Sau đây chúng tôi xin giới thiệu khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhóm các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI năm
1986 đánh dấu một bước ngoặc trong lịch sử Việt Nam nói chung và trong lịch sử phát triển nền kinh tế nói riêng, mở ra một thời kỳ mới: thời kỳ đổi mới, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đưa nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tham gia quản lý của nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đại hội
VI được các kỳ Đại hội tiếp theo tiếp tục kế thừa và phát triển, thừa nhận đa hình thức sở hữu, sự tồn tại và cùng hoạt động bình đẳng theo pháp luật của nhiều thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo
Nhờ vậy, các quy luật kinh tế khách quan của kinh tế thị trường được phát huy tác dụng, sức sản xuất và các nguồn lực toàn xã hội được giải phóng, nền kinh tế Việt Nam những năm 90s liên tục tăng trưởng khá ổn định với tốc độ khá cao >= 7%
Tuy nhiên, do phần lớn các doanh nghiệp nhà nước đều được thành lập trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, nên khi chuyển sang kinh tế thị trường đã bộc lộ rõ nhiều yếu kém: một số doanh nghiệp sản phẩm làm
ra không đáp ứng nhu cầu thị trường, hiệu quả sản xuất kinh doanh kém “lời giả lỗ thật”, nợ nần chồng chất không khả năng thanh toán; một số khác kéo dài tình trạng vật tư, thiết bị, cơ sở vật chất ứ động, xuống cấp hư hỏng “cha chung không ai khóc” không biện pháp xử lý và khai thác; nhiều doanh nghiệp trình độ công nghệ lạc hậu, chậm đổi mới, khả năng cạnh tranh kém, không chiến lược đầu tư phát triển, không tương xứng với vai trò “chủ đạo” trong nền kinh tế, trở thành gánh nặng cho nhà nước trong công cuộc đổi mới
Ngược lại, với sự thừa nhận và bảo vệ của pháp luật trong một nền kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp có hình thức sở hữu phi nhà nước cứ tiếp tục ra đời và phát triển, hoạt động ngày càng hiệu quả và thích nghi với cơ chế thị trường, nhất là từ khi nhà nước ban hành luật doanh nghiệp tạo môi trường luật pháp thông thoáng cho các doanh nghiệp phi sở hữu nhà nước hoạt động và phát triển Các thành phần kinh tế phi sở hữu nhà nước có vai trò không nhỏ trong nền kinh tế, góp phần đáng kể vào sự ổn định đời sống kinh tế xã hội và sự tăng trưởng của nền kinh tế
Tình hình trên được phản ánh ngày một rõ nét Vấn đề yếu kém của doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường ngày càng bức xúc trong môi trường kinh doanh hiện đại với yêu cầu hội nhập trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá
Trang 3Vì vậy cải cách đổi mới doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước xứng đáng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế khác trong kinh tế thị trường là một trong những yêu cầu nhiệm vụ quan trọng và cũng là thách thức, vừa có tính thời sự bức xúc vừa có tính lâu dài trong giai đoạn công nghiệp hoá-hiện đại hoá của thời kỳ quá độ như hiện nay “Mục tiêu tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước” được một lần nữa khẳng định trong phiên họp thường kỳ của Chính phủ tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 14/9/2000 và là một nội dung lớn trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc IX
Có nhiều biện pháp cải cách đổi mới doanh nghiệp nhà nước, đã và đang được thực hiện trong thực tế như: tổ chức lại, thành lập các đơn vị kinh tế có quy mô lớn, tiềm lực mạnh như các tổng công ty 90 trực thuộc Chính phủ, tổng công ty 91 trực thuộc các Bộ; sắp xếp, sát nhập, giải thể, bán, khoán, cho thuê… giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, hoặc không nhất thiết phải là doanh nghiệp sở hữu nhà nước
Công ty cổ phần, với tư cách là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tồn tại khá lâu và có nhiều tính ưu việt trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, thì biện pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước bằng cách chuyển đổi hình thức sở hữu, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hoạt đông trong lĩnh vực ngành nghề mà nhà nước không cần phải bao cấp hoặc nắm giữ 100% vốn hoặc những doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa đạt yêu cầu hiệu quả, được xem như là một biện pháp thích hợp và hữu hiệu, là một xu thế được nhiều nước áp dụng trong môi trường kinh tế thị trường hiện đại ngày nay Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước là một trong nội dung thu hút sự quan tâm trong các chương trình nghị sự của Chính phủ Cuộc họp của Chính phủ tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 14/9/2000 nêu lên một trong các nhiệm vụ trong kế hoạch 5 năm (2001-2005) là “ thực hiện xong cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn ” Gần đây nhất, Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá
IX của Đảng đã tập trung phần lớn thời gian thảo luận và ra Nghị quyết về
“Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước” trong đó xác định: “Đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước không cần giữ 100% vốn; lập mới công ty cổ phần ở những lĩnh vực cần thiết” thể hiện sự quyết tâm cao, kiên trì và không thể thay đổi, đảo ngược của Đảng và Nhà nước đối với chủ trương cổ phần hoá
Đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Trang 4Minh, một trong những ngành có vai trò khá quan trọng của một nước đang phát triển, mà nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu nền kinh tế, nhưng phổ biến còn ở trình độ lạc hậu sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp như Việt Nam, đồng thời đóng tại một thành phố lớn nhất nước, một trung tâm công nghiệp và khoa học kỹ thuật , chỗ dựa quan trọng cho vùng kinh tế nông nghiệp đồng bằng sông Cửu long lớn nhất nước, thì vấn đề đặt ra lại càng bức thiết và có ý nghĩa
Do đó chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: Một số giải pháp nhằm
thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG I YÊU CẦU CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG
NGÀNH CƠ KHÍ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 51/1 Vai trò của ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá:
Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là một yêu cầu tất yếu khách quan để biến một nước có nền kinh tế lạc hậu như nước ta thành một nước công nghiệp phát triển Đó là quá trình chuyển một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp là chủ yếu và lạc hậu, công nghệ và năng suất thấp thành một nền sản xuất lớn có cơ cấu công nông nghiệp và dịch vụ hiện đại, khoa học và công nghệ tiên tiến, năng suất lao động xã hội cao Vì vậy, công nghiệp hoá - hiện đại hoá là quá trình tạo ra những tiền đề cần thiết về vật chất kỹ thuật, về con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất xã hội
Nước ta phát triển đi lên từ nông nghiệp, với 80% dân số sống ở nông thôn và sử dụng trên 70% lực lượng lao động xã hội, là một ngành có vai trò quyết định đến việc ổn định tình hình kinh tế-xã hội, tạo cơ sở cho công nghiệp hoá phát triển ở Việt Nam Trong thời kỳ đổi mới, nhờ vào đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, coi “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, Việt nam chuyển đổi từ một nước thiếu đói trở thành một trong ba nước hàng đầu về xuất khẩu lương thực Ngành nông nghiệp nước ta trong những năm thập niên 90 liên tục đạt kết quả rất phấn khởi, đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm trên 4%, không chỉ đóng góp tỷ trọng đáng kể trong GDP, đảm bảo cung ứng ổn định lương thực cho xã hội và cung cấp lượng ngoại tệ thông qua xuất khẩu nông sản, trước hết là xuất khẩu gạo, thuỷ sản, cà phê…mà còn khơi dậy tiềm năng phát triển các ngành nghề truyền thống ở nông thôn, thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa nông thôn và thành thị, giữa thị trường trong nước và nước ngoài
Sản lượng lương thực trong 5 năm (1991 – 1995) đạt mức bình quân 25 triệu tấn/ năm, mỗi năm tăng trung bình 1,2 triệu tấn, xuất khẩu gạo hàng năm 1,5 – 2 triệu tấn Thực hiện kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 của Đại hội Đảng lần VIII, nông nghiệp tiếp tục phát triển liên tục, tốc độ tăng bình quân hàng năm 5%, xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản chiếm bình quân 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế, xã hội
Để nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện, hiện đại trong cơ cấu kinh tế công nghiệp – nông nghiệp và dịch vụ, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã khẳng định: “ Coi trọng công nghịêp hoá – hiện đại hoá nông thôn” trong quan điểm phát triển của mình Về định hướng phát triển các
Trang 6ngành kinh tế trong giai đoạn 2001 đến 2020, Văn kiện Đại hội Đảng IX nhấn mạnh: “ Đẩy mạnh điện khí hoá, cơ giới hoá ở nông thôn Phát triển mạnh công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp gia công và dịch vụ; liên kết công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ trên từng địa bàn và trong cả nước” đồng thời xác định “ Hoàn thiện về cơ bản hệ thống thuỷ lợi ngăn mặn, giữ ngọt, kiểm soát lũ, tưới tiêu đảm bảo an toàn, ổn định cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.”
