Chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có cơ cấu hợp lý, phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, hiện đại, bền vững nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng ca
Trang 1NGUYỄN ĐÌNH DŨNG
GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TẠI HUYỆN HIỆP HÕA, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Xuân Phương
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Các kết quả nghiên cứu của
luận văn có tính độc lập, số liệu và dữ liệu sử dụng trong luận văn được
trích dẫn đúng quy định
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu
Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh Doanh Thái Nguyên, các thầy cô
giáo trong nhà trường, những người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho tôi
những kiến thức cơ bản, hướng dẫn tôi trong học tập, rèn luyện và xây dựng,
nghiên cứu Luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Xuân Phương,
đã dành nhiều thời gian và công sức, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Thường vụ Huyện uỷ, UBND huyện
Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, UBND các xã, thị trấn
của huyện đã cung cấp thông tin cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm
hiểu, nghiên cứu đề tài tại địa bàn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan trực thuộc huyện Hiệp
Hoà, các đồng chí, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã quan tâm giúp đỡ,
động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Kết cấu luận văn 3
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 4
1.1 Một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp và vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 4
1.1.2 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 6
1.1.3 Sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 12
1.1.4 Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 15
1.1.5 Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 15
1.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá một số nước trên thế giới và Việt Nam 19
Trang 5Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Phương pháp nghiên cứu 27
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu thứ cấp 27
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu sơ cấp 27
2.1.3 Tổng hợp, phân tích và viết báo cáo 28
2.2 Các chỉ tiêu phản ảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được sử dụng trong nghiên cứu 28
Chương 3 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP HÒA 29
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.1.3 Khái quát tình hình và kết quả hoạt động của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang 38
3.1.4 Những thuận lợi (lợi thế) và những hạn chế, khó khăn của huyện 41
3.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung toàn huyện 43
3.2.1 Chủ trương của huyện về chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung 43
3.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang 44
3.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Hiệp Hoà 46
3.3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành sản xuất trong nông nghiệp 46
3.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế 54
3.3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng 57
3.4 Phát triển sản xuất hàng hoá trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Hiệp Hoà 59
3.4.1 Phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực trồng trọt 59
3.4.2 Phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực chăn nuôi 61
Trang 63.4.3 Phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực lâm nghiệp 62
3.4.4 Phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực thuỷ sản 63
3.5 Đánh giá chung 64
3.5.1 Kết quả đạt được 64
3.5.2 Tồn tại, hạn chế 64
3.5.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 67
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI HUYỆN HIỆP HOÀ, TỈNH BẮC GIANG 68
4.1 Định hướng và mục tiêu 68
4.1.1 Định hướng 68
4.1.2 Mục tiêu 68
4.2 Một số giải pháp chủ yếu 69
4.2.1 Quy hoạch bố trí sản xuất 69
4.2.2 Giải pháp lao động 71
4.2.3 Giải pháp về vốn 72
4.2.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 74
4.2.5 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp 75
4.2.6 Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp như: giao thông, điện, hệ thống cấp nước, thuỷ lợi 76
4.2.7 Cơ chế chính sách 77
4.2.8 Công tác quản lý nhà nước trên địa bàn 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TB&XH : Thương binh và xã hội
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân loại thổ nhưỡng của huyện Hiệp Hoà 31
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 32
Bảng 3.3: Giá trị tổng sản phẩm của huyện giai đoạn 2008 - 2012 44
Bảng 3.4: Cơ cấu giá trị tổng sản phẩm các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Hiệp Hòa 45
Bảng 3.5: Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2008 - 2012 46
Bảng 3.6: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp huyện giai đoạn 2008-2012 47
Bảng 3.7: Giá trị sản xuất nông nghiệp 48
Bảng 3.8: Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Hiệp Hòa giai đoạn 2008-2012 49
Bảng 3.9: Tình hình phát triển ngành trồng trọt của huyện Hiệp Hòa giai đoạn 2008 - 2012 50
Bảng 3.10: Tình hình phát triển ngành chăn nuôi giai đoạn 2008-2012 51
Bảng 3.11: Tình hình phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2008-2012 52
Bảng 3.12: Tình hình phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2008-2012 53
Bảng 3.13: Kết quả sản xuất của trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Hiệp Hòa năm 2012 55
Bảng 3.14: Giá trị sản phẩm nông nghiệp của huyện Hiệp Hòa giai đoạn 2008-2012 theo các hình thức tổ chức sản xuất 56
Bảng 3.15: Giá trị và tăng trưởng giá trị sản phẩm nông nghiệp của huyện giai đoạn 2008-2012 theo các vùng kinh tế 58
Bảng 3.16: Tình hình phát triển sản xuất hàng hóa ngành trồng trọt giai đoạn 2008 - 2012 59
Bảng 3.17: Tình hình phát triển sản xuất hàng hóa ngành chăn nuôi giai đoạn 2008-2012 62
Bảng 3.18: Tình hình phát triển sản xuất hàng hóa ngành lâm nghiệp giai đoạn 2008-2012 62
Bảng 3.19: Tình hình phát triển sản xuất hàng hóa ngành thủy sản giai đoạn 2008-2012 63
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Hiệp Hòa năm 2012 33 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế 36 Biểu đồ 3.3 Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2008 - 2012 46 Biểu đồ 3.4 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp 48
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 30
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống bằng nghề nông, ngành nông nghiệp nước ta đã và đang sẽ còn giữ vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế chung của cả nước, là tiền đề cho các ngành kinh
tế khác phát triển Sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của
xã hội, là sản phẩm tối cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của con người Ngoài ra, nó còn là cơ sở cho sự sắp xếp, bố trí phân công lao động cho nền kinh tế quốc dân và góp phần tăng nguồn thu nhập của đất nước Để giải quyết những vấn đề này thì việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với nước ta
Chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
có cơ cấu hợp lý, phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, hiện đại, bền vững nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao; phát huy mọi tiềm năng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn sẽ giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người nông dân; góp phần thực hiện thắng lợi Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Do đó, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của cả nước nói chung và của mỗi tỉnh, huyện nói riêng là hết sức coi
trọng, cần thiết
Huyện Hiệp Hòa là huyện trung du của tỉnh Bắc Giang có 26 xã, thị trấn, trong đó có 13 xã miền núi, diện tích tự nhiên 201,12 km2, dân số trên 221.843 người, nằm tiếp giáp thành phố Hà Nội, tỉnh Thái Nguyên và Bắc Ninh Toàn huyện mật độ 1103 người/km2 Nông nghiệp vừa là bộ phận quan trọng cơ cấu kinh tế của huyện, vừa có điều kiện phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Vì vậy nông nghiệp là ngành được đặc biệt chú trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của huyện Trong nhiều năm qua, mức độ chuyển
Trang 11dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm, nhiều tiềm năng nông nghiệp chưa được khai thác Sản xuất nông nghiệp còn mang tính nhỏ lẻ, tự cung tự cấp là chủ yếu Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu phục vụ cho gia đình Ngành chăn nuôi chưa phát huy hết lợi thế; tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp thuần còn cao; dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ Cơ cấu nông nghiệp của huyện chưa phát huy hết tiềm năng về sản xuất hàng hóa, vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn
và nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp Do đó, nghiên cứu “Giải pháp
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” là yêu cầu mang tính cấp thiết và tôi đã
chọn làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tại huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang trong thới gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian: Nghiên cứu, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
* Về thời gian:
- Đánh giá thực trạng trên địa bàn giai đoạn 2008-2012
- Phần mục tiêu phương hướng, đề xuất giải pháp phát triển đến năm
2016, định hướng đến năm 2020
* Về nội dung:
Tập trung đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua trên các lĩnh vực, như: Trồng trọt, chăn nuôi…; đề xuất một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trong thời gian tới
4 Kết cấu luận văn
Luận văn, ngoài phần mở đầu và kết luận, có 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hiệp Hòa;
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1.1 Một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp và vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
a) Khái niệm nông nghiệp: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp và kinh tế nông thôn được nói đến như một khu vực truyền thống Trong thời gian dài của lịch sử, nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của hầu hết các quốc gia Nông nghiệp
là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống ra con người Hiện nay, khoa học và công nghệ đã đạt đến trình độ, phát triển cao nhưng vẫn không có một ngành sản xuất nào thay thế hoàn toàn được sản phẩm của nông nghiệp
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp (truyền thống) chỉ bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, theo nghĩa rộng (nghĩa khu vực nông nghiệp) bao gồm
cả nông nghiệp truyền thống, lâm nghiệp, thủy sản (khai thác tự nhiên và nuôi trồng), thủy sản (khai thác tự nhiên và nuôi trồng), diêm nghiệp (làm muối)
Cũng như các ngành kinh tế, sự phân ngành nội bộ nông nghiệp phản ánh sự phát triển và trình độ phát triển phân công lao động xã hội, trong đó nhân tố tác động trực tiếp là trình độ phát triển khoa học công nghệ
b) Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Nước ta từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu đi lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nên nông nghiệp càng có
vị trí vô cùng quan trọng Việc xác định vai trò của nông nghiệp trong phát triển nền kinh tế là sự thể hiện quan điểm của Đảng ta trong việc xác định phương hướng và mô hình phát triển nông nghiệp đối với toàn bộ nền kinh
tế quốc dân Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta đã khẳng
Trang 14định: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội ”(Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) Đại hội IX của Đảng cũng chỉ rõ “tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông, lâm, ngư nghiệp lên một trình độ mới” (Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX) Vì thế nông nghiệp có những vai trò chủ yếu sau:
- Nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay Nông nghiệp sản xuất ra lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
- Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp nhất
là công nghiệp chế biến Trên cơ sở đó góp phần thỏa mãn từng bước các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu đa dạng cho nhân dân
- Nông nghiệp là khu vực góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu Tạo điều kiện để mở rộng phân công và hợp tác quốc tế, để nước ta
có ngoại tệ nhập khẩu các loại máy móc, vật tư, thiết bị cũng như các kỹ thuật cần thiết để phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng
- Khu vực nông nghiệp, nông thôn góp phần quan trọng vào giải quyết công ăn việc làm ở khu vực nông thôn, nhờ đó hạn chế được tình trạng di dân
từ nông thôn ra thành thị Nông nghiệp còn là nơi cung cấp cấp lao động cho các ngành công nghiệp và dịch vụ
- Nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn, ổn định để tiêu thụ sản phẩm của các ngành phi nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp, nông thôn càng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được cải thiện là điều kiện để thúc đẩy các ngành phi nông nghiệp phát triển
- Sự phát triển hợp lý của khu vực nông nghiệp góp phần bảo vệ, giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái
Trang 151.1.2 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
a Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
* Khái niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Cơ cấu kinh tế quốc dân hay kết cấu kinh tế vĩ mô là tổng thể các mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội là tiền
đề khách quan, trực tiếp hình thành cơ cấu kinh tế
Khi phân tích sự phát triển của phân công lao động xã hội, K Marx đã viết “Cơ cấu kinh tế xã hội là hoàn toàn những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất” (C Mác góp phần phê phán kinh tế chính trị học NXB sự thật Hà nội 1964.tr 7)
Như vậy, bản chất của cơ cấu kinh tế các mối liên hệ kinh tế tất yếu, phổ biến, bên trong của mỗi chính thể kinh tế Tuy nhiên cơ cấu kinh tế thể hiện phản ánh ra ngoài bằng quy mô, tỷ lệ, tỷ trọng, hiệu quả và xu hướng vận động của mỗi thành phần, bộ phận của nền kinh tế
