Xuất hiện từ khoảng giữa những 60 của cuộc kháng chiến chống Mỹ với Hương cây – Bếp lửa in chung Lưu Quang Vũ, Bằng Việt đã tạo được một tiếng thơ đầy cuốn hút mang “tiếng nói sâu lắng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA : NGỮ VĂN
**************
NGUYỄN THỊ CHI
ĐẶC SẮC THƠ BẰNG VIỆT QUA TẬP
THƠ BẰNG VIỆT ( TUYỂN 1961 - 2001)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI – 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA : NGỮ VĂN
**************
NGUYỄN THỊ CHI
ĐẶC SẮC THƠ BẰNG VIỆT QUA TẬP
THƠ BẰNG VIỆT ( TUYỂN 1961 - 2001)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
THS DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong tổ bộ môn cũng như các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã chỉ bảo, tạo điều kiện thuật lợi giúp chúng tôi hoàn thành khóa luận Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Dương Thị Thúy Hằng - Thạc sĩ - Giảng viên khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm khóa luận
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Chi
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Dưới sự hướng dẫn của cô giáo Thạc sĩ Dương Thị Thúy Hằng _ Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, tác giả khóa luận đã hoàn thành đề tài
Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng Việt ( Tuyển 1961 – 2001) Đây là
kết quả nghiên cứu của chúng tôi, không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thực Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Chi
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của khóa luận 7
Phần nội dung 8
Chương I: Thế hệ thơ chống Mỹ và những chặng đường thơ Bằng Việt 8
1.1 Khái quát về thế hệ thơ chống Mỹ 8
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và đội ngũ sáng tác 8
1.1.2 Những thành tựu thơ trẻ kháng chiến chống Mỹ 11
1.2 Những chặng đường thơ Bằng Việt 14
1.2.1 Người của một thời – thơ của một thời 14
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật 17
1.3 Tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001) 18
Chương II: Nội dung cơ bản trong Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001) 20
2.1 Cảm hứng về đất nước và con người 20
2.1.1 Cảm hứng về đất nước và con người trong chiến tranh 20
2.1.1.1 Đất nước trong chiến tranh 20
2.1.1.2 Con người trong chiến tranh 29
2.1.2 Cảm hứng về đất nước và con người trong hòa bình 34
2.1.2.1 Đất nước trong hòa bình 34
2.1.2.2 Con người trong cuộc sống đời thường 37
2.2 Cảm hứng về thế sự - đời tư 40
Trang 62.3 Cảm hứng về tình yêu 44
2.3.1 “Tình yêu và báo động” 44
2.3.2 “Gợi dậy tâm hồn và thức dậy tình yêu” 47
Chương III: Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001) 50
3.1 Thể thơ 50
3.1.1 Thể thơ tự do 50
3.1.2 Các thể thơ khác 52
3.2 Ngôn ngữ thơ 54
3.2.1 Sự gia tăng các yếu tố văn xuôi vào thơ 55
3.2.2 Ngôn ngữ giàu sắc màu gợi hình, gợi cảm 56
3.3 Biểu tượng thơ 57
3.3.1.Đất và mẹ 58
3.3.2 Ngọn lửa 58
3.3.3 Ngọn gió 59
3.3.4 Hoa 59
3.4 Giọng điệu thơ 60
3.4.1 Giọng trữ tình sâu lắng 61
3.4.2 Giọng suy tư, triết lý ……62
Kết luận 64 Tài liệu tham khảo
Trang 7Xuất hiện từ khoảng giữa những 60 của cuộc kháng chiến chống Mỹ với
Hương cây – Bếp lửa (in chung Lưu Quang Vũ), Bằng Việt đã tạo được một
tiếng thơ đầy cuốn hút mang “tiếng nói sâu lắng và trong sáng của lớp thanh niên
trí thức mới” Thơ Bằng Việt được xem là “rạo rực mà tươi mát, giản dị hồn nhiên mà không dễ dãi Mỗi bài thơ Bằng Việt đều có nét bút riêng” Không chỉ
là nhà thơ có vị trí khá quan trọng trong nền thơ chống Mỹ trong “thế hệ sáu mươi”, “thế hệ Trường Sơn” mà Bằng Việt còn là một trong những nhà thơ “có
vị trí khá ổn định và vững chắc” (Nguyễn Trọng Hoàn) với hơn 300 bài thơ đã
được công bố, hơn 10 tập thơ được nhiều độc giả yêu mến, là nhà thơ có tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường Đây cũng là một tác giả đạt nhiều giải thưởng quan trọng: Giải thưởng nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001), Giải thưởng văn học ASEAN (2003), Giải thưởng thành tựu trọn đời (2005)
Tập thơ tuyển Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001) với 135 bài, là sản
phẩm tinh lọc quá trình sáng tác 40 năm của Bằng Việt Nó ghi nhận những đặc điểm cơ bản trong sáng tác của nhà thơ này trải qua hai giai đoạn: trước và sau
1986 Khi đi tìm hiểu về tập thơ này, chúng ta sẽ có được cái nhìn mang tính tổng quát đối với hành trình sáng tạo của tác giả Bằng Việt
Trang 8Nhóm thứ nhất là các bài giới thiệu, phê bình, đánh giá khái quát về nội
dung, nghệ thuật các tập thơ của Bằng Việt Trong bài “Hương cây – Bếp lửa, đất nước và đời ta về tập thơ đầu tay in chung của Bằng Việt, nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ có viết: “Một tâm hồn nhiều suy nghĩ và rung động tinh tế, một chủ nghĩa trữ tình xao động, bồi hồi, khi đậm đà duyên dáng, khi âm vang sâu thẳm… Ngay từ bài đầu (Qua Trường Sa), Bằng Việt đã tỏ ra không giống ai, rạo rực mà tươi mát, giản dị, hồn nhiên mà không dễ dãi Mỗi bài thơ của Bằng Việt đều có nét bút riêng…” [12]
G.S.Nguyễn Xuân Nam cũng cho rằng: “Bằng Việt có tiếng nói sâu lắng và trong sáng của lớp thanh niên trí thức mới …Đọc thơ anh, có lúc như gặp lại một người bạn thân, một người anh em trong gia đình, hay gặp lại một thời hoa niên của chính mình Cảm giác gần gũi, thân thiết ấy là một nét hấp dẫn trong thơ Bằng Việt” [19]
Tiếp đó G.S.Hà Minh Đức khẳng định: “Trong các lớp nhà thơ trẻ, Bằng Việt là một tâm hồn thơ lắng đọng nhiều suy nghĩ.” [3]
Nhà thơ Anh Ngọc: “Bằng Việt xuất hiện vào khoảng giữa những năm 60, gần như cùng lúc với Lưu Quang Vũ và tập thơ in chung của hai người “Hương cây – Bếp lửa” có một vị trí quan trọng trong nền thơ chống Mỹ Riêng với Bằng Việt, giọng thơ “có học”, sang trọng của anh đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của đông đảo công chúng yêu thơ vốn đã bắt đầu thấm nhuần nền học vấn
do chế độ mới mang lại.” [20]
Trang 9Nhà nghiên cứu văn học Thiếu Mai nhận xét: “Dễ nhận thấy qua mấy tập thơ của Bằng Việt tấm lòng thủy chung, trung hậu của anh đối với con người, với đất nước…Anh xúc cảm sâu và biết cách viết thế nào cho thơ mình truyền cảm mạnh” [17]
Nhà thơ Phạm Khải: “Vào những năm đầu thập kỷ 60, Bằng Việt xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một ánh đèn nê – ông kì ảo, tỏa sáng trí tuệ, sự mát
mẻ của tuổi xuân và cái dịu dàng của hồn thơ anh Với những câu thơ xúc cảm tinh tế, chữ nghĩa long lánh, độc giả ấn tượng về anh như một nhà thơ trẻ lịch lãm tài hoa Công bằng mà nói, cho đến hôm nay, nhiều câu trong số ấy dường như vẫn giữ được sự tươi nguyên, vẫn “nhìn tôi bằng ánh mắt xanh ngắt”, vẫn
“làm say”, “làm duyên”, như sắc phượng hôm xưa, cánh bướm năm nào, khơi gợi vẻ trong trắng một thời” [8]
Nhà nghiên cứu văn học Văn Tâm: “Nhà thơ Bằng Việt…quê “Xứ Đoài mây trắng lắm”, là một trong những thi sĩ bẩm sinh của thơ ca Việt Nam hiện đại.” [26]
Hay nhà thơ Anh Chi viết trong Tập san Nhà văn: "Vào mùa thu này, Bằng Việt cho ra mắt bạn đọc tập thơ Ném câu thơ vào gió, gồm 45 bài, chính là sản phẩm của chặng đường thơ anh vừa đi qua Và, tập thơ lại được bạn đọc và giới quan tâm chú ý Một giọng thơ mềm mại những tứ thơ sắc sảo, sức suy tưởng dồi dào của một Bằng Việt quen thuộc từ ba mươi năm trước ”
Trịnh Thanh Sơn khi đọc tập “ Ném câu thơ vào gió” có viết: "Đọc tập thơ Ném câu thơ vào gió bạn đọc sẽ gặp lại một thi sĩ Bằng Việt của ngày xưa, của hôm nào, nhưng là Bằng Việt của hôm nay, thâm trầm hơn rất nhiều chiêm nghiệm và từng trải" [24]
Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim viết: “Thơ Bằng Việt đậm chất hào hoa phong nhã, có giọng điệu tinh tế, giàu tư duy trí tuệ …Bằng Việt mở rộng lòng anh với mọi người, đồng thời thu lại trong một cá thể sáng tạo với biết bao biến thể của tâm trạng Anh vừa là nhân chứng của lịch sử vừa là kẻ tình nhân mê đắm, vừa là kẻ đồng hành, đồng cảm vui buồn với bạn đọc yêu thơ, vừa là kẻ
Trang 10phiêu du trong trời đất và hồn người… Nhưng trước hết, nhà thơ – anh là anh trong chứng nghiệm” [10]
