Trong chủ nghĩa xã hội, các yếu tố kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của tôn giáo vẫn còn, và có xu hướng phát triển như ở nước ta, điều này đúng như quan niệm của Mác về chủ nghĩa xã hội:
Trang 1Më ®Çu
Lâu nay nhiều người lầm tưởng rằng tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội như là hiện tượng tàn dư của xã hội cũ, vì thế, đã có xu hướng đối xử với tôn giáo là ‘tả khuynh” Ở nước ta, phương pháp tiếp cận không đúng
đó cùng với thiên kiến cũ trong quan hệ lương giáo đã dẫn đến những hạn chế trong nhận thức và hành động của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nên
có thái độ hẹp hòi và thành kiến, phân biệt đối xử giữa người có đạo và người không có đạo
Sự đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội
và thực tế tồn tại của tôn giáo là một yếu tố trong kiến trúc thượng tầng Trong chủ nghĩa xã hội, các yếu tố kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của tôn giáo vẫn còn, và có xu hướng phát triển như ở nước ta, điều này đúng như quan niệm của Mác về chủ nghĩa xã hội: “Không phải là, một xã hội cộng sản chủ nghiã đã phát triển trên cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó, là một
xã hội về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang dấu vết của xã hội cũ, mà nó đã lọt lòng ra”[1] Sự nhận thức ngày càng đầy đủ hơn
về chủ nghĩa xã hội, cũng như tư duy mới về tôn giáo, chúng ta xác định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn có cơ
sở để tồn tại lâu dài, nên chúng ta không tách tín ngưỡng, tôn giáo một cách siêu hình ra khỏi ý thức xã hội trong chủ nghĩa xã hội, mặc dù tín ngưỡng, tôn giáo không thuộc hệ tư tưởng của giai cấp công nhân (chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) Ở một mức độ nhất định, thế giới quan và đạo đức tôn giáo vẫn phát huy tác dụng hướng dẫn nhận thức
và hành vi của một bộ phận nhân dân có đạo và không có đạo trong cuộc sống hiện thực Cái mạnh trong truyền thụ đạo đức tôn giáo là ngoài những điều phù hợp với tình cảm, đạo đức của nhân dân, nó lại được thực hiện
Trang 2thông qua tình cảm tín ngưỡng, lòng tin giáo lý Do đó, tình cảm và đạo đức tôn giáo được tín đồ tiếp thu tạo thành đức tin thiêng liêng bên trong và chi phối hành vi ứng xử của họ trong các quan hệ cộng đồng
Ngày nay, việc kế thừa và phát huy hợp lý của đạo đức tôn giáo là hoàn toàn phù hợp trong cách mạng tư tưởng văn hóa, nhằm góp phần xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Ít nhất thì mặt hợp lý đó, giữ vững được trong đồng bào các tôn giáo, cũng là một nhân tố của sức đề kháng chống lại sự xâm nhập của các hiện tượng phi đạo đức hay đạo đức phi nhân bản nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường và đẩy mạnh trong mở cữa hội nhập quốc tế Hiện nay, ở nước ta có tình hình là bộ mặt đạo đức ở một số vùng tôn giáo tốt đẹp hơn ở một số vùng khác, ở đó trật tự xã hội tốt hơn, con người ta đối xử với nhau hiền hòa và nhân hậu hơn…từ đó lại có người
đi đến quan niệm rằng đạo đức tôn giáo cao hơn đạo đức xã hội, đi đến chủ trương phải giáo dục đạo đức tôn giáo cho xã hội…
Không ai phủ nhận đạo đức của tôn giáo, và Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận trong nhiều văn kiện của mình rằng: đạo đức tôn giáo
có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới Trong giới luật của tôn giáo có nhiều điều nêu lên trách nhiệm đạo đức của tín đồ Thiên chúa giáo có “thập giới”, trong đó có những yêu cầu đạo đức như: phải hiếu kính với cha mẹ, không được giết người, không được gian dâm, không được trộm cắp, không được làm chứng giả để hại người, không tham vợ con và tài sản của người khác…Phật giáo có “ngũ giới”, hoặc như trong
“lục độ’ của đạo Phật cũng nêu lên: phải bố thí, phải nhẫn nhục, chịu
đựng…Đó là những điều răn có tính chất đạo đức, và nếu thực hiện được thì xã hội sẽ yên bình, con người sẽ trở nên hiền lành, phúc hậu Xã hội nào
mà chả mong được như thế!