K Marx cũng chú ý đến cả hai mặt vật chất và lượng của cơ cấu kinh
tế, theo Ông, cơ cấu kinh tế là “Một sự phân chia quan hệ về chất và một tỷ lệ
về số lượng của quá trình sản xuất xã hội” (C Mác Tư bản Q II, TII, NXB
sự thật Hà Nội 1975 Tr102)
Tóm lại, cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố, các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong hệ thống tái sản xuất xã hội, trong những điều kiện kinh tế xã hội, trong những không gian, thời gian nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là bộ phận cấu thành rất quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là tổng thể của kinh tế bao gồm mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất
Trang 16và quan hệ sản xuất thuộc khu vực kinh tế nông thôn trong những khoảng thời gian và điều kiện kinh tế xã hội nhất định
Vậy cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể được hiểu là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong khoảng thời gian và không gian nhất định
* Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
- Mang tính khách quan: Mọi sự vật hiện tượng cũng như nền kinh tế quốc dân đều vận động theo những quy luật khách quan, theo những cấu trúc
và xu hướng biến đổi nhất định K Marx đã viết “Trong sự phân công xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi, mọi sự tất yếu thầm kín, yên lặng” (C Mác Tư bản Q I, TII, NXB sự thật Hà Nội 1961 Tr 65 )
Cơ cấu kinh tế phản ánh cơ bản, cô đọng nội dung của chiến lược kinh
tế - xã hội trong từng giai đoạn Một cơ cấu kinh tế hợp lý phản ánh được sự vận động của quy luật khách quan trong nền kinh tế Vai trò chủ quan của con người chính là nhận thức và vận dụng theo đúng quy luật khách quan đó để xác định cơ cấu, hoạch định chiến lược kinh tế - xã hội đúng đắn Đó là việc chủ động sáng tạo ra những yếu tố môi trường vật chất và phi vật chất cho cơ cấu kinh tế vận động Mọi sự áp đặt, duy ý chí, nóng vội hay bảo thủ, rụt rè trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế đều mang lại tác động xấu đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
- Mang tính chất lịch sử xã hội: Nền kinh tế chỉ có phát triển bình thường khi giữa các mặt, các bộ phận có những mối liên hệ cân đối theo
“tỷ lệ thép” trong sự phân công lao động xã hội Tuy nhiên tính ổn định của cơ cấu kinh tế chỉ là tương đối, cơ cấu kinh tế luôn luôn vận động, tới một chừng mực nhất định định “do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ, đã làm đảo lộn toàn bộ cơ cấu kinh tế
xã hội” (C Mác Tư bản Q I, TII, NXB sự thật Hà Nội 1961 Tr 47)
Trang 17Tính hai mặt vừa ổn định (tương đối) vừa vận động biến đổi thường xuyên của cơ cấu kinh tế đòi hỏi Nhà nước và các chủ thể quản lý cần phản tránh cả hai xu hướng hoặc là quá thận trọng, cầu toàn hoặc là quá nóng vội, phiến diện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tác động của lực lượng sản xuất có tính quyết định, song yếu tố quan
hệ sản xuất, các quan hệ kinh tế giữa người với người trong nền sản xuất xã hội cũng rất quan trọng Lực lượng sản xuất có thể tiên tiến, những nếu trong điều kiện quan hệ sản xuất - trực tiếp trước hết là quan hệ lợi ích được giải quyết không tốt, thì vẫn không thể phát huy có hiệu quả Bởi vậy các nước có chế độ kinh tế xã hội và trình độ phát triển như nhau, song vẫn có sự khác nhau về cơ cấu kinh tế, không thể rập khuôn giáo điều
- Không ổn định mà luôn luôn vận động và biến đổi: Để đảm bảo cho quá trình hình thành, vận động và phát triển của cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách khách quan Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng không thể cố định và luôn có sự thay đổi, điều chỉnh thích hợp với
sự thay đổi các điều kiện kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, quy
mô sản xuất và nhịp độ phát triển kinh tế sẽ tạo thành một cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới Cơ cấu này vận động và phát triển, đến lượt nó phải nhường chỗ cho một cơ cấu khác ra đời, nhưng phải tương đối ổn định Nếu cơ cấu thường xuyên thay đổi, xáo trộn sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh không ổn định Như vậy, sự chuyển dịch phải là một quá trình, nhưng không phải là tự phát mà con người có thể và nhất thiết phải tác động, thúc đẩy, can thiệp nhằm thúc đẩy cho sự phát triển
- Mang tính hợp tác và cạnh tranh: Trong việc lựa chọn một cơ cấu hợp
lý, hiệu quả thì phải xem xét đầy đủ các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu và mối liên hệ các yếu tố bên trong và bên ngoài Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong việc bố trí sản xuất, hoạch định các chính sách, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Trang 18* Các yếu tố cấu thành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Cơ cấu kinh
tế hợp lý sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho người sản xuất kinh doanh năng động hơn, cho phép khai thác các tiềm năng và lợi thế hiệu quả Cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: Cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế
- Cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật: Ngành kinh tế kỹ thuật tà tổng thể các ngành trong nền kinh tế quốc dân được hợp thành theo một quan hệ tỷ lệ
về lượng, thể hiện mối quan giữa các ngành và phản ánh trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của nền kinh tế Nền kinh tế quốc dân gồm 3 khu vực (ngành) lớn là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; tiếp theo
có thể phân chia thành các ngành cấp 1, cấp 2, cấp 3…tùy theo trình độ phát triền của phân công lao động xã hội Cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp - nông thôn thể hiện các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong nông thôn: Nông nghiệp (theo nghĩa rộng), công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp Theo nghĩa hẹp gồm: trồng trọt và chăn nuôi
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh thổ: Vùng kinh tế là một
bộ phận không gian lãnh thổ quốc gia (không gian đóng hoặc mở) ở đó diễn
ra các hoạt động, các quá trình kinh tế - xã hội có tính chất tương đối và đặc thù Tùy trình độ phát triển, tính đặc thù và yêu cầu lãnh đạo quản lý, người ta
có thể xem xét vùng kinh tế trên các góc độ Theo đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có các vùng kinh tế tự nhiên, miền núi, trung du, đồng bằng, đô thị, ven biển, hải đảo…Theo kết cấu kinh tế vùng có: vùng kinh tế chuyên môn hóa và vùng kinh tế tổng hợp Theo tính đặc thù của cơ chế tổ chức quản lý có: đặc khu, vùng kinh tế mở…
- Cơ cấu theo thành phần kinh tế hay thành phần doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở cơ bản trong nền kinh
tế nhằm trực tiếp sản xuất, cung ứng những hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu thị trường Nền kinh tế được cấu thành trước hết từ các doanh nghiệp, nền