Nhà thơ và phê bình văn học Nguyễn Hoàng Sơn: “…Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ / Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu…” Nghe nói, nhờ bài thơ này và nhiều bài thơ dịch của Ônga Bécgôn mà Bằng Việt trở thành thần tượng của cánh sinh viên khoa Văn các Trường Đại học một thời Những câu thơ chấm phá rất “sương khói”, sự hiểu biết và đồng cảm về một chân trời văn học đương có sức hấp dẫn lớn, giọng thơ lạ và mới vào thời điểm ấy (1969) là những nguyên nhân khiến bài thơ neo được vào tâm trí bạn đọc” [23]
Nghiên cứu sinh Đỗ Thuận An (Người đã bảo về thành công Luận án Thạc
sĩ Khoa Ngữ văn “Thế giới nghệ thuật thơ Bằng Việt” chuyên ngành: Lý thuyết
và lịch sử văn học, mã số 5.04.01, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2001) có
viết: “một thế giới riêng được sáng tạo theo nguyên tắc tư tưởng, của chủ thể trữ tình, thế giới nghệ thuật thơ Bằng Việt cần được nhìn nhận như một chỉnh thể với cấu trúc logic của tổ chức bên trong, có sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức” Ứng với thế giới nghệ thuật ấy là một quan niệm, một cách cắt nghĩa về con người” [1]
Bài viết của Trần Quang Quý (Bài tham dự cuộc thi viết tìm kiếm 100 nhân
vật Hà Nội do TT&VH phát động): “Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX, gồm 260 bài của 117 tác giả, ở 35 quốc gia trên thế giới Đây là một tập thơ có tầm vóc, một công trình tiêu biểu về dịch thuật văn học của ông mà bạn đọc yêu thơ ghi nhận” Hay nhân sự kiện ra đời tập thơ dịch Thơ trữ tình thế kỷ XX, nhà thơ Phạm Tiến Duật nhận xét hóm hỉnh rằng: “Với Bằng Việt, thơ dịch chỉ là một gác xép nhưng với người khác thì nó là cả một lâu đài”
Ngoài ra còn rất nhiều bài bài nghiên cứu, phê bình văn học, tiểu luận…viết
về Bằng Việt như các tác giả: Lê Quốc Hán, Nguyễn Trọng Hoàn, Dương Kiều
Minh, Hà Minh Đức, Mai Thị Thanh Hương, Nguyễn Xuân, Mai Ngọc Lệ…
Nhóm thứ hai là các bài phân tích, bình giảng về các tác phẩm cụ thể của
Bằng Việt với các bài thơ như: Bếp lửa, Trở lại trái tim mình, Mẹ, Ném câu thơ
Trang 11vào gió, Nghĩ lại về Pauxtôpxky Chẳng hạn bài viết của Văn Giá về Bếp lửa:
“…Người bà trong Bếp lửa đã nuôi con nuôi cháu, đã đi qua đói khát qua đói khát và giặc giã, đã cho con đi kháng chiến vì nước vì dân, đã âm thầm trụ lại nhà giữ mảnh đất truyền đời tổ tiên để lại, đã âm thầm chờ đợi và hi vọng…đó chẳng phải là biểu tượng về sự sống lớn lao và cao cả của con người đó sao? Bà
là người phụ nữ Việt Nam, như ngọn lửa cháy sáng và ấm mãi! ”[4; 7]
Trong cuốn Từ điển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà
trường (2003) của Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý có viết về bài thơ “Bếp lửa” như sau: “Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc, vừa thấm thía trong những năm đầu đất nước đói kém, loạn lạc, cuộc đời gian khổ khó khăn Cảm xúc tinh tế, đượm buồn của ông về những ngày thơ ấu, khơi gơi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam…”
Và đây là lời bình của Hoàng Đình Quang về bài Nghĩ lại về Pauxtôpxki:
“Bằng Việt, trong số những nhà thơ nửa cuối thế kỷ 20, anh là một thi sĩ, có tâm hồn đắm đuối nhất Bài thơ này lập tứ rõ ràng, khúc chiết, nhưng người đọc cứ bị làm mờ đi cái ý tứ của tác giả "Không phải thế", rồi lại "không phải thế" Làm sao biết được cái gì là phải đây, là rõ ràng đây? Bài thơ buồn nhưng sang trọng Thơ Bằng Việt vốn vậy”
Ngay cả tác giả Bằng Việt cũng viết về bài thơ Bếp lửa như sau: “…Dựng nên trên cái nền ấy một hình ảnh xuyên suốt, hình ảnh đã được điển hình hóa và phổ quát hóa, từ bà nội thực của mình trở thành bà nội của bao người khác, thành biểu tượng một người Mẹ hậu phương tận tụy, hi sinh làm chỗ dựa cho con cháu, làm điểm trụ vững chắc ở phía sau để làm yên lòng những người ra tiền tuyến…”[28; 27]
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các tác giả như: Vũ Dương Quỹ, Vũ Quần Phương, Nguyễn Thị Nhàn, Hồng Thọ, Chu Văn Sơn, Nguyễn Hoàng Sơn…về các tác phẩm cụ thể của Bằng Việt
Qua việc tìm hiểu các tài liệu, chúng tôi thấy từng bài thơ, tập thơ và từng khía cạnh trong nội dung và nghệ thuật thơ Bằng Việt đều được các tác giả nhận
Trang 12định khá xác đáng Tuy nhiên, các bài viết chưa nghiên cứu một cách tập trung và
có hệ thống về thơ Bằng Việt theo chặng đường phát triển thơ của Bằng Việt Cho đến hiện nay, cũng chưa có một công trình nào tìm hiểu hay nghiên cứu một
cách có hệ thống về tập Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001) Từ thực tế đó, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001) Hy vọng với đề tài này, chúng tôi sẽ góp công sức nhỏ
bé của mình trong việc khám phá một số phương diện đặc sắc của thơ Bằng Việt Đồng thời, góp phần vào việc tìm hiểu và làm sáng tỏ những đóng góp của Bằng Việt đối với tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng Việt (Tuyển
1961 – 2001), chúng tôi đi sâu nghiên cứu đặc sắc thơ Bằng Việt với những biểu
hiện về sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Cụ thể, chúng tôi sẽ tìm hiểu những cảm hứng chính và các yếu tố nghệ thuật cơ bản làm nên sự độc đáo, sức cuốn hút đồng thời khẳng định nhũng đóng góp của thơ Bằng Việt đối với chặng đường phát triển của thơ hiện đại Việt Nam Vì vậy, tư liệu chính mà chúng tôi tìm hiểu chính là tập thơ trải dài 40 năm sáng tác của Bằng Việt với những tác phẩm chọn lọc: Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001), Nhà xuất bản Văn học,
Hà Nội – 2003
4 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi hi vọng khóa luận sẽ giúp ích cho việc giảng dạy, học tập về tác giả Bằng Việt và tác phẩm của ông trong nhà trường phổ thông; cũng như đem đến một cái nhìn khái quát và đầy đủ xuyên suốt chặng đường thơ 40 năm của tác giả, từ thời kỳ thơ chống Mỹ tiếp nối đến thời kỳ đương đại và tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về đặc sắc thơ Bằng Việt từ nội dung đến hình thức nghệ thuật Từ đó, khóa luận rút ra được sự vận động của thơ Bằng Việt trong chặng đường thơ 40 năm của tác giả, những nét độc đáo của thơ ca
Bằng Việt trong “dàn đồng ca cùng thế hệ” và những đóng góp giàu giá trị của
tiếng thơ Bằng Việt đối với nền thơ hiện đại Việt Nam
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài “Đặc sắc thơ Bằng Việt qua tập Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001), chúng tôi đã sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, khóa luận bao gồm ba chương:
Chương I: Thế hệ thơ chống Mỹ và chặng đường thơ Bằng Việt
Chương II: Nội dung cơ bản trong thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001)
Chương III: Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001)
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: THẾ HỆ THƠ CHỐNG MỸ VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG
THƠ BẰNG VIỆT 1.1 Khái quát về thế hệ thơ chống Mỹ
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử và đội ngũ sáng tác
Có một đất nước với dáng vẻ cong cong hình chữ “S”, lưng tựa vào dãy núi Trường Sơn, mặt hướng ra biển Đông bao la rộng lớn, đất nước ấy với tên gọi Việt Nam Đất nước và con người Việt Nam đã trải qua hơn bốn nghìn năm lịch
sử dựng nước và giữ nước hào hùng với những cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Dân tộc ấy đã đánh bại những thế lực kẻ thù hùng mạnh như: Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… Đặc biệt với chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) “vang dội năm châu, chấn động địa cầu”, Việt Nam đã được cả thế giới biết đến như một dân tộc anh hùng Sau chiến thắng ấy đất nước và con người Việt Nam đã bước sang một trang sử mới, mọi vật như được đổi thay Trong tâm thế mới con người được làm chủ đất nước, được hưởng không khí của