Trang 3Nhưng, xét về nguồn gốc thì đạo đức của tôn giáo không phải từ trên trời rơi xuống, mà là có gốc rễ ở đời sống xã hội hiện thực Trong sinh hoạt cộng đồng, người ta thấy rằng con người phải ăn ở tốt với nhau, không xâm phạm đến lợi ích của nhau và của cả cộng đồng thì xã hội mới ổn định và con người mới có hạnh phúc Đạo đức và pháp luật ra đời là để thực hiện chức năng đó Giới tôn giáo thấy được yêu cầu đó của xã hội nên đã nêu lên thành giới luật đối với tín đồ, xem đó là điều kiện để được giải thoát, để được về với Phật, với Chúa, với Thánh Ala…về thực chất, đạo đức đó bắt nguồn từ đạo đức xã hội và không thể nào bao quát được hết đạo đức xã hội Bởi lẽ, ngoài các yếu tố đạo đức đã nêu trong giới luật của tôn giáo, còn có những yếu tố xã hội khác, như “thương người như thể thương thân”,
“kính trên nhường dưới”, “đồng cam cộng khổ”, “lá lành đùm lá rách”,
“kiên cường bất khuất”… thì không được thể hiện trong giới luật của các tôn giáo Hơn nữa, hành vi đạo đức của tín đồ tôn giáo thường phải nhờ đến sự chứng giám của “đấng bề trên” – nghĩa là thiếu một phần tự nguyện,
tự giác - phần quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức Do đó, không thể nói đạo đức tôn giáo cao hơn đạo đức xã hội, hoặc phải chủ trương giáo dục đạo đức tôn giáo cho toàn xã hội, hoặc cho rằng chỉ có theo tôn giáo thì con người mới giữ được đạo đức
Xã hội hiện đại rất cần đến đạo đức của mình Đây đó có nơi, có vùng
sa sút về mặt này mặt khác, thì vấn đề đặt ra là phải giáo dục đạo đức cho con người, và người có trách nhiệm phải là người gương mẫu thực hiện Cơ
sở giáo dục đó là tinh hoa của đạo đức truyền thống, kết hợp với tinh hoa của đạo đức thời đại Trong tinh hoa của đạo đức truyền thống có một phần của đạo đức tôn giáo
Sẽ là thiên lệch nếu chỉ nhìn nhận mặt hợp lý của đạo đức tôn giáo, chỉ thấy sự đóng góp của đạo đức đó, bất cứ tôn giáo nào và cả đạo đức của tôn giáo đó cũng có những điểm khác với đạo đức của xã hội ta Chỉ lấy
Trang 4một tôn giáo làm dẫn chứng - ở Phật giáo tính chất duy tâm, yếm thế, tính chất thần bí đã khiến cho con người không hướng vào hiện thực để giải quyết hiện thực, mà hướng vào nghiệp, quả báo…và nếu có nhìn vào hiện thực, thì Phật giáo cũng chỉ giới hạn trong từng cá nhân, ở nền tảng sinh học của từng cá nhân đó Vì vậy, sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo trên mức
độ nhất định đã bị hạn chế
Đối với Phật giáo, cả trong lịch sử và hiện tại có một vấn đề nếu
không làm rõ dễ gây ra sự ngộ nhận ở một số người, và vì thế sinh hoạt tôn giáo (Phật giáo) sẽ có những trở ngại nhất định, đó là vấn đề “nhập thế” của Phật giáo - tức là có hướng vào hiện thực để thực hiện ước mơ về cuộc sống tốt đẹp của con người hay không?
