Với nhiều tính năng như tương thích sinh học, phân hủy sinh học, bám dính màng và không độc hại, nó trở thành nguyên liệu cho nhiều ứng dụng dược sinh học và được sử dụng làm nguyên liệu
Trang 1VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
TRẦN THỊ KIM DUNG
TẠO CÁC HẠT NANOCHITOSAN-TRIPOLYPHOSPHATE CÓ KÍCH THƯỚC KHÁC NHAU BẰNG PHƯƠNG PHÁP LIÊN KẾT ION VÀ ĐÁNH
GIÁ HOẠT TÍNH ĐỐI KHÁNG VI SINH VẬT CỦA CHÚNG
Ngành: Sinh học Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60.42.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VIỆT CƯỜNG
Hà Nội - 2013
Trang 2Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Thị Kim Cúc cùng các anh chị em trong Phòng Công nghệ sinh học - Viện Hoá sinh biển- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến toàn thể quý Thầy Cô trong bộ môn
Vi sinh vật học đã hết lòng truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để cho tôi có thể hoàn thiện đề tài
Cuối cùng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những người
đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Hà Nội, Ngày tháng năm 2013
Học viên
Trần Thị Kim Dung
Trang 3MỤC LỤC
trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 Chitosan
1.1.1.Cấu trúc của chitosan
1.1.2 Tính chất của chitosan
1.1.3 Cơ chế kháng khuẩn của Chitosan
1.1.4 Ứng dụng của chitosan trong các lĩnh vực khoa học công nghệ
1.2 Tổng quan về nano chitosan
1.2.1 Các phương pháp chế tạo nano chitosan
1.2.2 Ứng dụng của hạt nano chitosan
1.2.3 Hoạt tính kháng khuẩn của nano chitosan
1.3 Các chủng vi sinh vật thử nghiệm
1.3.1 Bacillus subtilis
1.3.2 Bacillus cereus
1.3.3 Micrococcus luteus
1.3.4 Listonella damsela
1.3.5 Candida albicans
1.3.6 Fusarium oxysporum
1.3.7 Aspergillus awamori Nakazawa
Trang 4Chương 2 - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Hóa chất và dụng cụ thiết bị
2.1.1 Hóa chất
2.1.2 Dụng cụ
2.1.3 Thiết bị
2.1.4 Các chủng vi sinh vật thử nghiệm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo hạt nano chitosan
bằng phương pháp liên kết ion
2.2.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng phân tử chitosan
2.2.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ CS/TPP
2.2.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian khuấy, tốc độ khuấy
2.2.2 Tạo các loại hạt nano chitosan có kích thước khác nhau bằng phương pháp liên kết ion
2.2.3 Đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật của các loại hạt nano chitosan có kích thước khác nhau
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo hạt nano chitosan - TPP
3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng phân tử chitosan
3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ giữa CS và TPP
3.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ khuấy và thời gian khuấy lên quá trình tạo hạt nano chitosan
3.2 Tạo các loại hạt nano chitosan có kích thước khác nhau
3.3 Đánh giá hoạt tính đối kháng vi sinh vật của các loại hạt nano chitosan có
kích thước khác nhau (CF2: 1000 nm, CF1: 450 nm, CF6: 100 nm)
3.3.1 Đánh giá khả năng kháng khuẩn của các loại hạt nano chitosan có kích thước khác nhau
3.3.2 Đánh giá khả năng kháng nấm của các loại hạt nano chitosan có kích thước khác nhau
Trang 53.3.2.1 Khả năng kháng nấm men Candida albicans của các loại hạt
nano chitosan 3.3.2.2 Khả năng kháng nấm mốc của các loại hạt nano chitosan có kích thước khác nhau KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CF2 Hạt nanochitosan-tripolyphosphate kích thước 1000nm
CF1 Hạt nanochitosan-tripolyphosphate kích thước 450nm
CF6 Hạt nanochitosan-tripolyphosphate kích thước 100nm
MIC90 Minimum Inhibitory concentration - Nồng độ ức chế tối thiểu
MBC Minimum bactericidal Concentration - Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu MFC Minimum Fungicidal Concentration - Nồng độ diệt nấm tối thiểu
DD Degree of Deacetylation (Độ deacetyl hóa)
FE-SEM Field Emission Scanning Electron Microscopy (Kính hiển vi điện tử
M15 Aspergillus awamori Nakazawa
KLPTTB Khối lượng phân tử trung bình
CS Chitosan không xử lý
C5 Chitosan xử lý bằng lò vi sóng 600w/ 5 phút
C10 Chitosan xử lý bằng lò vi sóng 600w/ 10 phút
η o : Độ nhớt đặc trưng
M: Khối lượng phân tử trung bình
NMR: Nuclear Magnetic Resonance spectroscopy) - phổ cộng hưởng từ hạt nhân
cs: Cộng sự
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tóm tắt phương pháp điều chế hạt nano chitoan làm chất dẫn các loại
thuốc, protein hoặc gen khác nhau
Bảng 2.1 Thành phần môi trường MPA
Bảng 2.2 Thành phần môi trường Hansen
Bảng 2.3 Thành phần môi trường Czapek-Dox
Bảng 3.1 : KLPTTB của Chitosan xử lý và không xử lý
Bảng 3.2: Kích thước hạt nano chitosan thu được ở các điều kiện khác nhau
Bảng 3.3: Khả năng ức chế vi khuẩn của các hạt nanochitosan (%)
Bảng 3.4: Giá trị MIC90 và MBC của các chế phẩm với các chủng vi khuẩn nghiên cứu
Bảng 3.5: Khả năng ức chế Candida albicans của các hạt nanochitosan (%) Bảng 3.6: Giá trị MIC90 và MFC của các chế phẩm với chủng Candida albicans
Bảng 3.7: Khả năng ức chế nấm mốc của các hạt nanochitosan (%)
Bảng 3.8: Giá trị MIC90 và MFC của các chế phẩm với các chủng nấm sợi nghiên cứu
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Quy trình thu nhận chitin và chitosan
Hình 1.2: Công thức cấu tạo của chitin và chitosan
Hình 1.3 : Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp khâu mạch nhũ tương
Hình 1.4 : Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp giọt tụ, kết tủa
Hình 1.5 : Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp tạo giọt nhũ tương
Hình 1.6: Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp mixen đảo
Hình 1.7: Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp liên kết ion
Hình 1.8: Hình thái của Bacillus subtilis
Hình 1.9: Hình thái của Bacillus cereus
Hình 1.10: Hình thái của Micorcoccus luteus
Hình 1.11 Hình thái của Photobacterium damselae
Hình 1.12 Hình thái của Candida albicans
Hình 1.13 Hình thái của Fusarium oxysporum
Hình 1.14 Hình thái của Aspergillus awamori Nakazawa
Hình 3.1: Kích thước hạt nanochitosan với chitosan xử lý bằng lò vi sóng
Hình 3.2: Kích thước hạt nanochitosan với chitosan không xử lý
Hình 3.3: Dung dịch nano chitosan điều chế từ các tỷ lệ CS/TPP khác nhau (từ trái qua phải): 4:1, 5:1, 6:1
Hình 3.4: Kích thước hạt nanochitosan với tốc độ khuấy1500v/2h
Hình 3.5: Kích thước hạt nanochitosan với tốc độ khuấy 4000v/2h
Hình 3.6: Kích thước hạt nanochitosan với tốc độ khuấy 8000v/2h
Hình 3.7: Kích thước hạt nanochitosan với tốc độ khuấy 8000v/1h
Hình 3.8: Kích thước hạt nanochitosan với tốc độ khuấy 8000v/3h
Hình 3.9: Kích thước hạt nanochitosan được báo cáo theo số lượng (a) và theo cường độ (b) của mẫu CF2
Hình 3.10: Điện thế zeta của hạt nanochitosan thu được từ mẫu CF2
Hình 3.11 Ảnh FE-SEM hạt nano chitosan của mẫu CF2
Hình 3.12: Kích thước hạt nanochitosan được báo cáo theo số lượng (c) và theo cường độ (d) của mẫu CF1