tự do, của độc lập, niềm vui ấy lan tỏa khắp mọi nơi từ Bắc vào Nam, từ cụ già cho đến những em nhỏ… Thế nhưng, niềm vui ấy không được trọn vẹn khi đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai nửa Miền Bắc được giải phóng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa còn miền Nam tiếp tục đấu tranh để giành lấy độc lâp thống nhất nước nhà Trong mối quan hệ giữa hai miền thì miền Bắc là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn là miền Nam nhưng miền Bắc phải luôn luôn cảnh giác đấu tranh chống lại mọi âm mưu phá hoại xâm lược của kẻ thù Giai đoạn lịch sử ấy, con người chỉ có hai lựa chọn: một là chịu làm nô lệ, hai là cầm vũ khí mà vùng đứng lên để tìm lấy tự do, mà tự do lúc này
ở trong tay mỗi con người Việt Nam Xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn và truyền thống bốn nghìn năm lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm, con người luôn sống trong khí thế hừng hực lên đường kháng chiến Toàn thể dân tộc Việt Nam đã quyết tâm vùng đứng lên đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược đã làm nên chiến thắng vĩ đại mùa xuân 1975 Cũng từ đó lịch sử dân tộc đã bước sang một trang
Trang 15mới, một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập tự do, thống nhất nước nhà đi lên chủ nghĩa xã hội
Trên bối cảnh lịch sử rộng lớn và đầy những biến đổi sâu sắc đó, nền văn học xã hội chủ nghĩa đã phát triển hết sức mạnh mẽ, phong phú Trong đó, thơ ca
đã ghi được những thành tựu nổi bật mang lại một giai đoạn mới trong sự phát triển của thơ ca hiện đại Việt Nam Thơ ca chống Mỹ (1964 – 1975) ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt của khói lửa chiến tranh đã phát triển phong phú về nhiều phương diện: số lượng tác phẩm, phạm vi đề tài và chủ đề, sự phản ánh hiện thực
và sức khái quát, phong cách đa dạng…đặc biệt là đội ngũ sáng tác
Về đội ngũ sáng tác trong giai đoạn này, chúng ta thấy sự có mặt đồng thời
bổ sung cho nhau của các thế hệ nhà thơ nối tiếp và ngày càng hùng hậu Chưa bao giờ, thơ ca lại có đội ngũ sáng tác vừa đông đảo vừa giàu nhân lực và tâm huyết như vậy Nhìn một cách tổng quát, nền thơ chống Mỹ đã ghi nhận sự góp mặt của nhiều tiếng thơ, nhiều nhà thơ – chiến sỹ thuộc mọi thế hệ: Thế hệ nhà thơ xuất hiện từ trước Cách mạng ( Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh…); thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Pháp (Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi…) và thế hệ các nhà thơ trẻ ra đời trong thời kì chống Mỹ
Chúng ta có thể hiểu khái niệm thơ trẻ chống Mỹ cứu nước: “được dùng để chỉ thơ của các cây bút tuổi đời và đặc biệt là tuổi nghề còn trẻ xuất hiện trong thời kỳ chống Mỹ Đây chính là thời kỳ mà họ có những tác phẩm gây được sự chú ý khẳng định tài năng và dấu ấn của mình trên thi đàn” [2; 345]
Đội ngũ sáng tác thơ trẻ chống Mỹ có thể chia làm ba chặng đường Mỗi chặng đường có những nét riêng gắn liền với sự xuất hiện của những nhà thơ tiêu biểu Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì thực chất thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ là một dòng thơ phát triển liên tục
Ở chặng đường thứ nhất (Từ 1964 – 1968) đội ngũ nhà thơ bước đầu được khẳng định với những tác giả tiêu biểu như: Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang
Vũ, Nguyễn Mỹ, Phạm Ngọc Cảnh, Vũ Quần Phương, Lê Anh Xuân, Cảnh Trà…
Họ đã mang đến cho thơ ca chống Mỹ một tiếng thơ vừa trẻ trung tươi tắn vừa
Trang 16bồng bột sôi nổi Thơ ở chặng đường này là những vần thơ tràn đầy cảm xúc mê say, chân thành đối với cuộc sống quê hương, đất nước, rưng rưng cảm xúc, đậm
đà chất trữ tình, chứa chan chất men say nồng của tuổi trẻ Tuy cảm xúc thơ ở giai đoạn này mang màu sắc lý tưởng, ít nhiều còn mang dấu vết sách vở, nhà trường nhưng họ đã thổi vào thơ ca chất men say tuổi trẻ với tiếng nói khao khát của thế hệ trẻ được cầm súng trực tiếp chiến đấu được cống hiến vì nhân dân, Tổ quốc bằng một cảm xúc chân thành và trong sáng nhất…Điều đáng chú ý là những năm cuối của chặng này, thơ trẻ bắt đầu giàu có thêm nhờ chất suy nghĩ và khả năng khái quát Mặc dù không tránh khỏi những non nớt nhưng đây là chặng
mở đầu đầy ý nghĩa, rất đáng ghi nhận, tạo tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển ở giai đoạn sau
Chặng đường thứ hai (Từ 1969 – 1972) thơ trẻ chống Mỹ phát triển đến đỉnh cao làm thay đổi bộ mặt của cả nền thơ chống Mỹ Cùng với sự xuất hiện của những tác giả ở chặng đầu, đến chặng này đội ngũ được bổ sung thêm nhiều cây bút tài năng khác như: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy… Họ đã thực sự khẳng định được tiếng nói riêng của thế hệ mới qua những vần thơ giàu chi tiết chân thực, sinh động như còn vương bụi đất của chiến trường và mùi khét của đạn bom, mang khí thế hừng hực chiến đấu: khỏe khoắn, trong sáng và đầy tự tin Thơ lúc này đã vươn tới khái quát những mảng hiện thực lớn của cuộc chiến tranh chống Mỹ với những chi tiết chân thực được phát hiện, tìm tòi bằng chính cặp mắt quan sát tinh tế sắc sảo của những nhà thơ – người lính, người chiến sĩ Không khí dữ dội, ác liệt của đời sống chiến trường sinh động, bề bộn ùa vào các trang thơ và nó đã làm ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng Họ vẫn tiếp tục viết về đề tài quê hương đất nước nhưng với một ý thức tự giác cao hơn và tình cảm sâu nặng hơn Thơ giai đoạn này đã đạt đến mức độ nhất định chiều sâu của suy nghĩ và tầm cao của sự khái quát
Ở chặng đường cuối cùng (Từ 1973), đội ngũ sáng tác trẻ được bổ sung thêm những nhà thơ đồng thời là những chiến sĩ trực tiếp cầm súng chiến đấu.Vì vậy, đội ngũ sáng tác càng trở nên đông đảo và thực sự bề thế hơn với nhiều cây
Trang 17bút mới: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Trần Mạnh Hảo, Văn Lê Các nhà thơ có cái nhìn bao quát, toàn cảnh về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, ý thức về cái tôi - thế hệ đạt tới độ sâu sắc Họ đã đi sâu hơn vào đề tài chiến tranh, đến với hiện thực đời sống để khám phá, đúc kết chân lý, xây dựng nên những hình tượng thơ giàu ý nghĩa khái quát trong thể loại trường ca
1.1.2 Những thành tựu thơ trẻ kháng chiến chống Mỹ
Thành tựu về nội dung
Thơ kháng chiến chống Mỹ có những đặc điểm riêng như tập trung biểu hiện những tình cảm và tư tưởng lớn, bao trùm trong đời sống tinh thần của con người thời kỳ chống Mỹ Thời kì này tập trung xây dựng hai loại hình tượng “cái tôi” trữ tình là “cái tôi” sử thi và “cái tôi” thế hệ Ngoài ra, thơ còn tăng cường chất chính luận, chất suy tưởng triết lí, trí tuệ được nảy sinh từ hiện thực đời sống trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, ác liệt thông qua sự trải nghiệm sâu
sắc của cái tôi – thế hệ của các nhà thơ Thơ gia tăng chất liệu hiện thực đời sống
và khuynh hướng mở rộng đào sâu hiện thực trong thơ là những xu hướng chính trong sự vận động phát triển của thơ thời kì này
Ở thời kỳ này, chủ nghĩa anh hùng cách mạng là nội dung chủ yếu, là cảm hứng chủ đạo được thơ khai thác và biểu hiện với nhiều sắc thái Các nhà thơ có một cái nhìn mới đối với chiến tranh, đối với những mất mát, hy sinh, lòng căm thù giặc, tình đồng chí, tình yêu và lòng tin ước mơ chiến thắng, suy nghĩ về số
phận của nhân dân, của Tổ quốc Đề tài Tổ quốc là đề tài bao quát, trung tâm của
thơ chống Mỹ cứu nước, được các nhà thơ khai thác và biểu hiện phong phú Hình tượng Tổ quốc trở thành hình tượng trung tâm, cao đẹp và thiêng liêng
trong các sáng tác Các bài thơ tiêu biểu cho đề tài này gồm có: Chúng tôi chiến đấu cho Người sáng mãi Việt Nam ơi (Nam Hà), Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân) và các bài thơ của Tố Hữu như Chào Xuân
67, Thời sự hè 72, bình luận,…Và đề tài chiến đấu cũng có sức thu hút rất lớn
các cây bút, đặc biệt là các cây bút trẻ Với đề tài này, hình ảnh người chiến sĩ nổi
bật với nhiều sáng tạo trong xây dựng hình tượng Tiêu biểu là các tác phẩm: Bài thơ về Tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Gửi em, cô thanh niên xung