Trang 19kinh tế mạnh trước hết phải có doanh nghiệp mạnh Theo cơ cấu sở hữu gồm có doanh nghiệp nhà nước, tập thể, tư nhân, cá thể, doanh nghiệp hỗn hợp và doanh nghiệp có vốn nước ngoài Trong lĩnh vực nông nghiệp có: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư, trong đó kinh tế hộ gia đình nông dân là chủ yếu và đang chiếm vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế nông nghiệp Theo tính chất hàng hóa có thể chia thành doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ; doanh nghiệp bình thường và doanh nghiệp công ích Theo quy mô có thể chia thành doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ
Ngoài ra tùy theo nhu cầu phân tích người ta có thể xem xét những tiêu chí khác nhau thuộc đầu vào (vốn, tài sản, lao động…), đầu ra (cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường, xuất nhập khẩu, hiệu quả từng mặt…), tái sản xuất (tích lũy và tiêu dùng, nội lực và ngoại lực…) để phân tích cơ cấu kinh tế
Ngoài 3 loại cơ cấu chính nêu trên, trong sản xuất nông nghiệp còn có các loại cơ cấu khác như cơ cấu mùa vụ, cơ cấu kỹ thuật, công nghệ sử dụng trong nông nghiệp…
- Cơ cấu mùa vụ: Việc bố trí mùa vụ cho từng loại cây phụ thuộc vào các yếu tố chính như thời tiết, đất đai, đặc điểm sinh học của giống cây , tiến
bộ khoa học kỹ thuật Trong nông nghiệp, sự thay đổi cơ cấu mùa vụ cũng bao hàm sự thay đổi cơ cấu cây trồng và góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Cơ cấu công nghệ, nói lên tỷ trọng và mức độ áp dụng các loại công nghệ trong sản xuất nông nghiệp như công nghệ lạc hậu, tiên tiến và hiện đại Đến nay, công nghệ phát triển, hiện đại chính là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm việc nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của các loại nông sản của mỗi quốc gia
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình tác động có hướng của các chủ thể quản lý kinh tế, nhằm biến đổi từ một cơ cấu lạc hậu, kém hiệu quả sang một cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn, tiến bộ hơn Đó là quá trình tác động liên
Trang 20tục, tổng hợp trên nhiều phương tiên, ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô hoặc sự biến đổi về vị trí, vai trò, tỷ trọng và tính cân đối vốn có giữa các yếu tố, các bộ phận của ngành, các vùng, các thành phần kinh tế cho phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của một nước trong một giai đoạn nhất định
Sau khi Nghị quyết 10 của Bộ chính trị và nhiều chính sách mới được ban hành đã tạo cho nông nghiệp đạt được những thành tựu to lớn góp phần từng bước chuyển nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung đã
và đang có sự khởi sắc, sản xuất phát triển đời sống nhân dân được cải thiện Mặt khác, việc chuyển dịch cơ cấu ngành, theo vùng, lãnh thổ, theo các thành phần kinh tế, theo cơ cấu kỹ thuật - công nghệ hướng tới nền sản xuất hàng hoá và đạt được nhiều tiến bộ đáng kể
Thế nhưng ở trong phạm vi của từng vùng trong nước thì không hẳn thế Do có sự phát triển không đều giữa các vùng trong nước, quá trình đó diễn ra ở các vùng không giống nhau: ở vùng kinh tế phát triển, quá trình đó diễn ra theo trình tự chung còn ở vùng kinh tế kém phát triển, quá trình đó có thể bắt đầu từ việc phá thế độc canh hoá chuyển sang đa canh lúa, màu, phát triển chăn nuôi và bước tiếp theo là phát triển các ngành nghề tiều, thủ công nghiệp và dịch vụ Xu hướng chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm và tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ một trạng thái nhất định tới trạng thái phát triển tối ưu để đạt được hiệu quả mong muốn, thông qua sự điều khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan
Trang 211.1.3 Sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
a Hàng hoá và sản xuất hàng hoá
* Hàng hoá: là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn một nhu cầu nào
đó của con người và được sản xuất ra để trao đổi với nhau Hàng hóa là một phạm trù kinh tế phản ánh những mối quan hệ kinh tế xã hội giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa Hàng hóa có hai thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị là một phạm trù lịch sử nó tồn tại trong kinh tế hàng hóa, giá trị
sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm mà nhờ đó có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (nhu cầu trực tiếp như ăn, mặc, ở, phương tiện
đi lại, phương tiện gián tiếp như các tư liệu sản xuất…)
Như vậy, một sản phẩm sản xuất ra được đem trao đổi thì được coi là hàng hóa và muốn trao đổi thì hàng hóa đó phải có một giá trị nhất định, sản phẩm đó phải đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Sản phẩm hàng hóa trao đổi trên thị trường luôn chịu sự tác động của hai quy luật: Quy luật cung cầu
và Quy luật cạnh tranh
* Sản xuất hàng hoá: là kiểu tổ chức sản xuất, mà trong đó sản phẩm làm ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
* Tỷ suất nông sản hàng hoá: Để đo lường và trao đổi sản xuất hàng hóa
có thể dùng chỉ tiêu này Tỷ xuất nông sản hàng hóa là tỷ lệ phần trăm giữa tổng lượng nông sản hàng hóa với tổng lượng nông sản phẩm sản xuất ra
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa cần sử dụng chỉ tiêu tỷ xuất nông sản hàng hóa và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Căn cứ vào
Trang 22các chỉ tiêu, phạm vi nghiên cứu và nguồn tài liệu cho phép mà lựa chọn chỉ tiêu phù hợp để phân tích làm rõ vấn đề cần nghiên cứu Tính quy luật của sự biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm,
số người lao động trong khu vực sản xuất lương thực giảm tương đối và tuyệt đối Vì thế cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển bền vững như:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường phù hợp với người tiêu dùng và xu thế phát triển kinh tế hội nhập quốc tế Hiện nay ngành nông nghiệp đang phải chịu nhiều thách thức, nền kinh tế thị trường luôn là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế và ảnh hưởng đến việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng Nhu cầu của con người về mặt hàng nông phẩm cũng tăng lên cả về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá cả…Như vậy bắt buộc thị trường phải đáp ứng sản xuất đáp ứng Thị trường và nhu cầu càng phát triển thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp càng biến đổi để đa dạng và phong phú hơn Nền thị trường thừa nhận những
cơ cấu kinh tế hiệu quả, nghĩa là cơ cấu có khả năng đem lại lợi nhuận và thu nhập cao nhất cho người sản xuất
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại lợi ích kinh
tế cho người nông dân phù hợp với nguyện vọng thiết thực Như vậy với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng hiện nay về nông sản thì chuyển dịch
cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng thiết thực của thị trường về các mặt hàng nông sản, góp phần tích cực phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và ổn định chính trị xã hội
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường
Trang 23Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa theo hình thức này nhằm cung cấp sản phẩm nông sản hàng hóa cho xã hội, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp; hàng hóa để xuất khẩu sang thị trường các nước trên thế giới