Trang 9Hình 3.13 : Điện thế zeta của hạt nanochitosan thu được từ mẫu CF1 Hình 3.14 Ảnh FE-SEM hạt nano chitosan của mẫu CF1 Hình 3.15 :Kích thước hạt nanochitosan được báo cáo theo số lượng (c) và theo cường độ (d) của mẫu CF6 Hình 3.16: Điện thế zeta của hạt nanochitosan thu được từ mẫu CF6 Hình 3.17 Ảnh FE-SEM hạt nano chitosan mẫu CF6
Trang 10MỞ ĐẦU
Chitosan là dạng deacetyl hóa từ chitin, có cấu trúc polysaccharide, được tìm thấy ở loài động vật giáp xác, côn trùng và một vài loại nấm Với nhiều tính năng như tương thích sinh học, phân hủy sinh học, bám dính màng và không độc hại, nó trở thành nguyên liệu cho nhiều ứng dụng dược sinh học và được sử dụng làm nguyên liệu điều chế hạt nano chitosan trong những năm gần đây vì những tính chất
ưu việt của nó ở kích thước nano
Hạt nano chitosan có thể được tạo ra bằng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp khâu mạch nhũ tương (emulsion cross-linking), phương pháp giọt tụ/kết tủa (coacervation/precipitation), phương pháp hợp nhất giọt nhũ tương (emulsion-droplet coalescence), phương pháp liên kết ion (ionic gelation) và phương pháp mixen đảo (reverse micellar) Hiện phương pháp được sử dụng nhiều nhất là liên kết ion, ưu điểm của phương pháp này là quá trình chuẩn bị đơn giản và không cần phải sử dụng dung môi hữu cơ hay sử dụng lực nén lớn, do đó phương pháp này được nghiên cứu rộng rãi trong tổng hợp chất dẫn thuốc và thực phẩm chức năng Hạt nano chitosan tạo ra không những vẫn giữ được các tính chất của chitosan ban đầu mà còn tỏ ra vượt trội hơn bởi kích thước nhỏ gọn, có diện tích tiếp xúc lớn hơn chitosan thông thường nên có hiệu quả kháng khuẩn cao hơn nhiều lần so với chitosan
Hoạt tính đối kháng vi sinh vật của nano chitosan không chỉ phụ thuộc vào từng chủng loại vi sinh khác nhau mà còn phụ thuộc nhiều vào kích thước và zeta của hạt, do vậy việc lựa chọn quy trình tạo hạt nano chitosan và đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật của chúng cũng đang là một vấn đề cần được nghiên cứu để có thể ứng dụng nó không chỉ đối với lĩnh vực y sinh, mà còn có thể ứng dụng trong các lĩnh vực khác như bảo quản trái cây, thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước
và hướng tới xuất khẩu
Như đã biết Việt Nam là nước có nhiều loại trái cây, phong phú về chủng loại
và nhiều loại độc quyền toàn thế giới, có giá trị xuất khẩu cao, tuy nhiên việc bảo quản các loại trái cây này còn là một vấn đề rất nan giải, bởi vì nếu bảo quản không
Trang 11tốt sẽ làm quả chín nhanh, tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm của các loài vi sinh vật,
từ đó làm giảm giá trị dinh dưỡng cũng như giá thành của sản phẩm Vấn đề đặt ra
là tạo các chế phẩm sinh học bảo quản vừa an toàn, hiệu quả vừa thân thiện với môi trường để thay thế cho các chế phẩm hóa học trước đây
Vì vậy, đề tài luận văn "Tạo các hạt nano chitosan-tripolyphosphate có kích thước khác nhau bằng phương pháp liên kết ion và đánh giá hoạt tính đối kháng vi sinh vật của chúng" sẽ là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm
tiến tới sử dụng nano chitosan để tạo chế phẩm bảo quản quả tươi sau thu hoạch
Mục tiêu của đề tài:
1 Tạo hạt nano chitosan-tripolyphosphate với kích thước khác nhau bằng phương pháp liên kết ion
2 Đánh giá hoạt tính đối kháng vi sinh vật của các loại hạt nano chitosan tạo thành
Nội dung nghiên cứu:
Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo hạt nano chitosan-tripolyphosphate bằng phương pháp liên kết ion (khối lượng phân tử chitosan, tỷ lệ chitosan:TPP, thời gian khuấy, tốc độ khuấy)
Tạo các loại hạt nano chitosan-tripolyphosphate có kích thước khoảng 1000 nm,
500 nm và 100 nm
Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn (gram âm, gram dương) của các loại hạt nano chitosan thu được ở trên bằng phương pháp nuôi cấy trên môi trường đặc hiệu Xác định được giá trị MIC90 (nồng độ ức chế tối thiểu) và MBC (nồng độ diệt khuẩn tối thiểu) của các hạt nano chitosan có kích thước khác nhau đối với mỗi chủng vi khuẩn khác nhau
Đánh giá hoạt tính kháng nấm (nấm men, nấm sợi) của các loại hạt nano chitosan thu được ở trên bằng phương pháp nuôi cấy trên môi trường đặc hiệu Xác định được giá trị MIC90 (nồng độ ức chế tối thiểu) và MFC (nồng độ diệt nấm tối thiểu) của các hạt nano chitosan có kích thước khác nhau đối với mỗi chủng nấm khác nhau
Trang 12Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 Chitosan
Chitosan là một polysaccharide tuyến tính gồm β-(1-4)-D glucosamine và N-acetyl-D glucosamine Chitosan được sử dụng trong thương mại và có thể sử dụng trong điều trị y khoa
phương pháp deacetyl hóa
chitin, đó là yếu tố cơ cấu
trong các bộ xương ngoài
của động vật giáp xác (cua,
tôm, vv) và thành tế bào của
nấm Mức độ deacetylation
(% DD) có thể được xác
định bằng phổ NMR
Chitin lần đầu tiên
được tìm thấy trong nấm bởi
nhà khoa học người Pháp
Braconnot vào năm 1811, và
nó cũng đựơc tách ra từ biểu bì của sâu bọ, bởi nhà khoa học người Pháp Odier vào năm 1823 Và chất đã được khử acetyl từ chitin đã được khám phá bởi Roughet vào năm 1859; và được đặt tên là chitosan bởi nhà khoa học người Ðức Hoppe Seyler vào năm 1894 Chitosan, là polime hữu cơ tự nhiên mang điện tích dương do có những nhóm amino tự do tích điện dương, những điều này tạo cho chitosan những thuộc tính đặc biệt và đáng kinh ngạc
Hình 1.1: Quy trình thu nhận chitin và chitosan [11]
Trang 131.1.1.Cấu trúc của chitosan
Chitosan là dẫn xuất deacetyl hóa của chitin, trong đó nhóm (-NH2) thay thế nhóm (-NHCOCH3) ở vị trí C2 Chitosan được cấu tạo từ các mắt xích D-glucosamine liên kết với nhau bởi liên kết α-(1-4)-glycoside [24], [25]
1.1.2 Tính chất của chitosan
Không độc, tính tương ứng sinh học cao và có khả năng phân huỷ sinh học nên không gây dị ứng và không gây phản ứng phụ, không gây tác hại đến môi trường
Cấu trúc ổn định
Tan tốt trong dung dịch acid loãng (pH < 6,3) và kết tủa ở những giá trị pH cao hơn, hóa tím trong dung dịch iod
Có tính kháng khuẩn tốt
Là hợp chất cao phân tử nên khối lượng phân tử của nó giảm dần theo thời gian
do phản ứng tự cắt mạch Nhưng khi khối lượng phân tử giảm thì hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm không bị giảm đi
Có khả năng hấp phụ cao đối với các kim loại nặng
Ở pH < 6,3, chitosan có tính điện dương cao
Hình 1.2: Công thức cấu tạo của chitin và chitosan
Trang 14 Trong phân tử chitosan có chứa nhóm –OH, -NHCOCH3 trong các mắt xích N-acetyl-D-glucosamine có nghĩa chúng vừa là alcol vừa là amine, vừa là amide Phản ứng hoá học có thể xảy ra ở vị trí nhóm chức tạo ra dẫn xuất thế O-, dẫn xuất thế N-
Mặt khác chitosan là những polymer mà các monomer được nối với nhau bởi các liên kết α-(1-4)-glycoside; các liên kết này rất dễ bị cắt đứt bởi các chất như: acid, baz, tác nhân oxy hoá và các enzyme thuỷ phân [24], [25]
1.1.3 Cơ chế kháng khuẩn của Chitosan
