kịch đã gây xúc
động chưa từng thấy trên kịch trường và trong dư luận Từ đó đến nay
Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã được lịch sử sân khấu thế giới nói chung thừa nhận là một
trong những kiệt tác hàng đầu”.[7; 213] Trương Đăng Dung cũng đã góp một
tiếng nói khẳng định giá trị to lớn và vị trí của tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét
trên kịch trường
Lương Duy Trung xem tác phẩm là “bản tình ca say đắm, dũng cảm và bất khuất dám đạp lên hận thù và lễ giáo phong kiến để giành lấy quyền tự do yêu đương”[ 9.214 ]
Như vậy, từ trước đến nay, tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét được các tác
giả văn học Việt nam và thế giới nghiên cứu, đánh giá trên nhiều phương diện như giá trị, vị trí, ý nghĩa… nhưng việc nghiên cứu tác phẩm trên tinh thần so sánh, đối chiếu với các tác phẩm có cùng chủ đề, đề tài thì lại còn hạn chế
Dựa trên lí thuyết của văn học so sánh, và nội dung của hai tác phẩm
Mái tây của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia, chúng
tôi lựa chọn “Đề tài tình yêu trong Mái tây của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô
Trang 12khác biệt trong quan niệm tình yêu của hai tác phẩm đồng thời góp phần đưa
lí thuyết văn học so sánh vào nghiên cứu trong thực tiễn văn học
3 Mục đích nghiên cứu vấn đề
Áp dụng lí thuyết của văn học so sánh vào việc nghiên cứu về “Đề tài
tình yêu trong hai tác phẩm Tây sương kí của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô và
Giu-li-ét của Sếch-xpia giúp chúng ta hiểu được nét đặc sắc cùng những giá trị
của mỗi tác phẩm Tình yêu trong mỗi tác phẩm có những đặc sắc khác nhau
Vì vậy nghiên cứu đề tài tình yêu trong hai tác phẩm sẽ giúp chúng ta hiểu được đặc sắc trong cách thể hiện tình yêu của mỗi tác phẩm Hai tác phẩm viết
về tình yêu ở hai dân tộc, hai nền văn hóa khác nhau: Phương Đông và phương Tây Vì vậy, nghiên cứu tình yêu của hai tác phẩm trên tinh thần so sánh, đối chiếu như thế này sẽ giúp cho hiểu rõ hơn về hai nền văn học độc lập,về quan niệm tình yêu của mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa ấy Đồng thời với việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn góp một phần công sức của mình vào việc khẳng định vị trí, tầm quan trọng của bộ môn văn học so sánh trong bối cảnh hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu vấn đề
Hai tác phẩm Mái tây của Vương Thực Phủ và Rô-mê-ô và Giu-li-ét
của Sếch-xpia có nhiều bình diện giá trị nhưng trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu những gì có liên quan đến đề tài tình yêu dựa trên sự tương đồng và khác biệt Việc nghiên cứu hai tác phẩm như vậy là nghiên cứu theo hướng song song mà cụ thể hơn là dựa trên lí thuyết chủ đề học của văn học
so sánh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 135.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
5.3 Phương pháp hệ thống
Trong đó phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu
Trang 14Chương 1: Những vấn đề chung về văn học so sánh
1.1 Khái niệm văn học so sánh và sự hình thành của bộ môn văn học so sánh
1.1.1 Khái niệm văn học so sánh
Thường thì chúng ta chỉ nghiên cứu văn học từng dân tộc riêng biệt Đây là phương tiện cơ bản và quan trọng Tuy nhiên nền văn học thế giới tồn tại không biệt lập Văn học các nước không ngừng giao thoa và tác động lẫn nhau, trong quá trình đó diễn ra sự ảnh hưởng, thâm nhập, tiếp nhận văn học giữa các dân tộc Chẳng hạn: Văn học Đông Nam Á - Văn học Ấn Độ; Văn học Bắc Á - Văn học Trung Quốc; Văn học Châu Âu - Văn học Hi Lạp - La Mã… Văn học so sánh là bộ môn vượt lên trên giới hạn của văn học dân tộc
để nghiên cứu các nền văn học trên thế giới
Định nghĩa về Văn học so sánh là một việc làm khó khăn vì thế có khá nhiều quan niệm về Văn học so sánh Từ Văn học so sánh cũng có những cách biểu đạt và phiên dịch khác nhau nên trọng điểm mà họ nhấn mạnh cũng khác nhau Ví dụ, từ so sánh trong Văn học so sánh tiếng pháp là Compavee,
nó ám chỉ trong lịch sử văn học đã từng nảy sinh quan hệ văn học giữa các nước, ở tiếng Anh, Comparative là tính từ, nó làm định nghĩa cho từ literature(Vănhọc ), còn ở Trung Quốc, hai chữ so sánh (tỉ giáo) của tiếng Hán dễ làm cho người ta nghĩ đến động tác so sánh, đồng thời, từ Văn học so sánh trong tiếng Hán về mặt chữ không có hàm nghĩa là nghiên cứu văn học Mặc dù các nước lí giải Văn học so sánh là khác nhau, nhưng do tính qui ước của bản thân ngôn ngữ, nên khái niệm Văn học so sánh được các nước thừa nhận Người ta tiếp nhận cách nói giản lược này