Trang 18phong (Phạm Tiến Duật), Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ), Tiếng hát sang xuân (Tố Hữu), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh), Bên cạnh đó, đề tài tình yêu cũng được nhiều nhà thơ phản ánh trong thơ thời kỳ này như: Những con đường tháng giêng, Viết trên đường 20 (Xuân Quỳnh), Tiếng mùa xuân (Lâm Thị Mỹ Dạ), Những đoạn thơ tình giữa hai cuộc chiến tranh phá hoại (Bằng Việt), Hương thầm (Phan Thị Thanh Nhàn)…và đề tài lao động sản xuất cũng được rất nhiều nhà thơ hướng tới phản ánh Tất cả các
đề tài đã góp phần hoàn thiện diện mạo về nội dung của thơ chống Mỹ
Thành tựu về nghệ thuật
Bên cạnh thành tựu về mặt nội dung, về mặt nghệ thuật thì thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước có những tìm tòi đáng ghi nhận về mặt hình thức nghệ thuật
Thứ nhất, về mặt thể loại thơ trẻ chống Mỹ sử dụng thành công thể thơ lục
bát – một thể thơ truyền thống của dân tộc Đó là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc và tinh thần, sức mạnh của thời đại mới trong hình thức thơ Các
mô típ dân gian, chất liệu thơ dân gian, thể thơ lục bát truyền thống được vận dụng linh hoạt, khéo léo tạo nên những vần thơ tinh tế, có chiều sâu nội tâm, dễ
đi vào lòng người với các nhà thơ trẻ như Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa… Ngoài ra, họ còn sử dụng nhiều và có hiệu quả thể thơ tự do
và trường ca, nó góp phần khẳng định xu thế phát triển của các thể thơ trên Đặc biệt, sự phát triển của thể thơ tự do là một đòi hỏi tất yếu nhằm đáp ứng những yêu cầu về sự phát triển của nội dung trong thơ thời đại mới Thể thơ tự do phù hợp với tính cách, tâm hồn trẻ trung, phóng khoáng, sôi nổi của các cây bút trẻ Nhiều nhà thơ đã sử dụng thể thơ tự do rất phóng túng như: tự do hiệp vần, tự do ngắt câu, sử dụng luật bằng trắc, tự do số chữ trong câu, số câu trong đoạn, số đoạn trong bài…Còn ở thể trường ca là do xuất phát từ nhu cầu tổng kết chiến tranh, phản ánh những bức tranh hiện thực rộng lớn của cuộc kháng chiến Quan niệm nghệ thuật thay đổi, thơ chiến đấu phục vụ cách mạng và dung lượng phản ánh của thơ được mở rộng thì điều tất yếu hình thức thơ cũng được tự do hóa hơn trước.Thể loại trường ca ra đời đáp ứng nhu cầu tất yếu ấy Chính ở thể loại có sức ôm chứa, bao quát này, các nhà thơ có điều kiện bộc lộ, bày tỏ những suy
Trang 19ngẫm, trải nghiệm, chiêm nghiệm về chiến tranh…Cũng trong trường ca, các nhà thơ trẻ đã tổ chức được những kết cấu phức tạp, phối hợp nhiều thể thơ, tạo nên nhiều giọng điệu trong một tác phẩm
Thứ hai, về mặt ngôn ngữ có khuynh hướng đưa ngôn ngữ thơ trở về gần
với ngôn ngữ đời thường Để khám phá, thể hiện đời sống ở nhiều góc độ, phương diện, đặc biệt là hiện thực phong phú, đa dạng, phức tạp nhiều chiều của đời sống chiến trường, ngôn ngữ của các nhà thơ trẻ mở rộng cửa để cho ngôn ngữ hàng ngày của đời sống, đời thường ùa vào Nó như một xu hướng tất yếu, một bằng chứng cụ thể giữa mối liên hệ mật thiết giữa thơ ca và cuộc sống và làm cho ngôn ngữ thơ có được cái hơi thở nồng nàn của cuộc sống Với các câu thơ dài mang dáng dấp văn xuôi, ngôn ngữ đời thường mang tính tranh luận, khẩu ngữ như trong thơ Chế Lan Viên, Xuân Diệu và đặc biệt trong các nhà thơ trẻ như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Đức Mậu, Trần Mạnh Hảo, Hữu Thỉnh… đã đem lại cho thơ thời kỳ này giọng điệu mới: giản dị, chân thật, tự nhiên, thoải mái, khỏe khoắn, trẻ trung và độc đáo
Thứ ba, đó là phương thức chuyển nghĩa và sáng tạo hình ảnh thơ Trong
thơ thời kỳ này, ta bắt gặp những thủ pháp tu từ truyền thống được sử dụng theo kiểu tư duy hiện đạị Với những phương thức tu từ này, các nhà thơ trẻ đã khai thác có hiệu quả khả năng thể hiện cảm xúc, tình cảm cũng như phản ánh hiện thực đời sống phong phú Những trang thơ trẻ mở ra trước mắt người đọc những liên tưởng phong phú đầy bất ngờ, thú vị như trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đăng Khoa, Thanh Thảo, Nguyễn Duy…Bằng cảm xúc trữ tình mãnh liệt và khả năng tổng hợp, khái quát cao, các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã tạo dựng được
hệ thống hình ảnh biểu tượng phong phú nổi bật mang đậm khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn, đậm chất anh hùng cách mạng như các hình ảnh: Tổ quốc,
bà mẹ, người lính…đã làm hoàn thiện và đẹp thêm cho bảo tàng lịch sử văn học thơ ca Việt Nam Chính vì vậy, thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã góp cho một nền thơ lớn những cây bút tiêu biểu giọng điệu riêng có bản sắc,phong phú, đa dạng và độc đáo như: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy…
Trang 201.2 Những chặng đường thơ Bằng Việt
1.2.1 Người của một thời - thơ của một thời
Giữa những năm 60 của thế kỷ trước, công chúng văn học đã được chứng kiến sự xuất hiện của một loạt cây bút trẻ mà chỉ ít lâu sau đã trở thành chủ lực của thi đàn Đó là Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn, Bế Kiến Quốc, Vương Anh Vài năm sau
là sự xuất hiện của Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc Trong đội ngũ sáng tác đông đảo này, Bằng Việt
là một gương mặt riêng, có một chất riêng, một giọng điệu riêng không bị khuất lẫn, mất hút trong một dàn đồng ca Chất riêng ấy là gì? Nhiều người từng biểu dương phần “trí tuệ”, phần suy tưởng mà vẫn sinh động, gần gũi với cuộc sống của một cây bút trí thức sớm bộc lộ từ phần “Bếp lửa” trong tập thơ “Hương cây – Bếp lửa” in chung với Lưu Quang Vũ
Là một trong số những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ chống
Mỹ, Bằng Việt thuộc vào thế hệ Trường Sơn, thế hệ sáu mươi và là người của một thời lịch sử đầy biến động Bằng Việt sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941,
nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội nhưng ông sinh tại phường Phú Cát, thành phố Huế Tri thức, kiến văn và tâm hồn thơ trữ tình giàu tưởng tượng cùng với truyền thống gia đình đã góp phần làm nên tư chất và phẩm cách thơ Bằng Việt Sinh ra vào đúng thời kỳ lịch sử oai hùng của dân tộc, tuổi thơ Bằng Việt sống trong những sự kiện vang động của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Giã từ chiếc khăn quàng đỏ thời niên thiếu, Bằng Việt học xong trung học tại Hà Nội và được cử đi học Đại học Luật ở Liên Xô Chính trong thời gian này, việc tiếp xúc với một nền văn hóa lớn cùng nhiều tên tuổi văn học lớn của thế giới đã có ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách sáng tác và con đường dịch thuật của Bằng Việt Sau khi tốt nghiệp khoa Pháp lý, Đại học Tổng hợp Kiev vào năm 1965, Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại Viện Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam Đến tháng 12 năm 1969, Bằng Việt chuyển sang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam Năm 1970, ông tham gia công tác ở chiến trường Bình Trị Thiên, với tư cách là một phóng viên chiến
Trang 21trường và làm tại Bảo tàng truyền thống cho đoàn Trường Sơn Năm 1975, Bằng Việt công tác ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới Sau chiến tranh, ông làm xuất bản
và tạp chí tại Hội Nhà văn Việt Nam, Bằng Việt hoạt động văn học và quản lý Hội tại Hội Liên hiệp văn học – nghệ thuật Hà Nội và công tác chính trị - xã hội trong nhiều đoàn thể quần chúng Sau khi về Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (gọi tắt là Hội Văn nghệ Hà Nội) năm 1983, Bằng Việt được bầu làm Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1983-1989) và là một trong những người sáng lập tờ báo văn nghệ Người Hà Nội (xuất bản từ 1985) Sau đó ông được bầu làm Uỷ viên Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, làm tổng biên tập tờ tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (1989-1991) Năm 2001, Bằng Việt được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và được bầu lại làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ 2006 - 2010 Tại Đại hội lần thứ VII Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (tháng 9 năm 2005), Bằng Việt được bầu làm một trong 5 Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam Ông cũng từng làm Thư ký thường trực, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội (1991-2000) Sau Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII, Bằng Việt đã đệ đơn lên Ban Chấp hành xin từ chức sau khi đã giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Thơ suốt hai nhiệm kỳ với lý do công việc