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tạo cơ sở thay đổi môi trường kinh tế xã hội nông thôn nói chung và bộ mặt của nông thôn nói chung; huy động tối đa các nguồn lực để xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, y tế giáo dục được đầu tư, giao thông nông thôn được cải thiện và mở rộng
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hóa, thâm canh cao và các liên kết ngành nghề chặt chẽ với nhau hơn
Quá trình chuyển dịch chính là nhằm tạo một nền sản xuất chuyên môn hàng hóa cao, hàng hóa có chất lượng Những sản phẩm truyền thống và ngành nghề đã đăng ký thương hiệu ở những vùng được quyền khai thác và khu vực có lợi thế Từ những sản phẩm ở vùng này, sẽ tạo được thị trường và thương hiệu để cạnh tranh
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Nghị quyết BCHTW lần thứ 7 khóa VII đã đưa nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và khoa học công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau Quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh
tế theo hướng hợp lý và hiệu quả hơn đòi hỏi nền kinh tế phải được công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngược lại công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho nền kinh tế tăng trưởng và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 241.1.4 Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Ở bất kỳ một nước nào, thực hiện quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn cũng bắt đầu từ một cơ cấu nông nghiệp hợp lý
- Có cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp vùng hàng hóa tập trung; hỗ trợ đầu tư xây hồ đập và hệ thống giao thông thủy lợi vừa và nhỏ, ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, bảo lãnh và cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, bảo lãnh cho hợp tác xã vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, cho nông dân vay mua thiết bị máy móc, tích
tụ đất đai chuyển đổi cơ cấu; khuyến khích chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa những hộ không có khả năng đầu tư vào sản xuất thâm canh sang cho người có khả năng tổ chức sản xuất thâm canh, hình thành vùng tập trung chuyên canh dưới hình thức các trang trại, gia trại
- Tuân thủ các cam kết của Việt Nam với WTO và các tổ chức quốc tế Nếu thực hiện tốt sẽ tạo ra được những vùng chuyên canh gắn với thâm canh
có năng xuất cao của cây trồng, đồng thời tạo điều kiện để đưa cơ giới vào sản xuất, giải phóng được lao động trong nông nghiệp và từng bước cải tạo được đồng ruộng, đất đai và xây dựng lại hệ thống giao thông nội đồng…
1.1.5 Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Cơ cấu kinh tế chịu sự tác động của nhiều yếu tố, có nhân tố thúc đẩy,
có nhân tố kìm hãm, sự tác động đan xen nhau đó làm cho nền kinh tế phát triển với mức độ và hiệu quả khác nhau Có thể chia các nhân tố tác động đến
cơ cấu kinh tế theo các nhóm nhân tố sau:
Trang 25* Nhóm nhân tố hoàn toàn tự nhiên
- Các nhân tố tự nhiên là cơ sở đầu tiên để hình thành và phát triển kinh
tế - xã hội, bố trí kinh tế theo hướng khai thác thế mạnh
- Tự nhiên là nơi cung cấp các yếu tố vật chất đầu vào cho sản xuất
- Tự nhiên là nơi chứa đựng nền kinh tế cũng như phế liệu của các hoạt động kinh tế - xã hội
C Mác viết: “Bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng là việc con người chiếm hữu lấy những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” Vì vậy quá trình chiếm hữu đó luôn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tự nhiên Thiên nhiên vừa cung cấp những yếu tố thuận lợi nhưng cũng gây không ít khó khăn, tổn thất cho quá trình phát triển kinh tế Quá nhấn mạnh và lệ thuộc vào tự nhiên hoặc việc coi thường bất chấp tự nhiên đều dẫn đến kém hiệu quả Bởi vậy phải chung sống với tự nhiên, tôn trọng tự nhiên, dựa vào sự phát triển khoa học công nghệ để lợi dụng tự nhiên
và bảo vệ tự nhiên
Để khai thác nhóm nhân tố tự nhiên đòi hỏi con người phải có điều tra, khảo sát, nghiên cứu để hiểu được tự nhiên, tôn trọng tự nhiên, chung sống, lợi dụng tự nhiên hoặc phòng, tránh tự nhiên trong việc xây dựng và phát triển
cơ cấu kinh tế cũng như nhiệm vụ kinh tế xã hội khác
* Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội bên trong đất nước
- Các yếu tố thị trường và nhu cầu nội địa,
Trong kinh tế hàng hóa thì thị trường và nhu cầu xã hội là người đặt hàng và định giá cho tất cả các lĩnh vực, ngành nghề cả về quy mô, cơ cấu sản lượng, chất lượng, giá cả, thời gian và không gian đối với tất cả các hàng hóa
Nhu cầu với tư cách là “ động cơ tư tưởng, động cơ thúc đẩy bên trong của sản xuất” Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu mang tính chủ quan, nhưng khi phản ánh thông qua thị trường, nó trở thành khách quan đối với nền sản xuất
Vì vậy nhu cầu và thị trường có tác động quyết định đến cơ cấu kinh tế
Trang 26- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Thực chất cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phân công lao động xã hội Quá trình đó chịu tác động trực tiếp của lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trực tiếp là phát triển khoa học, công nghệ sẽ làm tăng năng xuất lao động xã hội, quy mô, cơ cấu và chất lượng sản phẩm, nhờ đó làm cơ cấu biến đổi
- Quan điểm, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung trong từng giai đoạn
Cơ cấu kinh tế phản ánh tóm tắt, cô đọng chiến lược phát triển kinh tế
Cơ cấu kinh tế có tính chất khách quan, lịch sử cụ thể, song quan điểm, mục tiêu chiến lược, kế hoạch, dự án…là sản phẩm chủ quan do nhà nước hoạch định lại có tác động mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế Trong cơ chế hành chính bao cấp, Nhà nước xác định những cân đối, tỷ lệ, cơ cấu ngành nghề, vùng, nhưng trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước chủ yếu tác động gián tiếp, thông qua định hướng và điều tiết, bằng chính sách và công cụ vĩ mô và cả bằng thực lực kinh tế của mình để tạo môi trường hình thành cơ cấu kinh tế theo quan điểm mục tiêu chiến lược đã định
- Các chính sách và cơ chế quản lý
Chính sách kinh tế tác động khác nhau đối với các nhóm lợi ích, bởi vậy cần phải kết hợp hài hòa các lợi ích để tạo ra được tổng hợp lực tối ưu cho phát triển kinh tế - xã hội
Một chính sách khuyến khích, hạn chế hoặc ngăn cấm đối với phát triển một lĩnh vực kinh doanh nào đó, đều có tác động đến cơ cấu kinh tế Bằng hệ thống pháp luật, chính sách thuế suất, lãi suất, đầu tư…để định hướng cho chủ thể kinh doanh Nếu chính sách và cơ chế không hợp lý, kìm hãm và phá hủy nền kinh tế
Trang 27* Các nhân tố bên ngoài
- Tình hình và xu thế phát triền thị trường bên ngoài hiện nay có tác động rất mạnh mẽ đối với cơ cấu kinh tế quốc dân nhất là các nước chậm phát triển và đang phát triển Trong thời đại ngày nay thì xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới như một xu thế tất yếu, nhưng thường bị đan xen, ẩn chứa bởi các quan hệ chính trị xã hội khác Bởi vậy chính sách cơ cấu kinh tế cũng trở nên nhạy cảm, có thể đưa đến sự tăng trưởng nhanh chóng nhưng cũng có thể làm cho nền kinh tế lệ thuộc bên ngoài, phá hỏng nền kinh tế, chính trị xã hội trong đất nước