Chitosan và rất nhiều dẫn xuất của nó thể hiện khả năng kháng khuẩn rất tốt Tác động kháng khuẩn thường diễn ra rất nhanh (trong vài giờ) Phổ kháng khuẩn của chúng rộng, bao gồm cả vi khuẩn gram âm và gram dương Tuy nhiên, cần nhắc lại là khả năng này bị hạn chế do tính tan hạn chế của chitosan (không tan trong môi trường pH > 7) Cơ chế tác động chính xác của chitosan và các dẫn xuất lên tế bào
vi sinh vật thực tế vẫn chưa rõ ràng và còn nhiều tranh cãi Nhiều cơ chế khác nhau
đã được đề xuất để giải thích khả năng này Ví dụ như tính chất đa điện tích dương của chitosan và các dẫn xuất khởi đầu cho quá trình gắn kết lên màng tế bào vi sinh
vật có điện tích âm Khi Hwang và cs (1998) quan sát tế bào E.coli sau khi xử lý
bằng dung dịch chitosan và các dẫn xuất qua kính hiển vi điện tử truyền (TEM), thấy màng sinh chất của tế bào bị tách ra khỏi màng trong Sau khi gắn vào tế bào, chitosan và dẫn xuất gây ảnh hưởng đến tính thấm của tế bào, làm rò rỉ các thành phần sinh chất và tế bào chết đi do thiếu hụt các thành phần này [14]
Hay theo một giả thiết khác là chitosan và các dẫn xuất hoạt động như tác nhân kẹp lấy các kim loại dạng vết trong tế bào chất của tế bào trong khi các kim loại này đóng vai trò tối quan trọng trong chức năng sinh hóa của vi khuẩn Sự thiếu hụt các kim loại này ức chế sự tạo thành độc tố, enzyme và sự tăng trưởng của tế bào Bên cạnh đó, chitosan và các dẫn xuất cũng được cho là ức chế quá trình phiên
mã tạo thành mRNA và quá trình dịch mã tạo protein khi đi được vào trong nhân tế bào (chitooligosaccharide) [5]
1.1.4 Ứng dụng của chitosan trong các lĩnh vực khoa học công nghệ
Hiện nay, chitosan là một trong những vật liệu mới đã và đang được ứng
Trang 15dụng rất phổ biến trong các lĩnh vực như: công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, nông nghiệp, dược phẩm, y tế, môi trường, công nghệ sinh học và vật liệu mới Tất cả các ứng dụng của chitosan phụ thuộc chủ yếu vào các tính chất lý hóa và sinh học như: hoạt tính kháng khuẩn, điều chỉnh miễn dịch, làm lành vết thương và đông máu, liên kết với các enzyme, hấp thu kim loại, tạo màng và gel [5]
* Ứng dụng của chitosan trong nông nghiệp:
Chitosan được sử dụng như một chất thay thế an toàn cho các chất hóa học từ lâu vẫn được sử dụng có thể gây hại đến môi trường và sức khỏe con người Các ứng dụng chủ yếu của chitosan trong nông nghiệp gồm có:
+ Giải phóng chậm các hợp chất vào trong đất
Trong nông nghiệp, việc kéo dài thời gian tác dụng của phân bón, chất điều hòa tăng trưởng hay chất dinh dưỡng là rất cần thiết Chitosan được sử dụng như chất mang tự nhiên để kết hợp và phóng thích từ từ các hợp chất mong muốn vào trong đất Chitosan phân hủy sinh học trong đất trong khoảng 2 tháng, kèm theo sự phóng thích các chất, do đó tiết kiệm được đáng kể lượng chất sử dụng và thời gian bón lặp lại khi dùng chitosan làm chất mang Các ứng dụng cụ thể gồm có bón phân tác dụng lâu hơn cho cây mà không cần sử dụng lượng phân thừa gây ô nhiễm trong mùa mưa khi phân bị rửa trôi theo dòng nước; kích thích và điều chỉnh thời điểm ra hoa và kết quả theo ý muốn, ngoài ra bản thân chitosan khi bị phân hủy trong đất còn giúp cải thiện đáng kể hệ vi sinh vật đất một cách chọn lọc Cụ thể như trên các
cánh đồng được bón chitosan, số lượng các vi sinh vật có ích như Acitnomyces tăng
lên cùng với sự suy giảm số lượng của các vi sinh vật có hại.[5]
+ Vỏ bao của hạt
Chitinase được gia tăng hoạt động trong giai đoạn nảy mầm khi bề mặt của hạt giống được bao bằng một lớp chitosan Khi sử dụng chitosan làm vỏ bao của hạt, khả năng kháng nấm và vi khuẩn của chitosan hỗ trợ hữu hiệu cho sự nảy mầm và
sự phát triển của cây trồng
+ Bảo quản nông sản
Trong bảo quản thực phẩm, chitosan không những phát huy khả năng kháng khuẩn và nấm, mà còn giúp điều chỉnh môi trường bên trong rau quả thông qua
Trang 16kiểm soát quá trình trao đổi khí giữa rau quả và môi trường Dung dịch chitosan đã được dùng để tạo lớp màng bảo quản hoa quả và rau củ chống vi khuẩn và nấm Ở Nhật, dung dịch chitosan cũng được phun lên táo và cam cho mục đích này Nghiên cứu của André Bégin cũng đề xuất quy trình bảo quản dâu bằng chitosan Chitosan còn được sử dụng để làm bao bảo vệ chống sương giá [5]
* Ứng dụng của chitosan trong công nghiệp:
+ Xử lý nước thải, hấp thu kim loại nặng
Hiện nay, phương pháp hóa lý là phương pháp tiện dụng và phổ biến trong hệ thống xử lý nước thải của các nhà máy công nghiệp Tuy nhiên, bất lợi chính của phương pháp này là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Vì thế việc tìm ra một phương pháp "xanh" (phương pháp an toàn với môi trường) là rất cần thiết Do có nguồn từ tự nhiên và có khả năng thủy phân sinh học, chitosan là một chất thay thế hợp lý Chitosan đã được sử dụng trong quá trình lọc nước từ khoảng 3 thập niên trước Các nghiên cứu đã cho thấy chitosan có khả năng hấp thu kim loại nặng do nhóm NH2 của chitosan có thể tạo phức với các ion kim loại Chitosan cũng có thể được sử dụng như một chất hấp thụ để tách các đồng vị phóng xạ nguy hiểm từ nước bị nhiễm phóng xạ và thu hồi Uranium từ nước biển và nước ngọt Chitosan
có khả năng loại bỏ 100% các polymer hiện diện trong nước thải, giảm mùi hôi khó chịu (do làm giảm số lượng vi sinh vật gây thối) Một số ứng dụng khác bao gồm xử
lý vệt dầu loang, xử lý nước thải sinh hoạt, tái sử dụng nước hồ bơi, thu hồi protein
và khoáng từ nước thải nông nghiệp, phân lập các chất có hoạt tính sinh học trong nước tiểu và tách các độc tố từ dung dịch [5]
+ Trong công nghiệp sản xuất thực phẩm
Chitosan được dùng như một thành phần trong thực phẩm ở Nhật và Châu Âu
từ khoảng 20 năm trước Chất này có tác dụng ổn định màu, mùi vị của thực phẩm Ngoài ra, chitosan còn thể hiện tác dụng tuyệt vời trong bảo quản thực phẩm
Ở Mỹ, chất này được sử dụng để "bẫy" lipid trong thực phẩm chức năng chống béo phì Chitosan được ưa chuộng không chỉ vì có tác dụng như chất xơ, thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn, mà còn gắn với lipid trong dạ dày và ruột tạo thành một dạng chất mà cơ thể không thể hấp thu và sẽ được loại thải ra ngoài Các
Trang 17nghiên cứu cho thấy chitosan gắn được với lượng chất béo phì gấp 4 lần khối lượng của chúng
* Trong công nghiệp mỹ phẩm
Chitosan là loại polymer tích điện dương tự nhiên duy nhất có khả năng chuyển thành dạng dung dịch nhớt khi hòa tan trong môi trường acid yếu Nhờ tính chất này
mà chitosan đã được ứng dụng rất nhiều trong sản phẩm chăm sóc tóc như dầu gội, dầu xả và sản phẩm tạo nếp tóc Ngoài ra, chitosan cũng được dùng trong mỹ phẩm chăm sóc da, móng tay do có tính chất bảo vệ, duy trì độ ẩm, tạo màng trên da đồng thời gắn kết với các dưỡng chất cần thiết, tạo điều kiện cho các chất này hoạt động tích cực trên da Tính kháng khuẩn của chitosan cũng góp phần vào công dụng của chitosan trong các sản phẩm mỹ phẩm và chăm sóc cá nhân Các ứng dụng cụ thể của chitosan trong lĩnh vực này bao gồm: duy trì độ ẩm trên da, trị mụn, làm cho da khỏe hơn, tươi hơn, bảo vệ lớp biểu bì, giảm sự tích điện trên tóc (gây thương tổn tóc), trị gàu, giúp cho tóc mềm mại hơn [5]