Trong mục từ : “Văn học so sánh” viết cho cuốn “Trung Quốc đại bách
Trang 15định : “Văn học so sánh - một phân nhánh của nghiên cứu văn học, xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Nó là một khoa học nghiên cứu so sánh một cách lịch sử quá trình có tác dụng tương hỗ giữa 2 nền văn học dân tộc trở lên, nó nghiên cứu quan hệ tương hỗ hình thức nghệ thuật và hình thái ý thức của các nền văn học dân tộc đó”[13; 16]
Daniel-Henri pageaux định nghĩa khá đầy đủ:
“Văn học so sánh là chuyên ngành nghiên cứu mối quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnh hưởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác, giữa các sự kiện hay văn bản văn học, những mối quan hệ này có thể gần hay xa Trong không gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, hoặc nhiều văn hóa khác nhau, cho dù có chung một truyền thống”[ 8; 12]
Tại Việt Nam, sự quan tâm đến văn học so sánh cũng được thể hiện trong nhiều bài viết khá công phu Trương Đăng Dung trong bài báo “Văn học dịch và những vấn đề lí luận của văn học so sánh” định nghĩa rằng: “Văn học so sánh là một trong những ngành khoa học văn học nghiên cứu mối quan
hệ qua lại cũng như những đặc điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học nhằm tiếp cận tiến trình văn học lớn nhất: Văn học thế giới” [7; 23] Nguyễn Văn Dân thì định nghĩa: “Văn học so sánh là một bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ giữa văn học so sánh với các nền văn học dân tộc [hay các nền văn học quốc gia] có nghĩa là “ nó nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn học quốc gia” [6; 22] Như vậy, nhà nghiên cứu này đã nói tới đặc trưng quan trọng nhất của bộ môn văn học so sánh là nghiên cứu so sánh các tác giả, tác phẩm… thuộc các quốc gia và thậm chí là so sánh các nền văn học trên thế giới
Nghiên cứu về định nghĩa Văn học so sánh chúng ta cần phân biệt hai
Trang 16có sự nhầm lẫn khi sử dụng Chúng ta cần khẳng định rằng: Văn học so sánh khác với so sánh văn học Văn học so sánh là một bộ môn độc lập còn so sánh văn học chỉ là một phương pháp của tất cả các ngành nghiên cứu văn học
Như vậy, định nghĩa về Văn học so sánh thì có rất nhiều Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu Văn học so sánh là sự nghiên cứu đối chiếu, so sánh giữa hai hay nhiều hiện tượng (tác giả, tác phẩm, trào lưu…) thuộc các nền văn học dân tộc để chỉ ra mối quan hệ giữa các nền văn học dân tộc
1.1.2 Sự hình thành của bộ môn văn học so sánh
1.1.2.1 Điều kiện hình thành của bộ môn văn học so sánh
Văn học thế giới đã có mối liên hệ từ xa xưa nhưng loài người thì chưa
ý thức được mối liên hệ, ảnh hưởng qua lại đó Phải tới thế kỉ XIX, khi xã hội loài người chuyển từ hình thái kinh tế thấp lên hình thái kinh tế cao hơn đã có
sự đòi hỏi giao lưu về mọi mặt trong đó có văn học thì mới hình thành nền văn học thế giới và lúc đó ý thức so sánh mới bắt đầu
Thứ nhất: Sự ra đời của bộ môn Văn học so sánh liên quan trực tiếp
đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và ý thức chủ nghĩa thế giới Phương thức sản xuất của chủ nghĩa tư bản không ngừng thúc đẩy mối liên hệ và giao lưu kinh tế, thương mại giữa các nước mà còn thúc đẩy giao lưu về mặt văn hóa
Thứ hai: Từ trào lưu văn học lãng mạn chủ nghĩa cuốn hút toàn Châu
Âu và sự thức tỉnh của văn học thế giới chủ nghĩa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là điều kiện cho sự ra đời Văn học so sánh
Thứ ba: Sự ra đời của Văn học so sánh có quan hệ nhất định với sự
xuất hiện của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Như vậy, những điều kiện cơ bản trên chính là mầm mống cho sự hình thành của bộ môn Văn học so sánh
Trang 171.1.2.2 Quá trình phát triển của bộ môn văn học so sánh:
Giai đoạn thứ nhất: Nửa cuối thế kỉ XIX Đây là giai đoạn hình thành
và khẳng định Giai đoạn này có công lao chủ yếu của các nhà so sánh luận và
sử gia văn học người Anh, Pháp, Đức, Mĩ, Thụy Sĩ, Italia…
Giai đoạn thứ hai: Nửa đầu thế kỉ XX, là giai đoạn văn học so sánh chú
ý đến sự ảnh hưởng và vay mượn Tiêu biểu cho giai đoạn này là một số tác giả nghiên cứu văn học người Pháp như: Fernand Baldensperger, Paul Van Tieghem … với trường phái thực chứng - lịch sử
Giai đoạn thứ ba: Từ giữa thế kỉ XX đến nay, là giai đoạn hoàn chỉnh
bộ môn Văn học so sánh bằng cách mở rộng đối tượng nghiên cứu của nó sang lĩnh vực các hiện tượng tương đồng
