Khi nhà nước có chính sách mở của hàng ngoại tràn vào, một số DNNN đã thích nghi với cơ chế thị trường thì hoạt động ngày càng có hiệu quả, nhưng đa số DNNN hoạt động không có hiệu quả,
Trang 1PHAN TH NH HI U
TP H Chí Minh – N m 2001
Trang 2CBCNV: Cán bộ, công nhân viên
CPH: Cổ phần hoá
CTCP: Công ty cổ phần
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
HĐQT: Hội đồng quản trị
ĐHCĐ: Đại hội cổ đông
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
OTC (Over The Counter Market): Thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung hay còn gọi là thị trường không qua quầy
SXKD: Sản xuất, kinh doanh
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
DN: Doanh nghiệp
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ DNNN được cổ phần hoá đến năm 1999
Bảng 2.2 Số liệu thống kê (%) các doanh nghiệp CPH theo cấp quản lý
Bảng 2.3 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết ngày 28/7/2000 ……… 97 Bảng 2.4 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết ngày 31/7/2000 ………98
Bảng 2.5 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết ngày 6/8/2000 ………98
Bảng 2.6 Bảng yết giá cổ phiếu ở TTGDCK Tp HCM ……… 99
Bảng 2.7 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết trong ba phiên giao dịch đầu tiên ……….106
Bảng 2.8 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết các ngày tháng 8/2000 ……107 Bảng 2.9 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết đầu tháng 9/2000 ……108
Bảng 2.10 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết đầu tháng 10/2000 ….111 Bảng 2.11 Bảng báo giá của cổ phiếu niêm yết trong tháng 10/2000 …112
Bảng 2.12 Bảng thống kê số lượng cổ phiếu và giá trị cổ phiếu giao dịch qua
100 phiên giao dịch ………113
Bảng 3.1 Giá một số cổ phiếu trên thị trường không chính thức ………167
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức thị trường chứng khoán và định chế tài chính liên quan ……… 92
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ giao dịch chứng khoán của Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ chí Minh ……… 94
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 2.1 Kết quả cổ phần hoá DNNN từ năm 1992 – 2000 ……… 81
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Từ năm 1985 trở về trước, nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, không thừa nhận sản xuất hàng hóa, không thừa nhận cơ chế thị trường
Từ năm 1986, chuyển sang cơ chếá thị trường, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở trong tình trạng khó khăn : sản phẩm ứ đọng, kinh doanh bị thua lỗ, hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau khá phổ biến… Qua hai đợt thanh toán nợ của các DNNN cho thấy : nợ nần dây dưa, chồng chéo, chiếm dụng vốn lẫn nhau của các DNNN trong cả nước lên đến 20.000 tỷ đồng Đã qua nhiều năm hoạt động, nhưng đến nay ban thanh toán nợ Trung ương vẫn chưa giải quyết xong tình hình công nợ của các DNNN Khi nhà nước có chính sách mở của hàng ngoại tràn vào, một số DNNN đã thích nghi với cơ chế thị trường thì hoạt động ngày càng có hiệu quả, nhưng đa số DNNN hoạt động không có hiệu quả, thậm chí lỗ ngày càng nhiều, trong khi các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, hàng hóa ngày càng nhiều, thị trường xã hội ngày càng phát triển Từ thực trạng đó đã buộc các DNNN phải nhìn lại mình và đã thấy rõ những mặt hạn chế để co các phương án nhằm hoàn thiện và thích nghi với nền kinh tế thị trường Lúc này yêu cầu mới đối với quản lý Nhà nước về kinh tế, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp chuyển sang kinh doanh thật sư đã được đặt ra
Để khai thác nguồn lực từ những người có vốn nhưng không có khả năng hoặc không có điều kiện đầu tư kinh doanh, ngoài việc tiết kiệm, cần chú trọng các hình thức khác, đặc biệt là hình thức phát hành cổ phiếu Trong đó, khâu đột
Trang 5phá là chuyển một số DNNN có khả năng thu hút vốn cổ phần, sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần (CTCP)
Như vậy, chủ trương về CPH ( cổ phần hoá) DNNN trở nên hết sức bức thiết trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp ở nước ta sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và hội nhập vào nền kinh tế thế giới CPH các DNNN là “trái tim”của nền kinh tế thị trường, tạo tiền đề cho sự phát triển TTCK ở Việt Nam
Đề tài: “CPH DNNN–MỘT TRONG NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM
THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN TTCK CỦA VIỆT NAM” được hình thành bắt
nguồn từ những suy nghĩ nêu trên
2 Mục đích của đề tài:
Thông qua việc đánh giá, phân tích các kết quả đạt được trong quá trình CPH DNNN và thực tiễn hoạt động của TTCK nước ta, luận án nhằm 2 mục đích:
+ Một là, đề xuất một số giải pháp tài chính có tính khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính trong quá trình CPH DNNN để đẩy nhanh tiến trình này
+ Hai là, đề xuất một số giải pháp tài chính cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính trong hoạt động của TTCK nước ta
Hai vấn đề này liên quan rất chặt chẽ với nhau như là “luật nhân quả ” vậy : Đẩy nhanh CPH DNNN sẽ tạo tiền đề phát triển TTCK và ngược lại TTCK phát triển tốt sẽ là điều kiện quan trọng để đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN
3 Phạm vi đề tài :
Phạm vi đề tài chỉ giới hạn trong việc đề xuất các giải pháp về mặt tài chính để thúc đẩy quá trình CPH DNNN nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển TTCK của Việt Nam
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu vận dụng xuyên suốt trong đề tài này là phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với việc phân tích và tổng hợp các tài liệu từ thực tiễn lịch sử về quản lý DNNN từ đó nâng lên thành lý để chứng minh xu hướng - quy luật phát triển tất yếu của việc CPH các DNNN và sự phát triển TCCK của Việt Nam
5 Nội dung nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số nội dung sau đây:
+ Những lý luận cơ bản về CTCP và TTCK
+ Thực trạng quá trình CPH các DNNN và bước đầu phát triển TTCK tại Việt Nam
+ Đề xuất một số giải pháp tài chính khi tiến hành CPH các DNNN nhằm phát triển TTCK tại VN
Toàn bộ nội dung đề tài được trình bày theo kết cấu như sau:
Trang 7CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN :
1.1.1 Công ty cổ phần :
CTCP là một trong những loại hình kinh doanh phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường CTCP hình thành và phát triển trong CNTB, ở giai đoạn kinh tế hàng hóa phát triển, quá trình xã hội hóa tư bản, tích tụ và tập trung tư bản ở mức độ cao
CTCP là doanh nghiệp trong đó các cổ đông góp vốn kinh doanh và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn của mình, được phân chia lợi nhuận và cùng chịu những rủi ro trong tương lai
Để thấy rõ hơn những đặc điểm của CTCP, chúng ta xem xét sự khác nhau và giống nhau giữa CTCP và công ty trách nhiệm hữu hạn :
Cả hai công ty giống nhau về trách nhiện hữu hạn đối với các khỏan nợ và cam kết về số vốn đến mức góp của chủ công ty, nhưng khác nhau nhiều điểm, cụ thể như sau :
¬ CTCP
Có tính đối vốn: Nghĩa là căn cứ vào đồng vốn để làm chuẩn mực cư xử trong mối quan hệ giữa các thành viên (cổ đông )
Trang 8Quan hệ sản xuất trong công ty: Được thể hiện trong các quan hệ sở hữu về quản lý được quyền biểu quyết, quan hệ phân phối thông qua việc phân chia lợi nhuận
CTCP dễ tăng vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu, dễ phát triển, mở rộng quy mô lớn