Lâu nay có một số người nghiên cứu thường nói đạo Phật là đạo “nhập thế” Họ nhận định rằng Phật giáo thời kỳ Lý - Trần (Thế kỷ XII – XIV) là Phật giáo nhập thế, Phật giáo thời kỳ Mỹ - nguỵ ở miền Nam trước đây cũng là Phật giáo nhập thế Có người còn tự hào về số tăng ni, phật tử tự thiêu để chống lại chế độ Mỹ - nguỵ v.v…
Đúng là thời kỳ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần có một số thiền sư như
Đỗ Pháp Thuận (915 – 990), Khuông Việt (993 – 1011), Vạn Hạnh (… - 1018) đã từng làm tham mưu chính trị cho các triều đình đương thời
Nhưng đó là những trường hợp đặc biệt, lúc bấy giờ chỉ có họ là những nhà trí thức của thời đại; họ hiểu sâu cả lý thuyết Phật và Nho, họ dựa vào tri thức Nho để bàn chính sự Về sau khi giới nho sĩ phát triển thì họ nhường vai trò đó cho nhà nho và trở về chuyên làm công việc tu hành Chính Trần Thái Tông, một vị vua uyên thâm cả Nho lẫn Phật đã nói lên chức năng của hai đạo này trong con người và xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: Phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo
Trang 5của đức Phật Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy
là trách nhiệm của tiên thánh
Dưới thời Mỹ - nguỵ, tăng ni và phật tử Huế, Sài Gòn đã từng tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình để chống đối chế độ của Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu thì đấy lại là trường hợp khác Lúc bấy giời các chính quyền này lệ thuộc vào Mỹ và dựa vào Thiên chúa giáo để cai trị đất nước
Nó chèn ép và khống chế các tôn giáo khác, việc đấu tranh chống chính quyền Diệm, Thiệu là những việc làm chính đáng, vừa có ý cứu nước, vừa
có ý nghĩa đòi quyền bình đẳng cả các tôn giáo trong các công việc xã hội…
Xét về mặt triết học, Phật giáo là hệ thống triết học duy tâm có yếu tố
vô thần, là sự tổng kết tri thức, tư duy của người Ấn Độ thời kỳ cổ đại Yếu
tố duy tâm đã chi phối thế giới quan và nhân sinh quan của đạo Phật khi xem xét thế giới và con người, dẫn đến tính chất không thực tế của đạo Phật trong đời sống tâm linh và thế tục Đạo Phật không vượt qua giới hạn không tưởng về sự vật hiện tượng, nên đã phạm sai lầm khi kêu gọi lòng từ
bi, bác ái chung chung trong xã hội có phân biệt giai cấp Với đạo Phật, khi xem xét biện chứng về thế giới trong mối liên hệ đầu tiên được đặt ra trong lịch sử nhân loại Đáng tiếc tư tưởng của đạo Phật chỉ dừng lại ở cấp độ sơ khai, không thấy được biện chứng của sự phát triển làm cho những phát kiến về “thế giới không do ai sinh ra”, “tính chất không ổn định, có biến đổi, có sinh có diệt của vạn vật”… đã không đóng góp chợ phát triển của khoa học, đôi khi lại có màu sắc hư vô
Đạo Phật có tình thương bao la đối với con người, để cho sự bình đẳng giữa chúng sinh; đức Phật không bị thần thánh hoá, không xa lạ, tín
đồ tìm thấy ở đức Phật sự khoan dung, khi đức Phật coi chúng sinh là những đức Phật sẽ thành, vạn vật đều có “Phật tính”, đã mang lại cho tín đồ
Trang 6lòng tin về con đường hướng tới niết bàn Song, điểm quan trọng này lại trở nên mâu thuẫn, vì con đường cứu vớt nhân loại bằng “tu nhân tích đức” không thể giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội có đối lập gay gắt
về lợi ích
Đối với đạo Phật, vai trò của con người đối với xã hội và thế giới khách quan bị phủ nhận vì chúng sinh chỉ là một thế giới có cảm giác; cách giải thích “hữu hình” là sự không ổn định, không có cái nào không từ cái khác sinh ra…đã làm cho tín đồ xa lánh chức phận xã hội, dễ nảy sinh tâm trạng bi quan, yếm thế trước cuộc sống “Cái tôi hư ảo” của đạo Phật không đem lại niềm tin trần thế, mà còn mang tâm lý “thoát tục”, tín đồ thường lấy cửa Phật làm nơi nương náu, chạy trốn thực tại Triết lý về tính chất tạm thời của cuộc sống nhân sinh làm cho tín đồ xa lánh cuộc đời, thu mình
“mũ ni che tai” trước bất công Không phải vô cớ khi chủ nghĩa hiện sinh ở thế kỷ XX rất thú vị trước một số triết lý của đạo Phật
Trang 7
NỘI DUNG
Tuy trong xã hội đã nảy sinh, đang tồn tại và có xu hướng phát triển những hiện tượng suy thoái về đạo đức và nhân cách con người Hiện tượng suy thoái đạo đức không chỉ diễn ra trên bình diện xã hội mà cả trong tổ chức đảng và cơ quan công quyền Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ:
"Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…"(1) Đó là nguy cơ lớn đối với sự sống còn của Đảng và chế độ ta
Làm sao để ngăn chặn một cách hiệu quả sự suy thoái đạo đức đang có xu hướng gia tăng hiện nay? Điều này cần có sự nỗ lực của nhiều người, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; trong đó không thể bỏ qua vai trò của đạo đức tôn giáo Đảng ta cũng thừa nhận rằng, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp trong công cuộc xây dựng xã hội mới
Đạo đức tôn giáo luôn gắn với đạo đức xã hội và chịu ảnh hưởng của đạo đức xã hội Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo lại có tính đặc thù Điều này biểu hiện ở chỗ:
Một là, tôn giáo phản ánh khát vọng về hạnh phúc của con người.