Kết quả và thành tựu đạt được của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn có phần đóng góp đáng kể của ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn Với tính chất là một ngành kỹ thuật cơ sở, nền tảng căn bản trong việc sản xuất máy móc thiết bị cho phần lớn các ngành kỹ thuật khác, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn có vai trò rất quan trọng Nó được coi như là gạch nối liên kết hai ngành công nghiệp và nông nghiệp trong cơ cấu công – nông nghiệp, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá Vai trò của ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trong công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta thể hiện cụ thể như sau:
̇ Cùng với tác động chung của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn góp phần quan trọng thực hiện cuộc cách mạng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp; cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp, chế tạo các thiết bị canh tác, nâng cao năng suất lao động, giải phóng sức người
̇ Ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn góp phần phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến các sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, nâng cao giá trị thương mại và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng tối đa mục tiêu, yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu ngày càng cao
̇ Bảo đảm thực hiện cơ giới hoá công tác thuỷ lợi cho tưới tiêu nông nghiệp, chế tạo và lắp đặt các cửa van, cống đập điều tiết thuỷ lợi và cải tạo môi sinh; chế tạo đóng mới các phương tiện thi công (tàu hút bùn, xáng cạp, hệ thống bơm tưới…), các phương tiện vận chuyển (tàu kéo, xà lan…) và thi công lắp đặt cầu nông thôn, hệ thống cơ sở hạ tầng cho mục tiêu phát triển nông nghiệp và đời sống kinh tế xã hội và văn hoá văn minh nông thôn
1.2/ Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố HCM
Trang 7Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp với chủ trương “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”, ở miền Bắc đã xây dựng được một vài nhà máy cơ khí quy mô khá lớn như Cơ khí Trần Hưng Đạo… ở miền Nam, chủ yếu thừa kế một số nhà máy cơ khí đã có từ trước 1975 như Công ty cơ khí Caric… Nhìn chung, ngành cơ khí Việt Nam trong thời gian này phát triển nặng về phong trào chạy theo số lượng và quy mô hình thức, nên đã gặp nhiều khó khăn và thử thách rất lớn không dễ dàng vượt lên được Các điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các ràng buộc đồng bộ, như: năng lượng, luyện kim…còn quá nhiều thiếu thốn và thấp kém Vì vậy, ngành
cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn không thể hoàn thành vai trò cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp như mong muốn được
Bước sang thời kỳ đổi mới, chính sách kinh tế được điều chỉnh, cơ cấu kinh tế thiên về phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và dịch vụ Kinh tế thị trường được khẳng định và phát triển ở nước ta, nông nghiệp được chú trọng đầu tư và khai thác tốt nguồn lực, sản lượng lương thực tăng mạnh và đều đặn qua các năm, nhu cầu về các sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn xuất hiện ngày càng nhiều và phong phú hơn Những năm gần đây, Nhà nước đã có một số chính sách ưu đãi và biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp cơ khí phát triển trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá, như áp dụng khung lãi suất ưu đãi, hỗ trợ vay vốn, kích thích và đẩy mạnh các dự án đầu tư, tạo thêm thị trường… Tuy vậy, môi trường vĩ mô và các nguồn lực đảm bảo cho sự phát triển của ngành cơ khí nói chung và cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng, vẫn chưa thay đổi một cách căn bản Bên cạnh đó, tác dụng của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận trong cơ chế thị trường, đòi hỏi các đơn vị và tổ chức sản xuất kinh doanh trong các ngành kinh tế, kể cả sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn phải tính toán, chọn lựa một cách có hiệu quả nhất các nguồn cung cấp cho các nhu cầu về vật tư, thiết bị cơ khí Thị trường sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn không còn là một “sân chơi” dành riêng cho các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn vốn còn mang nặng bao cấp, doanh thu và tỷ suất lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp này ngày càng sa sút Ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn biểu hiện “tụt hậu” ngày càng xa và chưa có lối thoát rõ ràng, sự hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành chỉ ở mức cầm chừng, manh múm, sức cạnh tranh kém, thiếu động lực phát triển, không đáp ứng kịp thời và đúng mức yêu cầu đa dạng và nhanh chóng của thị trường Nhiều vấn đề trong sản xuất và phục vụ sản xuất nông nghiệp vẫn còn bỏ ngỏ và bức xúc như: các thiết bị cơ giới hoá
Trang 8nâng cao năng suất canh tác, thiết bị bảo quản và chế biến bảo đảm hiệu suất và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, cơ khí hoá cầu cống cải tạo môi trường và hệ thông thuỷ lợi nông thôn…
Ngành cơ khí, bao gồm cả cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn đứng trước một mâu thuẩn khá phi lý Đó là nhu cầu của nền kinh tế và thị trường thì chưa được thoả mãn đúng mức, nhưng các doanh nghiệp trong ngành mà phần lớn là doanh nghiệp nhà nước, luôn gặp khó khăn thiếu việc làm, không thể đáp ứng nhu cầu do hạn chế về năng lực công nghệ và các nguồn lực điều kiện đồng bộ
Mặc dù, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đạt được những thành tựu và kết quả nhất định trong giai đoạn vừa qua, góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng, từng bước ổn định và phát triển Nhưng, có thể nói, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn vẫn chưa đáp ứng yêu cầu để đưa nền nông nghịêp nước ta trở thành một nền nông nghiệp phát triển toàn diện trong thời đại công nghiệp hoá – hiện đại hoá, trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá Điều này thể hiện ở các yếu điểm như sau:
̇ Trình độ canh tác sản xuất nông nghiệp nói chung vẫn còn ở trình độ thủ công là phổ biến, năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên
̇ Tỷ lệ hao hụt trong khai thác, bảo quản và chế biến các sản phẩm nông nghiệp vẫn còn cao, sản xuất thô vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, công nghiệp chế biến còn nhiều hạn chế, trang thiết bị chậm đổi mới không đáp ứng kịp yêu cầu cạnh tranh trong cơ chế thị trường
̇ Cơ sở vật chất hạ tầng ở nông thôn còn thấp kém, không khai thác hết tiềm năng về lao động và các nguồn lực khác của khu vực kinh tế nông thôn
“Trong nông nghiệp, kỹ thuật và phương thức canh tác tiên tiến chậm đưa vào thực hiện trên diện rộng; chưa chú trọng đầu tư phát triển công nghệ sau thu hoạch, Công nghiệp chế biến; chậm mở rộng các nghề và thị trường ở nông thôn Xuất khẩu hàng nông sản thô, nguyên liệu thô còn chiếm tỷ trọng lớn.” (Báo cáo Đại hội Đảng IX)
Ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa thể đáp ứng tốt vai trò của mình, vì bản thân các doanh nghiệp của ngành còn nhiều vấn đề cần giải quyết, trước hết là làm sao để thoát khỏi tình trạng
Trang 9cầm chừng, khai thác có hiệu quả năng lực hiện có, chủ động xây dựng phương án đầu tư phát triển phù hợp với xu thế phát triển của thị trường
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhóm các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm từ 1996 đến 2000:
1.2.1/ Công ty Cơ khí công trình thuỷ 276:
Công ty Cơ khí công trình thuỷ 276 trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, có tên cũ là Nhà máy Cơ khí 276, được thành lập tháng 2 năm 1976 từ tiền thân là Xưởng Cơ khí thuỷ lợi Nam bộ, địa chỉ 220 Bis Điện biên phủ, Bình thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Lĩnh vực hoạt động của công ty là thiết kế, sản xuất chế tạo và lắp đặt các thiết bị cơ khí thuỷ lợi, thuỷ điện, các công trình, kết cấu thép phục vụ giao thông và xây dựng cơ sở hạ tầng
Bảng số 01: Kết quả sản xuất kinh doanh Công ty Cơ khí công trình
thuỷ 276ø năm 1996 – 2000 (ĐVT: Triệu đồng)
(Nguồn: Phòng Kế hoạch-Phòng Kế toán tài vụ)
Trang 10Bảng số 02: Cơ cấu lao độngCông ty Cơ khí công trình thuỷ 276 năm 1996 –
(Nguồn: Phòng tổ chức)
Nhận xét:
̇ Doanh thu 2 năm gần nhất 1999 và 2000 giảm sút đáng kể, chỉ đạt xấp
xỉ 80% so với doanh thu năm 1998, nếu tính thêm tỷ lệ lạm phát thì mức giảm sút thực sự của doanh thu sẽ nặng nề hơn Tỷ lệ Doanh thu/Vốn kinh doanh giảm 20% từ 4,8 lần xuống còn 4 lần Tỷ lệ Doanh thu/ đầu người giảm 8% từ 105 (triệu đồng/người năm) xuống còn 97 (triệu đồng/người năm) Điều này chứng tỏ sức sản xuất kinh doanh và năng suất lao động của doanh nghiệp sút giảm đáng kể và chưa có dấu hiệu hồi phục
̇ Tỷ suất sinh lời/ Doanh thu bình quân 5 năm trong giai đoạn
1996-2000 của công ty rất thấp, chỉ bằng 1,9%, còn Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh là 7,94% Riêng trong 2 năm gần nhất 1999-2000,ø Tỷ suất sinh lời/ Doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh đều giảm rất mạnh xấp xỉ 1%/năm và 4,5%/năm, thấp hơn rất nhiều so với lãi suất vay vốn bình quân Nghĩa là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp rất thấp, nếu tính bù trừ tỷ lệ lạm phát, thì doanh nghiệp bị lỗ
̇ Tỷ lệ còn lại trên sổ sách của tài sản cố định đến năm 2000 là 32% với tuổi bình quân của các thiết bị máy móc sản xuất chính trên 20 năm Ngược lại giá trị đầu tư mới thiết bị không đáng kể, bình quân 5 năm (1996-2000) khoảng 3,3% doanh thu hàng năm Qua đó, có thể đánh giá là thiết bị máy móc sản xuất của công ty đã quá cũ kỹ xuống
Trang 11cấp và lạc hậu, năng lực công nghệ sản xuất còn thấp kém chưa được đầu tư đổi mới đáng kể
1.2.2/ Xí nghiệp Cơ khí sửa chửa – Công ty Tàu cuốc 2:
Xí nghiệp Cơ khí sửa chửa - Công ty Tàu cuốc 2, địa chỉ khu phố 2, phường Tân Thuận Đông, quận 07, được Bộ Thuỷ lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) quyết định thành lập năm 1983, từ tiền thân là một xưởng cơ khí
Lĩnh vực hoạt động của Xí nghiệp là sản xuất cơ khí và sửa chửa đại
tu, đóng mới các loại tàu hút bùn, poonton sàlan, tàu kéo, các phương tiện thiết bị vận tải, thi công cơ giới phục vụ thuỷ lợi và giao thông…
Bảng số 03: Kết quả sản xuất kinh doanh Xí nghiệp Cơ khí sửa chửa
năm 1996 – 2000 (ĐVT: Triệu đồng):
(Nguồn: Phòng kế hoạch sản xuất – Phòng Nghiệp vụ)
Bảng số 04: Cơ cấu lao độngXí nghiệp Cơ khí sửa chửa năm 1996 - 2000:
Trang 12Nội dung chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 Bq Tỷ lệ Bq
(Nguồn: Phòng Nghiệp vụ)
Nhận xét:
̇ Doanh thu bất ổn định và sút giảm rất lớn trong 2 năm gần nhất
1999-2000, năm 1999 là năm tệ hại nhất chỉ bằng 58% doanh thu năm 1998, đó là chưa kể đến tỷ lệ lạm phát Tỷ lệ Doanh thu/Vốn hoạt động giảm mạnh 28%, từ 3,4 lần xuống còn 2,45 lần Tỷ lệ Doanh thu/Đầu người giảm 30%, từ 150 (triệu đồng/người năm) xuống còn 105 (triệu đồng/người năm) Do đó, có thể nói rằng: sức sản xuất kinh doanh và năng suất lao động của công ty suy giảm rất lớn và nghiêm trọng trong những năm gần đây
̇ Tỷ suất sinh lời/Doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh bình quân giai đoạn 1996-2000 rất thấp, bằng 1,87%/năm và 5,57% năm Riêng trong năm gần nhất, năm 2000, thì Tỷ suất sinh lời/ Doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp chỉ còn bằng 0,34%/năm và 0,99%/ năm Như vậy, nếu tính đến tỷ lệ lạm phát thì doanh nghiệp sẽ bị lỗ, nghĩa là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất kém
̇ Trong cả giai đoạn 5 năm 1996-2000, doanh nghiệp gần như chẳng đầu tư đổi mới thiết bị sản xuất, bình quân 20,8 triệu đồng/năm, chỉ bằng 0,2% doanh thu hàng năm Giá trị còn lại của tài sản cố định trên sổ sách đến năm 2000 là 11,3%, đa số thiết bị sản xuất chính được chế tạo trước 1975, đồng thời trong hầu hết các máy công cụ,ï chưa có máy nào đạt trình độ điều khiển tự động hoặc bán tự động Điều này cho thấy, năng lực thiết bị sản xuất của doanh nghiệp rất yếu vì đã quá hao mòn, cũ hỏng và trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu, không theo