Việc chuyển nhượng vốn ở CTCP dễ dàng thông qua việc chuyển nhượng các cổ phiếu, trái phiếu, Do đó dễ tạo điều kiện để tham gia vào TTCK
Đời sống công ty gần như vô hạn, không bị biến động theo số lượng cổ đông, không phụ thuộc lớn vào vai trò cá nhân
Quyền sở hữu được tách rời quyền quản trị kinh doanh
Công tác quản trị doanh nghiệp có sự chuyên môn hóa cao
¬ Công ty trách nhiệm hữu hạn
Có tính đối vốn và đối nhân : Nghĩa là ngoài việc căn cứ vào số vốn góp còn căn cứ vào nhân thân người góp vốn để xử lý các mối quan hệ
Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phiếu và khó chuyển nhượng vốn vì mọi sự thay đổi phải được sự chấp thuận của các thành viên còn lại, rất khó mua bán
Đời sống của công ty phụ thuộc vào sự biến động và vai trò của các thành viên trong công ty Do vậy dễ bị giải thể khi có sự bất đồng ý kiến giữa các thành viên trong Hội đồng quản trị
Công tác quản trị thường là yếu kém hơn CTCP, do không có sự chuyên môn hóa
Trang 91.1.2 Các loại công ty cổ phần
1.1.2.1 Công ty cổ phần nội bộ (Private Co)
Bao gồm các sáng lập viên, công nhân viên và một số người thân quen mua cổ phiếu
1.1.2.2 Công ty cổ phần đại chúng (Public Co)
Phát hành rộng rãi cổ phiếu ra công chúng, mỗi năm phải công bố bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính, và phải có sự xác nhận của công ty kiểm toán Theo tài liệu tham khảo, ở các nước như Mỹ, Singapore thuế suất thuế thu nhập được nhà nước ưu đãi hơn so với CTCP nội bộ
1.1.2.3 Công ty cổ phần đại chúng niêm yết (Hay còn gọi là công ty công cộng đã đăng ký)- Listed Co:
- Ba tháng phải kiểm toán một lần
- Thuế suất thuế thu nhập ưu đãi hơn so với CTCP đại chúng
- Được đăng ký tại Sở giao dịch chứng khóan
Tiêu chuẩn để được niêm yết đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán (tiêu chuẩn Listing) mỗi nước sẽ có những quy định khác nhau, tuy nhiên có những điểm chung như :
+ Công ty phải có quy mô lớn: Được đánh giá qua hai chỉ tiêu là vốn điều lệ và số cổ đông
+ Phải được công chúng hóa rộng rãi về tình hình SXKD và tài chính của công ty
+ Công ty phải làm ăn có hiệu quả: Tỷ suất lợi nhuận phải cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành, có lợi nhuận liên tục trong những năm gần nhất
Vốn cổ phần của công ty được xác định trên giá trị các cổ phiếu đã phát hành
Trang 10Mỗi một công ty chỉ được phép phát hành một số lượng cổ phiếu nhất định Lúc đầu các công ty thường phát hành hết cổ phiếu được phát hành, nhưng sau thời gian hoạt động SXKD có hiệu quả, các công ty thường chuộc lại một số cổ phiếu từ tay các cổ đông để dự trữ nhằm vào các mục đích sử dụng như: Tăng vốn cổ phần, dùng để trả lợi tức cổ phần cho các cổ đông Vì vậy trong tổng số các cổ phiếu thì ngoài phần công ty phát hành, phần còn lại do công ty nắm giữ
1.2 CỔ PHẦN HÓA DNNN:
1.2.1 Khái niệm :
Những nước có nền kinh tế thị trường đã và đang phát triển thường tiến hành các giải pháp chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành những doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân hoặc thành những công ty thuộc sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước với tư nhân hoặc giữa tư nhân với nhau ở nhiều mức độ khác nhau Quá trình này được nhiều nước gọi là tư nhân hoá
Những năm 70, chính phủ Anh trong quá trình xây dựng mối tương quan giữa khu vực kinh tế Nhà nước và tư nhân, đã khẳng định tư nhân hoá là con đường chính thống có tác dụng mạnh mẽ trong việc xóa bỏ gánh nặng của ngân sách từ khu vực kinh tế nhà nước
Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới khi thực hiện chủ trương tư nhân hoá hoặc cổ phần hóa đều nhận được sự hỗ trợ về mặt vật chất của các tổ chức có uy tín trong thế giới tư bản như : Ngân hàng thế giới ( WB), quỹ tiền tệ thế
giới (IMF )
Trong quá trình chuyển đổi sở hưũ nhà nước đối với các doanh nghiệp sang các hình thức sở hữu khác (tập thể, tư nhân, …) từ 1970 đến nay thì đa số các nước (kể cả các nước XHCN cũ như Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari,
Bungari…) đều gọi là “ Tư nhân hoá ” (Privatization) Tuy vậy, cách goị này
cũng dựa trên những cơ sở không giống nhau :
Trang 11¬ Đa số các nước (đặc biệt là các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, …) cho rằng cơ sở để phát triển nền kinh tế thị trường là kinh tế tư nhân (sở hữu tư nhân) Đến nay đã có nhiều cuộc hội thảo quốc tế và họ xác định hiệu quả kinh tế từ cao xuống thấp theo trật tự như sau : kinh tế tư nhân, kinh
tế tập thể, kinh tế quốc doanh Vì vậy, kinh tế tư nhân phải đóng vai trò “chủ đạo” trong nền kinh tế thị trường Và khi cơ cấu chuyển đổi các doanh nghiệp quốc doanh sang các hình thức sở hữu khác người ta gọi là quá trình tư nhân
hoá Rõ ràng, tên gọi đó là có định hướng mục tiêu rất rõ rệt : tư nhân hoá nền kinh tế
¬ Một số nước khác thì không quan niệm như vậy, đơn giản là : họ chỉ chia nền kinh tế ra 2 khu vực : tư nhân và Nhà nước Nếu một doanh nghiệp Nhà nước mà phải chuyển đổi hình thức sở hữu thì chỉ có chuyển qua doanh nghiệp tư nhân, không có hình thức sở hữu thứ ba ( do vậy cũng không cần bàn cãi trong nội dung này)
Hiện nay, Việt Nam không “ quốc doanh hóa ” nền kinh tế như Liên xô
và VN đã từng làm Bởi vì, nền kinh tế đơn nhất quốc doanh là không phù hợp với giai đoạn lịch sử hiện đại và thực tế nó đã không thể tồn tại và phát triển
được Nhưng chúng ta cũng không chủ trương “ tư nhân hoá ” nền kinh tế Vì như thế, theo “ lịch sử tiến hoá ” của doanh nghiệp không những là một bước thụt lùi
mà còn chuyển từ trạng thái cực đoạn này sang trạng thái cực đoan khác còn tệ hại hơn Độc quyền quốc doanh thì kinh tế Liên Xô, Việt Nam đều không phát triển được, nhưng độc quyền tư nhân thì cả nhân loại cũng đã không chiụ nổi và đã đứng lên làm cách mạng dưới mọi hình thức để xóa bỏ nó đi Vậy thì cớ gì mà ta quay lại tôn vinh độc quyền tư nhân
Từ năm 1986, chúng ta đã xác định rằng trong nền kinh tế thị trường hiện nay mỗi thành viên làm kinh tế (mỗi hình thức sở hữu) đều có vai trò quan trọng
Trang 12riêng, có những mặt mạnh và mặt yếu, nếu duy trì đồng thời các thành phần kinh tế trên cơ sở chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh thì nhất định nền kinh tế quốc dân sẽ phát triển tốt Kết quả của mười lăm năm đổi mới đã chứng minh là chúng ta đúng và đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận, ca ngợi
Để phát triển nền kinh tế hỗn hợp, chúng ta phải tạo ra các tế bào, tức là các doanh nghiệp hỗn hợp : đó chính là các công ty cổ phần Và quá trình chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần (CTCP) không thể gọi cái tên nào khác
là “cổ phần hoaÙ DNNN “ (Equitization) Trong CTCP mà chúng ta hướng tới
không phải chỉ có tư nhân và tập thể mà có cả nhà nước, tư bản nước ngoài, … do vậy tuyệt nhiên không thể gọi là tư nhân hoá được
Do đó, cổ phần hoá chính là một thuật ngữ nói lên quá trình chuyển đổi quyền sở hữu một công ty từ sở hữu một người sang sở hữu nhiều người bằng cách những người này bỏ tiền ra mua cổ phần của công ty cổ phần hoá và trở thành cổ đông của công ty Tuy nhiên, trong thực tế khi nói đến cổ phần hoá người ta thường chỉ nghĩ đến quá trình chuyển đổi quyền hữu của doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, ít ai nói đến việc chuyển đổi một doanh nghiệp
tư nhân thành công ty cổ phần