1.2 Các hướng nghiên cứu
1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng
1.2.1.1 Khái niệm
“Ảnh hưởng” là khái niệm hạt nhân của phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng Khái niệm “ảnh hưởng” của văn học so sánh khác với khái niệm “ảnh hưởng” mang ý nghĩa chung chung Thông thường nói ảnh hưởng là chỉ sự vật này có tác động với sự vật khác, rồi dẫn đến sự phản ứng và phản hồi của
sự vật sau “Ảnh hưởng” của văn học so sánh nhấn mạnh đến “tính ngoại lai”,
nó quan tâm đến sự xâm nhập của yếu tố ngoại lai
“Nghiên cứu ảnh hưởng là chỉ việc dùng phương pháp lịch sử để xử lí các mối liên hệ thực tế tồn tại ở giữa các nền văn học dân tộc khác nhau, căn
cứ của nó là ở sự tiếp xúc giao lưu lẫn nhau giữa các nền văn học dân tộc Nghiên cứu ảnh hưởng nhấn mạnh đến thực chứng và liên hệ thực tế, phàm các suy luận hoặc phán đoán thiếu căn cứ thực tế đều không thuộc về phạm trù nghiên cứu ảnh hưởng.”[13; 71]
Trang 18Chẳng hạn, chúng ta có thể nghiên cứu ảnh hưởng giữa hai nhà văn Lỗ Tấn và Gôgôn; giữa nhà văn với trào lưu văn học như: Xuân Diệu với chủ nghĩa tượng trưng; giữa hai nền văn học: Văn học Việt nam và Văn học Trung Quốc
Như vậy, phạm vi và đối tượng của nghiên cứu ảnh hưởng là rất rộng
1.2.1.2 Phương pháp
Để nghiên cứu được các hiện tượng văn học theo hướng so sánh ảnh
hưởng, trước tiên người nghiên cứu phải đặt giả thiết (Phải có tư tưởng thì mới có giả thiết) Sau đó phải tìm tư liệu để chứng minh và làm sáng tỏ giả thiết đó Sau khi có tư liệu người viết sử dụng phương pháp phân tích những
tư liệu đó để tìm cội nguồn, tìm sự sáng tạo của đối tượng so sánh Và cuối
cùng dùng phương pháp tìm ảnh hưởng và siêu ảnh hưởng để nghiên cứu về
đối tượng
1.2.1.3 Các loại hình ảnh hưởng
Ảnh hưởng trong văn học khá phức tạp, và có nhiều loại Trong đó có hai loại hình ảnh hưởng quan trọng đó là: Ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp; ảnh hưởng chính và ảnh hưởng phụ
* Ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp:
Ảnh hương trực tiếp là nhà văn tiếp xúc và tiếp nhận trực tiếp ảnh hưởng của nhà văn, tác phẩm nước ngoài; ảnh hưởng gián tiếp là nói về nhà văn thông qua một hoặc một số môi giới để tiếp nhận những tiến bộ của nhà văn, tác phẩm nước ngoài
Ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp có mối quan hệ mật thiết Ảnh hưởng trực tiếp thường thúc đẩy ảnh hưởng gián tiếp, nhưng rồi ảnh hưởng gián tiếp lại chuyển hóa thành ảnh hưởng trực tiếp Chẳng hạn như một số chí sĩ đông
du Nhật Bản, họ thông qua Nhật Bản để học tập phương Tây, ví dụ: Sách dịch
Trang 19Tây học thời cận đại Trung Quốc, không ít danh từ trong Trung văn đều vay mượn của Nhật Bản
* Ảnh hưởng chính và ảnh hưởng phụ
Từ mặt tác động và tiếp nhận mà nói, ảnh hưởng chính là chỉ tác dụng của vật gây ảnh hưởng đối với vật chịu ảnh hưởng tích cực, nó thúc đẩy và làm phong phú sáng tác của các nước khác hoặc có thể nói vật chịu ảnh hưởng tiếp nhận, tiêu hóa nhân tố ngoại lai, sáng tác ra tác phẩm ưu tú
Ảnh hưởng phụ là chỉ tác dụng của vật gây ảnh hưởng đối với vật chịu ảnh hưởng là tiêu cực, ngăn cản hoặc phá hoại sáng tác của các nước khác hay nói cách khác là vật chịu ảnh hưởng chống lại hoặc phủ định một số nhân tố của vật gây ảnh hưởng
Ảnh hưởng chính và ảnh hưởng phụ một số trường hợp xen lẫn vào nhau Chẳng hạn như ở thời Ngũ tứ của Trung Quốc, ảnh hưởng của các trào lưu văn học phương Tây với văn đàn Trung Quốc làm phong phú các sáng tác nhưng đồng thời cũng tạo ra sự đứt đoạn giữa văn học mới với văn học truyền thống
1.2.1.4 Phạm vi của nghiên cứu ảnh hưởng
Nghiên cứu ảnh hưởng là một loại phương pháp luận cơ bản và chủ yếu của văn học so sánh Phạm vi của nghiên cứu ảnh hưởng rất rộng, chủ yếu có hai mặt:
Một là: Mối liên hệ và ảnh hưởng thực tế của nhà văn, tác phẩm Tức
phải tìm hiểu sự lưu truyền tác gia, tác phẩm nước ngoài và mối liên hệ học hỏi, kế thừa của những nhà văn ở các nước khác nhau, vừa phải chú ý xem các nhà văn đã vay mượn, sáng tạo như thế nào, trong quá trình phân tích sự hấp thụ, tiêu hóa văn học nước ngoài đối với nhà văn để nắm được những chỗ sáng tạo và thành công của họ
Trang 20Hai là: Sự hưởng ứng lẫn nhau của các tư trào văn học và phong trào
văn học là sự mở rộng phạm vi nghiên cứu của văn học so sánh Nó nghiên cứu một tư trào văn học hoặc một trường phái phê bình được hình thành như thế nào? Trong ngữ cảnh mới nó có sự phát triển và đổi mới gì?