Trong lịch sử nhân loại đã từng tồn tại những quan niệm khác nhau về hạnh phúc Người vô thần quan niệm hạnh phúc khác người hữu thần; người lao động quan niệm hạnh phúc khác giai cấp bóc lột; kẻ đi xâm lược quan niệm hạnh phúc khác với người nô lệ; người già quan niệm hạnh phúc khác với người trẻ… Mỗi cá thể, mỗi cộng đồng người ở từng quốc gia, dân tộc cũng có quan niệm khác nhau về hạnh phúc
Hạnh phúc là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học, là mối quan tâm lớn, là mục đích của con người Nó bắt nguồn và tồn tại trong cuộc sống hiện thực như những cảm nhận, phân tích, đánh giá có tác dụng mạnh mẽ đến ý nghĩa, hành vi, quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với xã hội(2), đồng thời hạnh phúc gắn liền với tự do Đạo đức xã hội xã hội chủ nghĩa là phải kiến tạo được môi trường, trong đó mọi người sống hạnh phúc và tự do Tự do của mỗi người không hạn chế hoặc thủ tiêu tự do của người khác; ngược lại, tự do của mỗi người tạo điều kiện phát triển tự do của mọi người, một xã hội thực sự mình vì mọi người và mọi người vì mình Lịch sử quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
Trang 8những thập niên qua ngày càng cho thấy tính phức tạp, lâu dài của việc kiến tạo hạnh phúc ở cuộc sống trần thế
Trên thực tế, chẳng ai có thể đạt được hạnh phúc tuyệt đỉnh như mơ ước của tín đồ Kitô giáo và Phật giáo về xã hội ở Thiên đường hoặc cõi Niết bàn xa xôi nào đấy
Khi bàn về hạnh phúc, các nhà thần học Công giáo chia mức độ hạnh phúc
làm hai loại: hạnh phúc tương đối là cảm giác của con người về việc thỏa mãn nhu cầu cụ thể ở cuộc sống trần gian; còn hạnh phúc tuyệt đối là hạnh
phúc tuyệt hảo, hoàn thiện, tột đỉnh, vĩnh hằng Hạnh phúc tuyệt đối chỉ có
ở Thiên đường, ở nước Chúa ngàn năm "Nước Đức Chúa Trời" được mô
tả là nơi yên lành, vô lo, chẳng có cướp bóc và nô lệ, chẳng có khổ đau, bệnh tật và chết chóc; nghĩa là ở "nơi ấy", con người được mãn nguyện và hạnh phúc hoàn toàn trong việc hưởng thụ trọn vẹn tình thương yêu của Chúa
Phật giáo quan niệm khi con người được giải thoát và đạt sự giác ngộ cao
sẽ tới Niết bàn – nơi hạnh phúc siêu việt, đồng thời khuyên tín đồ lấy "một đời sống đạo đức là một đời sống hạnh phúc"(3) Phật giáo quan niệm hạnh phúc trước hết là đoạn tuyệt với "tham, sân, si" để an tâm, thư thái, để yên tĩnh về tâm hồn và sau khi chết, con người được hưởng hạnh phúc tuyệt đối
ở cõi Tây phương cực lạc
Phật giáo Đại thừa có nói về một số Tịnh thổ nổi tiếng, như Tịnh thổ Di Lặc, Tịnh thổ Linh Sơn, Tịnh thổ Như lai, Tịnh thổ A Di Đà Phật… Thế giới Tây phương cực lạc là Tịnh thổ A Di Đà Phật Trong thế giới cực lạc
ấy, đâu đâu người ta cũng thấy Phật và Bồ Tát cứu khổ cứu nạn Mọi thứ đều quý giá và thanh cao Mọi người ở đấy đều có trí tuệ cao siêu, dung mạo đoan trang, thái độ cởi mở, chỉ có vui vẻ mà không bao giờ có khổ đau, phiền não, bất công và hận thù