Trang 13kịp yêu cầu phát triển của thị trường, và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chính làm cho hiệu quả kinh doanh của đơn vị thấp kém
1.2.3/ Công ty Tư vấn và Đầu tư kỹ thuật cơ điện nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm- AGRINCO:
Công ty Tư vấn và Đầu tư kỹ thuật cơ điện nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm trước đây có tên là Trung tâm Nghiên cứu nông cơ, trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triểân nông thôn Địa chỉ 55 Trần nhật Duật, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Lĩnh vực hoạt động chính: Tư vấn, thiết kế, chế tạo, thi công các sản phẩm, thiết bị, công trình trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi, nước sạch, môi trường
Bảng số 05: Kết quả sản xuất kinh doanh AGRINCO năm 1996 – 2000
(ĐVT: Triệu đồng)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ)
Bảng số 06: Cơ cấu lao động Công ty AGRINCO năm 1996 – 2000:
Trang 14Nội dung chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 Bq Tỷ lệ Bq
(Nguồn:
Phòng Tổ chức)
Nhận xét:
̇ Doanh thu trong 2 năm gần nhất 1999-2000 tăng khá nhanh do Công
ty tăng quy mô vốn hoạt động, tăng lực lượng lao động và đầu tư đổi mới thiết bị đáng kể Ngoài ra trong những năm gần đây, Công ty chú trọng và đẩy mạnh hoạt động thiết kế và tư vấn theo xu thế phát triển của thị trường, nhờ vậy mà doanh thu tăng nhanh, do tỷ lệ doanh thu ngành dịch vụ thiết kế tư vấn thường cao hơn nhiều doanh thu sản xuất trực tiếp với cùng hàm lượng lao động và chi phí Tuy nhiên cũng cần thấy rõ, doanh thu tuyệt đối có tăng nhưng không tăng đồng bộ tỷ lệ với tốc độ tăng quy mô vốn hoạt động và tăng lực lượng lao động của doanh nghiệp Tỷ lệ Doanh thu/ Đầu người tăng từ 224 (triệu đồng/người năm) trong năm 1998 lên 354 (triệu đồng/người năm) trong 2 năm cuối 1999-2000, tức là tăng gấp 1,48 lần, trong khi tốc độ tăng vốn hoạt động là 1,58 lần Nghĩa là sức sản xuất kinh doanh vẫn
chưa thực sự tăng trưởng theo chi phí nguồn lực bỏ ra
̇ Tỷ suất sinh lời/Doanh thu của doanh nghiệp trong giai đoạn
1996-2000 là 0,82%, còn Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh là 10,3% Đây là doanh nghiệp đạt Tỷ suất sinh lời/Doanh thu thấp nhất nhưng lại có Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh khá cao so với các đơn vị khác trong cùng ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (phản ánh đúng tính chất hoạt động dịch vụ tư vấn thiết kế) Vấn đề lo ngại là bước sang năm 2000, Tỷ suất sinh lời/Doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh của
Trang 15doanh nghiệp đã giảm rất nhanh, gần như bằng không Điều này cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty đang có dấu hiệu đi
xuống rất nghiêm trọng
1.2.4/ Công ty cổ phần cơ khí và xây dựng Bình Triệu :
Tiền thân là Xưởng Sửa chửa máy Bình Triệu, thuộc Liên hiệp xí nghiệp Xây dựng thuỷ lợi 4, được thành lập năm 1982 theo quyết định 675 QĐ/TCCB ngày 11/10/1982 của Bộ Thuỷ lợi Năm1985 nâng lên thành Xí nghiệp Cơ khí sửa chửa xe máy Bình Triệu, đơn vị thành viên của Tổng công
ty Xây dựng thuỷ lợi 4, và sau đó năm1995 được tách ra thành đơn vị độc lập, Công ty Cơ khí lắp ráp thiết bị Bình Triệu theo quyết định QĐ 77/TCCB của Bộ Thuỷ lợi, nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Địa chỉ tại 79/B 6 đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
Lĩnh vực hoạt động chính: Thiết kế, chế tạo, lắp đặt máy cơ khí nông nghiệp Trung đại tu các thiết bị thi công cơ giới Sản xuất, lắp đặt các loại kết cấu thép và thiết bị công trình trong nông nghiệp, thuỷ lợi, giao thông công nghiệp và dân dụng …
Từ đầu năm 1998, Công ty bắt đầu nghiên cứu và xây dựng phương án cổ phần hoá Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn duyệt phương án cổ phần hoá và chuyển doanh nghiệp nhà nước Công ty Cơ khí lắp ráp thiết bị Bình Triệu thành Công ty cổ phần cơ khí và xây dựng Bình Triệu
Công ty chính thức hoạt động theo điều lệ công ty cổ phần từ năm
2000
Bảng số 07: Kết quả sản xuất kinh doanh Công ty Cơ khí lắp ráp thiết
bị Bình Triệu năm 1996 – 2000 (ĐVT: Ttriệu đồng)
Trang 16Nội dung chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 Bq 2000
(Nguồn: Phòng Kế hoạch – Phòng Kế toán tài vụ)
Bảng số 08: Cơ cấu lao động Công ty Cơ khí lắp ráp thiết bị Bình
Triệu năm 1996 – 2000:
Trang 17và Phát triển nông thôn) đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành cổ phần hoá và bắt đầu hoạt động theo điều lệ công ty cổ phần từ đầu năm 2000
̇ Trước khi chuyển sang công ty cổ phần, Doanh thu của công ty đang trên đà giảm sút, Doanh thu năm 1999 chỉ bằng 75% Doanh thu 1998, còn Tỷ suất sinh lời/Doanh thu trung bình trong các năm 1996-1999 là 5,98% nhưng trong năm kề trước cổ phần hoá- năm 1999 - Tỷ suất sinh lời/Doanh thu đã giảm rất thấp, chỉ còn 2,4%, đồng thời Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh cũng giảm mạnh từ 14,13% trung bình trong các năm 1996-1999 xuống còn 7,18% trong năm 1999 Nghĩa là kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty đã có biểu hiện xấu đi rất nhiều trước khi cổ phần hoá
̇ Sau khi chuyển sang công ty cổ phần năm 2000, thì Công ty đạt được kết quả sản xuất kinh doanh được hồi phục rất đáng khích lệ và có nhiều triển vọng Doanh thu tăng 110% so với năm 1999 liền kề trước đó và tăng 122% so vơi doanh thu bình quân của cả giai đoạn 1996-
1999 Ngoài ra, Tỷ suất sinh lời/Doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh tăng khá, đạt 5,25% và 17,74% năm Điều này cho thấy tác dụng tích cực của cơ chế hoạt động của công ty cổ phần tạo cho công ty một sức phát triển mới một cách đồng bộ
Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được tổng hợp theo các bảng số 09; Diễn biến của Tỷ suất lợi nhuận bình quân theo bảng số 10 và các biểu đồ dưới đây:
Bảng số 09: Kết quả SXKD các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí
phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh năm 1996 – 2000:
Bảng số 10: Diễn biến Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp nhà
nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố HCM 1996-2000.