Đó chính là những phạm vi của nghiên cứu ảnh hưởng
1.2.1.5 Hạn chế của nghiên cứu ảnh hưởng
Nghiên cứu ảnh hưởng có rất nhiều ý nghĩa đối với văn học thế giới xong nó cũng tồn tại những hạn chế như:
Thứ nhất: Nghiên cứu ảnh hưởng thiên về mối liên hệ thực tế, chú
trọng việc nghiên cứu nguồn gốc và ảnh hưởng, trọng tâm nghiên cứu là ở sự phát hiện và khảo chứng tư liệu Nó bỏ qua tính chỉnh thể của tác phẩm và cá tính sáng tạo của nhà văn
Thứ hai: Nghiên cứu ảnh hưởng nhấn mạnh thực chứng làm cho phạm
Ví dụ: So sánh truyện cổ tích Việt Nam và truyện cổ tích Grim
Trang 21Nghệ thuật ngôn từ là một cái rất nguyên sơ, nó phân hóa từ nghệ thuật nguyên hợp mà thành thơ ca Các thể loại văn học, con đường phát triển, hành trình văn học của các dân tộc cũng giống nhau Vì vậy, nếu không nghiên cứu vấn đề này thì sẽ không thấy tính cộng đồng trong nghiên cứu văn học thế giới
1.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Người ta sử dụng hai phương pháp chủ yếu để nghiên cứu so sánh đó là: Nghiên cứu trực tiếp và nghiên cứu gián tiếp (nghiên cứu diễn giải)
Những yếu tố đem so sánh phải có ý nghĩa nhất định, đặc biệt người
nghiên cứu phải coi trọng tính văn học của vấn đề đem so sánh
1.2.2.4 Các hướng nghiên cứu
Đề tài, nhân vật, tư tưởng và cả những phương diện nhỏ hơn như: Môtip, sự kiện, tình huống,… Như vậy, chủ đề bao gồm nhiều phạm vi từ lớn đến nhỏ
Trang 22Ví dụ về nghiên cứu chủ đề: So sánh Anna Karenina của L Tonstol với Tereda Deskeru của F.Moriac Ban đầu những thành tựu của văn học Pháp ảnh hưởng rất mạnh đến văn học Nga với việc coi trọng những giá trị đạo đức của con người Khi văn học Pháp suy đồi thành chủ nghĩa tự nhiên thì văn học Nga với những giá trị của nó lại trở lại Pháp Điểm giống nhau của hai tác phẩm là miêu tả hai cô gái yêu đương mãnh liệt, có gia đình nhưng ngoại tình,
có số phận bị kịch và cuối cùng đều chết Cách xử lí nhân vật, tư tưởng giống nhau: Một lòng đồng cảm sâu sắc và khoan dung với họ
* Thể loại học
Khái niệm này nhấn mạnh đến đặc trưng ngôn từ, nó có truyền thống từ phương Tây Các loại hình của văn học các dân tộc có nhiều điểm tương đồng
Thể loại học là môn học nhánh chuyên nghiên cứu lịch sử phát triển và
lí luận về loại hình văn học của các nước khác nhau Trong văn học so sánh, thể loại học là một trong những lĩnh vực có tính giống nhau nhất Bất kể là phương Đông hay phương Tây, mặc dù bối cảnh văn hóa và truyền thống văn học khác nhau, nhưng đều có những loại hình văn học tương ứng như thơ ca, tiểu thuyết…các học giả so sánh phát hiện ra nhiều điểm giống nhau trong những thể loại đó, từ đó tạo ra cơ sở để so sánh
Thể loại học nghiêng về nghiên cứu những nhân tố giống và khác nhau của văn bản văn học Ví dụ: So sánh sử thi Hy Lạp, Ấn Độ với Việt Nam
* Loại hình học
Là nghiên cứu sự giống nhau, lặp lại có qui luật Khái niệm này được các học giả Liên Xô đặt ra: Riftin, Arosxayep quãng những năm 50-60 của thế kỉ XX So sánh loại hình là nền tảng lý thuyết cho việc nghiên cứu văn học toàn thế giới Ví dụ: Các trào lưu văn học xuất hiện một cách lịch sử: Văn
Trang 23học Phục hưng phát triển trên di sản của văn học cổ đại từ thế kỉ XIII ở Ý đến thế kỉ XVI ở Tây Ban Nha với Xecvantec
* Thi pháp học
Thi pháp là hệ thống của những yếu tố có tính vĩnh hằng được đúc rút
ra từ lí luận văn học
Chúng ta có thể so sánh những yếu tố bất biến: Quan niệm về con
người, nhân vật, cốt truyện, đạo đức Ví dụ: Thi pháp Truyện Kiều là cuốn
sách so sánh thi pháp Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân Cũng có thể so sánh về lí luận văn học: Các khái niệm, phạm trù, quan niệm của các nền văn học khác nhau Ví dụ: Quan hệ văn học - đời sống - người sáng tác - người đọc ở phương Đông và phương Tây So sánh về phương diện lí luận tiếp nhận
1.2.3 Nghiên cứu liên ngành