* Ứng dụng của chitosan trong lĩnh vực y - sinh học
Chitosan dùng làm vật liệu y sinh học và dược phẩm: chitosan có khả năng tương hợp sinh học với mô và tế bào do đó có thể sử dụng trong việc cấy ghép vào
mô động vật Vì vậy, người ta đã tiến hành ứng dụng chitosan làm vật liệu y sinh học mới như chỉ khâu tự tan trong phẫu thuật, da nhân tạo trong điều trị bỏng và vết thương, kính áp tròng trong điều trị các tật về mắt Gần đây, người ta cũng đã tiến hành nghiên cứu sử dụng chitosan dạng ống nhằm mục đích tái sinh dây thần kinh Trong điều trị vết thương, chitosan có tác dụng cầm máu, đẩy nhanh quá trình phát triển các tế bào ở vùng mô bị thương, tăng cường hoạt động của chitinase và lysozyme, dẫn đến mau lành vết thương và giảm nhiễm trùng Chitosan được báo cáo là bền với dịch mật, dịch tụy và nước tiểu nên được dùng trong chỉ khâu phẫu thuật thay thế cho các loại vật liệu khác có thể bị chất dịch trong cơ thể tấn công và đứt trước khi vết thương lành hẳn [5]
Trong các trường hợp bị bỏng, chitosan có thể tạo dạng màng xốp hút nước mạnh và giúp cho oxy phân tán qua màng vào mô tổn thương rất dễ dàng, tạo điều kiện cho các mô này bình phục nhanh chóng
Trang 18Trong lĩnh vực dược phẩm, chitosan được sử dụng như chất mang an toàn, có khả năng phóng thích thuốc dần dần trong cơ thể, kéo dài tác dụng của thuốc hay vật liệu cố định enzyme trong sản xuất và điều trị Chitosan còn được dùng để điều chế các chất làm giảm bớt độ chua trong dạ dày và các sản phẩm ngưng tụ của acid benzyl penicilic với chitosan đã được dùng để xác định độ nhạy của penicilin trong
cơ thể người [5]
1.2 Tổng quan về nano chitosan
Chitosan được sử dụng làm nguyên liệu điều chế hạt nano chitosan trong những năm gần đây vì những tính chất ưu việt của nó ở kích thước nano Nano chitosan do có kích thước siêu nhỏ nên dễ dàng đi qua màng tế bào, có thể đưa vào
cơ thể qua nhiều đường khác nhau như dùng ngoài da, dùng qua đường miệng, qua mũi… Nano chitosan có diện tích và điện tích bề mặt cực lớn nên được ứng dụng nhiều trong sinh y học như mang thuốc, vaccine, vectơ chuyển gen, chống khuẩn, thuốc điều trị ung thư… Khi sử dụng nano chitosan làm chất dẫn thuốc, thuốc điều trị được bảo vệ bởi những hạt nano chitosan khỏi sự phân huỷ sinh học Do kích thước rất nhỏ, những hạt này có tác dụng thấm sâu vào cơ thể, đưa thuốc đến đúng mục tiêu, nâng cao hiệu quả điều trị [33]
Tình hình nghiên cứu nano chitosan trong và ngoài nước
Trên thế giới, hầu hết những công trình nghiên cứu gần đây đều nhằm mục
đích chế tạo ra những chất mang nano để dẫn truyền thuốc, protein, gen và phát triển vectơ chitosan mang thuốc hướng đích tới những tế bào ung thư Một số công trình tiêu biểu là điều chế chitosan composite với acid polyacrylic để điều khiển và kéo dài thời gian phóng thích thuốc; điều chế nano chitosan với cholesterol để dẫn thuốc đến mắt; biến tính với N-trimethyl mang protein làm hệ thống dẫn truyền đường mũi; tạo phức với acid deoxycholic để dẫn truyền gen [28] Ngoài ra, nano chitosan còn được nghiên cứu về khả năng diệt khuẩn [21] [32], ứng dụng trong thực phẩm chức năng [18] [19]
Ở nước ta, số lượng bài nghiên cứu về nano chitosan rất ít Hiện đã có một số tập thể khoa học bắt đầu quan tâm nghiên cứu hướng vật liệu nano y sinh Năm
Trang 192008, Đề tài cấp Viện KH&CN Việt Nam: “Nghiên cứu chế tạo polime sinh học chitosan cấu trúc nano ứng dụng làm chất mang thuốc” do PGS TS Phạm Gia Điền (Viện Hóa học) chủ trì đã thu được những kết quả khả quan, làm tiền đề cho những nghiên cứu ứng dụng nano chitosan như vector chuyển thuốc Sở KH&CN tỉnh Bình Dương cũng đã nghiệm thu đề tài liên quan đến nano chitosan bạc ứng dụng trong nông nghiệp: Hoàn thiện công nghệ sản xuất thuốc trồng trị bệnh cây trồng Mifum 0,6DD từ bạc Nano Chitosan tan phục vụ nông nghiệp GS TSKH Nguyễn Xuân Phúc (Viện KH vật liệu) cùng các cs thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nước:” Nghiên cứu công nghệ chế tạo các hạt nano vô cơ, hữu cơ được bọc bởi những polymer tương thích sinh học dùng trong y học” Năm 2010, PGS.TS Đỗ Trường Thiện (Viện Hóa học) đã báo cáo Đề tài KC02.09/06-10 “Nghiên cứu chế tạo vật liệu nano chitosan ứng dụng trong dược phẩm, sinh học và nông nghiệp” Đã đánh giá được hiệu quả lên cây lúa khi sử dụng chế phẩm nano chitosan làm tăng năng suất lên gần 20% Tuy nhiên, việc nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến nano chitosan vẫn nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học vì những tiềm năng to lớn mà công nghệ tạo hạt nano chitosan hứa hẹn sẽ mang đến cho con người
1.2.1 Các phương pháp chế tạo nano chitosan
Hiện nay có nhiều phương pháp tạo hạt nano chitosan Phương pháp được sử dụng nhiều nhất là liên kết ion , ưu điểm của phương pháp này là quá trình chuẩn bị đơn giản và không cần phải sử dụng dung môi hữu cơ hay sử dụng lực nén lớn, do
đó phương pháp này được nghiên cứu rộng rãi trong tổng hợp chất dẫn thuốc và thực phẩm chức năng [33]
Bảng 1.1: Tóm tắt phương pháp điều chế hạt nano chitoan làm chất dẫn các loại
thuốc, protein hoặc gen khác nhau
Trang 20Theo Agnihotri (2004), có 5 phương pháp chủ yếu để tạo hạt nano chitosan là: Phương pháp khâu mạch nhũ tương (emulsion cross-linking), phương pháp giọt tụ/kết tủa (coacervation/precipitation), phương pháp hợp nhất giọt nhũ tương (emulsion-droplet coalescence), phương pháp liên kết ion (ionic gelation) và phương pháp mixen đảo (reverse micellar) [30]
* Phương pháp khâu mạch nhũ tương
Hỗn hợp nhũ tương nước trong
dầu (w/v) được tạo ra bằng cách
phân tán dung dịch chitosan
trong dầu Những giọt lỏng
được làm bền bởi chất hoạt
động bề mặt Dung dịch nhũ
tương sau đó được khâu mạch
bằng tác nhân tạo nối thích hợp
* Phương pháp giọt tụ/kết tủa
Phương pháp này sử dụng tính chất của
chitosan là không tan trong dung dịch
kiềm Bởi vậy, chitosan sẽ bị kết tủa, tạo
giọt ngay khi dung dịch chitosan tiếp xúc
với dung dịch kiềm Dung dịch kiềm có
thể là NaOH, NaOH-metanol hoặc
ethandiamine Dung dịch chitosan sẽ được
Hình 1.3 : Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp khâu
mạch nhũ tương
Hình 1.4 : Sơ đồ tạo hạt bằng phương
pháp giọt tụ, kết tủa
Trang 21một thiết bị nén phun vào dung dịch kiềm để tạo hạt nano [30]
* Phương pháp hợp nhất giọt nhũ tương
Phương pháp này lần đầu được sử
dụng vào năm 1999 Phương pháp này
sử dụng nguyên tắc của cả hai phương
pháp: tạo nối ngang nhũ tương và kết
tủa Thay vì sử dụng tác nhân tạo nối
ngang, kết tủa tạo ra bằng cách cho các
giọt chitosan kết hợp với các giọt
NaOH Một hệ nhũ tương bền chứa
dung dịch chitosan cùng với thuốc tạo
ra trong paraffin lỏng Đồng thời, một
hệ nhũ tương bền khác chứa dung dịch
chitosan và NaOH cũng được tạo ra
theo cách như trên Khi cả hai hệ nhũ
tương này được trộn lại với tốc độ
khuấy cao, các giọt từ mỗi hệ sẽ va chạm một cách ngẫu nhiên, hợp lại và kết tủa thành những hạt nhỏ [30]
* Phương pháp mixen
đảo
Trong phương pháp này, người