Trang 18Chỉ tiêu bình quân/ Đơn vị 1996 1997 1998 1999 2000
Bieu do Ty suat LN/ Von KD
• Doanh thu không ổn định Từ năm 1998, doanh thu hầu hết các đơn vị có chiều hướng giảm bình quân 15%/năm, cá biệt như Xí nghiệp Cơ khí sửa chửa – Công ty Tàu cuốc II, doanh thu năm 1999 chỉ bằng 60% năm 1998 Trường hợp Công ty Tư vấn và Đầu tư kỹ thuật cơ điện nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm – AGRINCO doanh thu tăng
Trang 19do có tăng quy mô năng lực Riêng Công ty cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu, sau khi cổ phần hoá thì doanh thu tăng đáng kể Như vậy, trong cùng một điều kiện và môi trường của các doanh nghiệp, thì cổ phần hoá góp phần kích thích sản xuất tăng trưởng
• Tỷ suất sinh lời/Doanh thu và Tỷ suất LN/ Vốn KD giảm liên tục trong thời gian 5 năm từ 1996 đến 2000, Tỷ suất bình quân của các doanh nghiệp là 2,64%năm và 9,49% năm, chưa kể đến ảnh hưởng của tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên trong hai năm gần nhất 1999-2000, đa số các doanh nghiệp đều có Tỷ suất sinh lời/Dthu xấp xỉ 1% và Tỷ suất LN/ Vốn KD xấp xỉ 5%năm Nghĩa là Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên điạ bàn thành phố Hồ Chí minh rất thấp so với tỷ suất lợi nhuận bình quân chung của các doanh nghiệp nhà nước 9,9% (Báo Tuổi trẻ ngày 29/9/2001), thấp hơn rất nhiều so với tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế (so sánh với lãi suất vay vốn) Ngoài
ra, nếu xét đến tỷ lệ lạm phát, thì hầu hết các doanh nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đều bị lỗ trong sản xuất kinh doanh Điều đáng lo ngại hơn nữa là tỷ suất lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp này có
xu hướng ngày càng giảm Chỉ ngoại trừ, Công ty cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu sau cổ phần hoá thì có đấu hiệu hồi phục đáng khích lệ, Tỷ suất lợi nhuận/Doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận/Vốn kinh doanh tăng trở lại, đạt 5,25% và 17,74%, tăng đồng bộ với tăng doanh thu ngay trong năm đầu tiên hoạt động theo điều lệ công ty cổ phần
• Đa số các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có quy mô sản xuất kinh doanh thuộc loại vừa và nhỏ, vốn kinh doanh xấp xỉ
5 tỷ đồng, trình độ công nghệ sản xuất còn ở trình độ thủ công đơn chiếc, phụ thuộc nhiều vào kỷ năng tay nghề người thợ Trong điều kiện sản xuất kinh doanh ngày càng thấp kém, nhưng hầu hết các doanh nghiệp không có chiến lược phát triển, quy mô sản xuất kinh doanh không những không có chiều hướng phát triển và mở rộng mà trái lại ngày càng bị thu hẹp Đầu tư đổi mới thiết bị dây chuyền công nghệ không đáng kể, trung bình chỉ bằng 5,41% doanh thu hàng năm, trong khi giá trị còn lại của tài sản cố định khá nhỏ, trung bình của các doanh nghiệp trong ngành chỉ xấp xỉ 35% giá trị ban đầu, đơn vị có giá trị còn lại của tài sản cố định lớn nhất trên 60% nguyên giá ban đầu Khảo sát chi tiết dây chuyền sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước
Trang 20ngaønh cô khí phúc vú nođng nghieôp vaø phaùt trieơn nođng thođn tređn ñòa baøn thaønh phoâ Hoă Chí Minh, thì phaăn lôùn caùc maùy moùc thieât bò sạn xuaât chính cụa caùc doanh nghieôp ñeău coù tuoơi ñôøi hoát ñoông tređn 20 naím, soâ löôïng caùc thieât bò sạn xuaât töï ñoông vaø baùn töï ñoông khođng ñaùng keơ Ñieău naøy cho thaây, ña soâ thieât bò vaø taøi sạn ñaõ ôû vaøo giai ñoán cuoâi cụa chu kyø ñôøi soâng cụa noù, chaât löôïng vaø naíng löïc cođng ngheô cụa caùc doanh nghieôp khođng theơ ñaùp öùng ñoøi coù tính cánh tranh cao cụa thò tröôøng hieôn ñái trong xu theâ hoôi nhaôp, khu vöïc hoaù vaø quoâc teâ hoaù ngaøy nay
• Nhieău doanh nghieôp nhaø nöôùc trong ngaønh cô khí phúc vú nođng nghieôp vaø phaùt trieơn nođng thođn tređn ñòa baøn thaønh phoâ Hoă Chí Minh coù dieôn tích söû dúng ñaât töông ñoâi lôùn, trung bình xaâp xư 10.000 m2, coù ñôn vò khoạng 2 ha Ñađy laø moôt lôïi theâ khai thaùc tređn ñòa baøn thaønh phoâ Hoă Chí Minh, moôt trung tađm kinh teâ kyõ thuaôt vaín hoaù vaø du lòch lôùn nhaât vaø naíng ñoông cụa cạ nöôùc
1.3/ Yeđu caău coơ phaăn hoaù caùc doanh nghieôp nhaø nöôùc trong ngaønh
cô khí phúc vú nođng nghieôp vaø phaùt trieơn nođng thođn tređn ñòa baøn thaønh phoâ Hoă Chí Minh:
Tình hình hoát ñoông sạn xuaât kinh doanh cụa caùc doanh nghieôp nhaø nöôùc ngaønh cô khí phúc vú nođng nghieôp vaø phaùt trieơn nođng thođn tređn ñòa baøn thaønh phoâ Hoă Chí Minh ngaøy caøng suùt giạm vaø keùm hieôu quạ Ñieău naøy, ñaịt
ra ñoøi hoûi böùc thieât cụa yeđu caău cại caùch, ñoơi môùi ñeơ táo ñoông löïc thuùc ñaơy caùc doanh nghieôp naøy phaùt trieơn Beđn cánh ñoù, söï thaønh cođng vaø phaùt trieơn ngaøy caøng lôùn mánh cụa caùc doanh nghieôp nhaø nöôùc sau khi coơ phaăn hoaù, nhö: Cođng ty coơ phaăn Cô khí vaø xađy döïng Bình Trieôu, laø cô sôû thuyeât phúc vaø khích leổ cho yeđu caău tieâp túc ñaơy mánh coơ phaăn hoaù caùc doanh nghieôp nhaø nöôùc khaùc tređn ñòa baøn thaønh phoâ Hoă Chí Minh
Soâ lieôu thoâng keđ bạng soâ 09 cho thaây: ñaău tö ñoơi môùi thieât sạn xuaât cụa caùc doanh nghieôp nhaø nöôùc ngaønh cô khí phúc vú nođng nghieôp vaø phaùt trieơn nođng thođn tređn ñòa baøn thaønh phoâ Hoă Chí Minh khođng ñaùng keơ (chư baỉng 5,41% doanh thu haøng naím) Trong khi ñoù naíng löïc sạn xuaât vaø trình ñoô cođng ngheô cụa caùc doanh nghieôp naøy quaù thaâp vaø lác haôu, giaù trò coøn lái cụa taøi sạn coâ ñònh quaù thaâp, 35.79% giaù trò ban ñaău Ñieău naøy cho thaây: phaăn lôùn caùc doanh nghieôp naøy chöa giại quyeât ñöôïc baøi toaùn voân cho nhu caău ñaău tö phaùt trieơn vôùi cô cheâ doanh nghieôp nhaø nöôùc Coơ phaăn hoaù ñöôïc coi laø moôt phöông thöùc höõu hieôu táo ñoông löïc huy ñoông voân cho caùc nhu caău phaùt trieơn sạn xuaât kinh doanh, ñoăng thôøi seõ laø moôt giại phaùp caăn thieât vaø phuø hôïp vôùi