Đây là hướng nghiên cứu mới xuất hiện tương đối muộn, bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ XX Người đề xuất là một học giả người Mĩ Remark Nghiên cứu liên ngành chú trọng đến cầu nối giữa văn học nghệ thuật với các lĩnh vực hoạt động khác Chẳng hạn: Văn học với các nghệ thuật khác như: Âm nhạc, hội họa, điện ảnh; văn học với tôn giáo; văn học với khoa học xã hội: Triết học, ngôn ngữ học, tâm lí học; văn học với khoa học tự nhiên,…
Như vậy lĩnh vực nghiên cứu của văn học so sánh đã được mở rộng hơn, phá vỡ khung của văn học so sánh trước đó
1.3 Ý nghĩa và tác dụng của bộ môn văn học so sánh
Văn học so sánh giúp mở rộng tầm mắt nghiên cứu và cải tiến phương pháp nghiên cứu học thuật
Văn học so sánh còn giúp ta nghiên cứu sâu sắc văn học bản quốc và
Trang 24Giúp nhận thức rõ lịch sử văn học và lí luận văn học trong và ngoài nước
Ngoài ra, nó còn giúp thúc đẩy mối liên hệ và giao lưu văn học và văn hóa các nước…
Như vậy có thể thấy, Văn học so sánh có một tầm quan trọng đặc biệt trong nghiên cứu văn học
Khi tìm hiểu thời điểm ra đời cũng như xuất xứ của các tác phẩm,
chúng tôi xác định nghiên cứu đề tài tình yêu trong hai tác phẩm Rô-mê-ô và
Giu-li-ét của Sếch-xpia với Mái tây của Vương Thực Phủ theo phương pháp
so sánh song song
Trang 25Chương 2: So sánh đề tài tình yêu
trong Mái tây và Rô-mê-ô và Giu-li-ét
“Tác phẩm Mái tây của Vương Thực Phủ là vở tạp kịch mà ở Việt Nam
cũng như Trung Quốc được đánh giá rất cao Nhiều người có thể không biết
tới Đậu Nga oan của Quan Hán Thanh nhưng lại rất thuộc Mái tây của Vương
Thực Phủ.”[2; 274] Nguyễn Khắc Phi đã khẳng định như vậy trong bài viết
về tác phẩm Mái tây Nó khẳng định giá trị to lớn của tác phẩm này
Vương Thực Phủ là tác giả của vở tạp kịch nổi tiếng này Tài liệu về Vương Thực Phủ còn rất ít Người ta chỉ biết ông là người Đại Độ ( Bắc Kinh), sáng tác tạp kịch vào những năm 1290-1300 đời Nguyên Ông nổi tiếng là một người tài hoa, mọi người đều nể phục Trước đây có người cho
rằng ông sáng tác mười sáu chương đầu Mái tây còn bốn chương sau là Quan
Hán Thanh thêm vào hoặc ngược lại nhưng hiện nay căn cứ vào ngôn ngữ,
phong cách nghệ thuật các nhà phê bình Trung Quốc khẳng định Mái tây là
tác phẩm của Vương Thực Phủ
Mái tây của Vương Thực Phủ lấy cốt truyện từ: Oanh Oanh truyện
(Còn có tên nữa là Hội chân kí) của Nguyên Chẩn đời Đường nhưng đã có sự
cải biến và sáng tạo Chủ đề tư tưởng của tác phẩm đã có sự thay đổi bởi sự
tiếp thu từ tác phẩm: Tây Sương kí chư cung điệu của Đổng Giải Nguyên đời
Kim Tác giả Vương Thực Phủ đã gia công về nội dung và nghệ thuật để tạo nên một tác phẩm nổi tiếng
Cùng với Mái tây của Vương Thực Phủ ở phương Đông thì ở phương Tây Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia được nhiều người ca ngợi là một tác
phẩm bất hủ trong văn học thế giới
Tác giả Sếch-xpia (1564-1616) là nhà thơ, nhà soạn kịch thiên tài,
Trang 26của Sếch-xpia gồm : Thơ và kịch, kịch của ông bao gồm: Hài kịch, kịch lịch
sử và bi kịch,…ở thể loại nào thì Sếch-xpia cũng có những đóng góp đáng kể cho kịch trường Anh
Rô-mê-ô và Giu-li-ét là tác phẩm bi kịch đầu tay của Sếch-xpia, tác
phẩm ra đời giữa lúc ông đang hào hứng sáng tác kịch lịch sử, hài kịch và gặt hái được rất nhiều thành công Vở bi kịch này ra đời ngay lập tức được công chúng Anh đón nhận nồng nhiệt và gây xúc động với trên kịch trường Tác phẩm được thừa nhận là một trong những kiệt tác hàng đầu trong lịch sử sân khấu thế giới
Hai tác phẩm trên ở hai dân tộc khác nhau, hai nền văn hóa khác nhau nên ở chúng lại có nhiều điểm tương đồng và dị biệt Trong khuôn khổ đề tài chúng tôi dựa vào lí thuyết của Văn học so sánh để nghiên cứu những điểm tương đồng và dị biệt đó trên phương diện tình yêu trong hai tác phẩm
2.1 Sự gặp gỡ của hai tác phẩm khi thể hiện tình yêu