Bằng Việt làm thơ từ năm 13 tuổi nhưng bài thơ đầu tiên được công bố là
bài Qua Trường Sa viết năm 1961 Ông đã thể nghiệm nhiều loại thơ không vần,
xuống thang rồi bắc thang, tất cả những hình thức đã có trong thơ Việt Nam và
thơ thế giới Tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa của ông và Lưu Quang
Vũ xuất bản lần đầu năm 1968 và mới được tái bản sau 37 năm Đồng hành cùng với tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, nhìn một cách khái quát có thể chia thơ Bằng Việt thành hai chặng lớn:
Chặng thứ nhất là những vần thơ ông viết ra trước thời kỳ đổi mới (trước
1986) gồm các tập thơ: Hương cây – Bếp lửa (xuất bản lần đầu 1968, in lại năm 2005) in chung với Lưu Quang Vũ (trong tập thơ này có bài Bếp lửa sau này được đưa vào sách giáo khoa phổ thông), Những gương mặt, những khoảng trời
Trang 22(1973), Đất sau mưa (1977), Khoảng cách giữa lời (1984), Cát sáng (1985) in
chung với Vũ Quần Phương
Chặng thứ hai là những vần thơ Bằng Việt viết sau thời kỳ đổi mới gồm
các tập: Bếp lửa - Khoảng trời (1986), Phía nửa mặt trăng chìm (1995), Ném câu thơ vào gió (2001), Thơ trữ tình (2002), Thơ Bằng Việt 1961 – 2001 (2003), Nheo mắt nhìn thế giới (2008), Bằng Việt – Tác phẩm chọn lọc (2010)
Ngoài ra, Bằng Việt còn dịch thơ của các nhà thơ Yannis Ritsos (Hy Lạp), Pablo Neruda (Chile); các nhà thơ Nga cổ điển và hiện đại như: A.Pushkin, M.Lermontov, S.Esenin, E.Evtushenko, O.Berggoltz, M.Aliger, A.Tvardovsky, M.Dudin, A.Akhmatova, R.Gamzatov…các nhà thơ Pháp : G.Apollinaire,
P.Eluard, J.Pressvert và tham gia biên soạn một số từ điển văn học như : Mozart, truyện danh nhân ; Từ điển Văn học, 2 tập, NXB Khoa học xã hội, 1983-1984, đồng tác giả; Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb Thế Giới, 2004, đồng tác giả; Từ điển tác gia văn học nước ngoài, đồng tác giả, Hữu Ngọc chủ biên…Và ông cũng
từng theo nghề luật cho đến khi thôi nhiệm kỳ cuối cùng ở Hội đồng Nhân dân thành phố (năm 2000)
Với sự lao động miệt mài trong sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật của mình, ông đã nhận được nhiều giải thưởng như: Giải nhất về thơ của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1968), giải thưởng dịch thuật văn học quốc tế và giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa bình Liên Xô trao tặng(1982), giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trao tặng năm 2001), giải thưởng thơ của Hội nhà văn Việt Nam (năm 2002), giải thưởng văn học ASEAN cho tập thơ "Ném câu thơ vào gió" (2003), giải thành
tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà Nội (2005) cho Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX,
với nhận xét: "Nhiều bài đã trở nên quen thuộc với các thế hệ người yêu thơ trong bốn thập kỷ qua, mang dấu ấn tâm hồn và nét sang trọng, tinh tế của người chuyển ngữ Giải trao cho nhà thơ Bằng Việt để ghi nhận thành tựu trọn đời của một dịch giả tài hoa có nhiều đóng góp trong hoạt động giới thiệu văn chương nước ngoài”
Trang 231.2.2 Quan niệm nghệ thuật
Con đường đến với văn chương của Bằng Việt có ảnh hưởng trực tiếp từ bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam những năm 60 Như những nhà thơ trẻ cùng thời, Bằng Việt có ý thức sâu sắc về vai trò, vị trí, sứ mệnh lịch sử của thế hệ mình –
“Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai” – để từ đó, ông xác định rõ tư tưởng nhận thức cho con đường sáng tạo thơ ca của mình
Từ nhiều năm nay, Bằng Việt vẫn được coi là một trong những tác giả tiêu
biểu của lớp nhà thơ chống Mỹ, bản thân ông cũng có quan niệm nghệ thuật rõ
ràng Ông từng phát biểu: “Thơ viết trong thời kỳ ấy cũng là thước đo một thái độ sống, một nhân cách sống Không nhà thơ nào sống hèn đớn, lẩn tránh, đào ngũ trong thời kỳ ấy mà lại thành một nhà thơ lớn được” Khi trả lời câu hỏi của nhà báo Huệ Thư: "Những phẩm chất nhà thơ cần có là gì?" Bằng Việt đã xác định phẩm chất đầu tiên của người làm thơ là sự "chân thành" Do thi tứ "chân thành" nên thơ Bằng Việt được tin yêu, từ đó tăng thêm năng lực thâm nhập tâm hồn người đọc
Với Bằng Việt, “thơ là phần tinh túy nhất của phương tiện thể hiện và trình diễn bằng lời”, “càng thể hiện súc tích và sâu xa nhất bản chất và nội tâm mỗi con người càng đặc sắc” Từ kinh nghiệm của một nhà quản lý nghệ thuật, Bằng Việt rất coi trọng “tính cá biệt và tính đặc thù”, “tính độc đáo trong mỗi khám phá nội tâm của mỗi chủ thể trong thơ” Khát khao khẳng định cái Tôi độc đáo ấy luôn hòa quyện với những lý tưởng nhân văn cao đẹp của cái Ta Trong bài viết thay
lời tựa của nhà thơ Bằng Việt cho tập sách “Tác phẩm chọn lọc” của ông đã khái
quát và đúc kết lại các đặc điểm về phương pháp và thế giới quan chung cho các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Qua đó Bằng Việt phác họa nên những đặc trưng của các sáng tác trong thời kỳ này Đây là câu chuyện của cả một đời người cầm bút với hơn bốn mươi năm trăn trở, suy ngẫm, chiêm nghiệm và sáng tạo Nhà thơ Bằng Việt viết: “Có một điểm có lẽ là điểm mấu chốt nhất của thế hệ văn học trưởng thành trong cuộc chiến tranh chống Mỹ,
đó là phạm trù cái tôi biết tự nguyện điều tiết thế nào trong cái ta, bản thể cá nhân mình hoà nhập đến đâu với cả thế hệ mình và biết đặt mình vào mối quan hệ
Trang 24tương hỗ như thế nào, để sẵn sàng đóng góp trên ý thức xây dựng chung, cho tất
cả cộng đồng” Bằng Việt mong “sẽ được cởi mở tấm lòng trọn vẹn với bạn đọc cũng như thơ mình luôn luôn là nơi giãi bày, chia sẻ”, nhưng đồng thời cũng mong muốn mỗi nhà thơ cần “luôn phấn đấu làm sao để con người luôn được quyền đứng thẳng, được hít thở hết mình, vươn cao đến hết tầm vóc thực sự của mình để sánh bước đồng hành cùng nhân loại” Khát vọng cao đẹp của người nghệ sỹ chân chính đã được Bằng Việt bộc bạch theo cách riêng trong các bài thơ
giàu chất chính luận: Hoa tường vi, Plixétcaia, Đọc lại Nuyễn Du, Ngôn ngữ và chính trị, Ném câu thơ vào gió, Tạm bợ, Ngôi nhà, Nghĩ lại về Pauxtôpxky, Thơ hay có cần phải chết?, Thơ còn gì hôm nay, Thực ra, Giọng hát hay - 87, Sự nhạy cảm không có chỗ, Thời đã khác rồi,
1.3 Tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 – 2001)
Trong “thế hệ sáu mươi”, “thế hệ Trường Sơn” trên văn đàn, Bằng Việt có
vị trí khá ổn định và vững chắc Trong sự nghiệp sáng tác của mình, với hơn 300 bài thơ và hơn 10 tập thơ đã công bố, có thể nói có được một sự nghiệp văn học phong phú như ông không phải là điều dễ dàng Để đánh dấu 40 năm sự nghiệp
cầm bút của mình, Bằng Việt xuất bản tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 - 2001) Đây chính là sản phẩm kết tinh chặng đường 40 năm cầm bút của mình, nó
chứng tỏ sự trưởng thành của một cây bút tài năng và tràn đầy nhiệt huyết Đồng thời, nó còn ghi lại những dấu ấn của tác giả về những đặc điểm thơ của Bằng Việt trước và sau thời kỳ đổi mới (1986) Qua mỗi thời kỳ ấy, chúng ta thấy được
sự biến đổi và phát triển về cảm hứng, giọng điệu về nội dung, nghệ thuật trong hành trình sáng tác của Bằng Việt
Trong tập thơ Thơ Bằng Việt (Tuyển 1961 - 2001) với 135 bài thơ, Bằng Việt tự xếp thơ mình thành ba phần Phần I có tên là Chứng tích một thời gồm 32 bài thơ, phần II là Tự bạch gồm có 56 bài thơ và cuối cùng là phần III Những trải nghiệm gồm có 47 bài thơ Để lý giải về sự phân chia các phần trong tuyển thơ, Bằng Việt giải thích: "làm như thế là học cách kết cấu của một bản giao hưởng,
mở đầu là sôi nổi, cuốn hút, tiếp theo là trầm lắng, trữ tình và phần cuối là đúc kết Nếu cần chọn một đại diện cho phần II, có lẽ bài Nghĩ lại về Pauxtôpxky là
Trang 25thích hợp hơn cả" Trong tuyển thơ này, nội dung cơ bản của tập thơ không nằm