ta hòa tan chất hoạt động bề
mặt vào dung môi hữu cơ để
tạo ra những hạt mixen đảo
Dung dịch lỏng chứa chitosan
và thuốc được thêm từ từ với
tốc độ khuấy không đổi để
tránh làm đục dung dịch Pha
lỏng được giữ sao cho hỗn hợp
trở thành pha vi nhũ trong suốt Sau đó tác nhân tạo nối ngang được thêm vào và
Hình 1.5 : Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp tạo
giọt nhũ tương
Hình 1.6: Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp mixen đảo
Trang 22khuấy qua đêm Cô quay loại dung môi Phần còn lại phân tán lại trong nước Dung dịch muối thích hợp được thêm vào để kết tủa chất hoạt động bề mặt Hỗn hợp được
ly tâm Phần dung dịch ở trên chứa hạt nano mang thuốc được chiết ra, cho qua màng thẩm tách 1 giờ Đông cô chất lỏng thu được cho ta bột thuốc [30]
* Phương pháp liên kết ion
Cơ chế của phương pháp này
dựa trên tương tác tĩnh điện giữa
chitosan tích điện dương và một
polyanion như tripolyphosphate
Kỹ thuật này có ưu điểm là giai
đoạn chuẩn bị đơn giản và thực
hiện trong môi trường nước Đầu
tiên chitosan được hòa tan vào
dung dịch acid acetic Sau đó
chitosan được trộn lẫn với
polyanion để tạo hạt nano
chitosan dưới điều kiện khuấy từ
liên tục tại nhiệt độ phòng Kích thước và điện tích bề mặt có thể kiểm soát bằng cách sử dụng những tỷ lệ chitosan và polyanion khác nhau [30]
1.2.2 Ứng dụng của hạt nano chitosan
a) Chất mang dẫn truyền thuốc
Phân loại theo con đường sử dụng
Hạt nano chitosan có kích thước nhỏ nên nó thích hợp cho nhiều con đường sử dụng thuốc khác nhau [1]
• Sử dụng bên ngoài đường tiêu hóa
Các hạt nano có thể được dùng trong tĩnh mạch bởi vì đường kính của các mao mạch máu nhỏ nhất là khoảng 4µm Sự phân bố sinh học của các hạt nano có thể thay đổi tùy thuộc vào kích cỡ, điện tích bề mặt và tính kỵ nước của chúng Các hạt
có bán kính lớn hơn 100 nm sẽ bị hấp thu nhanh chóng bởi hệ lưới-nội mô trong gan, lá lách, phổi và tủy xương Ngược lại, những hạt nhỏ hơn có xu hướng có thời
Hình 1.7: Sơ đồ tạo hạt bằng phương pháp
liên kết ion
Trang 23gian luân chuyển kéo dài [33] Các loại thuốc hứa hẹn nhất đã được nghiên cứu rộng rãi để dẫn truyền theo cách này là những tác nhân kháng ung thư Sau khi tiêm vào tĩnh mạch, nhiều hệ thống hạt nano bao gồm nano chitosan có xu hướng tích lũy lại trong một số khối u (Brasseur, 1980; Kreuter, 1994) Những hạt nano chitosan mang doxorubicin làm chậm sự tăng trưởng của khối u và nâng cao tỷ lệ sống sót của những con chuột bị cấy khối u Ngoài ra, những hạt nano chitosan có kích thước nhỏ hơn 100 nm được tạo ra cho thấy đã tránh khỏi hệ lưới-nội mô và luân chuyển trong máu được lâu hơn [33]
• Sử dụng qua đường uống
Ý tưởng hạt nano có thể bảo vệ thuốc không bị enzyme phân hủy trong bộ máy tiêu hóa dẫn đến sự phát triển các hạt nano thành những hệ thống dẫn truyền những phân tử lớn, protein và polynucleotide Phương pháp này được nghiên cứu rộng rãi sau khi có báo cáo rằng lượng đường trong máu của những con chuột mắc bệnh tiểu đường giảm sau khi uống những hạt nano insulin (Damge,1990) Kích thước hạt nhỏ hơn 500nm là một yếu tố then chốt cho phép vận chuyển qua niêm mạc ruột theo cơ chế endocytotic Bên cạnh enzyme, màng nhầy ngăn cản sự khuyếch tán của thuốc và hạt nano, những rào cản hấp thụ biểu mô là chướng ngại chính chống lại sự hấp thụ thuốc protein qua thành ruột Do đó, hoạt tính của thuốc
có thể được cải thiện bằng cách kiểm soát kích thước hạt cùng với việc kéo dài thời gian lưu giữ thuốc trong bộ máy tiêu hóa Trong số những hạt nano polymer, hạt nano chitosan là chất dẫn thuốc lý tưởng vì chúng làm tăng mức hấp thu thuốc [33]
Khả năng cải thiện mức hấp thu của chitosan đã được nghiên cứu rộng rãi Đặc tính bám dính của chitosan là do tương tác giữa chitosan tích điện dương và niêm mạc tích điện âm Điều này làm kéo dài thời gian tương tác của thuốc và bề mặt hấp thụ [33]
• Sử dụng qua đường mắt
Các hạt nano được nhận thấy là chất mang tiềm năng để dẫn truyền qua đường mắt Nhiều thí nghiệm cho thấy hạt nano có khuynh hướng bám chặt vào bề mặt biểu mô mắt Kết quả kéo dài thời gian lưu giữ, tốc độ đào thải thuốc chậm hơn
so với những phương pháp điều trị mắt truyền thống, do đó cải thiện dược tính của
Trang 24thuốc Vì vậy, những hạt nano đã được dùng để dẫn thuốc kháng viêm, kháng dị ứng cho những mục tiêu điều trị viêm mắt [33]
Phân loại theo ứng dụng trong điều trị bệnh
• Hoạt tính kháng ung thư
Mitra (2001) nghiên cứu bọc thuốc kháng ung thư doxorubicin trong hạt nano chitosan để ức chế khối u trong chuột thí nghiệm Kết quả cho thấy nếu tiêm doxorubicin độc lập thì khối u ở chuột vẫn tăng lên 900 mm3
sau 50 ngày và chết, trong khi đó ở thí nghiệm ly giải chậm doxorubicin trong hạt nano chitosan kích thước khối u giảm chỉ còn 170 mm3
và chuột vẫn sống sau 90 ngày thí nghiệm [3] (L.) Qi (2006) nghiên cứu hoạt tính kháng ung thư trực tiếp của hạt nano chitosan dựa trên cơ chế polycation gây phá vỡ màng tế bào ung thư và hoạt tính cảm ứng apoptosis trên hai dòng tế bào ung thư là sarcoma S 180 và hepatoma H
22 Kết quả cho thấy hiệu quả làm giảm khối lượng tế bào ung thư với liều uống 2,5 mg/kg hạt nano chitosan trên S 180 và H 22 là 52-59% và liều 0,5 mg/kg là 43-53%, trong khi đó chitosan chỉ làm giảm 30 % khối lượng tế bào ung thư [3]
• Ứng dụng trong ly giải chậm thuốc
Angela (2001) nghiên cứu thải chậm thuốc cyclosporine A (Cry A) bằng cách hấp phụ trong dung dịch chitosan và hạt nano chitosan Lượng thuốc phóng thích trong thí nghiệm hấp phụ trên hạt nano chitosan luôn luôn lớn hơn gấp 2,5-3 lần so với đối chứng là dung dịch Cry A Kết quả là nồng độ Cry A trong máu thỏ thí nghiệm luôn luôn cao hơn so với nhóm đối chứng và hấp phụ trong dung dịch chitosan [3] El-Shabori (2002) nghiên cứu chế tạo hạt nano chitosan để cố định thuốc cycloporine A để uống, kích thước hạt nano là 150 nm Kết quả cho thấy hiệu suất mang thuốc là 94%, nồng độ cycloporine A trong máu là 2760 ng/ml, cao gấp 2,5 lần so với hạt nano sodium glycholate Hoạt tính của cyclosporine A cố định trong hạt nano chitosan tăng 72%, gelatin nano chitosan chỉ tăng 18%, riêng sodium glycholate lại giảm tới 36% so với đối chứng [3]
Zhang (2008) nghiên cứu làm tăng khả năng hấp thu insulin qua niêm mạc mũi bằng hạt nano chitosan và PEG-nano chitosan, kích thước hạt nano là 150-300
nm Hiệu quả hấp thu insulin qua niêm mạc mũi thỏ ở mẫu PEG-nano chitosan cao
Trang 25hơn so với PEG-chitosan là 30-40% Kích thước hạt nano càng nhỏ, diện tích bề mặt hạt càng lớn và điện tích dương trên bề mặt càng cao là nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng hấp thu insulin vào máu qua niêm mạc mũi Shedaghi (2008) sử dụng hạt nano trimethyl chitosan để làm vật liệu ly giải chậm insulin Kết quả cho thấy động học ly giải của insulin bọc trong hạt nano trimethyl chitosan ổn định và kéo dài hơn [3]
b) Chất mang dẫn truyền gen