Thực chất, cổ phần hoá là một quá trình đa dạng hoá sở hữu một số doanh nghiệp nhà nước nhằm làm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và làm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở những doanh nghiệp này Quá trình này được đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước sao cho vừa có thể thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân chúng, vừa thu hút trình độ quản lý, kỹ thuật sản xuất hiện đại của các nhà đầu tư
Cổ phần hoá đã trở thành một hiện tượng phổ biến, một giải pháp tích cực, nhằm giảm bớt gánh nặng của ngân sách do phải thường xuyên bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nước đồng thời cũng tạo ra mối tương quan giữa khu vực kinh
Trang 13tế nhà nước và kinh tế tư nhân để thúc đẩy nền kinh tế đất nước ổn định và phát triển
1.2.2 Ý nghĩa của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước : 1.2.2.1 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước- Một biện pháp chuyển đổi quyền sở hữu hiệu quả nhất :
Từ những thành quả đạt được của quá trình chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới đã chứng minh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nươc là một biện pháp tích cực nhằm :
̇ Huy động rộng rãi vốn của toàn xã hội bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và nước ngoài để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
̇ Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những ngươì đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước
Ngày nay, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã trở thành một xu hướng chung phổ biến trên thế giới, nhất là tại các nước có nền kinh tế thị trường
1.2.2.2 Cổ phần hoá DNNN - một giải pháp quan trọng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển thành công ty cổ phần sẽ có nhiều sở hữu bao gồm nhà nước, cán bộ công nhân viên đang làm việc trong công ty, các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội khác Từ đó, các thành phần này có quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích thực sự gắn với kết quả hoạt động của công ty
Trang 14Vì vậy, để đảm bảo cho các quyền lợi này, các cổ đông tất yếu sẽ đòi hỏi phải có một cơ cấu tổ chức cũng như các quy định về mặt pháp luật, hệ thống các điều lệ của công ty đối với các cổ đông và công ty phải hoạt động theo đúng điều lệ và đúng pháp luật Những đòi hỏi này của các cổ đông tất yếu sẽ dẫn đến sự khác nhau về tư cách của giám đốc và bộ máy điều hành của công ty so với doanh nghiệp nhà nước Giám đốc có thể là người thay mặt nhà nước tham gia vào việc quản lý công ty, nhưng vơí tư cách là một cổ đông được Hội đồng quản trị và được các cổ đông tín nhiệm tất yếu sẽ khác với vai trò một giám đốc như trước đây được nhà nước giao quyền sử dụng và làm việc với tư cách là viên chức nhà nước Đối với người lao động, cán bộ viên chức đang làm việc trong công ty do đang nắm giữ, sở hữu các cổ phần của công ty họ đã trở thành những người chủ sở hữu thực sự của công ty, có quyền lợi, trách niệm, lợi ích gắn liền với công ty đó sẽ tạo điều kiện gắn bó thật sự giữa họ và công ty
Có thể nói, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ đem đến một sự thay đổi đáng kể về mặt cơ cấu tổ chức công ty, nâng cao được tinh thần trách nhiệm,
ý thức kỷ luật của người lao động trong công ty
1.2.3 Nội dung cơ bản của Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước :
Chính phủ VIỆT NAM đã có ý định thực hiện thí điểm cổ phần hoá từ
1987 (QĐ 315/HĐBT), nhưng ý tưởng ấy đã không thành vì nhiều lý do :
̇ Phần lớn cán bộ và nhân dân chưa hiểu biết nhiều về kinh tế thị trường, về công ty cổ phần, … nên họ rất lo lắng, hoang mang, không dám làm và cũng không dám bày tỏ quan điểm của mình
̇ Nền kinh tế đang rất khó khăn, kém phát triển, kinh tế quốc doanh chưa đủ sức để chi phối nền kinh tế, nên một số lãnh đạo (từ Trung ương đến địa phương) sợ mất CNXH Thái độ do dự, chờ xem, … đã xuất hiện
Trang 15̇ Các cơ quan và các cán bộ trực tiếp chỉ đạo công tác cổ phần hoá chưa đủ thời gian để chuẩn bị nên còn rất lúng túng
Đến 1990 vấn đề này được “hâm nóng” trong NĐ 43/CP Nhưng phải đến
1992, cổ phần hoá DNNN mới thực sự đi vào cuộc sống, bằng việc thí điểm cổ phần hoá một số DNNN theo QĐ202/CT (8/6/1992)
Vì chưa có tiền lệ, chưa có thực tiễn nên quá trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn và phải trải qua quá trình mày mò, thí nghiệm theo một chu trình như sau :
Từ chủ trương (chính sách, cơ chế, kế hoạch ) đi đến thực thi Sau đó đúc kết, rút kinh nghiệm, sửa đổi, bổ sung Và cuối cùng lại triển khai để tiếp tục thực thi …
Sau đây, chúng tôi xin minh họa vắn tắt chu trình này thông qua một số vấn đề quan trọng nhất của nội dung chương trình cổ phần hoá của Việt Nam
̇ Một là : Mục tiêu cổ phần hoá DNNN đã được điều chỉnh
Lúc đầu Chính phủ xác định 3 mục tiêu là :
- Chuyển đổi sở hữu, thay đổi cơ cấu nền kinh tế, …
- Huy động vốn cho SXKD
- Nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
Sau 10 năm đổi mới, đặc biệt là kết quả đổi mới của 5 năm 1991 – 1995 đã làm cho nền kinh tế quốc doanh Việt Nam có những thành tựu rất đáng khích lệ, đã cho phép ta bỏ mục tiêu số 1 (vì không còn là vấn đề đặt ra nữa) mà chỉ duy trì 2 mục tiêu sau (cho đến nay 2001) Và mặc dù những vấn đề như : làm chủ thực sự của người lao động, thực hiện công bằng và dân chủ trong CTCP vẫn
đang và sẽ được coi trọng vẫn không coi là “mục tiêu” như một số người : đề
nghị lúc đầu
̇ Hai là : Đối tượng cổ phần hoá cũng dã được điều chỉnh
Trang 16Về quy mô : Lúc đầu chỉ cho phép các DNNN có quy mô vưà và nhỏ được
cổ phần hoá Đến nay, Chính phủ đã không căn cứ vào tiêu thức quy mô mà chủ
yếu căn cứ vào “tiêu thức tính chất” để xác định các DNNN phải cổ phần hoá
Theo căn cứ đó thì các DNNN có quy mô nhỏ, vừa và lớn đều có thể cổ phần hoá, miễn là các doanh nghiệp đó không cần duy trì 100% vốn thuộc sở hữu Nhà nước Vai trò Nhà nước rất khác nhau tùy theo tính chất quan trọng của doanh nghiệp đối với nền kinh tế quốc doanh (cổ đông chi phối, cổ đông quyết định, hay cổ đông thường)
Về hiệu quả : Lúc đầu chính phủ chỉ xác định các DNNN làm ăn có hiệu
quả (có lãi) mới cổ phần hoá Lý do cũng rất đơn giản : sợ rằng nếu cổ phần hoá các DNNN thua lỗ thì không ai mua cổ phiếu và như thế thì cũng có nghĩa là chủ trương cổ phần hoá DNNN sẽ thất bại Sau thời gian thí điểm (5 năm : 1992 – 1996), kết quả cổ phần hoá trong thực tiễn đã cho phép mở rộng diện cổ phần hoá : tất cả các doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp thua lỗ với 2 điều kiện : là các doanh nghiệp nhà nước không cần 100% vốn và có đề án phát triển được cổ đông chấp nhận (tức CB.CNV của doanh nghiệp chấp nhận) Mặt khác, trong khi lỗ, lãi chưa phản ánh thực chất kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp (do có yếu tố bao cấp của Nhà nước) thì việc chỉ cho phép các DNNN có lãi được cổ phần hoá là không công bằng và thiếu thực tế
̇ Ba là : hình thức cổ phần hoá đã được mở rộng Lúc đầu chỉ có 2 hình
thức cổ phần hoá, đó là :
- Bán một phần giá trị doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế khác
- Bán một bộ phận (doanh nghiệp thành viên, phân xưởng, bộ phận của doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế khác)
Trang 17Thực chất của 2 hình thức này chỉ là một : bán một phần doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế khác (theo 2 cách thức khác nhau) Thực tiễn cho thấy, chỉ có một cách cổ phần hoá nên rất đơn điệu, khó thực hiện, chậm trễ Từ