Dù được mô tả có đôi chút khác nhau, song, Thiên đường của Công giáo hay Niết bàn của Phật giáo vẫn có điểm chung, đó là "một thế giới hoàn mỹ”, nơi đạt đến tuyệt đỉnh của niềm ước mơ, khát vọng về hạnh phúc của con người Tuy tôn giáo chỉ là "hạnh phúc hư ảo của nhân dân", nhưng không ít người vẫn cảm thấy "hạnh phúc" khi chưa có hạnh phúc thực sự; tuy tôn giáo là "mặt trời ảo tưởng", là “trái tim của thế giới không có trái tim”, nhưng chừng nào mà khát vọng nơi trần tục không được thỏa mãn thì dường như nó vẫn là một động lực kích thích con người vươn tới Thực ra, Thiên đường, Niết bàn mang nặng ý nghĩa nhân sinh, thể hiện khát vọng của con người vươn tới hạnh phúc vĩnh hằng Vì thế, đó vẫn là nhu cầu tinh thần của đồng bào có tôn giáo Chính sự nỗ lực không ngừng phấn đấu để
Trang 9đến với cái "xã hội lý tưởng” ấy đã góp phần không nhỏ cho con người trút
bỏ tội lỗi, giã từ cái ác để vươn tới cái thiện
Hai là, tôn giáo hướng con người tới hành vi làm thiện, tránh ác.
Thiện, ác là hai phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại và trở thành phạm trù phổ biến trong đạo đức của mọi thời kỳ lịch sử Thiện, ác là cặp phạm trù đối lập, đồng thời cũng là hai phạm trù cơ bản có quan hệ chặt chẽ trong đạo đức xã hội và đạo đức tôn giáo Tuy nhiên, thiện, ác trong tôn giáo có điểm tương đồng, nhưng cũng có sự khác biệt với thiện,
ác thế tục ở mức độ nhất định Cùng là vấn đề thiện, ác, nhưng trong tôn giáo, chúng được đề cao, cường điệu và thiêng hóa bằng giáo lý, giáo luật, tín điều để mọi người tuân thủ một cách nghiệm ngặt dưới sức mạnh của thần quyền
Trong đạo đức tôn giáo và đạo đức xã hội thì thiện, ác vẫn là hai phạm trù trung tâm và trọng yếu nhất Nhưng, vấn đề thiện, ác trong đạo đức tôn giáo được gắn chặt với hậu quả của hành vi hành xử của tín đồ và do có sự thưởng phạt "nghiêm minh" bởi các đấng siêu nhiên, nên tính giáo dục và khả năng răn đe của nó đạt hiệu quả rất cao
Nhiều học thuyết cho rằng, con người vốn mang tính thiện, cái ác thật sự chỉ xuất hiện cùng với sự hình thành các cộng đồng người và phát triển trong xã hội có sự phân hóa giai cấp, khi mà trong xã hội tồn tại những lợi ích đối lập nhau Cho đến nay, thiện và ác vẫn song hành như hai mặt ở trong từng con người Tuy nhiên, từ dân tộc nọ đến dân tộc kia, từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, những quan niệm về thiện, ác đã biến đổi rất nhiều thậm chí đến mức trái ngược nhau
Theo quan niệm của Khổng giáo, bản tính con người là có tính thiện: "nhân chi sơ tính bản thiện" Thần học của Kitô giáo quan niệm, con người toàn thiện không phải do tu tập, mà là "sánh bước cùng Thiên Chúa" Đạo Công giáo cho Chúa là cái thiện toàn năng, tức Chúa là mẫu hình lý tưởng, là nguồn gốc của cái thiện Từ quan niệm về cái thiện, Kinh thánh đề cập đến nhân đức, đó là hành vi và biểu hiện cụ thể của cái thiện Khi cái thiện nhường chỗ cho cái ác, là lúc con người không còn chế ngự được dục vọng, không làm chủ được mình tất sẽ dẫn đến sống buông thả để cho cái ác xuất hiện, tội lỗi hoành hành, nhân cách bị lu mờ Cái ác vốn có nguồn gốc từ quỷ dữ là kẻ thù của cái thiện, cũng là địch thủ của Thiên Chúa và mọi tín