Những hệ thống dẫn truyền không virus (non-virus) trong liệu pháp gen đã được đề xuất để thay thế những vectơ virus Chúng làm giảm tối thiểu phản ứng miễn dịch từ vật chủ Hơn nữa, chúng định được mục tiêu, dễ bảo quản và sản xuất lượng lớn Những lợi thế này tạo động lực cho sự phát triển của chúng Polymer cation được nhận thấy là chất mang hứa hẹn trong số những hệ thống dẫn truyền gen không virus Chất mang gen polymer ngày càng thu hút được nhiều sự chú ý với hiệu quả chuyển gen, xác định mục tiêu điều trị và khả năng tương thích sinh học tốt [20]
Chitosan là một vectơ không virus thích hợp cho dẫn truyền gen Tương tác giữa chitosan và DNA là tương tác tĩnh điện (Roy, 1997; MacLaughlin, 1998) Tương tác điện này mạnh đến nỗi phức chitosan-DNA không bị tách ra cho đến khi
nó vào trong tế bào Chitosan và những dẫn xuất của chitosan tụ lại bảo vệ DNA khỏi sự phân hủy của DNase Những hạt nano chitosan/DNA có khoảng phân bố kích cỡ hẹp được tạo ra bởi quá trình giọt tụ Những hạt nano chitosan/DNA có kích thước từ 20-500 nm nhỏ hơn những hệ thống polymer khác nên thâm nhập vào tế bào thuận lợi hơn qua cơ chế endocytosis và/hoặc pynocytosis, làm tăng tốc độ gây nhiễm (Mao, 1997; Sato, 2001) [20] Kết quả nghiên cứu trong ống nghiệm và trong
cơ thể sống đều cho thấy khi hạt nano chitosan/DNA vào trong cơ thể, chúng nhanh chóng di chuyển khỏi máu và bám trên những cơ quan khác nhau Kích cỡ hạt khác nhau thì phân bố trên những cơ quan khác nhau cũng khác nhau (Mao, 2001; Yoo, 2005) Hàng loạt nghiên cứu trong ống nghiệm và trong cơ thể sống cho thấy chitosan là vật liệu thích hợp để dẫn truyền vaccine DNA và gen không virus [20]
Những hệ thống dẫn truyền gen dựa trên chitosan cũng có thể gắn thêm
Trang 26ligand để có tương tác tế bào cụ thể, như transferrin hoặc galactose (Mutara, 1996; Erbacher, 1998; Park, 2001; Christopher, 2001; Gao, 2003; Kim, 2004) [20]
c) Ứng dụng trong thực phẩm chức năng
Sự phát triển những thực phẩm có hoạt tính sinh học có lợi cho sức khỏe tạo
ra cơ hội nâng cao sức khỏe cộng đồng Kết hợp những chất có hoạt tính sinh học vào trong thực phẩm như peptide, vitamine là cách thức đơn giản để tạo ra những thực phẩm chức năng mang lại những lợi ích sinh lý và giảm thiểu những rủi ro bệnh tật Tuy nhiên, hiệu quả ngăn chặn bệnh của những sản phẩm này nằm ở khả năng bảo quản được hoạt tính sinh học của những thành phần hoạt tính Đây là một thách thức lớn bởi vì hầu hết các phân tử này có thời gian lưu giữ trong dạ dày ngắn, tính thấm và độ tan kém trong ruột Hơn nữa chúng không bền trong những điều kiện chế biến thực phẩm hoặc trong bộ máy tiêu hóa (pH, enzyme, sự hiện diện của những dưỡng chất khác) Những hệ thống bao giữ (encapsulation system) có thể được sử dụng để vượt qua những giới hạn này Tuy nhiên, vì được dùng trong thực phẩm, những hệ thống dẫn truyền phải được công nhận là an toàn [18]
Trong số những hệ thống dẫn truyền này, hạt nano chitosan thu hút nhiều chú
ý trong những năm gần đây do khả năng bám dính vào niêm mạc và xuyên qua lớp niêm mạc Kích thước nhỏ giúp chúng kéo dài thời gian lưu giữ trong bộ máy tiêu hóa Những công trình mới nhất cũng chỉ ra toàn bộ những hạt nano chitosan có thể được hấp thu vào tế bào người [19]
β-lactoglobulin (βlg), một loại protein chính trong sữa của động vật nhai lại, được dùng nhiều trong thực phẩm do có giá trị dinh dưỡng Khả năng tạo gel, nhũ tương cho phép chúng trở thành nguyên liệu lý tưởng để bao giữ các hợp chất có hoạt tính sinh học Nó còn có khả năng kháng lại sự phân rã do pepsin có trong dạ dày [19]
Chen (2005) điều chế những hạt nano core-shell chitosan/β-lactoglubulin làm chất mang dưỡng chất Những hạt nano chitosan được phủ lớp protein βlg này
có khả năng bảo vệ những chất dinh dưỡng chống lại acid và pepsin trong dạ dày Khi tiến vào đường ruột, lớp phủ βlg bị phân rã bởi pancreatin, còn hạt nhân chitosan bám vào trong thành ruột, tạo thuận lợi cho sự hấp thu dưỡng chất [19]
Trang 27Như vậy hạt nano chitosan phủ βlg có hai tác dụng: lớp vỏ bảo vệ dưỡng chất trong
dạ dày còn hạt nhân cải thiện thời gian lưu giữ dưỡng chất trong thành ruột, đồng thời điều khiển tốc độ phóng thích chúng
Protein thực phẩm đã được điều chế thành nhiều loại chất nền ở dạng gel, hạt micro, hạt nano đáp ứng yêu cầu cho những ứng dụng trong thực phẩm chức năng Khả năng kiểm soát kích cỡ hạt protein quyết định tốc độ phóng thích dưỡng chất
và lượng hấp thu vào cơ thể Ở dạng gel và hạt micro, những dưỡng chất được phóng thích khỏi chất nền để hấp thu vào thành ruột Trong khi đó, hạt nano cải thiện khả năng hấp thu dưỡng chất bằng cách kéo dài thời gian lưu giữ trong thành ruột hoặc hấp thu trực tiếp bởi biểu mô ruột [18]
1.2.3 Hoạt tính kháng khuẩn của nano chitosan
Hoạt tính kháng khuẩn của chitosan được nghiên cứu trong nhiều tài liệu Theo những nghiên cứu trước, hoạt tính kháng khuẩn của chitosan trong môi trường acid là do sự proton hóa nhóm -NH2 tại vị trí C2 của D-glucosamine Chitosan mang điện dương sẽ tạo nối trên bề mặt tế bào vi khuẩn mang điện âm, phá vỡ màng làm thoát những thành phần chứa bên trong hoặc ức chế sự truyền dưỡng chất vào trong tế bào [21]
Hạt nano chitosan có diện tích tiếp xúc lớn hơn chitosan thông thường nên có hiệu quả kháng khuẩn cao hơn nhiều lần so với chitosan Qi (2004) đã nghiên cứu chế tạo nano chitosan để tăng hoạt tính kháng khuẩn của hạt
1.3 Các chủng vi sinh vật thử nghiệm
1.3.1 Bacillus subtilis
Bacillus subtilis được phát hiện lần
đầu tiên trong phân ngựa (1941) bởi Tổ
chức y học Nazi của Đức
Theo khóa phân loại của Bergey, vi
khuẩn Bacillus subtilis thuộc Bộ:
Eubacteriales, Họ: Bacillaceae, chi:
Bacillus, Loài: Bacillus subtilis
Hình 1.8: Hình thái của
Bacillus subtilis
Trang 28Bacillus subtilis, còn được gọi là trực khuẩn cỏ khô hoặc trực khuẩn cỏ, là một loài vi khuẩn Gram dương, catalase dương tính Bacillus subtilis có dạng hình
que, tròn hai đầu, kích thước 0,5 - 0,8 x 1,5 - 3μm., có khả năng tạo bào tử, có khả năng chịu đựng được các điều kiện môi trường khắc nghiệt Mặc dù loài này thường
được tìm thấy trong đất, tuy nhiên nhiều bằng chứng cho thấy Bacillus subtilis cũng
tồn tại trong ruột người, động vật [34]
Phát triển bằng cách nảy mầm do sự nứt bào tử, không kháng acid, có khả năng chịu nhiệt, chịu ẩm, tia tử ngoại, tia phóng xạ (Tô Minh Châu, 2000)
1.3.2 Bacillus cereus
Bacillus cereus là trực khuẩn Gram
dương, theo phân loại quốc tế thuộc giới
bacteria, ngành fimicutes, lớp Bacilli, bộ
Bacillales, họ Bacillaceaem, chi Bacillus, loài
Cereus
Bacillus cereus là loài vi khuẩn hiếu khí,
bào tử dạng hình ovan, có khả năng sinh nha
bào, được phát hiện đầu tiên trong một ca
nhiễm độc thực phẩm vào năm 1995 Bacillus cereus có khả năng tạo nội bào tử,
kích thước 0,5-1,5 x 2-4 μm Vi khuẩn không tạo giáp mô, không có khả năng di
động Vi khuẩn Bacillus cereus thường tồn tại trên nhiều loại thực phẩm như rau
quả, thịt và các loại thực phẩm đã và chưa qua chế biến Vi khuẩn này có khả năng tổng hợp ngoại độc tố và độc tố gây nôn mửa (emetic toxin), là nguyên nhân của các bệnh như nôn mửa, tiêu chảy [40]