- Tình hình và xu thế chính trị xã hội trên thế giới và khu vực trong tình trạng căng thẳng đối đầu hay bình thường, ổn định, hợp tác và bình đẳng đều tác động đến cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia
- Mỗi tương quan về kinh tế chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia đối với khu vực và thế giới cũng tác động mạnh mẽ đến cơ cấu kinh tế Xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, việc tham gia vào phân công lao động quốc tế là một đòi hỏi tất yếu Song sao cho đạt được bình đẳng và cùng có lợi, mối quốc gia cần phải xác định cho được một cơ cấu kinh tế hợp lý, phát huy được lợi thế so sánh
Từ những nhân tố tác động trên, Việt Nam khi gia nhập WTO đã gặp nhiều những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, nếu đã vượt qua được, đa số những mặt hàng nông sản có thể canh tranh được với thị trường trong nước và quốc tế Tuy nhiên với quan điểm, mục tiêu chiến lược hướng về xuất khẩu, Việt Nam cũng phát huy những những lợi thế sẵn có của một số hàng nông sản như: Gạo, chè, hồ tiêu…kim ngạch xuất khẩu tăng lên
và nông sản đã được xuất khẩu đến trên 80 nước trên thế giới, hầu hết là các nước thành viên Đây là một nỗ lực rất lớn và quyết tâm cao của nước ta bời
lẽ, khi gia nhập WTO, phải cam kết điều chỉnh các chính sách phù hợp với quy định của tổ chức, cam kết mở rộng thị trường, mở rộng quyền kinh
Trang 28doanh, quyền phân phối cho các doanh nghiệp trong và người nước, giảm thuế nông sản Lúc này sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp còn quá yếu do: nền nông nghiệp còn lạc hậu, quy mô sản xuất manh mún, không tập trung, các doanh nghiệp hạn hẹp về tài chính Đến khi gia nhập WTO thì Việt Nam không còn bị phân biệt nhưng vẫn còn một rào cản như: về kỹ thuật và
tế công nghiệp trên 41% và cơ cấu dịch vụ trên 59% Với mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho thấy Hàn Quốc không chú trọng đến phát triển nông nghiệp - công nghiệp nông thôn, lực lượng lao động nông thôn quá tải, gây nên bức xúc xã hội là công ăn việc làm và đời sống số đông dân cư Tình trạng di dân vào thành phố lớn buộc các nhà chiến lược kinh tế - xã hội Hàn Quốc phải điều chỉnh, bổ sung chiến lược kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế nông thôn như: Phát triển ngành nghề của các hộ nông dân chế biến nông sản và sản xuất hàng tiêu dùng với nguyên liệu của địa phương; phát triển ngành nghề thủ công truyền thống của các hộ nông dân với công nghệ cổ truyền; phát triển kinh tế cộng đồng và kinh tế - xã hội nông thôn; chương trình hóa sản xuất nông nghiệp, chuyển giao công nghệ, xây dựng cơ
sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế, chính sách Đặc biệt là
hệ thống HTX do liên minh các HTX điều hành, tập trung vào dịch vụ phục
vụ ngành nghề sản xuất là chính Vì thế việc quan tâm nhiều hơn đến nông nghiệp nông thôn, quan tâm đến chiều sâu, đã đưa kinh tế tăng trưởng ổn định
Trang 29b Đài Loan
Đài Loan vươn lên với nhiều nỗ lực, trong ba thập kỷ đã trở thành một nước công nghiệp mới ở Châu Á Cơ cấu kinh tế của Đài Loan chuyển dịch theo phương châm nhanh và vững chắc
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đầu tiên cho nông nghiệp hiện đại hóa, thâm canh hóa, lấy sự ổn định và phát triển nông nghiệp
để nuôi dưỡng công nghiệp trong những năm đầu tiên Suốt những năm
1950-1960, Chính phủ Đài Loan luôn quan tâm đến mối quan hệ công nghiệp với nông nghiệp trong chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với Đài Loan đã tạo sự phát triển kinh tế, bình quân GDP của Đài Loan năm 2009 đạt 19.610 USD/người/năm (năm 1960 mới 372 USD/người/năm)
c Thái Lan
Cách đây 30 năm, cơ cấu kinh tế ở nước này lạc hậu gần giống như nước ta, từ đầu những năm 1970, Chính phủ Thái Lan đã xác định phát triển công nghiệp toàn diện, thâm canh và hiện đại để sản xuất ra nhiều nông sản hàng hóa Sau thời gian đều chỉnh cơ cấu kinh tế Thái Lan là công - nông nghiệp khá phát triển Cùng với 33 sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu, Thái Lan đã có tới 120 sản phẩm công nghiệp xuất khẩu Những mặt hàng xuất khẩu lớn của Thái Lan là quần áo, vải, máy tính…
Với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng trong một thập
kỷ 1980, Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8%/năm và được coi như hiện tượng thần kỳ Nếu tính trong gần 30 năm đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 6,2%/năm
d Ở Việt Nam
Quan điểm đường lối phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế qua các thời
kỳ Đại hội toàn quốc
Trang 30Trong giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung, hành chính, bao cấp Nền kinh tế nước ta đã thu được một số thành tựu về xây dựng cơ sở vạt chất, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Song nguồn lực chủ yếu vẫn dựa vào viện trợ, nền kinh tế kém hiệu quẩ Bởi vậy khi chiến tranh kết thúc, viện trợ bị cắt giảm, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp ngày càng được thể hiện rõ gay gắt
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta từng bước
và chuyển hẳn sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Đồng thời khẳng định nước ta có 6 thành phần kinh tế: kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự cung tự cấp Đại hội VI đề ra: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đồng thời phát triển công nghiệp nặng có trọng điểm, ưu tiên hướng vào phục vụ cải tạo nông nghiệp và các ngành kinh tế khác, nhanh chóng đưa nền kinh tế ra khỏi hủng hoảng, lạm phát Mặt khác khẳng định: kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công - nông - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng
Nghị quyết BCHTW lần thứ 7 khóa VII đã đưa ra nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau thúc đẩy nhau, Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng hợp lý và hiệu quả hơn đòi hỏi nền kinh tế phải được công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngược lại công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho nền kinh tế tăng trưởng và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đại hội VIII khẳng định mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, đồng thời cũng đòi hỏi cụ thể hóa đến địa phương và ngành
Trang 31Đại hội IX khẳng định đường lối kinh tế là đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xác định rõ 6 thành phần kinh tế Đại hội X tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế được nhấn mạnh cho từng ngành, từng lĩnh vực; cơ cấu công,nông nghiệp dịch vụ được triển khai cụ thể hóa đến các địa phương; từng bước đưa nền kinh tế Việt Nam chủ động, tích cực hội nhập vào thị trường thế giới và xác lập gồm 5 thành phần kinh tế, trong đó kinh tế cá thể - tiểu thủ và kinh tế tư hữu tư nhân gọi là kinh tế tư nhân
Đại hội XI khẳng định: Phát triển nền kinh tế thị trường đinh hướng
xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Có thể nói là lần đầu tiên trong văn kiện, Đảng ta đã phân biệt một cách rõ ràng, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp Đây
là phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Các thành phần kinh tế được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (tư nhân, cá thể, tiểu thủ), kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh tế có sở hữu hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh
tế tập thể làm nền tảng của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
* Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam
Sau khi đổi mới, giai đoạn 1986 - 2000, cơ cấu ngành hình thành chủ yếu trên cơ sở nguồn lực sẵn có được cởi trói và theo tín hiệu của thị trường còn thiếu cung là phổ biến, bởi vậy tạo ra những bước tăng trưởng khá đồng đều Từ năm 2001 - 2010 quan hệ cung - cầu bắt đầu điều tiết mạnh theo luật chơi của thị trường, có cả những thành công và thất bại trong kinh tế thị trường, chất lượng tăng trưởng bộc lộ rõ những ưu điểm và hạn chế
Trang 32Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu tương đối toàn diện; cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo đúng hướng Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới; tỷ trọng nông, lâm, nghiệp giảm nhanh từ 38,1% năm
1986 xuống 20,6 vào năm 2010
Cơ cấu nông nghiệp có nhiều bước tiến bộ, đi đúng hướng, đã khai thác được lợi thế cây, con và vùng lãnh thổ, góp phần thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu phát triển Giá trị sản xuất toàn ngành năm 2010 tăng 4,69% bình quân 5 năm (2006-2010) tăng 4,93%/năm Tốc độ tăng trưởng GDP năm
2010 đạt 2,38, bình quân 5 năm (2006-2010) tăng 3,36%/năm Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2010 đạt 19,15 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2009, tăng 22,7% so với năm 2008 (năm đạt cao nhất) Các mặt hàng nông sản có lợi thế xuất khẩu vẫn được giữ vững Trong bối cảnh hủng hoảng kinh tế thế giới (2008-2010), nông nghiệp vẫn tăng trưởng vững vàng, kim ngạch xuất khẩu tăng, trong khi nền kinh tế vẫn nhập siêu thì nông nghiệp những năm gần đây tỷ lệ xuất siêu đạt 30% Nông thôn được đổi mới, đời sống nông dân được cải thiện đáng kể, cơ sở vật chất hạ tầng nông thôn từng bước được nâng cấp và hiện đại hóa
Cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường
Tỷ trọng thủy sản đang có xu hướng tăng nhanh, giảm tỷ trọng trồng trọt trong giá trị sản lượng Trong năm 2000-2008, tỷ trọng thủy sản tăng từ 16% lên 23% trong khi trồng trọt giảm từ 65% xuống còn 57%
Đến năm 2008, diện tích lúa được tưới chủ động là 6,92 triệu ha, đạt 84,8%, rau mầu và cây công nghiệp đạt 41,3%; đảm bảo tiêu thoát nước cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp; ngăn mặn 0,87triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha; góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất, sản lượng và chất lượng các loại cây trồng
Trang 33Đến nay đã có trên 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60 % diện tích mía, bông, cây ăn quả…được dùng giống mới Khoảng gần 90 % giống cây trồng, vật nuôi được chọn tạo, đưa tỷ trọng áp dụng giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp lên 35% Áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, chương trình “3 giảm, 3 tăng”, canh tác bền vững, phòng trừ tổng hợp IPM, sản xuất theo quy trình GAP
Nhìn chung, trong thời gian qua, ngành ngành nông nghiệp ở nước ta
đã hướng tới phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và công nghệ cao, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh và thu nhập của người dân Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa đã có chuyển biến tích cực, tuy nhiên còn có nhiều yếu tố đang cản trở phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, cụ thể là:
Sản xuất nông nghiệp hiện đang vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, không theo vùng chủ yếu sản xuất để cung cấp cho hộ gia đình, sau đó mới mang bán; hầu như các địa phương vẫn trồng nhiều loại cây, nuôi đủ loại con
để phục vụ cho gia đình mình, chưa tính đến sản xuất chuyên canh một sản phẩm nào đó để mang bán và đổi lấy những sản phẩm thiết yếu khác Đây là một nguyên nhân đã làm cản trở, ảnh hướng đến sản xuất hàng hóa hiện nay
Công tác quy hoạch và kế hoạch chưa có chiều sâu, chủ yếu còn mang hình thức tư duy cũ, kinh nghiệm, truyền thống thiếu tính năng động, sáng tạo, sự kết hợp giữa khoa học và năng lực chủ quan của con người trong quá trình sản xuất Công tác quy hoạch có thể nói chậm được đổi mới, lạc hậu chưa đáp ứng được những thông tin mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay theo cơ chế thị trường
Cơ sở vật chất kỹ thuật chưa được quan tâm đầu tư đủ ở các vùng miền
có tiềm năng để khai thác mới tài nguyên Vì thế sản xuất nông nghiệp mốn đạt được nhiều hàng hóa cần phải tập trung đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật đủ vào vùng, miền để sản xuất được nhiều hàng hóa
Trang 34Giá cả hàng nông sản (lúa gạo, cà phê, mía ) còn thấp nhiều so với các mặt hàng công nghiệp nên chưa thực sự khuyến khích, động viên được người nông dân tham gia sản xuất các sản phẩm Mặt khác nếu khi các hộ sản xuất nhiều rối thì đôi khi còn bị các doanh nghiệp ép giá Sản xuất hàng hóa phải luôn gắn với doanh nghiệp và được doanh nghiệp thực sự coi trọng lợi ích của người sản xuất bằng cách một phần lợi nhuận phải đầu tư trở lại cho người sản xuất, một phần được đưa vào để nâng giá thu mua để kích thích sản xuất
và chứng minh sản xuất thực sự đem lại lợi ích cho người sản xuất
Sản xuất hàng hóa chưa gắn liền với công nghệ chế biến và thị trường đầu ra cho sản phẩm Đối với mỗi sản phẩm khi làm ra (trồng con gì, nuôi con
gì và thời thu hoạch) thì cần phải xác định, xây dựng dự án thu mua sản phẩm nông sản cho các hộ nông dân và xây dựng khu chế biến sản phẩm
Các sản phẩm phải luôn được coi trọng về chất lượng, tính cạnh tranh nhưng vấn đề này hiện nay chưa được coi trọng Để sản phẩm được tiêu thụ thì giá cả phải hợp lý nhưng phải đem lại lợi ích kinh tế cho cả người sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm thì vấn đề chất lượng sản phẩm phải luôn được coi trọng Thực tế người sản xuất chưa thực hiện đúng theo quy trình vẫn còn mang tính tùy tiện, không trung thực Từ những thực tiễn trên thì vấn đề người nông dân làm ra các sản phẩm năng xuất chưa cao, chất lượng sản phẩm sản xuất ra chưa được tốt, độ sạch, mẫu mã chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Như vậy nảy sinh mẫu thuẫn giữa người mua và người bán về hàng hóa, nẩy sinh phân loại giá cả cho sản phẩm, xảy ra tiêu cực trong sản xuất làm hạn chế khả năng phát triển
về lợi thế và tiềm năng vốn có của các hàng hóa nông sản
Do quy mô sản xuất nhỏ,manh mún, nông dân chưa tổ chức trong các hợp tác xã và hiệp hội ngành hàng,kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản như kho hàng, sân phơi, bến bãi…còn kém phát triển, công nghiệp chế biến nông sản còn nhỏ nên chất lượng nông sản còn thấp, nhất là rau quả, sản
Trang 35phẩm chăn nuôi Phần lớn nông sản chế biến xuất khẩu ở dạng sơ chế, mẫu
mã bao bì chưa phù hợp; chưa có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp Vệ sinh
an toàn thực phẩm trong nước và các hoạt động kiểm dịch và vệ sinh dịch