đồ Cái ác xuất hiện trên trần thế là sự kết hợp giữa quỷ dữ và tật xấu của con người Kinh thánh cho rằng, con người có các tật xấu cơ bản, đó là: kiêu ngạo, dâm ô, hờn giận, ăn uống quá độ, ghen ghét, lười biếng… Công giáo răn dạy tín đồ làm lành, tránh ác là noi gương Chúa Sự ban thưởng và
Trang 10trừng phạt đối với ai làm thiện hoặc mắc ác: "Ai làm việc thiện sẽ sống lại
để được sống Còn ai làm điều ác sẽ sống lại để nhận án phạt" có tác dụng lớn đối với việc giáo dục tính hướng thiện ở con người Thiên đường của Kitô giáo, Hồi giáo và Niết bàn của Phật giáo cũng như Địa ngục có tác dụng khuyến thiện, trừ ác đối với các tín đồ
Phật giáo rất chú ý giáo hóa chúng sinh bằng "Ngũ giới", "Thập thiện" Đó chính là nhằm gạt bỏ điều ác, khuyến khích làm điều thiện Phật giáo quan niệm "thiện" không chỉ là chuẩn mực đạo đức cần có, mà còn là phương tiện để giải thoát
Trái ngược với Thiên đường và Niết bàn là Địa ngục mà các tôn giáo đều nói đến Đạo Kitô coi Địa ngục là nơi ở của những người chết mà trước đó không tin đạo và phạm nhiều tội ác Đạo Phật coi Địa ngục là cõi khổ, là nơi đày đoạ các chúng sinh khi sống có nhiều tội ác Nhưng đạo Phật coi cuộc sống ở Địa ngục không phải là vĩnh viễn Theo luật luân hồi, nghiệp báo, những kẻ trả hết nợ của tội ác do mình gây nên sẽ được tái sinh ở kiếp sống khác tốt đẹp hơn, trong đó có kiếp người Phật giáo quan niệm rằng, Địa ngục không phải chỉ có một mà có nhiều loại (sách Phật có ghi tới 136 loại Địa ngục) Tuỳ theo tội nặng, nhẹ mà con người bị đầy xuống từng loại Địa ngục tương ứng với tội lỗi đã mắc theo luật nhân quả nghiệp báo Các tín đồ Hồi giáo cho Địa ngục là nơi ghê rợn, ở đấy có lửa cháy đùng đùng, khói cuộn ngút ngàn Những người bị đày xuống đó phải đeo gông xiềng, chịu đủ mọi cực hình tra tấn
Thiên đường – Địa ngục là hai thế giới đối lập nhau do con người tưởng tượng nên nhằm thưởng công và phạt tội đối với những ai làm được điều thiện hoặc mắc tội ác Dù là những thế giới không tưởng, nhưng không ít người đã tin vào cái thế giới mà tôn giáo tưởng tượng ra và trên giác độ đạo đức học, thì những "thế giới" ấy có giá trị trừ ác, hướng thiện hữu hiệu để
bổ sung cho luật pháp mà nhiều thể chế chính trị đã nhận ra
Ba là, tôn giáo nhấn mạnh đức khoan dung, lòng vị tha và thương người.
Sự nhẫn nhục, chịu đựng cũng là một biểu hiện của đức khoan dung trong đạo đức tôn giáo Khoan dung là thái độ nhân nhượng, hiếu hòa, tôn trọng với những gì khác ta Chính vì thế mà ở Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành và tồn tại cái gọi là Tam giáo (Nho – Phật – Lão) Một trong 14 điều răn của kinh Phật đối với tín đồ là "Lễ vật lớn nhất của loài người là khoan
dung"(4).