ngoài những nội dung cơ bản của thơ ca kháng chiến chống Mỹ đó là những cảm hứng về đất nước và con người trong kháng chiến chống Mỹ Hơn thế, một nguồn cảm hứng bất tận muôn đời của thơ ca, nhạc, họa…đó là tình yêu, Bằng Việt cũng đã khai thác đưa tình yêu vào trong thơ mình tạo nên sự say đắm, đắm đuối, nồng nàn trong thơ mình Thêm vào đó là cuộc sống muôn màu muôn vẻ với bao gam màu nóng, lạnh khác nhau, nó đã đem đến nguồn cảm hứng mới - cảm hứng
về thế sự - đời tư, chính nguồn cảm hứng này đã tạo nên chất trí tuệ, thâm trầm,
triết lý trong các sáng tác của của chàng sinh viên Luật
Về nghệ thuật của tuyển thơ, chúng ta nhận thấy, Bằng Việt sử dụng đa dạng các thể thơ từ truyền thống cho tới hiện đại như lục bát, 5 chữ, 6 chũ, 7 chữ,
8 chữ và sử dụng với mới mức độ đậm đặc đó là thơ tự do Ngôn ngữ trong thơ Bằng Việt thì trong sáng, giản dị, dễ hiểu, giàu màu sắc gợi hình, gợi cảm,với sự gia tăng các yếu tố văn xuôi vào trong thơ kết hợp với giọng điệu trữ tình sâu lắng và giọng triết lý suy tư và một số biện pháp tu từ, Bằng Việt đã tạo ra một loạt các biểu tượng thơ như: ngọn lửa, ngọn gió, hoa…Tất cả những điều trên đã làm nên những bài thơ say đắm in đậm trong lòng mọi thế hệ độc giả
Với gần nửa thế kỷ trăn trở trên con đường gập ghềnh của sáng tạo thi ca, nhà thơ Bằng Việt là một trụ cột trong các trụ cột của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - thế hệ của những nhà biên niên sử của một thời đại thơ hoành tráng Nhà thơ Bằng Việt đã đóng góp một cái nhìn bằng “ánh mắt xanh ngăn ngắt” trên nền cảm xúc “chờn vờn sương sớm” của thi
sĩ lãng mạn và trí tuệ, cùng kiến tạo lên cái toà đại bảo tháp của thi ca thế hệ chống Mỹ cứu nước thế kỷ XX – một thế hệ trưởng thành trọn vẹn trong một thời đại chứa đựng đậm đặc chất sử thi
Trang 26CHƯƠNG II: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG THƠ BẰNG VIỆT
(TUYỂN 1961 – 2001)
2.1 Cảm hứng về đất nước và con người
2.1.1 Cảm hứng về đất nước và con người trong chiến tranh
2.1.1.1 Đất nước trong chiến tranh
Khi Bằng Việt làm thơ, cuộc chiến tranh chống Mỹ bắt đầu bước vào thời kì khốc liệt Thế hệ những nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ như Bằng Việt sớm nhận rõ mặt quân thù, cảm nhận rõ những đau thương, gian khó đang đè nặng lên Tổ quốc và hơn bao giờ hết, họ xác định rõ trách nhiệm của mình trong cuộc hành quân lịch sử ấy Suy nghĩ về đất nước trở thành cảm hứng và đề tài chính trong thơ ca của họ Cùng một đề tài Tổ quốc và cảm hứng ngợi ca, yêu thương nhưng mỗi nhà thơ với cách cảm, cách nghĩ của mình lại có những cách khám phá riêng Viết về đề tài nay, Tố Hữu gắn hình tượng Tổ quốc với hình ảnh
bà mẹ “sớm chiều gánh nặng”, âm thầm nhẫn nại, là “hạt giống để mùa sau”, là trái tim Đan kô rực sáng trong đêm, là lương tâm thời đại và sức sống diệu kì Chế Lan Viên khái quát tình yêu Tổ quốc từ những tình yêu bình dị, cụ thể mang tinh thần lòng yêu nước của Ilia Êrenbua: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt/ Như
mẹ như cha như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc nếu cần ta sẽ chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Sao chiến thắng) Nguyễn Đình Thi cảm nhận đất nước mang tính khái quát, tổng hợp, từ vẻ đẹp tự nhiên: “Việt Nam đất nước ta ơi/ Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn” (Bài thơ Hắc Hải) đến truyền thống kiên cường bất khuất của cha ông nghìn đời: “Nước chúng ta/ Nước những người chưa bao giờ khuất/ Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất…” (Đất nước) Nguyễn Khoa
Điềm trong chương “Đất nước” của trường ca Mặt đường khát vọng lại nhìn đất
nước ở sự tổng hợp các yếu tố văn hóa, lịch sử đậm màu sắc dân gian Không nằm ngoài quy luật của sự sáng tạo nghệ thuật ấy, Bằng Việt đã có những vần thơ trong trẻo, tinh tế mà hết sức giản dị khi viết về quê hương đất nước của mình trong những năm tháng bom đạn ác liệt ấy Cảm hứng khi viết về đất nước trong
chiến tranh của Bằng Việt được thể hiện tập trung trong các bài thơ như: Đất nước; Thị trấn; Trước cửa ngõ chiến trường; Viết cho em dọc Trường Sơn; Ở
Trang 27một xóm Quảng Bình; Trước cửa Tùng; Truông nhà Hồ; Huế, tấm lòng em; Vùng sâu; Tạnh mưa rừng; Đất nước; Trọng điểm; Những câu thơ trên đường; Từ giã tuổi thơ; Về Hương Sơn, năm sơ tán ấy…
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mang ý nghĩa và tầm vóc của thời đại Hiện thực đời sống chiến tranh hơn bao giờ hết lấp lánh chất thơ Và cũng hơn bao giờ hết hiện thực chiến tranh tràn vào thơ một cách ồ ạt từ những sự kiện lịch sử to lớn, những thử thách của đời sống chiến trường, phút giáp mặt trong chiến đấu, những tổn thất đau thương, những kì tích anh hùng đến những chi tiết hết sức bình thường của cuộc sống Các nhà thơ hầu hết là những chiến sĩ đi vào cuộc chiến tranh, ở giữa cuộc chiến tranh, trực tiếp tham gia chiến đấu, giáp mặt với kẻ thù Cho nên hơn ai hết họ hiểu rất rõ hiện thực cuộc đấu tranh của dân tộc Hòa trong không khí của thời đại chống Mỹ, trong sức sống mãnh liệt của dân tộc, các nhà thơ đã cả nhận sâu sắc hơi thở cũng như niềm vui, nỗi buồn của nhân dân Chẳng thế mà, Bằng Việt đã suy nghĩ rất nhiều về đất nước bằng chiều sâu của sự nhận thức với duy thơ khái quát, tổng hợp nhưng chất liệu thơ lại là những hình ảnh hết sức chân thực đã được ghi lại từ hiện thực chiến trường đậm mang chất kí sự Xuất phát từ hoàn cảnh đất nước đang trong cơn bão táp của lịch
sử đau thương trong chiến tranh nên các vần thơ viết về quê hương đất nước của Bằng Việt trong thời gian này cũng khét lẹt mùi bom đạn, thuốc súng:
“Một đêm thức dậy dăm lần
Tọa độ xa, tọa độ gần bom rơi
Cầm canh pháo kích liên hồi Dưới trăng suông, thấy cây đồi xém đen”
(Ở một xóm Quảng Bình) Phải là người từng trải, từng tham gia kháng chiến, từng sống trong những tháng ngày ác liệt ấy thì mới hiểu được cảm giác giật mình bất an khi ngủ hay thức dậy liên tiếp trong đêm bởi tiếng bom đạn của kẻ thù dội xuống theo “tọa độ
xa, tọa độ gần” Bom đạn của kẻ thù đang tàn phá những dòng sông, cây cỏ tàn phá những xóm làng, những vùng quê trên quê hương đất nước thân thương của mình Thử hỏi mỗi một con người sống trong hoàn cảnh đó liệu có thể “ngủ yên
Trang 28trong đời” được hay không? Nếu là con người nặng tình với quê hương đất nước thì không thể ngủ yên được và câu trả lời được lịch sử chứng minh bằng chiến thắng mùa xuân 1975, đã chứng tỏ lòng yêu nước của người dân Việt
Các bài thơ của Bằng Việt như Trọng điểm; Vùng sâu, Từ chiến trường lại viết cho con; Những gương mặt những khoảng trời; Ở một xóm Quảng Bình; Trước của ngõ chiến trường… đã ghi lại chân thực không khí lịch sử những năm
tháng chiến tranh chống Mỹ dữ dội ác liệt mà hào hùng của đất nước Trong chiến tranh, đất nước còn gắn nhiều với những khó khăn, gian khổ, những hi sinh mất mát cả về vật chất lẫn tinh thần, thậm chí còn bị tàn phá nặng nề và nỗi đau
ấy như thấm dần sâu mọi vật, từng muôn vàn cỏ cây hoa lá trên đất nước mình:
“…Lửa sôi nhựa, cây đen thui, chết đứng,/ Dốc lắc lư, xiên xẹo hố bom dày./ Đất
đỏ, mùn đen trộn với xác cây/ Cây chết, xoãi như con trăn nằm, xoắn như con rắn mốc/ Cây xám xịt như ngấm vào thuốc độc/ Cây như con rồng quằn quại phơi lưng, cuồn cuộn rễ bên đường/ Con sông cũ đi qua, bom đánh mất dòng/ Thành một bãi đồng lầy như cháo vữa…” (Trọng điểm)
Đó là những nỗi đau mà kẻ thù đã gây ra trên mảnh đất quê hương thân thương yêu dấu Tội ác mà chúng gây ra quá lớn, chúng đã tàn phá và hủy diệt tất
cả Lẽ ra mọi vật phải được phát triển theo đúng quy luật tự nhiên của tạo hóa, cây cối phải được xanh tươi, đâm chồi nảy lộc nhưng chúng đã “tàn hại cả côn trùng cây cỏ” và thay thế vào đó là những đám cây bị “chết đứng” bởi khói lửa chiến tranh hay như ngấm phải “thuốc độc” bởi vũ khí sinh học với tên gọi “chất độc màu da cam”, ngay đến đất không còn ra đất mà bị pha trộn bởi nhiều tạp chất như xác cây chết khô khó mà nhận biết… Ngay đến cả con sông mang phù