tễ đối với hàng hóa nhập khẩu, nhất là qua đường tiểu ngạch, chưa được kiểm tra, kiểm soát một cách hệ thống trong tình hình dịch bệnh dễ ra phức tạp đang là thách thức lớn trong quá trình hội nhập Vì vậy muốn phát triển tốt thì phải liên kết giữa doanh nghiệp, nhà khoa học, nông dân và nhà nước trên cơ sở ký kết hợp đồng trách nhiệm và hợp đồng kinh tế kỹ thuật đồng thời có trách nhiệm và quyền lợi
Trang 36Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu thứ cấp
- Kế thừa các tài liệu và kết quả nghiên cứu phát hành từ năm 2008 đến nay như: các số liệu, tài liệu có sẵn của Chi cục thống kê huyện, UBND huyện….liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Các khóa luận tốt nghiệp, trang thông tin điện tử…
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu sơ cấp
a Trao đổi, thảo luận, làm việc với đại diện một số phòng, ban có liên quan tại huyện Hiệp Hòa: Phòng Lao động -TB&XH huyện, Chi cục thống kê
huyện, Văn phòng HĐND-UBND huyện và đặc biệt là phòng Nông nghiệp & PTNT huyện
b Chọn điểm nghiên cứu khảo sát trực tiếp: Lựa chọn 3 xã trên địa bàn
huyện, trong đó chọn điểm đại diện cho 3 vùng là thượng huyện, trung huyện
và hạ huyện để đánh giá tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của từng vùng cũng như trên địa bàn huyện Tập trung nghiên cứu các xã Hoàng Lương (Vùng thượng huyện), Lương Phong (Vùng trung huyện) và Châu Minh (Vùng hạ huyện)
Những xã trên có thể đại diện cho từng vùng trong huyện Mẫu chọn ra nhìn chung đã bảo đảm tính đại diện cho toàn vùng, đại diện và suy rộng cho
cả huyện Hiệp Hoà
- Tiêu chí lựa chọn: chọn các xã có các trang trại thuỷ sản, trang trại chăn nuôi và trang trại tổng hợp……
c Phương pháp thu thập thông tin
- Trao đổi, thảo luận với đại diện UBND xã; phỏng vấn một số hộ nông dân đại diện cho các xã về các lĩnh vực như: 40 hộ chăn nuôi, 20 thủy sản và
40 hộ sản xuất tổng hợp
- Khảo sát hiện trường
Trang 37- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu để kết quả đánh giá, nhận xét được chính xác hơn, khách quan hơn Đó là cơ sở để luận văn đề xuất được những giải pháp cụ thể, khả thi và
có ý nghĩa thực tiễn với khu vực nghiên cứu
2.1.3 Tổng hợp, phân tích và viết báo cáo
a Phương pháp thống kê, phân tích kinh tế
- Phương pháp so sánh, được dùng để đánh giá tằng trưởng kinh tế chung, tăng trưởng kinh tế nông lâm nghiệp và các bộ phận của nó Phương pháp này dùng để xem xét mức độ đạt được giữa các vùng, các loại hộ
Trong phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế phương pháp so sánh được
sử dụng để so sánh cơ cấu qua các năm, cơ cấu kinh tế của các vùng
b Sử dụng bảng biểu, đồ thị
c Phương pháp khái quát hóa
2.2 Các chỉ tiêu phản ảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đƣợc
sử dụng trong nghiên cứu
- Giá trị sản xuất và tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành, các bộ phận trong kinh tế nông nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và của từng ngành trong kinh tế nông nghiệp
- Lao động và cơ cấu lao động
- Năng xuất và cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi
số chỉ tính thuần tuý cho một loại sản phẩm
Để tính tốc độ phát triển sản xuất, tăng tổng sản lượng và sản lượng hàng hoá nông sản, người ta dùng chỉ tiêu giá trị hàng hoá gia tăng
Trang 38Chương 3 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP HÒA 3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
Hiệp Hoà là huyện trung du của tỉnh Bắc Giang có 26 xã, thị trấn, có vị trí địa lý khá lý tưởng: nằm kề thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Thái Nguyên - các khu kinh tế trọng điểm của miền Bắc
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
a Vị trí địa lý
Hiệp Hoà, là huyện trung du nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giang trên trục Quốc lộ 37 (từ quốc lộ 1A đi tỉnh Thái Nguyên), cách thành phố Bắc Giang 30 km, cách thành phố Hà Nội 60 km Nằm trong tọa độ địa lý: Từ 1050 52' 40" đến 1060 2'20" độ kinh đông, từ 210
13' 20" đến 210 26' 10" vĩ độ bắc
Phía Bắc giáp huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
Phía Đông giáp huyện Tân Yên và huyện Việt Yên - tỉnh Bắc GiangPhía Nam giáp huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh
Phía Tây giáp huyện Sóc Sơn - Hà Nội và huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên
Vị trí địa lý huyện Hiệp Hoà khá thuận lợi so với các huyện khác trong tỉnh Bắc Giang, có mạng lưới giao thông hợp lý (1 tuyến đường quốc lộ, có cầu Vát bắc qua sông cầu về thành phố Hà Nội lên thành phố Thái Nguyên và cầu Đông Xuyên qua sông cầu về huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, 3 tuyến đường tỉnh lộ và có sông Cầu bao quanh phía Tây - Nam) tạo cho huyện có nhiều lợi thế để giao lưu hàng hóa, kinh tế, văn hoá - xã hội với các tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt với thủ đô Hà Nội và thành phố Bắc Ninh, thành phố Thái Nguyên
Trung tâm huyện Hiệp Hoà là thị trấn Thắng, đây là thị trấn có từ lâu đời và đã được quy hoạch lên đô thị loại IV
Trang 39Với vị trí địa lý, mạng lưới giao thông khá thuận lợi Đặc biệt từ khi khai thông cầu Vát sang khu công nghiệp Thăng Long - Nội Bài, nâng cấp Quốc lộ 37 đi thành phố Thái Nguyên, huyện Hiệp Hoà lại càng có thêm vị thế để phát triển công nghiệp - TTCN và ngành nghề nông thôn, đồng thời tạo
đà cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, mạnh và bền vững
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
b Đất đai, khí hậu, thuỷ văn
* Khí hậu - thủy văn
Khí hậu: Huyện Hiệp Hoà ôn hoà, chịu ảnh hưởng của gió mùa Nhiệt
độ trung bình năm 23,4 độ C, tổng lượng mưa trung bình đạt 1.568,3mm và tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hạ (tháng 6 - tháng 9) Mùa nóng, hướng gió chủ yếu là hướng Đông - Nam với tốc độ gió trung bình là 3-5m/s Mùa
Trang 40lạnh, hướng gió thịnh hành là Bắc và Đông Bắc Khí hậu ở đây rất thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển
Thủy văn: Lãnh thổ huyện nằm trong lưu vực hệ thống sông Cầu và chịu sự chi phối của chế độ thuỷ văn của sông này Nhìn chung, hệ thống sông Cầu có vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và hoạt động dân sinh của cả một khu vực rộng bao gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang trong đó huyện Hiệp Hoà có đường giáp sông Cầu 39,6
km Tuy vậy, trong những năm gần đây môi trường sông Cầu đang có xu hướng xấu đi nhanh chóng: Nguồn nước sông bị ô nhiễm nặng do chất thải công nghiệp và khai thác quá mức, chế độ thuỷ văn thất thường do nạn phá rừng đầu nguồn, xói lở bởi sông và mất đất canh tác Trên địa bàn Hiệp Hoà
về mùa mưa nước sông Cầu thường dâng cao gây ngập úng các vùng đất ngoài đê, gây úng ngập cục bộ Mùa khô mực nước sông Cầu cạn kiện không
đủ nước tưới cho đồng ruộng Cải thiện môi trường sông Cầu đang trở thành chương trình nghiên cứu Quốc gia, sẽ đóng góp đáng kể cho sự phát triển bền vững của huyện Hiệp Hoà
* Đất đai
Toàn huyện có 7 loại thổ nhưỡng, trong đó đa số là các loại đất bạc mầu, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất phù sa không được bồi…
Bảng 3.1 Phân loại thổ nhƣỡng của huyện Hiệp Hoà