1.3.3 Micrococcus luteus
Micrococcus luteus là vi khuẩn Gram
dương, có dạng hình cầu Theo hệ thống phân
loại nó thuộc ngành Actinobacteria, bộ
Trang 29trong đất, bụi, nước, và không khí, trên da động vật có vú Micrococcus luteus được
phát hiện bởi Sir Alexander Fleming trước khi ông tìm ra Penicillin vào năm 1928 [37]
1.3.4 Listonella damsela
Listonella damsela còn có tên gọi khác là Photobacterium damselae (trước đây gọi là Vibrio damsela) được phát
hiện bởi Smith và cs năm 1991
Theo hệ phống phân loại nó thuộc
lông roi Là một loại vi khuẩn gây bệnh cho động vật biển và con người
1.3.5 Nấm men Candida albicans
Theo hệ thống phân loại Candida albicans thuộc giới Fungi, ngành
Ascomycota, lớp Saccharomycetes, bộ Saccharomycetales, họ Saccharomycetaceae,
chi Candida, loài C albicans [35]
C albicans là một loại nấm men
sinh sản bằng đơn bào nảy chồi Tế bào
có dạng hình tròn đơn lẻ, kích thước 2-4μ,
thành tế bào mỏng Bên cạnh có một số tế
bào nảy chồi Cạnh đó có tế bào dài, ngắn,
gắn vào nhau bằng điểm yếu dễ gẫy Ký
sinh trên bề mặt của da và niêm mạc, bệnh
nấm candida không chỉ biểu hiện ngoài da
mà còn tạo nên các vết loét hoặc giả mạc
trong thực quản, dạ dày, ruột hay bộ phận sinh dục nam nữ Tuy không gây tử vong nhưng bệnh thường tái nhiễm dai dẳng, gây khó chịu và ảnh hưởng lớn đến sức
Hình 1.11 Hình thái của
Photobacterium damselae
Hình 1.12 Hình thái của Candida
albicans
Trang 30khỏe con người
Nấm Fusarium oxysporum là loại nấm sống trong đất và phân bố rộng rãi
trong các loại đất trồng trọt và đất cỏ, loài nấm này bao gồm hơn 100 dạng chuyên hoá và chủng nấm gây bệnh héo đối với nhiều loại rau,chuối, tiêu, cà chua, khoai tây, cây họ Bầu Bí Dưa và nhiều cây cảnh khác
1.3.7 Aspergillus awamori Nakazawa
Khuẩn lạc phát triển nhanh ở nhiệt độ
24 – 260C trong 10 ngày đạt đường kính 5 –
7 cm có khía vòng tròn, dai, sợi nấm thường
có mầu trắng thỉnh thoảng có các sợi nền
mầu vàng mang các đầu sinh bào tử trần;
nhiều bào tử lúc đầu mầu nâu lục sẫm sau
chuyển sang mầu nâu sô cô la tối Mặt trái
Trang 31khuẩn lạc mầu vàng và ngả sang mầu vàng nâu lúc già, không có giọt tiết Đầu sinh bào tử trần hình cầu hình tia lỏng hoặc tách thành các hình cột Cuống sinh bào tử trần màng dày, nhẵn thường sẫm hơn ở cuối Bọng hình cầu, gần cầu mầu nâu nhạt, đường kính từ 22,5 – 42,5 m, có thể lên tới 70 - 80 m Thể bình bao phủ hết mặt bọng, ở các đầu nhỏ thể bình bao phủ ½ đến ¾ bề mặt bọng Thể bình hai tầng nhưng trên các đầu nhỏ (lúc còn non) chỉ có 1 thể bình trên 1 cuống thể bình tạo nên hình dạng của loại 1 tầng Cuống thể bình kích thước 12,5 - 15 m (có thể 40 m) x 7,5 – 8,5 m Thể bình kích thước 6 - 10 m x 2,5 - 3 m Bào tử cầu, gần cầu hơi ráp kích thước 3,5 - 5 m [2]
Trang 32Chương 2 - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Hóa chất và dụng cụ thiết bị
2.1.1 Hóa chất
♦ Hóa chất dùng để tạo hạt nano chitosan
- Chitosan (DD = 84,45%, Mv = 328KDa) được cung cấp bởi Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Tripolyphosphat (TPP) – Sigma
- CH3COOH, 99,5%, Trung Quốc
- Nước khử ion: phòng Vi sinh phân tử - Viện Công nghệ sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
♦ Hóa chất dùng để pha môi trường nuôi cấy vi sinh vật
Hóa chất dùng cho nuôi cấy vi sinh vật: Agar (Ấn Độ), peptone (Đức) và các vi lượng muối khác (Trung Quốc)
Các hóa chất dùng cho thí nghiệm khác đều đạt tiêu chuẩn phân tích
(Môi trường MPB lỏng không bổ sung agar)
* Môi trường 2: Môi trường nuôi cấy nấm men (môi trường Hansen)
Bảng 2.2 Thành phần môi trường Hansen
Trang 33(Môi trường Hansen lỏng không bổ sung agar)
* Môi trường 3: Môi trường nuôi cấy nấm mốc (môi trường Czapek-Dox)
Bảng 2.3 Thành phần môi trường Czapek-Dox Thành phần môi trường g/l
- Đĩa petri, lọ nuôi thủy tinh, bình tam giác 250ml
- Cuvet, que trang
- Ống buret 25ml
2.1.3 Thiết bị
- Tủ ấm (Friocell, Đức)
- Tủ lạnh (Sanyo)
Trang 34- Lò vi sóng Sam sung
- Máy khuấy từ gia nhiệt Are - Velp Italia
- Máy đồng hóa mẫu IKA T25 digital ULTRA - TURRAX (Đức)
- Tủ cấy vô trùng (Sanyo)
- Nồi khử trùng (Nhật Bản)
- Cân phân tích Shimadzu (Nhật Bản)
- Máy đo OD - SP 3000 nano (optima -USA)
- Máy đo độ nhớt Petrotest, Đức tại Phòng nhiên liệu dầu mỡ, Viện Hóa học vật liệu
- Máy đo FE-SEM HITACHI-S4800, Nhật, Viện Khoa học vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Máy đo Zetasizer Ver 6.20, Malvern Instruments Ltd, Viện Khoa học vật liệu - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.1.4 Các chủng vi sinh vật thử nghiệm từ bộ sưu tập của phòng Công nghệ sinh
học - Viện Hóa sinh biển
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo hạt nano chitosan
2.2.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng phân tử chitosan
B1: Chuẩn bị dung dịch chitosan nồng độ 0,5%(w/v) bằng cách hòa tan chitosan trong acid acetic loãng 1%
B2: Tạo chitosan có khối lượng phân tử thấp từ chitosan ban đầu bằng cách
xử lý dung dịch chitosan với lò vi sóng ở 600w trong 5 phút, 10 phút, 15 phút
B3: Xác định khối lượng phân tử các mẫu chitosan chuẩn bị ở trên theo phương pháp đo độ nhớt của dung dịch Phương pháp này dựa vào phương trình Kunl- Mark- Howink biểu diễn mối quan hệ giữa độ nhớt đặc trưng của dung dịch polime với khối lượng phân tử trung bình của nó:
η = k.Mα [27] Trong đó η là độ nhớt đặc trưng của dung dịch polime; k, α là các hệ số phụ thuộc bản chất của polime, hệ dung môi và điều kiện tiến hành thí nghiệm Với chitosan,
độ nhớt được tính toán theo phương trình thực nghiệm Robbert:
Trang 35(ηt/η0-1)/C Đồ thị này được xây dựng bằng cách đo độ nhớt của các dung dịch
chitosan, với dung môi là hỗn hợp axit axetic 0,2M với natri axetat 0,3M Nồng độ
chitosan là 1.10-4 ÷ 10.10-4 (g/ml) (10 dung dịch)
B4: Tiến hành tạo hạt nano chitosan bằng phương pháp liên kết ion với TPP
từ các mẫu chitosan đã được chuẩn bị ở trên
Pha TPP trong nước khử ion được dung dịch TPP nồng độ 0,33% Nhỏ giọt từ từ
TPP vào dung dịch chitosan trong điều kiện khuấy 4000 vòng / 90 phút Hạt nano
chitosan thu được ở mẫu xử lý vi sóng và mẫu không xử lý được xác định kích
thước bằng máy Zetasizer Ver 6.20
2.2.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ CS/TPP
Ảnh hưởng của tỷ lệ CS/TPP đến kích thước và sự phân bố hạt nano
chitosan được tiến hành khảo sát với các tỉ lệ lần lượt là 4:1, 5:1, 6:1 Nồng độ CS
được giữ cố định là 0,5%(w/v), xử lý CS bằng lò vi sóng 600w / 10 phút, pH= 3-4
Để đáp ứng tỉ lệ CS:TPP lựa chọn, bổ sung TPP 0,5%; 0,4%; 0,3%(w/v)
2.2.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian khuấy và tốc độ khuấy
* Ảnh hưởng của tốc độ khuấy: Để xác định ảnh hưởng của tốc độ khuấy
lên kích thước hạt nano CS-TPP trong phản ứng ionic gelation, thí nghiệm được
tiến hành với tỉ lệ CS:TPP là 6:1, khuấy trong 2 giờ Tốc độ khuấy thay đổi 1500;
4000 và 8000 v/ph CS được xử lý trước bằng vi sóng ở 600 w trong 10 phút
* Ảnh hưởng của thời gian khuấy: Thời gian khuấy trong phản ứng tạo nano