1998 (NĐ 28/CP, cổ phiếu đã mở ra 2 cách cổ phần hoá mới, rất quan trọng (có người cho là rất táo bạo) :
− Chỉ huy động thêm vốn không bán giá trị doanh nghiệp của nhà nước
− Bán toàn bộ doanh nghiệp (từ 1 tỷ đồng trở xuống)
̇ Bốn là : Đối tượng mua cổ phiếu cũng được mở rộng
Lúc đầu chúng ta chủ trương không bán cổ phiếu cho người nước ngoài vì những lý do rất dễ hiểu :
− Không thể lấy người nước ngoài làm thí điểm
− Khi ta chưa quản lý giỏi, chưa đủ sức chi phối hoạt động của người nước ngoài, thì chưa nên để họ tham gia là lẽ bình thường, mà bất cứ nước nào lúc đầu cũng làm như vậy
Bây giờ tình hình đã khác, nhà nước đã mở rộng diện bán cổ phiếu cho người nước ngoài (tối đa 30%) và cả người Việt Nam sống ở nước ngoài
̇ Năm là : Nội dung cổ phần hoá có nhiều bổ sung, sửa đổi, ví dụ :
− Giá trị doanh nghiệp được xác định đầy đủ hơn (đưa gía trị lợi thế trong giá trị vô hình vào GTDN)
− Chính sách đối với người lao động hợp lý hơn
− v….v…
̇ Sáu là : Mở rộng quyền hạn cho các đối tượng và doanh nghiệp :
Trước đây địa phương và doanh nghiệp gần như không có quyền gì ngoài việc trình lên Bộ Tài chính và Chính Phủ xem xét quyết định việc cổ phần hoá DNNN Nay thì Bộ Tài chính chỉ xét duyệt các doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở lên, còn là do địa phương (tỉnh) hoặc Bộ chủ quản xét duyệt và quyết
Trang 18định cổ phần hoá các DNNN thuộc quyền quản lý của mình Doanh nghiệp thì được chọn hình thức cổ phần hoá, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp thích hợp, cơ chế hỗ trợ cụ thể để cho người lao động, …
Mặc dù còn một số vấn đề chưa thật phù hợp cần phải được sửa đổi, bổ sung (mà chúng tôi sẽ kiến nghị ở chương III ), ý tưởng và những nội dung cơ bản về chủ trương cổ phần hoá DNNN đến nay là đúng đắn và tương đối phù hợp với điều kiện của Việt Nam
Chúng tôi xin mạnh dạn nêu ra những bài học chung trong giai đoạn đầu về cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam để làm cơ sở tham khảo, xem xét :
¬ Bài học thứ nhấtø :
Những nguyên tắc, nội dung cơ bản của cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam phải đưa ra trên 3 cơ sở :
̌ Những nguyên lý phổ biến về chuyển DNNN thành CTCP
̌ Những kinh nghiệm thành công và không thành công của các nước, đặc biệt là của các nước XHCN cũ
̌ Tổng kết, đánh giá đặc điểm tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Việït Nam để chọn ra những vấn đề cơ bản phù hợp với VN
¬ Bài học thứ hai :
Quyết tâm của Đảng, chính phủ và lãnh đạo địa phương, doanh nghiệp mang tính quyết định sau khi đã có nghị quyết và văn bản pháp lý (Nghị định, thông tư,
…) Đây là bài học mang tính nguyên tắc nhưng cũng rất thực tế ở Việt Nam
¬ Bài học thứ ba là :
Các doanh nghiệp, địa phương cần mạnh dạn làm, nhưng phải chịu khó tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và sửa đổi bổ sung để tiến lên Thực tiễn cho thấy rằng: nếu cầu toàn (chờ cho lý luận hoàn chỉnh), rụt rè và ỷ lại cấp trên thì tiến
Trang 19độ cổ phần hóa diễn ra rất chậm chạp, thậm chí không tiến hành được như nhiều Tỉnh ở Miền Trung
1.3 PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP
1.3.1 Sự cần thiết định giá doanh nghiệp
Định giá doanh nghiệp là quá trình xác định giá trị của một doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó để làm căn cứ khi doanh nghiệp có nhu cầu bán, mua, giải thể, sát nhập hoặc CPH …
Trong nền kinh tế thị trường việc định giá doanh nghiệp là hết sức cần thiết Tuy vậy, các nhà kinh tế đều thừa nhận việc định giá doanh nghiệp là vấn đề hết sức phức tạp Việc định giá doanh nghiệp là xác định giá cả cho từng loại hàng hóa là doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức, một tổng thể của nhiều yếu tố hợp thành Các yếu tố đều ảnh hưởng tới giá trị của doanh nghiệp, do vậy việc định giá doanh nghiệp rất khó khăn Đối với nước ta hiện nay, việc định giá doanh nghiệp càng là vấn đề khó khăn và phức tạp thể hiện chủ yếu là:
− Định giá doanh nghiệp còn là một công việc rất mới mẻ trong công tác quản lý kinh tế, chưa có sự thống nhất về quan niệm và chưa có hệ thống phương pháp luận cho việc định giá doanh nghiệp
− Những thông tin lịch sử về tài chính và các tài liệu kế toán của doanh nghiệp bị ảnh hưởng của môi trường kinh tế cũ (cơ chế bao cấp )nên làm cho việc sử dụng tài liệu cho việc định giá doanh nghiệp là rất khó khăn
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, người ta đưa ra rất nhiều phương pháp khác nhau về định giá doanh nghiệp
Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế nhất định Trong phần tiếp theo sẽ trình bầy một số quan niệm cần được xem xét trong việc định giá doanh nghiệp và phương pháp luận của một số phương pháp định giá doanh
Trang 20nghiệp chủ yếu mà nhiều nước thường dùng nhằm để xem xét vận dụng vào điều kiện ở nước ta
Giá thị trường của một doanh nghiệp là giá cả được hình thành trên thị trường ở một thời điểm cân bằng giữa cung và cầu Cũng giống như các loại hàng hóa khác, giá cả của doanh nghiệp cũng chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu.v.v
Giá cả của một doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào triển vọng kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Người đầu tư bỏ tiền ra mua doanh nghiệp là nhằm thu lợi nhuận Do vậy, đối với người đầu tư định giá doanh nghiệp là dựa vào triển vọng của doanh nghiệp
Các phương pháp định giá khác nhau sẽ dẫn đến kết quả không giống nhau Kết quả của các phương pháp định giá doanh nghiệp chỉ là những căn cứ, cơ sở để thoả thuận giữa bên bán và bên mua
1.3.2 Nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp:
a Giá trị thực tế của doanh nghiệp: là giá trị toàn bộ tài sản (Tài sản
hữu hình và tài sản vô hình ) của doanh nghiệp tại thời điểm CPH mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được Giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là giá trị thực tế của doanh nghiệp sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả
b Các yếu tố xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp :
+ Số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm CPH + Giá trị thực tế của tài sản tại doanh nghiệp xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm CPH
Trang 21c Lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về vị trí địa lý, uy tín mặt hàng
Lợi thế này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn kinh doanh bình quân các năm trước khi CPH
d Khi xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp không phải nhất thiết
thuê kiểm toán độc lập Những doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê thì cơ quan tài chính hoặc chủ quản quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét thuê tổ chức kiểm toán độc lập xác định Tiền thuê kiểm toán được tính vào chi phí CPH
1.3.3 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp :
Các phương pháp định giá doanh nghiệp phổ biến được sử dụng hiện nay
như:
+ Phương pháp giá trị tài sản thuần
+ Phương pháp hiện tại hóa các nguồn tài chính tương lai
+ Phương pháp hiện tại hóa dòng tiền thuần
+ Phương pháp PER
+ Phương pháp dựa vào dư liệu của TTCK
1.3.3.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần :
Phương pháp giá trị tài sản thuần định giá giá trị của doanh nghiệp trên giá trị thị trường của các loại tài sản trong doanh nghiệp
Trong thực tế, giá trị kế toán vốn cổ phần của một doanh nghiệp không phải là giá trị hợp lý của doanh nghiệp đó, mà giá trị hợp lý chính là giá trị thị trường Bởi vậy, thường có sự khác biệt giữa giá trị kế toán và giá thị trường Tuy nhiên, việc xác định giá trị thị trường của các loại tài sản là công việc phức tạp