Trang 21các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, đang thiếu sức phát triển và còn nhiều khó khăn trong đầu tư đổi mới thiết bị như các doanh nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nôn thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp lớn nhất nước; là cửa ngõ giao lưu với nền kinh tế khu vực và thế giới khi phát triển kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập, quốc tế hóa; là một nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá thúc đẩy phát triển sản xuất nói chung và nông nghiệp nói riêng của vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long và là một trong số ít địa phương có thị trường chứng khoán hình thànhvà đi dần vào hoạt động Vì vậy, có thể nói, đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là một điều kiện tiền đề và là môi trường thuận lợi cho các ngành công nghiệp kỹ thuật cơ sở như ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố (chủ yếu là doanh nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) thời gian qua vẫn chưa khai thác tận dụng tốt lợi thế này một phần do tính chất cứng nhắc nặng nề của cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước từ trung ương Thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện mở rộng và thu hút các thành phần dân cư và thành phần kinh tế sử dụng tốt kỹ năng và kinh nghiệm trong tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh khai thác tốt lợi thế này để phát triển
Ngoài ra, nhìn chung các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đều có diện tích sử dụng đất đai khá lớn, >= 10.000 m2, trong đó có một số doanh nghiệp chưa khai thác một cách có hiệu quả quỹ đất ngày càng khan hiếm Cổ phần hoá sẽ góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp tính toán và khai thác có hiệu quả hơn quỹ đất đang nắm giữ, không những có lưọi cho bản thân doanh nghiệp, mà còn mang lại nhiều lợi ích chung cho nhà nước
Tóm lại, yêu cầu cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không những phù hợp với chủ trương chính sách lớn của nhà nước về cải cách đổi mới doanh nghiệp nhà nước, mà còn xuất phát từ tình hình đặc điểm nội tại bên trong các doanh nghiệp này cần phải giải quyết để tạo động lực mới cho sự phát triển
Trang 22CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP
CƠ KHÍ PHỤC VỤ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1/ Khái quát tình hình thực hiện cổ phần hoá chung của cả nước:
Cổ phần hoá được bắt đầu thực hiện từ năm 1992 kể từ khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số QĐ 202/ CT ngày 8/6/1992 Kết quả thực hiện cổ phần hoá của cả nước được thống kê như Bảng số 11 dưới đây
Kể từ khi có chủ trương, hơn 5 năm sau, chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định 44/NĐ-CP ngày 29/06/1998 thì chương trình cổ phần hoá mới thực sự có những bước tiến và đạt được kết quả nhất định, số lượng doanh nghiệp cổ phần vượt lên con số hàng trăm, gần như hầu hết các ngành, các địa phương ít nhiều đều có doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá và xây dựng những chương trình, kế hoạch cổ phần hoá cho ngành, địa phương mình
Một số doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hoá đã đi vào hoạt động ổn định, kết quả sản xuất kinh doanh được cải thiện và tiến bộ đáng kể, tài sản và lợi tức cổ đông tăng khá nhanh, tham gia và thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán, thực sự thu hút sự quan tâm của xã hội, góp phần trăng trưởng kinh tế đưa đất nước vượt qua ảnh hưởng khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, chứng minh một cách hiện thực chính sách, đường lối đổi mới kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước Doanh thu của các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá tăng bình quân hai lần, đặt biệt có doanh nghiệp tăng gấp bốn lần như Công ty cổ phần Cơ điện lạnh thành phố Hồ Chí Minh (REE) hay Công ty cổ phần sản xuất thức ăn gia súc Việt phong (Vifooco) Lợi nhuận và nộp ngân sách của các doanh nghiệp cổ phần hoá tăng từ 2-3 lần, cụ thể như nộp ngân sách của REE tăng từ 2,8 tỷ lên gần 6 tỷ đồng, của Công ty cổ phần Sơn Bạch tuyết từ 6,8 tỷ lên 18,5 tỷ…
Tuy nhiên, kết quả cổ phần hoá chưa đạt yêu cầu mong muốn Kế hoạch cổ phần hoá liên tục bị phá vỡ và đẩy lùi, danh sách các doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hoá tồn đọng ngày một nhiều hơn, tiến trình cổ phần không những bị chậm lại mà còn bị ách tắc Dự kiến ban đầu của chính phủ đến cuối năm 2000, cả nước có khoảng 1000 doanh nghiệp được cổ phần hoá, nhưng thực tế chỉ mới đạt hơn một nửa (570 /1000)
Trang 23Bảng số 11: Số liệu các doanh nghiệp nhà nước đã được thực hiện cổ phần
hoá của cả nước tính từ ngày 08/06/1992 khi có Quyết định 202 CT-HĐBT đến 31/12/2000
STT Thời gian Số lượng được CPH trong kỳ Số lượng CPH cộng dồn
Như đã giới hạn phạm vi khảo sát, các doanh nghiệp nhà nước ngành
cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên đại bàn thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là các doanh nghiệp ngành cơ khí thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Kết quả thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong ba năm gần nhất 1998-2000 được thống kê như Bảng số 12 dưới đây:
Bảng số 12: Kết quả thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố HCM
Thời
gian Kế hoạch cổ phần hoá các DN thuộc Bộ
NN-PTNT trên địa bàn
thành phố HCM
Các DN nhà nước ngành cơ khí thuộc Bộ NN và PTNT trên địa bàn thành
Các DN nhà nước ngành cơ khí thuộc Bộ NN và PTNT trên địa
Trang 24Tổng
số
DN ngành cơ khí phục vụ
NN và PTNT
phố HCM đã thực hiện xong CPH
bàn thành phố HCM chưa cổ phần hoá
Trong năm 1999, Chính phủ phê duyệt danh sách 50 doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ thực hiện cổ phần hoá, trong đó có 09 đơn vị của Bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Trong số 09 đơn vị này, có 02 doanh nghiệp nằm trong ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn là Công ty Cơ khí và Lắp ráp Bình Triệu và Công ty Cơ điện nông nghiệp III
Trong kế hoạch cổ phần hoá năm 2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, có 10 doanh nghiệp ở các tỉnh thành phía Nam, thì tại thành phố Hồ Chí Minh có 05 đơn vị là Cảng Rau quả thuộc Công ty Rau quả III,
Xí nghiệp Chế biến hạt điều, Xí nghiệp Cơ khí Sửa chửa thuộc Công ty Tàu cuốc II và các Công ty Xây dựng 42,43 Trong số các đơn vị này, chỉ có 01 đơn vị duy nhất là Xí nghiệp Cơ khí Sửa chửa thuộc Công ty Tàu cuốc II là hoạt động trong ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Kế hoạch cổ phần hoá năm 2001 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng chưa xác định cụ thể và cũng chủ trương tiếp tục rà soát, tập trung giải quyết tồn đọng kế hoạch các năm trước
Tóm lại, doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không nhiều, chủ yếu thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cho đến cuối năm 2000, danh sách doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có trong kế hoạch chỉ có 03 đơn vị là Công ty Cơ khí và Lắp ráp thiết bị Bình Triệu, Xí nghiệp Cơ khí Sửa chửa