2.1.1 Tình yêu như là biểu tượng của tuổi trẻ
Tình yêu là một biểu tượng bất diệt của tuổi trẻ Nói đến tình yêu là người ta nghĩ ngay đến những người trẻ tuổi – những con người yêu say mê, cuồng nhiệt Chúng ta hãy ngược dòng thời gian để đến với tình yêu của
những con người ở hai nền văn hóa khác nhau qua hai tác phẩm: Mái tây(Tây
sương kí) và Rô-mê-ô và Giu-li-ét
2.1.1.1 Nhân vật trong hai tác phẩm đều là những người trẻ tuổi, họ đến với tình yêu đầu một cách tự nhiên, không toan tính
Trong tác phẩm Mái tây, hai nhân vật Trương Quân Thụy và Thôi
Oanh Oanh đều là những người trẻ tuổi Trương Quân Thụy là một chàng thư sinh trẻ tuổi, công danh chưa đạt, vào Kinh để tham dự kì thi Hội: “Tôi họ Trương tên Củng, tự là Quân Thụy Quê nhà ở Tây Lạc Năm nay mới 23
Trang 27Trương Quân Thụy còn là một chàng trai trẻ với tính ham chơi, thích du ngoạn nên tuy học giỏi nhưng công danh lại chưa đạt Trên đường vào Kinh
dự thi nhưng Trương Quân Thụy vẫn tìm đường sang thăm người bạn của mình là Đỗ Xác làm quan ở đất Bồ Quan: “Giờ tôi hãy sang thăm anh một chuyến Rồi hãy vào Kinh, cũng chẳng muộn gì Nghĩ như tôi: song huỳnh án tuyết, nghề văn chương học đã nên tài! Vậy mà: bèo dạt, mây trôi, chí hồ hải bao giờ cho đạt, ạ?”[17; 39] Quân Thụy vốn có tính ham chơi, thưởng ngoạn như vậy nên khi đi qua đất Bồ đã dừng chân thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên:
“Đường đi đã đến sông Hoàng Hà rồi đây! Trông mà coi: hình thế mới đẹp làm sao!”[17; 40], rồi chàng tới một quán trọ nghỉ chân Khi vừa tới nơi diều đầu tiên chàng đã hỏi chủ quán xem ở đây có chỗ nào đi chơi giải trí: “ Nếu vậy, dọn cho trọ vào hạng nhất Bác quán! Lại tôi hỏi: Ở đây có chỗ nào chơi cho giải trí không?”.[17; 41] Điều ấy chứng tỏ Quân Thụy là một chàng trai trẻ, sống phóng khoáng Đây cũng là một biểu hiện cho tính cách của những người trẻ tuổi
Thôi Oanh Oanh là một cô gái trẻ, con gái của quan Thôi tướng Quốc:
“…Chúng tôi hiếm, chỉ có Oanh Oanh đây là gái, năm nay mười chín tuổi: Thơ, từ, tính, viết, thêu, dệt, nữ công, nó đều thông thạo cả”.[17; 37] Đó là lời của Thôi phu nhân giới thiệu về con gái mình Như thế chúng ta có thể thấy được đôi nét về Thôi Oanh Oanh Đây là một cô gái tuổi còn rất trẻ mới
19 tuổi nhưng rất giỏi giang nhất là về phần “nữ công gia chánh” Oanh Oanh
là hình mẫu lí tưởng cho người phụ nữ thời phong kiến Cô không những tài giỏi, thông minh mà còn rất xinh đẹp Vì vậy, Trương Quân Thụy vừa nhìn thấy Oanh Oanh đã xiêu lòng Oanh Oanh trong mắt chàng đẹp như tiên nữ giáng trần:
Trang 28“Chân tay mềm mại nõn nà, Bước đi êm ả, trông mà thấy yêu!
Dịu dàng yểu điệu trăm chiều, Như cành liễu trước gió chiều thướt tha.”[17; 45]
Khi nhìn thấy vẻ đẹp ấy, lập tức chàng đã bị cuốn hút, như hồn siêu phách lạc:
“Mắt trông kể vạn, kẻ nghìn, Con người đẹp thế đã nhìn thấy ai!
Mắt hoa, miệng những nghẹn lời, Thần hồn tôi đã lưng trời bay xa!”.[17; 46]
Và rồi tình yêu đến với chàng một cách tự nhiên, chàng đã tìm mọi cách để được gần Oanh Oanh Chàng vào chùa Phổ Cứu xin thuê trọ để được ngắm Oanh Oanh Tình yêu đến với chàng thư sinh này một cách hết sức tự nhiên:
“Cớ sao gặp gỡ lần này,
Bể lòng lại thấy vơi đầy yêu đương!
Mắt nhìn đã này hồng quang!
Nghĩ càng tê tái, mong càng ngẩn ngơ!”[17; 46]
Tình yêu đến với Quân Thụy nhanh chóng là thế còn đối với Oanh Oanh, tình yêu nảy sinh trong nàng cũng hết sức nhanh chóng Sau vài lần gặp gỡ, họa vần, Thôi Oanh Oanh đã cảm mến và nảy sinh tình cảm rất mãnh liệt với Trương Quân Thụy: “Hôm trước có đám chay, chính mắt ta trông thấy Quân Thụy Đến nay ăn uống kém xưa, tâm thần hoảng hốt Lại gặp trời chiều cuối xuân, nghĩ càng thêm nỗi xót xa!”[17; 48] Tình yêu của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy nảy sinh thật nhanh chóng, tự nhiên Đó cũng chứng minh họ là những con người trẻ tuổi có khát khao hạnh phúc rất mãnh