Trang 36chitosan bằng phản ứng ionic gelation cũng có ảnh hưởng đến kích thước hạt tạo thành Để xác định được thời gian khuấy tốt nhất tạo được hạt nano chitosan với kích thước mong muốn, tiến hành tạo hạt nano chitosan như thí nghiệm trên (tốc độ khuấy là 8000 vòng/phút) và thời gian khuấy sẽ thay đổi lần lượt là 1h, 2h và 3h Hạt tạo thành được đo kích thước trên máy Zetasizer Ver 6.20
2.2.2 Tạo các loại hạt nano chitosan-TPP có kích thước khác nhau bằng
phương pháp liên kết ion
Cân chính xác 1 lượng chitosan hòa trong acid acetic 1% tạo thành dung
dịch chitosan có nồng độ 0,5% (w/v) Xử lý dung dịch chitosan bằng lò vi sóng ở
600w trong 10 phút Chuẩn bị dung dịch TPP 0,3% (pha TPP trong nước khử ion),
tỷ lệ giữa CS/TPP là 6:1 Cho dung dịch TPP chảy qua ống buret 25ml, nhỏ giọt
chậm dung dịch TPP vào dung dịch chitosan dưới tác động của máy đồng hóa
IKA T25 digital ULTRA - TURRAX (Đức) với tốc độ khuấy lần lượt là 4000
vòng/phút trong 2h, 4000 vòng/phút trong 4h và 8000 vòng/ phút trong 1h
2.2.3 Đánh giá hoạt tính đối kháng vi sinh vật của các loại hạt nano
chitosan kích thước khác nhau bằng phương pháp nuôi cấy trên môi trường đặc hiệu của Ing và cs (2012)
B1: Hoạt hóa chủng vi sinh vật trong môi trường lỏng
B2: Chuẩn bị các ống nghiệm, mỗi ống chứa 3ml môi trường thích hợp cho từng loại vi sinh vật có bổ sung nano chitosan ở các dải nồng độ khác nhau Đối chứng là ống nghiệm chỉ có môi trường nuôi cấy, không bổ sung nanochitosan.Bổ sung vi sinh vật kiểm định đến nồng độ cuối cùng 104 -105 CFU/ml môi trường
B3: Nuôi ở điều kiện nhiệt độ thích hợp cho từng chủng vi sinh vật trong khoảng thời gian xác định (vi khuẩn nuôi ở 370C trong 12h - 24h, nấm men nuôi
300C trong 12h - 24h, nấm mốc nuôi ở 280C trong 24h - 48h), đánh giá bằng mắt thường sự sinh trưởng của các chủng vi sinh vật
B4: Đổ đĩa thạch môi trường MPA (nuôi vi khuẩn), môi trường Hansen nuôi nấm men, môi trường Czapek nuôi nấm mốc
B5: Lấy 100μl canh trường nuôi từ các ống thí nghiệm ở trên (gồm ống đối chứng và ống có chế phẩm mà không phát hiện sự sinh trưởng của vi khuẩn), cấy
Trang 37trải lên đĩa thạch đã chuẩn bị ở trên Để khô, lật ngược đĩa và nuôi ở nhiệt độ thích hợp cho từng chủng vi sinh vật Xác định sự hình thành khuẩn lạc trên môi trường đặc sau 24h nuôi cấy (đối với vi khuẩn và nấm men), sau 48h (đối với nấm mốc) Tiếp sau 24h hoặc 48h nuôi trên môi trường đặc, nồng độ nano chitosan nào thấp nhất có thể tiêu diệt 99,9% lượng vi khuẩn được cho là nồng độ diệt khuẩn tối thiểu, nồng độ nào thấp nhất ức chế sự phát triển của vi khuẩn sau 24 giờ nuôi cấy là nồng
độ ức chế tối thiểu [39]
Phần trăm ức chế được tính theo công thức:
% ức chế = (A0 – As)/A0 * 100% Trong đó A0 là số khuẩn lạc mọc trên đĩa đối chứng (CFU/ml), As là số khuẩn lạc mọc trên đĩa thí nghiệm (CFU/ml)
Trang 38Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo hạt nano chitosan - TPP 3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng phân tử của chitosan
Trên quan điểm lý hóa việc tương tác của chitosan và TPP được chấp nhận là liên kết chéo trong phân tử của các loại ion tripolyphosphoric, sản phẩm của TPP phân ly trong dung dịch nước, với các nhóm NH3+của chitosan Ảnh hưởng của pH, lực ion và các điều kiện sản xuất khác và bản chất của chitosan lên các đặc điểm lý học của các hạt nano chitosan-TPP đã được nghiên cứu [13] Khối lượng phân tử của chitosan có vai trò quan trọng trong phản ứng liên kết ion để tạo các hạt nano có kích thước mong muốn Chitosan khối lượng phân tử khác nhau có thể nhận được bằng cách depolymerization có kiểm soát sử dụng các phương pháp khác nhau như thủy phân bằng acid (HCl, HNO2, v.v), các gốc tự do (H2O2, K2S2O8), enzymes,
chiếu tia (UV, γ rays), siêu âm, vi sóng, và xử lý nhiệt [7]
Để xác định ảnh hưởng của khối lượng phân tử chitosan sử dụng lên một số đặc tính của hạt nano chitosan tạo thành, trước khi tiến hành phản ứng ionic gelation, chitosan được xử lý bằng vi sóng để cắt ngắn mạch, sau đó quá trình được
tiến hành như mô tả trong phần phương pháp
Xác định khối lượng phân tử trung bình của các mẫu chitosan được xử
2 phần phụ lục) Độ nhớt đặc trưng và khối lượng phân tử trung bình (KLPTTB)
Trang 39của mẫu chitosan được xử lý và không xử lý được tính toán theo công thức trong phần phương pháp (2.2.1.1), kết quả được thể hiện như bảng dưới đây
Bảng 3.1 : KLPTTB của Chitosan xử lý và không xử lý
Từ kết quả bảng 3.1, có thể nhận thấy chitosan xử lý bằng lò vi sóng có khối lượng phân tử trung bình thấp hơn chitosan ban đầu, trong cùng 1 nhiệt độ, thời gian xử lý càng lâu thì khối lượng phân tử của mẫu càng giảm Từ mẫu chitosan ban đầu có KLPTTB là 328 kDa, sau khi xử lý bằng lò vi sóng ở 600w/ 5 phút, KLPTTB giảm không đáng kể, còn 322 kDa, tuy nhiên khi tăng thời gian xử lý lên
10 phút, KLPTTB giảm xuống rõ rệt còn 234 kDa Như vậy việc chitosan xử lý bằng lò vi sóng đã có hiệu quả khi thu được chitosan có khối lượng phân tử thấp hơn, và theo nhiều nghiên cứu chitosan có khối lượng phân tử khác nhau sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kích thước hạt nano chitosan tạo ra Để khẳng định khối lượng phân tử của chitosan ảnh hưởng đến kích thước hạt nano tạo thành, chitosan không
xử lý và chitosan xử lý bằng lò vi sóng 600w/ 10 phút được sử dụng để làm nguyên liệu tạo hạt nano chitosan bằng phương pháp liên kết ion như đã mô tả ở phần phương pháp 2.2.1.1.Các hạt nano chitosan tạo thành được đo kích thước và phân
bố hạt bằng máy Zetasizer Ver 6.20 Kết quả trên hình 3.1 và 3.2
C5: chitosan xử lý bằng lò vi sóng 600w/ 5 phút C10: chitosan xử lý bằng lò vi sóng 600w / 10 phút
Trang 40Kết quả nhận được cho thấy việc xử lý chitosan bằng lò vi sóng có thể giúp tạo ra được các hạt có kích thước nhỏ hơn nhiều so với mẫu chitosan không được
xử lý Trong cùng điều kiện phản ứng, các hạt nano chitosan từ CS xử lý bằng vi sóng có kích thước 971nm, trong khi đó các hạt nano chitosan từ CS không xử lý có kích thước 1254nm
Kết quả này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu của các tác giả khác về ảnh hưởng của khối lượng phân tử chitosan đến kích thước hạt nano chitosan được tạo
ra Thông thường, phân tử lượng của chitosan càng lớn thì kích thước hạt nano chitosan tạo thành càng lớn Nhóm của Hu [6] sử dụng chitosan có phân tử lượng lần lượt là 50, 100, 150 và 300 kDa, có cùng độ deacetyl hóa là 90% để điều chế hạt nano chitosan tripolyphosphate ở nồng độ chitosan là 1,5 mg/ml, tỷ lệ CS/TPP là 6:1, pH là 4,5 Khi phân tử lượng chitosan tăng từ 50kDa đến 150kDa, kích thước hạt không thay đổi đáng kể Khi phân tử lượng chitosan tăng từ 150kDa đến 300kDa, kích thước hạt tăng nhanh từ 173,3nm đến 309,7nm
Tương tự, nhóm của Gan [28] sử dụng chitosan có phân tử lượng thấp, trung
Hình 3.1: Sự phân bố kích thước hạt nano
chitosan với chitosan được xử lý bằng lò
vi sóng 600w/ 10 phút
Hình 3.2: Sự phân bố kích thước hạt nano chitosan với chitosan không xử lý