Theo phương pháp này, giá trị thị trường của doanh nghiệp được tính toán dựa trên bảng cân đối tài sản và giá trị của vốn cổ phần được tính như sau :
Trang 22VE = VA – VD Với :
VE = Giá trị thị trường của vốn cổ phần
VA = Giá trị thị trường của toàn bộ tài sản
VD = Giá trị thị trường của các khoản nợ
¬ Một số nhược điểm của phương pháp :
− Phương pháp này có thể làm phát sinh một số chi phí do phải thuê chuyên gia định giá tài sản
− Không thể loại bỏ hoàn toàn tính chủ quan trong định giá Phương pháp này có thể áp dụng đối với đa số các loại doanh nghiệp, ngoại trừ các công ty cổ phần đã niêm yết
1.3.3.2 Phương pháp hiện tại hóa các nguồn tài chính tương lai:
Phương pháp hiện tại hóa các nguồn tài chính tương lai bao gồm: hiện tại hóa lợi nhuận, lợi tức cổ phần, các dòng thu nhập của doanh nghiệp trong tương lai
Cơ sở lý thuyết của phương pháp này xuất phát từ quan điểm : Giá trị
doanh nghiệp được đo bằng độ lớn cuả các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có
thể mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai Song, trên quan điểm về thời giá tiền tệ, về chi phí cơ hội, nghĩa là : Giá trị một đồng tiền ở các thời điểm khác nhau sẽ không giống nhau, vì thế, người ta thực hiện quy đổi các khoản thu nhập về cùng một thời điểm, đó là thời điểm hiện tại Theo đó, giá của 1 doanh nghiệp được xác định dựa trên công thức tổng quát :
F V
10
Trong đó :
Trang 23Vo : Giá trị doanh nghiệp
Ft : Thu nhập đem lại cho nhà đầu tư ở năm thứ t
i : lãi suất chiết khấu
n : Thời gian nhận được thu nhập
Có thể diễn đạt công thức trên như sau : Người mua sẵn sàng trả Vo để có doanh nghiệp, nếu như doanh nghiệp tạo ra được các khoản thu Ft trong n năm, hoặc tạo ra được một tỷ suất lợi nhuận tối thiểu là i
Xuất phát từ công thức tổng quát mà nhà đầu tư, có thể nhìn nhận được lợi ích mà doanh nghiệp mang lạicho mình
1.3.3.3 Phương pháp hiện tại hóa dòng tiền thuần( Net cash - flow) :
Nguyên tắc căn bản là lựa chọn dự án đầu tư dựa vào phương trình:
Trong đó:
PVdt : là vốn đầu tư dự kiến, có ý nghĩa như giá mua doanh nghiệp
CFj : là lưu lượng tiền tệ dự kiến doanh nghiệp sẽ mang lại cho nhà đầu
tư tại thời kỳ j
i : tỷ suất lãi mong đợi, mà việc hiện tại hóa các dòng tiền trong tương lai sẽ ngang với số vốn bỏ ra để mua doanh nghiệp
n : thời kỳ phải thu hồi vốn
Nhà đầu tư chấp nhận chi một khoản tiền PV đầu tư để mua một doanh nghiệp không chỉ với mong muốn sau n năm sẽ thu hồi vốn ban đầu với tỷ suất mong đợi là i mà còn mong muốn sau đó sẽ có lời
Các nhà đầu tư luôn cho rằng khi mua một doanh nghiệp không chỉ mua giá trị hiện tại của doanh nghiệp đó mà còn mua cả những giá trị mà doanh
∑
=
− =+
− n
j
j j
dt CF i
PV
1
0)
1(
Trang 24nghiệp đó sẽ có được trong tương lai Hay nói cách khác đó chính là triển vọng phát triển và khả năng sinh lợi về sau
Qua một công thức cổ điển của việc hiện tại hóa, giá trị tìm kiếm được của doanh nghiệp làm nổi bật công thức:
Phương pháp này cho phép ta khởi đầu việc lý luận trong phối hợp các giá trị tài sản và giá trị năng suất vì nó chú ý tới phần của việc dành tự tài trợ cho việc tái tạo tài sản
1.3.3.4 Phương pháp tỷ số giá bán / thu nhập ( PER) :
Theo phương pháp PER, giá trị doanh nghiệp bằng lợi nhuận thuần trong kỳ nhân với giá trị của tỷ số PER (The Price – Earning Ratio)
- Tỷ số PER được tính như sau :
Pr PER =
EPS Với :
- Pr : Giá bán cổ phần trên thị trường
- EPS : Thu nhập của mỗi cổ phần dự kiến
Trang 25Thu nhập trên mỗi cổ phần được tính như sau :
Pnet EPS =
N Với :
- Pnet : Lợi nhuận thuần
- N : Số lượng cổ phần đã phát hành
Giá trị của tỷ số PER sẽ càng cao khi triển vọng gia tăng lợi nhuận hàng
năm của công ty càng cao, và mức độ rủi ro đối với lợi nhuận càng thấp Tại các
quốc gia phát triển, giá trị PER của các công ty lớn được công bố hàng ngày trên
các tờ báo chuyên ngành và trên mạng Internet
Bởi vậy, khi tỷ số PER của một công ty có giá trị cao hơn so với một công ty
khác, thì chứng tỏ công ty đó được thị trường đánh giá là có triển vọng gia tăng
lợi nhuận cao hơn Thí dụ dươí đây là giá trị tỷ số PER của một số công ty Hoa
Kỳ tại thời điểm tháng 06/1998 như sau :
Phương pháp định giá này thường được áp dụng đối với các công ty cổ phần
đại chúng và công ty cổ phần đã niêm yết
Trang 26Ngoài các phương pháp nêu trên, có một số phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khác và chúng tôi xin trình bày một cách tóm lược dưới đây để tham khảo
1.3.3.5 Phương pháp sử dụng dữ liệu của thị trường chứng khoán :
Trong các nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát tiển, giá thị trường của cổ phần được niêm yết trong suốt 24 / 24 giờ mỗi ngày Bởi vậy, giá trị của công ty được điều chỉnh liên tục Theo phương pháp này, giá trị của công ty được tính như sau :
VC = Pr x N Với : Pr : Giá thị trường của mỗi cổ phần
N : Số lượng cổ phần đã phát hành
Thí dụ : Vao thời điểm định giá, cổ phần của công ty XYcó giá bán trên thị trường chứng khoán là 40 USD Số lượng cổ phần đã phát hành của công ty là 1.000.000 cổ phần, giá trị vốn cổ phần của công ty được tính như sau :
VC = 40 x 1.000.000 =40.000.000 USD Phương pháp này sẽ đem lại những kết quả hoàn toàn chính xác về giá trị của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoạt động một cách hoàn hảo, tức là có đầy đủ thông tin và thông tin chính xác về tình hình của công ty
Giá trị của công ty sẽ bị sai lệch khi thị trường có những hiện tượng sau :
− Sự cung cấp thông tin không đầy đủ và chính xác về công ty
− Có tình trạng mua bán nội gián (interior trading)
− Trên thị trường có hiệu ứng “bong bóng”
Phương pháp này chỉ áp dụng đối với các công ty cổ phần đã niêm yết và nó chỉ định giá giá trị doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại
− Ngoài các phương pháp nêu trên người ta còn sử dụng một số phương pháp khác như :Phương pháp so sánh , phương pháp này chủ yếu dựa trên sự
Trang 27đối chiếu, so sánh giá trị của doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác trong cùng một lãnh vực kinh doanh
− Hoặc cách tính dựa vào giá trị bình quân giữa giá trị thực và giá trị tương đối Giá trị thực bằng giá trị bình quân của giá trị tài sản và mức lợi nhuận Và giá trị tương đối căn cứ vào giá cổ phiếu của những công ty tương tự
− Hoặc phương pháp kết hợp giữa các phương pháp
Điểm nổi bật của phương pháp kết hợp là người định giá có thể tận dụng được những mặt mạnh của từng phương pháp định giá trong những phạm vi phù hợp, đồng thời có thể hạn chế được mặt yếu của mỗi phương pháp
Khi phân tích về những phương pháp định giá doanh nghiệp cho thấy không có phương pháp nào tỏ ra hoàn toàn chính xác mà chỉ có phương pháp thích hợp nhất có thể áp dụng cho mỗi nội dung địùnh giá nhất định Bởi vậy, để nâng cao tính chính xác của kết quả định giá, người địùnh giá có thể áp dụng nhiều phương pháp địùnh giá và so sánh các kết quả định giá của chúng để kiểm
tra kết quả chính xác
1.4 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ VAI TRÒ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.4.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán :
Có nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau, nhưng nhìn chung có thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến như sau :