Trang 29Trong Rô-mê-ô và Giu-li-ét, tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét cũng
nảy sinh một cách tự nhiên
Rô-mê-ô là một chàng trai trẻ tuổi với khát vọng yêu đương say đắm Chàng đang u sầu vì chàng yêu một cô gái say đắm nhưng lại không được nàng đáp lại: “…Nàng đã thề sẽ chẳng yêu ai; lời thề này thực đã làm tôi sống cũng như chết, có sống chăng chỉ vì còn thuật được cho anh câu chuyện này
mà thôi!”[14; 36] Nhưng khi gặp Giu-li-ét lần đầu tiên trong buổi dạ hội hóa trang do gia đình Giu-li-ét tổ chức thì ngay lập tức Rô-mê-ô đã đem lòng yêu Giu-li-ét mặc dù biết rằng nàng thuộc dòng họ Ca-piu-lét - một dòng họ thù địch với gia đình chàng: “Nàng là người họ Ca-piu-lét sao? Ôi, oan trái yêu quí, đời sống của ta nằm ngay trong tay người thù”[14; 53]
Còn với Giu-li-ét, nàng là một cô gái trẻ, xinh đẹp tuyệt trần và có khát vọng yêu đương thật mãnh liệt Giu-li-ét mới chưa đến mười bốn tuổi theo lời Nhũ mẫu nói: “Tôi xin cuộc ngay mười bốn cái răng của tôi - mặc dầu tôi chỉ
có bốn chiếc thôi, khổ thân tôi! Là cô ấy chưa đến mười bốn tuổi…”, còn sắc đẹp của nàng thì được Rô-mê-ô ca ngợi giống như một “viên ngọc quý óng ánh bên tai một thiếu nữ xứ Ê-ti-ô-pi”[14; 56], nàng như một “báu vật” mà không biết ai có thể chiếm được làm của riêng
Ở Giu-li-ét, tình yêu với nàng ngỡ như một điều gì đó xa vời vì nàng còn quá trẻ Khi được mẹ nàng hỏi về chuyện hôn nhân, nàng đã trả lời một cách dửng dưng: “Thưa mẹ, con chưa dám nghĩ đến vinh hạnh đó” Trước khi gặp Rô-mê-ô nàng đã không hề nghĩ tới chuyện tình yêu, nàng sẵn sàng để cha mẹ sắp đặt tình yêu và hôn nhân của mình Nàng đã nói với mẹ: “Nhưng tầm mắt con cũng như mũi tên, mẹ ưng cho sức nó được bay tới đâu thì nó cắm sâu tới đó thôi”[14; 46] Thế nhưng, ngay khi gặp Rô-mê-ô, nàng đã hoàn toàn thay đổi, nàng đem lòng yêu mến và nàng còn nguyện sẽ chết nếu
Trang 30như Rô-mê-ô đã có vợ Nàng nói: “Nếu chàng đã có vợ rồi thì có lẽ nấm mộ kia sẽ là giường cưới của ta.”[14; 56]
2.1.1.2 Tình yêu của họ mãnh liệt và say đắm
Trong Mái tây của Vương Thực Phủ, tình yêu của Trương quân Thụy
và Thôi Oanh Oanh là tình yêu nảy sinh một cách nhanh chóng và có phần bồng bột nhưng nó lại hết sức mãnh liệt Sau khi gặp nhau cả hai người đều đem lòng tương tư đến thẫn thờ, mất ăn mất ngủ Họ chỉ mong được gặp nhau Trương Quân Thụy đã bất chấp cả thi cử, công danh ở lại chùa Phổ Cứu
để được gần Oanh Oanh Chàng đã gảy đàn, viết thư nhờ Hồng nương gửi để bày tỏ tình cảm với Oanh Oanh: “Tôi có bức thư, không biết gửi sang có được không? Ý tôi muốn phiền chị cầm về hộ!” [17; 160] Khi được Oanh Oanh đáp thư, chàng sung sướng đợi từng giờ, từng phút mong cho trời tối để gặp Oanh Oanh: “Ồ! Bây giờ mới vừa trưa! Đợi lúc nữa! Hôm nay sao mà lâu tối quá thế không biết.” Chờ một hồi, chàng lại thốt lên: “Trời ơi! Bây giờ mới xế Tây! Ta chờ một lúc nữa!” Và cuối cùng, khi thời điểm hẹn hò đã đến, chàng không giấu nổi niềm vui sướng: “Tạ trời! Tạ đất! Nam mô Nhật cuông bồ tát! Ngài cũng có lúc lặn kia à? A! Đèn đã lên rồi! A! Trống đã đổ rồi…Ồ em! Tôi khổ sở vì em biết mấy!” [17; 184] Những lời nói thành thực ấy đã thể hiện tâm trạng chờ đợi, nhớ mong da diết của Trương Quân Thụy với Thôi Oanh Oanh
Với Oanh Oanh, nàng cũng yêu Quân Thụy say đắm và mãnh liệt không kém Sau hôm nghe tiếng đàn tỏ tình của Quân Thụy, Thôi Oanh Oanh thấy người “bạo bực” [17; 157], bảo Hồng nương sang thăm Quân Thụy xem
ý chàng thế nào Rồi nàng cũng viết thư đáp lại và sau mấy lần “tán thư”, “lật thư”, Oanh Oanh đã bất chấp tất cả địa vị, quan niệm, lễ giáo phong kiến để được ở bên Quân Thụy và dâng hiến tất cả cho chàng:
Trang 31“Thoa rơi mái tóc sổ đều Mây huyền lóng lánh dễ yêu bội phần!