sa với dòng chảy lặng lờ cũng đã bị bom đạn dội xuống, tàn phá ác liệt mất cả dòng chảy và biến thành một bãi đồng lầy… Tất cả tội ác mà kẻ thù gây ra khiến chúng ta có thể hình dung được trên đất nước mình khắp nơi đều chảy máu và nỗi đau này là nỗi đau chung của dân tộc bởi đâu đâu trên đất nước ta cũng gắn với những dòng sông và cây cỏ Tất cả nỗi đau ấy như cứa vào lòng con người Việt như một vết cắt khó phai mờ Tột cùng của sự hi sinh mất mát là nỗi đau về tinh thần khi chứng kiến những người thân trong ra đình mình lần lượt bị bom đan của
Trang 29kẻ thù cướp đi: “Cát bỏng lặng thinh không nói cùng ta/ Cha mẹ anh em – kẻ thù chôn sống! /…Sắc trắng phơi trụi trần/ Vết đau sâu hút máu…” (Vùng sâu)
Để làm nên niềm vui chiến thắng vĩ đại, oai hùng của dân tộc, mọi người đều thấu hiểu những hi sinh mất mát đó là cái giá phải trả cho những vinh quang
đó Bởi vì "Bạn hãy nói xem, ở đâu và bao giờ mà không cần hy sinh cũng giành được tự do" (C.Rleev) Sự ra đi mãi mãi của con người chính là nỗi đau lớn nhất,
có nỗi đau nào hơn nỗi đau ấy không? Nỗi đau ấy là nỗi đau chung của muôn nhà khi mà mọi thứ thân thiết ruột thịt của mình phải lìa xa mình – cha, mẹ, anh, em đều bị lưỡi hái của tử thần lấy đi do bom đạn của kẻ thù tạo ra Tội ác của kẻ thù chồng chất lên như núi Theo lẽ thường những nỗi đau ấy dễ khiến con người gục ngã sống đớn hèn, đầu hàng kẻ thù và đầu hàng số phận nhưng ngược lại nó trở thành động lực để con người vùng lên, hợp lại tạo thành một làn sóng yêu nước đánh đuổi kẻ thù xâm lược Có thể nói chưa bao giờ lòng yêu nước lại ngời sáng trong lòng người dân nước Việt như lúc này và chính nó đã tạo nên sức mạnh lớn lao đưa đất nước ta từ trong đau thương máu lửa chắp cánh bay lên như một thiên
thần: "Nhiều binh trạm chuyền nhau ẩn hiện dọc Trường Sơn/ Mười mấy năm nay không tàn ánh lửa/ Những chiến sĩ không tên chung sức nhau làm lên lịch sử/ Vạn chuyến xe đưa thoi, ước đã bon quanh trái đất mấy mươi vòng…” Bằng các hình ảnh đậm chất lãng mạn đã khiến cho những chiến sĩ không tên trở nên kì vĩ,
phi thường Bằng Việt đã đưa con người Việt Nam trong chiến đấu gian khổ vươn lên sánh ngang tầm vũ trụ:
“Im lặng trước cơn đau, và khóc trước niềm vui
Ôi tôi nhớ đêm công đồn Quảng Trị Một vạn quả pháo ta bay lên trời kì dị Rực thác lửa vàng xanh, tuôn xuống mặt quân thù”
(Những gương mặt những khoảng trời) Với con mắt của một người từng trải, Bằng Việt vừa là một nhà thơ cầm bút vừa là một chiến sĩ cầm súng trên chiến trường nên chất liệu hiện thực cuộc sống chiến đấu đã được kéo ồ ạt vào trong thơ Bằng sự khúc xạ chân thực qua
tâm hồn người trí thức trẻ trong Những gương mặt những khoảng trời nặng tình,
Trang 30nặng nghĩa rất đỗi trung hậu với người mẹ Trường Sơn, em gái Thừa Thiên, em
bé Vân Kiều …đã cho chúng ta thấy được đất nước không phải là những gì xa vời
mà chính là những tình cảm gần gũi, thân thương và bình dị nhất mà con người dành cho nhau
Cảm nhận của Bằng Việt đặc biệt ở chỗ ông nhìn đất nước bằng con mắt lịch sử với thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai đan cài Cũng như các nhà thơ cùng thế hệ mình trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, Bằng Việt viết về đất nước không chỉ bằng tình yêu tha thiết, chân thành mà còn vì niềm tự hào dân tộc
về một đất nước bốn nghìn năm văn hiến, về những truyền thống văn hóa đã tạo nên bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam, về những trang sử vẻ vang của ông cha
ta trong quá trình dựng nước và giữ nước Các bài thơ như: Thị trấn; Về Nghệ An thăm con; Truông nhà Hồ; Đất nước; Huế, tấm lòng em; Tạnh mưa rừng; Bếp lửa;…đã thể hiện rõ cái nhìn của Bằng Việt về đất nước với cái nhìn lịch đại
Với tư thế của một con người trong cuộc, Bằng Việt đã nhìn vào đất nước mình với đôi mắt đậm màu thời gian Tác giả đã nhìn vào quá khứ hào hùng của dân tộc hay những gì là rất đỗi thân quen bình thường nhất mà mỗi con người
đều trải qua thời thơ ấu: “Những phố mộc mạc và yên tĩnh/ Như chiều sâu của một tâm hồn người/ Hoa gạo đỏ tươi chúm chím nụ cười…/…Bỗng trở lại/ Thôi rồi! Lửa cháy! /Bom đã rơi trên mỗi mái nhà…” Với tình yêu quê hương đất
nước của mình, tác giả hoài niệm về những gì yên bình, giản dị của quê hương một thời đã xa Nhìn về quá khứ tốt đẹp với những con phố “mộc mạc, yên tĩnh” thanh bình sâu lắng như tâm hồn của con người thuở nào, ông xót xa khi nhận ra thực tại chiến tranh bom đạn đã xóa đi tất cả, trước mắt hiện ra khung cảnh “bom rơi”, “lửa cháy” đã thiêu đốt mọi con phố, mọi kỉ niệm đẹp ngày nào Dẫu biết rằng, ai trong đời cũng đã đôi lần tiếc nuối xót xa khi nhìn thời gian trôi qua nhưng nỗi xót xa của tác giả là nỗi đau của một con người nặng lòng với cuộc
đời, với những mảnh hồn quê, đó là “một tấm lòng thủy chung, trung hậu của anh đối với con người, với đất nước” (Thiếu Mai) Buồn đau trước khung cảnh
đất nước thực tại nhưng tác giả không hề ủy mị mà luôn hướng về tương lai, về
Trang 31những gì tốt đẹp nhất, về những con đường mà dân tộc phải vượt qua để đi đến chiến thắng:
“Và quên lãng khắc thành sâu đậm…
Anh khát được nghìn lần ra trận Khát được suốt đời căm giận Trả thù cho nơi lơ đãng đi qua!”
Nó có thể là một bếp lửa nồng nặc mùi khói – một bếp lửa ấp iu nồng đượm, một chùn hoa gạo đỏ tươi, một tiếng tu hú, một căn nhà đơn sơ, một xóm ven đồi, một
con gà mái, một góc tường rêu, một đồi sắn, đám lá bay mù hay một cánh hoa bìm bịp cũng gợi nhớ xa xôi:
“Hoa bìm ơi hoa bìm!
Vẫn tròn trặn đơn sơ màu tím thế!?
Như ước vọng mở lòng ta thủ thỉ
Có nét gì vẫn quyến rũ như xưa”
(Từ giã tuổi thơ) Với tình yêu quê hương sâu đậm thì cái đẹp quê hương chính là ở trong lòng người nên trong con mắt nhà thơ cái gì của quê hương cũng đẹp, cũng xinh Nghĩ về đất nước nơi mình sinh ra và lớn lên, Bằng Việt luôn có những lời thơ
ấm áp, tin yêu Trong thơ ông, cảnh vật quê hương đất nước hiện lên tươi đẹp qua
những chi tiết rất bình thường Chẳng thế mà trong bài thơ “Lời chào từ Việt Nam 1966” – một bài trong tập thơ Bằng Việt – Tác phẩm chọn lọc, Bằng Việt cảm nhận được vẻ đẹp từ những gì giản dị và bình thường nhất: “Tôi đi trong sắc thắm trời xanh/ Cây cỏ đu đưa một dáng vui thầm/ Ước cây cỏ bỗng làm sao nói
Trang 32được/ Ôi những đồi chè đang lên xanh mướt/ Mạ nô đùa rồng rắn đuổi theo nhau/ Hoa tím ngát trong nắng chiều hạnh phúc/ Những nương khoai bừng trổ nỗi vui đầu…”
Đất nước trong chiến tranh còn được Bằng Việt thể hiện qua sự gắn liền với những địa danh quê hương từ Bắc tới Nam, từ chiến trường Trường Sơn đến những vùng biên cương hải đảo của Tổ quốc như Trường Sa… Các bài thơ tiêu
biểu như Truông nhà Hồ; Bên địa đạo Vĩnh Quang; Học trò Hà Tĩnh; Về Nghệ
An thăm con; Một xóm Quảng Bình; Trước Cửa Tùng; Về Hương Sơn, năm sơ tán ấ; Vỹ Dạ, tết Mậu Thân 68; Huế, tấm lòng em; Đêm gió Trường Sơn…
Ngay từ cách đặt nhan đề cho tác phẩm của mình, Bằng Việt cho chúng ta thấy được một loạt các địa danh của đất nước như Trường Sơn, Quảng Bình, Vĩnh Quang… Điều này cũng chứng tỏ sự từng trải của Bằng Việt với rất nhiều vùng đất mà ông đã từng đặt chân qua Đồng thời, nó cũng thể hiện lòng yêu nước, sự tự hào dân tộc của tác giả
Bên cạnh sự chiến đấu, hi sinh gian khổ ở chiến trường miền Nam thì còn
có sự lao động miệt mài để thực hiện các kế hoạch lao động sản xuất đó là công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn Vì vậy khi khai thác đề tài đất nước, nhà thơ Bằng Việt không chỉ khắc họa vẻ đẹp của đất nước trong chiến tranh bom đạn ác liệt mà còn khắc họa
vẻ đẹp của đất nước trong lao động sản xuất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc với các bài như: Trở lại Thái Bình; Hương mùa thu, phố biển; Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh; Trở lại trái tim mình…
Với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng và bắt đầu bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Mỗi người dân đều ý thức được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp chung của đất nước, Bằng Việt đã viết về quê