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động phát hành và giao dịch mua bán các loại chứng khoán theo nguyên tắc thị trường nhằm huy động vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển nền kinh tế
Thị trường chứng khoán phải tồn tại ở một nơi, mà ở nơi đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện Trong quá trình phát triển và hoàn thiện thị trường
Trang 28chứng khoán ở các nước có nền sản xuất và lưu thông hàng hóa lâu đời như Mỹ, Anh, Pháp, … nơi đó tồn tại dưới hai hình thức : thị trường chứng khoán có tổ chức và thị trường chứng khoán phi tổ chức
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán có tổ chức là Sở giao dịch
chứng khoán (Stock exchange) Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán phải tiến hành trong Sở giao dịch và thông qua các thành viên của Sở giao dịch theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán có thể là tổ chức sở hữu nhà nước, là doanh nghiệp cổ phần hoặc là một hiệp hội và đều có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán
Có thể dẫn ra những Sở giao dịch chứng khoán nổi tiếng của thế giới như : NYSE, TSE, LSE, …Sở Giao dịch chứng khoán New York (New York Stock exchange – NYSE) là thị trường chứng khoán có tổ chức lâu đời và lớn nhất nước Mỹ NYSE là một Hiệp hội độc lập bao gồm 1366”ghế” thuộc các cá nhân và doanh nghiệp góp vốn và chịu sự lãnh đạo của một Hội đồng quản trị gồm 20 thành viên Tính đến năm 1995, số công ty thành viên của NYSE là 503, giá trị giao dịch bình quân trong một ngày là 12,3 tỷ USD
Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock exchange) được thành lập năm 1878 là thị trường chứng khoán có tổ chức lớn nhất nước Nhật và hiện nay có một vị thế rất lớn trên thế giới Số công ty thành viên của TSE là 124 Giao dịch bình quân hàng ngày qua TSE đạt 3,57 tỷ USD
Sở giao dịch chứng khoán London mà tiền thân của nó là Sở giao dịch chứng khoán Hoàng gia thành lập năm 1802 Nó là thị trường chứng khoán có tổ chức lớn nhất nước Anh Bình quân giao dịch hàng ngày là 4,5 tỷ USD
Thị trường chứng khoán phi tổ chức là các giao dịch trên thị trường không
có tổ chức, nó có thể là bất cứ nơi nào mà tại đó người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để tiến hành giao dịch Nơi đó có thể là tại quầy giao dịch ở các
Trang 29ngân hàng bất kỳ nào đó Thị trường hình thành như thế gọi là thị trường giao dịch qua quầy (Over-the-counter-OTC)
Ngày nay, nhờ hệ thống INTERNET đã gắn kết các thành viên của thị trường lại với nhau, do đó việc trao đổi thông tin, tiến hành giao dịch mua bán chứng khoán không phải đến tận quầy của các ngân hàng và có thể tiến hành ngay trên bàn máy vi tính Đây là một hình thái của thị trường chứng khoán phi tổ chức bậc cao mới xuất hiện trong thập kỷ qua Thị trường này chưa có tên chính thức, có người gọi đó là thị trường thứ ba (Third market)
Với sự phát triển phong phú của các hình thái tổ chức của thị trường chứng khoán, từ một nơi cụ thể như Sở giao dịch chứng khoán đến các quầy giao dịch của ngân hàng và gần đây là đến không gian rộng lớn của thông tin, do đó đã tạo điều kiện và môi trường cho mọi thành viên trong xã hội đều có thể trở thành thành viên của thị trường chứng khoán hiện đại
Thành viên tham gia thị trường chứng khoán có hai loại : thành viên của thị trường chứng khoán có tổ chức –Sở giao dịch chứng khoán và thành viên của thị trường chứng khoán phi tổ chức
Vì vậy, các thành viên trong Sở giao dịch cũng có thể tham gia trong thị trường này Ngoài ra, ta còn thấy những thành viên khác như Quỹ tương hỗ đầu
tư, Công ty dịch vụ tư vấn đầu tư và các doanh nghiệp, chính phủ và các cơ quan chính phủ vơí cương vị là người huy động vốn
Chứng khoán là đối tượng mua bán, chuyển nhượng và trao đổi trên thị trường chứng khoán Chúng thường bao gồm chứng khoán vốn (Equity Securities), chứng khoán nợ (Debt Securities) và chứng từ tài chính có nguồn gốc chứng khoán ta gọi là công cụ phái sinh (Erivative documents)
Viêc kiếm lời trong kinh doanh chứng khoán ở Sở giao dịch hoặc ở thị trường OTC phụ thuộc vào hai lĩnh vực:
Trang 30¬ Một là lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tức là thông qua việc mua bán chứng khoán của các doanh nghiệp cổ phần để nhằm phân chia lợi nhuận kinh doanh hình thành từ kết quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp đó
¬ Hai là mua đi bán lại các chứng khoán hiện hữu trên thị trường thứ cấp để hưởng chênh lệch giá Ta gọi lĩnh vực này là lĩnh vực kinh doanh chứng khoán Phân tích hai lĩnh vực đầu tư chứng khoán và kinh doanh chứng khoán cho thấy giữa chúng có nhiều điều cơ bản khác nhau Nếu đầu tư chứng khoán sẽ làm cho quy mô vốn của xã hội tăng lên thì lĩnh vực kinh doanh chứng khoán không là như vậy mà nó chỉ có tác dụng điều hoà vốn giữa các ngành Thị
trường chứng khoán sơ cấp (Primary market) là thị trường đầu tư chứng khoán,
nó có nội dung hoạt động, quy luật chi phối không hoàn toàn giống như thị
trường thứ cấp (Secondary market) tức là thị trường kinh doanh chứng khoán
1.4.2 Phân loại thị trường chứng khoán :
Có nhiều cách phân loại thị trường chứng khoán, để phân loại cho khoa học và thích hợp với đặc thù của chứng khoán, chúng ta đưa ra những căn cứ như sau :
1.4.2.1 Căn cứ vào đối tượng mua bán là cổ phiếu hay trái phiếu, có
thể chia ra hai loại thị trường chứng khoán cơ bản : thị trường cổ phiếu và thị
trường trái phiếu
X Thị trường cổ phiếu (The stock market) : là thị trường phát hành cổ
phiếu mơí và mua đi bán lại cổ phiếu cũ Hoạt động của thị trường cổ phiếu chứa đựng cả hai lĩnh vực đầu tư chứng khoán và lĩnh vực kinh doanh chứng khoán
X Thị trường trái phiếu (Bond market) : là thị trường phát hành trái
phiếu và mua đi bán lại trái phiếu cũ Trái phiếu thường bao gồm hai loại cơ bản : trái phiếu doanh nghiệp (Corporate Bond) và trái phiếu chính phủ
Trang 31(Government Bond) Tương ứng với hai loại trái phiếu cơ bản, thị trường trái phiếu tách ra hai loại thị trường trái phiếu khác nhau : thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường trái phiếu chính phủ
Việc vay vốn của dân bằng cách phát hành trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, công trái quốc gia đã trở nên thường xuyên ở các quốc gia
Do đó, thị trường trái phiếu chính phủ không những lớn về quy mô mà tình hình thị trường của nó rất sôi động
1.4.2.2 Căn cứ vào nguồn gốc ra đời của chứng khoán
Thị trường chứng khoán sơ cấp (Primary market) là thị trường phát hành
cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn hoặc tăng vốn cho doanh nghiệp và phát hành trái phiếu chính phủ để vay tiền từ tất cả các thành phần của nền kinh tế quốc dân Chính vì lẽ đó, ngươì ta còn gọi thị trường này là thị trường phát hành
Thị trường chứng khoán thứ cấp (Secondary market) không phải là thị
trường phát hành chứng khoán mới, mà là thị trường mua đi bán lại các chứng khoán cũ Các chứng khoán mua bán trên thị trường này rất đa dạng bao gồm các loại Cổ phiếu, Trái phiếu, Tín phiếu của các doanh nghiệp hoặc chính phủ, các công cụ phái sinh như Chứng quyền, Bảo chứng phiếu, Hợp đồng quyền lựa chọn và Hợp đồng tương lai Hai thị trường này gắn kết vào nhau khó mà tách rời được
1.4.2.3 Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch
Thị trường giao ngay (Sport market) là thị trường mà việc giao dịch mua