Tha cho nhau tội lần khân, Tôi mở dần khuyết áo, cởi lần dây đai…”.[17;158]
Tình yêu của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy thật mãnh liệt và say đắm
Tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét gặp mãnh liệt không kém Sau cuộc gặp gỡ ở buổi dạ hội, cả Rô-mê-ô và Giu-li-ét đều đã mang trong mình mối sầu tương tư Và như người ta vẫn nói, khi hai ánh mắt đã gặp nhau, trái tim
đã đồng điệu là lúc hai tâm hồn đã thuộc về nhau Rô-mê-ô và Giu-li-ét là hai người như thế Vì vậy, họ mới có chung một cảm xúc và không hò hẹn, họ đã cùng nhau than thở dưới trăng trong vườn nhà Ca-piu-lét… Những lời độc thoại và đối thoại của đôi trai gái trong tình yêu và thù hận đã thể hiện họ là những con người biết yêu thương bằng chính trái tim mình Rô-mê-ô quả quyết: “…giá nàng có ở nơi biển xa xăm nhất, thì tôi cũng sẵn sàng liều mình
vì báu vật.”[14; 64], còn Giu-li-ét thì than thở: “Thật vậy, chàng Môn-ta-ghiu tuấn tú ơi, em yêu chàng say đắm;…”
Họ sẵn sàng chết vì nhau, khi nhận ra trở ngại đầu tiên trong tình yêu của mình họ vẫn không hề lay chuyển mà yêu nhau thắm thiết Họ không để ý nghĩ đó làm cho phút giây hoan lạc trong tình yêu của họ mất đi cảm hứng Giu-li-ét đã thốt lên: “Chỉ có tên họ chàng là thù địch với em thôi”[14; 62]
Cũng như tình yêu trong Mái tây, tình yêu trong Rô-mê-ô và Giu-li-ét
như một tiếng sét ái tình Họ yêu nhau say đắm ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã bất chấp mọi rào cản của thù hận dòng họ để đến với nhau… Và đó cũng chính là minh chứng thuyết phục cho điều này: Sức mạnh của tuổi trẻ có thể vượt lên tất cả để đến với tình yêu tự do
Trang 322.1.2 Tình yêu như là nạn nhân của xã hội
Trong xã hội phương Đông cũng như phương Tây, những rào cản khắt khe của quan niệm xã hội cũ luôn cản trở tình yêu của những đôi trẻ khiến họ trở thành những nạn nhân đáng thương của xã hội
Trong Mái tây của Vương Thực Phủ, khi Trương Quân Thụy đến trọ ở
chùa Phổ Cứu để được gần Thôi Oanh Oanh thì bỗng dưng có một nhân vật mang tên Tôn Phi Hổ, vốn là thủ lĩnh thảo khấu đã đem quân bao vây chùa, đòi lấy Oanh Oanh: “Ba quân lớn nhỏ, nghe hiệu lệnh ta đây! Ngựa giàm miệng lại! Người ngậm tăm vào! Đi suốt đêm sang phủ Hà Trung, bắt cóc Oanh Oanh cho ta! Cho hả dạ bấy lâu ao ước” [17; 91] Tình thế vô cùng cấp bách khiến Thôi phu nhân phải tuyên bố ai giải vây được chùa sẽ gả con gái cho Trương Quân Thụy bèn viết thư nhờ bạn là tướng quân Đỗ Xác đem binh tiến đánh và bắt được Tôn Phi Hổ Như vậy, theo đúng lời mẹ Oanh Oanh thì nghiễm nhiên Trương Quân Thụy sẽ trở thành chồng của Oanh Oanh tuy nhiên những diễn biến sau đó lại khiến tình yêu của họ không hề “thuận buồm xuôi gió” Thôi phu nhân mở tiệc ăn mừng và tiệc có mời Trương Quân Thụy
Ai cũng tưởng là tiệc cưới, nhưng Thôi phu nhân lật hẹn, nói đã hứa gả cho cháu ngoại Trịnh Hằng, nên chỉ cho phép Oanh Oanh nhận Quân Thụy làm anh em Bà nói với Oanh Oanh: “ Con ra đây! Lạy chào anh con!”[17; 130]
Cả Oanh Oanh và Trương Quân Thụy đều rất mực đau khổ, người hầu gái của Oanh Oanh mang tên Hồng nương cũng bất bình
Trong xã hội xưa, lễ giáo phong kiến là xiềng xích ràng buộc con người Những quan niệm như “Nam nữ thụ thụ bất thân”, “môn đăng hộ đối” luôn là những hàng rào nghiệt ngã ngăn cách, phá vỡ tình yêu tự do của thanh niên nam nữ Chính vì những quan niệm trên mà Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy đã phải bao phen khóc lóc, nhớ thương, chưa được xum vầy Mẹ
Trang 33Thôi phu nhân đã mở tiệc mời Quân Thụy tới dự và nói: “Con em đó lúc quan tướng tôi còn, đã hứa gả cho cháu tôi là Trịnh Hằng Hôm trước tôi viết thư gọi nó Nó mà đến thì biết làm thế nào.” [17; 134] Như vậy bà đã không hề giữ lời hứa với Quân Thụy cũng chính bởi quan niệm môn đăng hộ đối tồn tại như một bức tường thành kiên cố không thể phá vỡ trong quan niệm của bà Đến khi không ngăn nổi tình yêu của Thôi - Trương, đành phải gả, thì bà ta lại bắt đôi trẻ phải lìa xa, Quân Thụy dù có đỗ bà ta vẫn định lật hẹn lần nữa Dưới chế độ phong kiến, hôn nhân chỉ là để củng cố thế lực gia đình, chứ không phải để thỏa mãn tình yêu đôi lứa
Trong cán cân tình yêu và công danh, tình yêu luôn bị đặt thấp hơn, thậm chí là “vật thí mạng” cho công danh sự nghiệp.Vì khát vọng công danh
mà nhiều mối tình đã tan vỡ, nhiều con người đã gặp trở ngại Cũng như nhiều nhà nho phong kiến,Vương Thực Phủ không phủ định công danh nhưng ông muốn đi đến giải quyết hài hòa mới quan hệ giữa tình yêu và công danh Chính vì thế mà tác giả không đồng tình với cách giải quyết của Thôi phu nhân Ông theo Đổng Giải Nguyên, thay đổi đoạn kết của Nguyên Chẩn, để cho Quân Thụy về xum vầy với Oanh Oanh, khẳng định tình yêu chân chính, quyền lựa chọn người chung sống là của thanh niên nam nữ Thái độ lập trường của Vương Thực Phủ đã phản ánh đúng đắn tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng của con người muôn đời
Trong Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia, tình yêu của Rô-mê-ô và
Giu-li-ét ngay từ đầu đã gặp phải sự ngăn cản của sự thù địch dòng họ từ lâu đời Ở thành Vê-rô-na nước Ý có hai dòng họ phong kiến vốn có mối thù truyền kiếp với nhau là Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét Chàng Rô-mê-ô là con trai
họ Môn-ta-ghiu yêu Giu-li-ét con gái họ Ca-piu-lét Họ là một đôi trai tài gái sắc nhưng chính thù địch dòng họ đã ngăn cản tình yêu của đôi trẻ này Gia