- Công ty Tàu cuốc II và Công ty Cơ điện III Trong đó, Công ty Cơ khí và Lắp ráp thiết bị Bình Triệu đã thưÏc hiện xong cổ phần hoá đổi tên thành Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu và hoạt động theo điều lệ
Trang 25công ty cổ phần từ đầu năm 2000 Danh sách doanh nghiệp cổ phần hoá có trong kế hoạch còn tồn đọng là 02 đơn vị: Xí nghiệp Cơ khí Sửa chửa – Công
ty Tàu cuốc II và Công ty Cơ điện III Những doanh nghiệp trong ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn lại như Công ty Cơ khí công trình thuỷ 276, Công ty Tư vấn và Thiết kế Cơ điện nông nghiệp vẫn chưa có xác định rõ rệt kế hoạch cổ phần hoá, đồng thời Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng không xác định chỉ tiêu cho năm 2001 và các năm tiếp theo
Tuy nhiên, bước sang năm 2001, yêu cầu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước sau một thời gian ngưng trệ, lại được tiếp tục thúc đẩy theo tinh thần Nghị quyết TW 03 khoá IX Ban Đổi mới doanh nghiệp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang khẩn trương bổ sung và mở rộng thêm danh sách doanh nghiệp trong kế hoạch cổ phần hoá thời gian tới
2.3/ Các yếu tố và nguyên nhân tác động cản trở quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1/ Nhóm yếu tố và nguyên nhân liên quan đến chính sách vĩ mô, cơ chế quản lý, mối quan hệ dọc:
Trước hết là môi trường pháp luật có liên quan đến cổ phần hoá chưa ổn định và thống nhất
Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được Hội đồng Bộ trưởng ban hành theo Quyết định 143 – HĐBT đầu năm 1990
Quyết định số 202/HĐBT ngày 8/6/1992 của Hội đồng Bộ trưởng đặt
ra những nguyên tắc cơ bản cho tiến trình cổ phần hoá, chính thức bắt đầu và cụ thể hoá về mặt điều hành nhà nước một chính sách, chủ trương lớn và quan trọng của Đảng
Nghị định 84/ TTg ngày 03/04/1993 quyết định đẩy mạnh thí điểm cổ phần hoá và đề ra các giải pháp nhằm đa dạng hoá sở hữu trong các doanh nghiệp nhà nước
Nghị định 26/CP ngày 07/05/1996 và sau đó được Nghị định 44/NĐ-CP ngày 26/08/1998 mở rộng, thực sự đóng vai trò là một khung pháp lý cung cấp những hướng dẫn chi tiết cho việc cổ phần hoá, thực sự tạo được “cú hích” thúc đẩy cổ phần hoá, nhất là Nghị định 44/NĐ-CP
Khung pháp luật của việc cổ phần hoá được tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp hơn với tình hình thực tế qua các Nghị định 103/1999 NĐ-CP, Quyết định 145/1999QĐ-TTg ngày 28/06/1999 về việc bán cổ phần
Trang 26cho người đầu tư nước ngoài, Quyết định 177 của Chính phủ ngày 30/08/1999 về việc thành lập quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Đồng bộ đi theo các nghị định và quyết định của Chính phủ là các thông tư, hướng dẫn chuyên ngành của các bộ, như Thông tư 132/1999TT-BTC ngày 15/11/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn quy chế bán cổ phần, Thông tư 11/1998TT-LĐ-XH của Bộ Lao động, thương binh và xã hội…
Tuy nhiên, văn bản pháp luật vẫn chưa phân định rạch ròi vai trò quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đa sở hữu có vốn góp của nhà nước, nên gần như mỗi nơi vận dụng theo những cách thức riêng biệt không thống nhất, làm giảm sút hiệu quả quá trình cổ phần hoá
Từ lúc có chủ trương ban đầu của nhà nước về cổ phần hoá (QĐ 134 HĐBT năm 1990) đến 8 năm sau mới thực sự có một văn bản pháp luật khung và tương đối cơ bản cho công tác cổ phần hoá như Nghị định 44NĐ-CP ngày 26/08/1998 Thực tế đã chứng minh trong giai đoạn 8 năm này, số doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá chỉ leo tèo năm ba đơn vị, chỉ sau khi có Nghị định 44NĐ-CP mới tạo sự nhảy vọt với hàng trăm đơn vị được cổ phần hoá Điều đó chứng tỏ, khi một chủ trương, chính sách lớn của nhà nước về cổ phần hoá được pháp luật hoá một các đồng bộ và cụ thể thì hiệu quả triển khai thực hiện nó trong thực tế sẽ được nâng cao rõ rệt
Tuy nhiên, nhiều vấn có tính chất nguyên lý, có ảnh hưởng khá lớn trong quá trình thực hiện cổ phàn hoá, như: nguyên tắc đánh giá và xác định giá trị doanh nghiệp, phạm vi lĩnh vực ngành nghề và mức độ cổ phần hoá, phạm vi các đối tượng chủ thể sở hữu, cơ chế hoạt động các tổ chức đảng đoàn, chính sách đối với người lao động và cơ chế quản lý sau khi doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá…,vẫn chưa được đề cập đầy đủ trong 44NĐ-CP Đôi khi, một số nội dung khá quan trọng lại chồng chéo mâu thuẩn nhau giữa các văn bản pháp luật
Chẳng hạn: Về vấn đề đánh giá tài sản doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hoá, Nghị định 25 CP/TTg ngày 07/05/1996 xác định quá trình đánh giá phải theo 03 bước gồm: (1) Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp tự đánh giá tổng giá trị tài sản doanh nghiệp; (2) Doanh nghiệp được cổ phần hoá phải mời tổ chức kiểm toán đánh giá và (3) giá trị tài sản được đề nghị xuất phải được đánh giá bởi Uỷ ban đánh giá trung ương trực thuộc Bộ Tài chánh Trong khi đó, Nghị định 44 CP/TTg ngày 29/06/1998 lại đưa ra tình huống khác, là giá trị tài sản của doanh nghiệp được cổ phần hoá không cần thiết phải được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập và có thể được đánh giá bởi Bộ Tài chánh (nếu như giá trị tài sản của doanh nghiệp trên 10 tỷ
Trang 27VNĐ) hoặc do Tổng công ty 91 và chính quyền địa phương đánh giá (nếu giá trị tàu sản của doanh nghiệp thấp dưới 10 tỷ VNĐ)
Đặc điểm của các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là có diện tích sử dụng đất đai tương đối lớn, bình quân xấp xỉ 10.000m2
Diện tích đất đó đã được đầu tư cải tạo như đỗ nền san lấp từ ao hồ sình lầy tự nhiên bằng nguồn vốn tự có, nhưng chưa hợp thức hoá, như trường hợp Xí Nghiệp
Cơ khí Sửa chửa – Công ty Tàu cuốc II hay Công ty Cơ khí và Lắp máy Bình Triệu Vì vậy, nếu chuyển đổi sang cổ phần sẽ có khả năng xãy ra tình trạng
dư thừa diện tích sử dụng đất theo phương án kinh doanh sau cổ phần hoá Do vậy, xuất hiện một tình trạng chờ đợi cầm chừng tính toán hơn thiệt và sợ trách nhiệm trong quá trình thực hiện chủ trương cổ phần hoá đang diễn ra và làm các doanh nghiệp không quyết tâm cổ phần hoá