bán chứng khoán theo giá thỏa thuận khi ký hợp đồng, nhưng thanh toán và giao nhận chứng khoán xảy ra sau ngày ký hợp đồng một hai ngày quy định Đặc điểm chủ yếu của thị trường chứng khoán sơ cấp là huy động và tăng vốn, do vậy người ta có thể gọi thị trường sơ cấp là thị trường giao ngay
Trang 32Thị trường giao dịch kỳ hạn (Forward market) là thị trường giao dịch mua
bán chứng khoán theo giá thỏa thuận khi ký hợp đồng, nhưng thanh toán và giao nhận chứng khoán xảy ra sau ngày ký hợp đồng môït số ngày nhất định : 30 ngày, 60 ngày, 180 ngày, …
Thông thường, hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường, kỳ hạn là giao dịch thực sự, có nghĩa là có hành vi giao nhận chứng khoán và thanh toán chứng khoán xảy ra vào thời hạn quy định trong hợp đồng
Thị trường giao dịch tương lai (Futures market) được hiểu giống như thị
trường giao dịch kỳ hạn, nếu có khác chỉ là những điểm sau đây :Các hợp đồng mua bán chứng khoán đã được tiêu chuẩn hóa nội dung và điều kiện thực hiện hợp đồng.Thực chất hoạt động của thị trường chứng khoán này là hoạt động đầu
cơ, do vậy một cơ chế ký quỹ đảm bảo thực hiện hợp đồng dươí hình thức tiền đặt cọc (Margin) đã được hình thành và bắt buộc các bên giao dịch phải thực hiện
1.4.3 Vai trò của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế quốc dân
Thị trường chứng khoán có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường và đặc biệt trong thị trường tài chính của các quốc gia
1.4.3.1 Thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng trong huy động vốn để đầu tư vào SXKD và các nhu cầu chi tiêu của chính phủ
Trong quá trình tái sản xuất xã hội mở rộng hình thành hai nguồn tiền tệ, một là nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, hai là nguồn vốn chờ cơ hội đầu tư
Nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hình thành trong các quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ tiền lương chưa chia, quỹ khen thưởng, phúc lợi xã hội, bảo hiểm, quỹ dự trữ tài chính …
Trang 33Bên cạnh nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, trong xã hội vẫn còn tồn tại một số nguồn vốn khổng lồ bằng tiền đang tìm cơ hội đầu tư vào sản xuất và kinh doanh để thu lợi nhuận Các nhà đầu tư không thể bỏ vốn này vào ngân hàng để lấy lãi cho vay, mà họ phải đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh để kiếm lời tận gốc
Thị trường chứng khoán ra đời để thu hút nguồn vốn này và chuyển tải trực tiếp vào các doanh nghiệp có nhu cầu
1.4.3.2 Thị trường chứng khoán huy động vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, một lĩnh vực mà hệ thống ngân hàng thương mại chưa thể đáp ứng được cho các doanh nghiệp :
Như chúng ta đã biết, hệ thống ngân hàng hai cấp đã chia các ngân hàng
ra làm hai hệ thống ngân hàng khác nhau
Hệ thống ngân hàng trung ương và hệ thống ngân hàng thương mại và đầu
tư Hệ thống ngân hàng trung ương (còn gọi là NHNN) không trực tiếp kinh doanh tiền tệ và tín dụng, nó chỉ giữ vai trò là ngân hàng phát hành và quản lý lưu thông tiền tệ, tín dụng thông qua các chính sách và biện pháp của chính phủ
Mọi việc kinh doanh tiền tệ và tín dụng rơi vào tay hệ thống ngân hàng cấp hai Trong hệ thống này, ngân hàng thương mại chiếm tuyệt đại đa số Đặc điểm trong cơ chế huy động vốn của ngân hàng thương mại và tiền gửi không kỳ hạn và ngắn hạn rất lớn Với nguồn vốn này, ngân hàng thương mại không thể đầu tư trung và dài hạn cho các doanh nghiệp được Vì vậy, lỗ hổng của dòng vốn trung và dài hạn này phải được các nhà đầu tư lấp đầy bằng cách thông qua thị trường chứng khoán – một kênh dẫnvốn trực tiếp từ các nhà đầu tư có sẵn vốn chờ cơ hội đầu tư đến các doanh nghiệp đang khát vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Trang 341.4.3.3 Thị trường chứng khoán góp phần điều hoà vốn giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh và đồng đều của nền kinh tế
Trước hết, vốn thừa ở ngành này sẽ chuyển qua ngành thiếu vốn khác nhờ vào việc bán lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp để thu hồi vốn và mua chứng khoán mới ở thị trường sơ cấp hoặc mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường thứ cấp để điều hoà vốn giữa ngành thừa với ngành thiếu vốn
Sau nữa là vốn đầu tư vào các ngành thường gắn với hình thái tự nhiên đã định sẵn của nhà xưởng, máy móc, thiết bị, … nên rất khó chuyển hướng đầu tư Nhờ vào thị trường chứng khoán mà nhà đầu tư có thể chuyển hướng đầu tư một cách dễ dàng, không cần phải thông qua thị trường hàng hoá, thị trường tín dụng mà bằng cách bán chứng khoán đó cho ngươì khác, thu hồi vốn bằng tiền, chuyển sang mua chứng khoán của ngành đầu tư mới
Cuối cùng là vốn được tập trung vào ngành nào có lợi nhuận cao đến một lúc nào đó sẽ gây nên hiện tượng thừa vốn của ngành đó, song lại thiếu vốn của ngành khác
Nhờ vào phương cách này, một mặt doanh nghiệp huy động thêm được vốn, một mặt khác thu hút thêm được những nhà đầu tư mới tham gia vào quản lý doanh nghiệp
1.4.3.4 Thông qua thị trường chứng khoán, các chủ thể kinh tế đều có thể trở thành nhà đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế quốc dân và trở thành những người chủ sở hữu một phần giá trị tài sản của các doanh nghiệp, do đó có tác dụng :
̇ Thúc đẩy cổ phần hoá, tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước thành công
Trang 35̇ Hình thành chế độ đa sở hữu về tư liệu sản xuất và tài sản trong nền kinh tế, tính chất sở hữu hoàn toàn mở rộng và làm cho quan hệ sản xuất sớm phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Chính đó là cơ sở cho sự phát triển
̇ Phân bố quyền lợi và rủi ro cho các thành viên trong xã hội, do đó tạo nên sự quan tâm chung của xã hội đối với nền kinh tế của đất nước
1.4.3.5 Nhờ vào trào lưu quốc tế hoá thị trường chứng khoán quốc gia cho nên nó có vai trò như là người dẫn vốn đầu tư của người nước ngoài, những nước có cơ hội và môi trường đầu tư có lợi hơn
1.4.3.6 Cuối cùng, vai trò của thị trường chứng khoán như chiếc phong vũ biểu của nền kinh tế quốc dân
Như chúng ta đã biết, kinh tế phát triển thì lợi nhuận đem chia cho các chủ đầu tư tăng lên Lợi nhuận tăng là một yếu tố làm cho giá cả chứng khoán tăng lên, dung lượng mua bán chứng khoán do đó cũng tăng theo
Ngược lại, kinh tế suy thoái sẽ dẫn đến sự hoạt động sút kém của thị trường Những nhà hoạch định chính sách và quản lý thường quan sát chiếc phong vũ biểu này để phân tích và dự đoán, đề ra các chính sách điều tiết kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thích hợp nhằm thông qua thị trường chứng khoán để tác động đến các hoạt động của nền kinh tế quốc dân hoặc ngược lại
1.4.4 Những mặt hạn chế của thị trường chứng khoán :
Bên cạnh những mặt tích cực của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế quốc dân, do tính phức tạp về tổ chức, mặt hàng và cơ chế vận hành của nó, thị trường chứng khoán còn có những mặt hạn chế nhất định
Trang 361.4.4.1 Yếu tố đầu cơ :
Đầu cơ là hành động có tính toán của những người dự đoán và phân tích được sự vận động nội tại của quan hệ cung cầu, dám chấp nhận rủi ro, tích lũy chứng khoán để tạo ra nạn khan hiếm giả tạo, chờ giá lên, bán giá cao để thu lợi nhuận
Đầu cơ có hại tới hoạt động của thị trường chứng khoán, do vậy luật chứng khoán của các quốc gia đều ngăn cấm hành vi này
1.4.4.2 Mua bán nội gián :