lúa Thái Bình – quê hương “năm tấn” đang cùng “nắm tay nhau xây dựng lại đời ta” (Tố Hữu), quyết tâm đưa đất nước từ đói nghèo, hoang tàn vì chiến tranh tới cuộc sống ấm no hạnh phúc: “ Giống lúa xuân mới mẻ đến nghi ngờ/ Đã đứng vững trên đất nhiều chua mặn…/…Tiếng máy bơm, máy khoan đất liên hồi/ Tiếng
Trang 33búa đập, tiếng cưa bào rộn rã/ Thuyền đạm, thuyền than, thuyền đá/ Đi về ba cử nước mênh mông…” (Trở lại Thái Bình)
Trong thơ Bằng Việt ta thấy được không khí vui tươi, phấn khởi tấp nập với “máy bơm”, “máy khoan”, tiếng búa, tiếng cưa….rộn ràng trong lao động sản xuất Không khí lao động ấy không chỉ ở Thái Bình mà ở khắp mọi địa phương trên miền Bắc Chẳng hạn, đó là thành phố cảng biển - Hải Phòng cũng nhộn nhịp trên các con phố, những công ty, xí nghiệp:
“Thành phố của bộn bề cần cẩu thép Của những trục, những đà, những xà ngang tời dọc, Của màu khói xi măng, những ánh lửa chớp hàn Hàng cây số dài, búa máy râm ran”
(Hương mùa thu, phố biển) Những câu thơ toát ra từ những hình ảnh cụ thể chân thực, từ cuộc sống lao động, từ không khí rộn ràng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc… Lời thơ vừa mộc mạc, giản dị, vừa ngậm ngùi, sâu lắng đã đem đến cho người đọc một sự rung động sâu sắc Nó được viết ra từ một trái tim yêu nước thiết tha chân thành
và cảm thấy sung sướng tột độ trước sự hồi sinh của đất nước trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đồng thời nó cũng khẳng định niềm tin mãnh liệt của tác giả vào một tương lai tươi sáng hơn
Vì vậy, với vai trò là hậu phương vững chắc, mỗi người dân miền Bắc đều ý
thức được trách nhiệm của mình như chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt được” [18; 57] nên không ngừng ra sức tăng gia sản xuất để chi viện cho miền Nam theo tinh thần "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" Niềm vui khi công cuộc xây dựng xã hội
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc bước sang gặt hái thàng công, đem lại cuộc sống ấm
no cho mọi người Cuộc sống tươi trẻ ấy như “một mùa hoa mới nở, các nhà thơ như những con ong bay vào mùa lặng lẽ, cần cù hút lấy những nhụy thơm và kết tinh cho đời thứ mật thơm óng ánh” (Hoàng Minh Châu) Chính sự ủng hộ cả về
chất lần tinh thần đó, đã tiếp thêm nguồn sức mạnh lớn lao cho nhân dân miền
Trang 34Nam ngày đêm chiến đấu với kẻ thù và cuối cùng giàng lấy thắng lợi vẻ vang trong
cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào mùa xuân năm 1975
Vượt lên trên tất cả đó là sức sống bất diệt của đất nước được cảm nhận bởi những suy tư có tính chất khái quát, tổng hợp về sức mạnh diệu kỳ của nhân dân, đặc biệt từ tầng sâu của nền văn hóa Việt Nam mà Hà Nội là biểu tượng sáng
ngời tiêu biểu với các bài như: Bêtôven và âm vang hai thế kỷ; Tột cùng gian truân, tột cùng hạnh phúc; Trò chuyện với thành phố của đời mình; Tình yêu và báo động Nhà thơ viết về đất nước bằng tình yêu đầy trí tuệ và sự gắn bó máu
thịt với mảnh đất này Niềm thơ đau đáu, chủ đạo, theo suốt cuộc đời ông vẫn là
(Trở lại trái tim mình)
Nếu như Nguyễn Đình Thi yêu một vẻ đẹp như tranh lụa của Hà Nội với
“sáng mát trong như sáng năm xưa” mang vẻ đẹp u buồn của những ngày đầu
kháng chiến mùa thu chớm lạnh, những phố dài xao xác hơi may, thềm nắng lá rơi đầy sau lưng người ra đi; nếu Chính Hữu khắc họa vẻ đẹp của Hà Nội trong Đêm ra đi đất trời bốc lửa/ Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng đậm chất chinh phu và Quang Dũng lãng mạn với tâm hồn người lính Tây Tiến Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm thì Bằng Việt in dấu Hà Nội trong thơ với vẻ đẹp đầy kiêu hãnh,
tự hào của một vùng đất thanh lịch, hào hoa Hà Nội hiện lên với tầng sâu văn hóa, đó là nền văn hóa nghìn năm lịch sử - văn minh sông Hồng, là “rùa thần thoại” với truyền thuyết Hồ Gươm…Tất cả tầng sâu văn hóa ấy không dễ gì phai trong tim mỗi người “con Lạc, cháu Hồng” Với tình cảm sâu lặng của mình, Bằng Việt đã viết nên những câu thơ đầy ân tình, sâu lắng về Hà Nội:
“Tôi trở về những ngõ quen xưa
Trang 35Mỗi ngõ nhỏ giấu một lời tâm sự Tôi trở lại những lối mòn quá khứ
Có tấm tình ta mắc nợ cha ông”
Những bài thơ của Bằng Việt viết về Hà Nội, vẫn là những bài thơ kết tinh chất thi vị đằm thắm sâu lắng nhất Hà Nội là nơi nhà thơ ký thác những suy tư trăn trở thầm kín nhất của mình Đúng như từ dùng trong tên một bài thơ, nhà thơ
Bằng Việt gọi đó là “Thành phố của đời mình” Hà Nội trong thơ Bằng Việt, chính là Hà Nội được nhìn bằng “ánh mắt xanh ngăn ngắt” của thi sĩ
2.1.1.2 Con người trong chiến tranh
Cùng với cảm hứng về đất nước, Bằng Việt đã giành một phần trang trọng cho cảm hứng về con người Việt Nam trong thơ Trong chiến tranh, con người Việt Nam được khắc họa với nhiều vần thơ gân guốc, khỏe đẹp và chân thực
Trước hết là người lính, bởi đó là linh hồn của một đất nước đang phải gồng mình chống lại kẻ thù hung bạo Nếu Tố Hữu ngợi ca vẻ đẹp người lính – anh giải phóng quân – những Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi với vành mũ tai bèo và khẩu súng trường đẹp như thần thoại của thế kỷ XX: “Hoan hô anh giải phóng quân/ Kính chào anh con người đẹp nhất” (Bài ca xuân 68), nếu Phạm Tiến Duật khắc họa chân dung người lính sinh động, trẻ trung, đầy chất lính qua hình ảnh những chiến sĩ lái xe của Tiểu đội xe không kính… thì Bằng Việt xây dựng chân dung người lính bằng những nét giản dị, mang chiều sâu suy tưởng:
“Bằng Việt không chuyên thể hiện những cuộc đời anh hùng và cũng ít đưa những hành động anh hùng vào thơ mình” (Lê Đình Kỵ) Người lính trong thơ Bằng Việt không phải là những anh hùng mang tầm vóc sử thi làm nên những chiến công lừng lẫy, tư thế hiên ngang và sự hi sinh với ý nghĩa cái chết gieo
mầm cho sự sống như anh giải phóng quân trong Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân hay Nấm mộ và cây trầm của Nguyễn Đức Mậu…Nhiều bài thơ về
người lính được Bằng Việt sáng tác khi ông đi thực tế chiến trường Tính chất ký
sự đậm nét Chiến trường khốc liệt, đầy gian khó lại là nơi vẻ đẹp của những con người Việt Nam tỏa sáng, bình dị và anh dũng Vẻ đẹp ấy kết tinh trong hình ảnh
người lính, những chiến sĩ không tên chung sức làm nên lịch sử Đây là cách cảm
Trang 36nhận rất riêng của Bằng Việt về người lính, về đất nước trong chiến tranh Những điều vĩ đại, những chiến công lớn đều được làm nên bởi những con người bình
thường nhất Điều này sẽ được thể hiện rõ nét trong: Trước cửa ngõ chiến trường; Những gương mặt, những khoảng trời; Người giữ tuyến đường xuân; Kỷ niệm về Chê Ghêvara…
“Những chiến sĩ trẻ măng hẹn ngày gặp lại Những gương mặt bình thường như lẽ phải Mỗi gương mặt sinh ra, để đến một vòm trời”
(Những gương mặt, những khoảng trời)
Hay đó là những chiến sĩ kiên cường dũng cảm trong Người giữ tuyến đường xuân: “Những thủy lôi chín mắt ở Hàm Rồng/ Hau háu trên sông giữa luồng nước lũ/ Anh đã vớt không quả nào kịp nổ/ Hai tay trắng làm đui mù điện tử” Bàn tay họ đã làm nên tất cả, tháo gỡ tất cả mọi khó khăn, làm “đui mù điện
tử” Người lính không quản khó khăn gian khổ, bất chấp mọi hiểm nguy,vượt qua muôn ngàn thử thách với cái sống, cái chết, sự cực nhọc đó rét, bệnh tật để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình Chính tình cảm thiết tha với Tổ quốc với nhân dân và vẻ đẹp bình dị trắng trong của người chiến sĩ là vũ khí làm cho kẻ thù kinh
sợ
Cùng với hình ảnh người lính, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh cũng được tác giả khắc họa rõ nét trong những vần thơ thời chiến tranh Có một sự giao thoa rất đẹp giữa hình ảnh người lính và người phụ nữ, kết tinh trong hình ảnh những cô thanh niên xung phong, em gái giao liên, cô nữ dân
quân dịu dàng mà kiên cường dũng cảm…Những bài thể hiện điều này: Huế, tấm lòng em; Nhà giữ trẻ; Về Huế đêm rằm; Đi chợ Tết, Tình yêu và báo động, Mừng
em 16 tuổi
Khi đứng trước khó khăn thử thách mưa bom bão đạn chị em không hề tỏ
ra sợ hãi mà lại tỏ ra kiên cường bất khuất Khi trở về cuộc sống đời thường họ
lại trở nên tinh nghịch, hồn nhiên vô tư, trẻ con đáng yêu: “Nhưng vui chân quá, vui chân thế/ Chị ơi, thôi chị chẳng nên hờn/ Hôm nay đi chợ quên đường nhé! /