Lợi dụng nguyên tắc mua bán thông qua trung gian, tính công khai về thông tin trong hoạt động chứng khoán, khách hàng móc nối với thành viên Sở giao dịch để mua vào hay bán ra chứng khoán của doanh nghiệp nào đó để kiếm lời riêng hoặc để tránh rủi ro, giảm thiếu lỗ vốn Cách mua bán này bị ngăn cấm trong Sở giao dịch chứng khoán, bởi vì nó xóa bỏ nguyên tắc của đầu tư chứng khoán là mọi người phải được hưởng cơ hội đầu tư như nhau, không ai được phép mua bán hoặc ăn cắp thông tin thương mại đã được đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán để tạo ra lợi thế kinh doanh riêng có của mình
1.4.4.3 Lũng đoạn doanh nghiệp :
Nhìn chung, luật các nước đều quy định tỷ lệ sở hữu tài sản của mỗi cổ đông Các cổ đông không được quyền chiếm hữu tài sản doanh nghiệp vượt quá tỷ lệ này Mục đích quy định đó là nhằm tránh lũng đoạn doanh nghiệp bởi một vài cá nhân nào đó Tuy nhiên thông qua thị trường chứng khoán, doanh nghiệp có thể khống chế hoạt động của doanh nghiệp đó bằng vốn của một người nhưng đứng tên nhiều người Những cổ đông này là ngươì nhà của ngườiø có vốn hoặc là những người chịu ảnh hưởng của người có vốn
Để hạn chế các mặt tiêu cực này, luật chứng khoán và thị trường chứng khoán, Điều lệ của Công ty môi giới, … cần phải đề ra các quy phạm pháp lý
Trang 37nhằm hạn chế các mặt tiêu cực đó và đi đến loại bỏ các ảnh hưởng xấu do các mặt tiêu cực đó gây ra
1.4.5 Hàng hóa của thị trường chứng khoán
Có những chứng từ tài chính (financial documents) thay cho tiền tệ làm chức năng phương tiện lưu thông như hối phiếu (bill of exchange), séc (cheque), kỳ phiếu (promisory note), nhưng cũng có những chứng từ tài chính không được dùng làm chức năng của tiền tệ trong lưu thông như cổ phiếu (Stock), trái phiếu (bond), thì những chứng từ này được gọi là chứng khoán (securities)
Chứng khoán là những chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của ngươì sở hữu chứng khoán đối với tài sản hặc vốn của tổ chức phát hành (Nghị định 48.1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998)
Các chứng khoán này được mua bán theo mức giá hình thành và thỏa thuận trên thị trường chứng khoán và đặc biệt được công bố trong Sở giao dịch chứng khoán Vì vậy, ngươì ta còn gọi chứng từ tài chính này là chứng khoán có giá Chứng khoán thường gồm 3 loại cơ bản :
- Chứng khoán vốn (Equity Securities)
- Chứng khoán nợ (Debt Securities)
- Các chứng từ tài chính có nguồn gốc chứng khoán
1.4.5.1 Chứng khoán vốn - cổ phiếu (stock)
1 Khái niệm :
Cổ phiếu là một chứng thư xác nhận sự góp vốn có quyền sở hữu phần vốn đã góp của cổ đông vào doanh nghiệp do doanh nghiệp phát hành và được chia lãi theo phần vốn đã góp theo quy định của doanh nghiệp(gọi là cổ tức), được hưởng các quyền do Điều lệ của doanh nghiệp cổ phần quy định
Cổ phiếu là chứng thư xác nhận quyền sở hữu một tài sản (vốn bằng tiền) nhất định, cho nên nó được coi như tài sản thực sự Để đảm bảo an toàn đối với
Trang 38loại tài sản dưới dạng chứng thư này, luật của các nước thường quy định các cổ đông, không được cất trữ cổ phiếu riêng, mà phải ký gửi vào kho bạc hoặc ngân hàng và nếu là hàng hoá mua bán trong Sở giao dịch chứng khoán thì phải lưu ký vào trung tâm lưu ký chứng khoán
Mệnh giá của cổ phiếu là số tiền ghi trên bề mặt của cổ phiếu Đơn vị của mệnh giá lớn hay nhỏ là do luật chứng khoán hoặc điều lệ của doanh nghiệp quy định Mệnh giá có thể thay đổi trong trường hợp phải chia nhỏ (Spit) cổ phiếu
2 Phân loại cổ phiếu :
a.Căn cứ vào quyền lợi cổ đông
X Cổ phiếu thường (Common stock)
+ Không quy định tỷ suất cổ tức mà cổ đông được hưởng Việc chia lãi theo tỷ lệ nào là tùy thuộc vào kết quả và chiến lược kinh doanh của công ty
+ Chỉ được chia cổ tức sau khi đã trả lợi tức trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi
+ Khi công ty phải giải thể, thanh lý thì được chia tài sản sau cùng
+ Cổ đông được hưởng các quyền lợi như quyền bầu cử, quyền ưu tiên mua trước, quyền nhận cổ tức, quyền sở hữu tài sản doanh nghiệp, quyền hoàn vốn để nhận chứng khoán khác…
X Cổ phiếu ưu đãi (Preferred stock)
+ Mức lãi của cổ phần được cố định, không tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty
+ Được chia cổ tức trước cổ phiếu thường
+ Được chia tài sản trước trong trường hợp công ty phá sản hoặc thanh lý
+ Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường
Trang 39+ Khi có chủ trương hoàn vốn cho cổ đông thì cổ đông ưu đãi được xếp vào trật tự ưu tiên trước cổ đông thường
+ Khi doanh nghiệp bị giải thể thì sẽ hoàn vốn cho cổ phiếu ưu đãi theo nguyên tắc ngang giá, nếu như đủ vốn hoàn trả
+ Đối với giá trị còn lại của doanh nghiệp mà cần phân chia, cổ đông ưu đãi được quyền phân chia trước cổ đông thường
Do mức độ ưu đãi khác nhau, nên cổ phiếu ưu đãi có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau
X Cổ phiếu ưu đãi tích lũy (Cumulative preferred stock) là loại cổ phiếu
mà trong đó quy định cổ tức năm trước không trả được có thể dồn tích lũy toàn bộ hay từng phần vào năm sau Doanh nghiệp phải hoàn trả toàn bộ số cổ tức được tích lũy đó
Việc tích lũy cổ tức có thể được tiến hành theo 2 cách: Tích lũy thuần (Net cumulative) và tích lũy ghép lãi (Compound cumulative)
X Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy ( Non – cumula tive preferred stock) là
loại cổ phiếu mà doanh nghiệp có lãi đến đâu trả đến đó, phần nợ cổ tức không được tích lũy vào năm sau
X Cổ phiếu ưu đãi dự phần (Participating preferred stock) là loại cổ
phiếu mà doanh nghiệp cam kết ngoài cổ tức được trả hàng năm, nếu doanh nghiệp còn lãi chưa chia sẽ cho phép cổ đông của cổ phiếu ưu đãi tham dự chia số tiền chưa chia lãi này
X Cổ phiếu ưu đãi hoàn vốn (Redeemable preferred stock) là loại cổ
phiếu mà doanh nghiệp dành cho các cổ đông ưu đãi quyền được hoàn vốn trứơc cổ đông thường khi doanh nghiệp có chủ trương hoàn vốn
X Cổ phiếu ưu đãi thu hồi (Callable preferred stock) là loại cổ phiếu
mà doanh nghiệp có quyền thu hồi (Call back) cổ phiếu hoặc trả lại vốn cho
Trang 40cổ đông hoặc là đổi loại cổ phiếu ưu đãi khác có mức tỷ suất cổ tức phù hợp với lãi suất chiết khấu trên thị trường
X Cổ phiếu ưu đãi đảm bảo (Guaranteed preferred stock) là loại cổ
phiếu được một người khác đứng ra cam kết bảo lãnh thanh toán nếu như doanh nghiệp phát hành không thanh toán được Người bảo lãnh này thường là cty bao tiêu, ngân hàng, cty chứng khoán hoặc cty bảo hiểm tín dụng
b Căn cứ theo quyền tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong đại Hội đồng cổ đông:
X Cổ phiếu đơn phiếu: là loại cổ phiếu được phân bổ mỗi cổ phiếu là 1
phiếu bầu (Voting) Loại cổ phiếu này dùng cho các doanh nghiệp có ít cổ đông, vì tất cả các cổ đông đều có thể và có điều kiện tham dự đại hội đồng cổ đông đầy đủ
X Cổ phiếu đa phiếu: là loại cổ phiếu dùng cho doanh nghiệp có nhiều
cổ đông Các cổ đông không thể tham dự đại hội đồng để bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề quan trọng của đại hội Đại hội cổ đông đựơc thực hiện ở 2 cấp: Cấp cơ sở và cấp trung ương Doanh nghiệp sẽ quy định 1 phiếu bầu phải bao gồm bao nhiêu cổ phiếu
X Cổ phiếu lưỡng phiếu: là loại cổ phiếu mà cổ đông này được phân bổ
2 phiếu bầu Doanh nghiệp phát hành loại cổ phiếu này thường có ít cổ đông Quyền lưỡng phiếu này thường dành cho các cổ đông có uy tín, có danh phận trong xã hội hoặc trong ngành chuyên môn mà doanh nghiệp đó đang kinh doanh hoặc chủ tịch HĐQT Quyền lưỡng phiếu sẽ mất đi nều như cổ đông chết đi hoặc bị truy cứu trách nhiệm dân sự, hình sự
c Căn cứ vào việc huy độâng vốn điều lệ
X Cổ phiếu sơ cấp (Primary stock) là cổ phiếu được phát hành lúc thành
lập doanh nghiệp hoặc CPH DNNN Cổ phiếu sơ cấp thường là cổ phiếu ghi