Tóm lại, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đãbước đầu làm cơ sở pháp lý và hổ trợ, tháo gỡ những vướng mắc cho hoạt động cổ phần hoá trong quá trình triển khai thực hiện từ 1992 Nhưng, hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động cổ phần hoá vẫn còn trong tình trạng “bước đầu” tản mạn, rãi rác ở các Nghị định, Quyết định tách rời và mang tính tình thế, chưa được luật hoá ở cấp cao nhất, thiếu tính ổn định, tính hệ thống, tính khoa học và chưa bao trùm, đề cập đầy đủ các vấn đề có thể phát sinh mắc mứu trong quá trình thực hiện Vì vậy, kết quả cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn gặp nhiều trở ngại khó khăn, chưa thật sự thu hút sự hưởng ứng của mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội Cổ phần hoá được tiến hành chủ yếu dựa trên cơ sở tự nguyện của các doanh nghiệp nhà nước trong ngành, tính tuân thủ pháp luật và cơ chế đảm bảo để quá trình thực hiện cổ phần hoá còn thấp, hiệu quả cổ phần hoá thấp
Doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hoá sẽ chuyển đổi thành công
ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp được Quốc Hội thông qua ngày 12/06/1999 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 Nhưng kết quả cổ phần hoá còn hạn chế vì ở mức độ vĩ mô chúng ta chưa thật sự có một môi trường kinh tế bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
Một khi mà môi trường hoạt động và các cơ chế chính sách vĩ mô đối với các loại hình doanh nghiệp của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chưa được hoàn toàn thuận lợi và bình đẳng với kinh tế nhà nước, thì quá trình cổ phần hoá không chỉ đối với các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí
Trang 28phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh mà bất kỳ doanh nghiệp thuộc ngành nào hoặc địa phương nào cũng vẫn còn gặp phải một lực cản vô hình đáng ngại, tạo ra một tâm lý lây lan bất an hoặc không mạnh dạn trong việc hưởng ứng mua cổ phần tham gia đầu tư vào doanh nghiệp
Chẳng hạn, kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu ngay trong năm đầu tiên sau cổ phần hoá đã đạt doanh thu tăng 110% và Tỷ suất sinh lời / Doanh thu tăng từ 2,40% lên 5,25% và Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn kinh doanh cũng tăng từ 7,18% lên 17,74% Nhưng, Công ty cũng bắt đầu xuất hiện một số khó khăn mới mà khi còn là doanh nghiệp nhà nước ít khi gặp phải, như: Công ty không còn được ưu ái như doanh nghiệp nhà nước trong vay tín dụng Điều này đã làm không ít nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước muốn bỏ vốn làm ăn kêu ca, nãn lòng thoái chí
Một vấn đề khác làm chậm quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đó là sự quan tâm chưa thực sự của cấp chủ quản cũng như tính nghiêm túc, tính pháp lệnh chưa cao trong việc chấp hành chủ trương cổ phần hóa Mặc dù chủ trương cổ phần hoá đã có từ năm
1992, nhưng mãi đến năm1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mới xây dựng được kế hoạch, chương trình cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ ở các tỉnh phía Nam Việc xây dựng các kế hoạch chương trình cổ phần hoá đã chậm nhưng lại chưa được sâu xác và phù hợp với tình hình thực tế, thiếu các cơ chế đảm bảo trong tổ chức triển khai thực hiện, nên tính khả thi kém, dễ bị phá vỡ kế hoạch Đến cuối năm 2000, do việc thực hiện kế hoạch cổ phần hoá gặp nhiều khó khăn không đúng như yêu cầu, nên gần như kế hoạch bị buông lỏng, để tự phát và ít được đề cầp, đốn đốc như trước nữa Năm 2001, Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn không đặt ra chỉ tiêu kế hoạch cổ phần hoá nữa, mà chủ yếu tập trung vào “giải quyết tồn kho” Kết quả thực hiện cổ phần hoá mang tính “nhỏ giọt” cho thấy vai trò cấp bộ, cấp điều hành vĩ mô của một ngành, chưa thực sự quán triệt , chủ động và kiên quyết thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp trực thuộc ngành quản lý
Chủ trương của nhà nước là đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước không thuộc những lĩnh vực kinh tế quan trọng, thiết yếu hoặc có liên quan lợi ích an ninh quốc gia, những doanh nghiệp trong các ngành nghề nhà nước không cần nắm giữ sở hữu hoặc nắm giữ cổ phần chi phối Tuy nhiên hệ thống tiêu chí để làm căn cứ lựa chọn lập kế hoạch danh sách
Trang 29doanh nghiệp nhà nước đưa vào cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp trong ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa thể cụ thể và thống nhất, nên gây nhiều tranh cải bàn mất nhiều thời gian Do vậy cuối cùng việc đưa một doanh nghiệp vào kế hoạch danh sách cổ phần hoá chủ yếu phụ thuộc vào việc tự nguyện đăng ký của doanh nghiệp, còn cấp quản lý nhà nước gần như dừng lại ở mức vận động một cách bị động, kém hiệu quả Ngoài ra, trong số các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có những doanh nghiệp không hạch toán độc lập như Xí nghiệp Cơ khí Sửa chửa thuộc Công ty Tàu cuốc II cổ phần hoá đối tượng doanh nghiệp này cũng có những vướng mắc riêng không như đối với một doanh nghiệp độc lập
Tóm lại ở cấp độ vĩ mô, Nhà nước chưa bảo đảm môi trường pháp luật và môi trường kinh tế xã hội thuận lợi để đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá phù hợp với đặc điểm và điều kiện của các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời vai trò Bộ chủ quản vẫn chưa có một hệ thống các tiêu chí chuẩn mực để làm căn cứ và định hướng cho việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn danh sách cổ phần hoá một cách nhất quán và hiệu quả Vì vậy tính khả thi của các kế hoạch và tính hiệu quả quá trình thực hiện chủ trương cổ phần hoá còn khá thấp
2.3.2 Nhóm yếu tố và nguyên nhân liên quan đến con người và tổ chức:
Suy cho cùng thì con người vẫn là trung tâm của mọi vấn đề, nhất là các vấn đề về kinh tế xã hội Nguyên nhân do yếu tố con người và tổ chức là một trong những nguyên nhân chủ yếu, làm cho tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nói chung cũng như doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nôn nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không đạt được kết quả như mong đợi Có thể nói, nguyên nhân do yếu tố con người và tổ chức là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đồng thời đây cũng là vấn đề nói thì đễ dàng và đơn giản, nhưng giải quyết thì vô cùng khó khăn và phức tạp
Nguyên nhân chậm trễ cổ phần hoá do yếu tố con người và tổ chức là nguyên nhân chung phổ biến cho mọi ngành nghề trong tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã được nhiều phương tiện thông tin đề cập
Trên báo Kinh tế Sài Gòn ngày 28/12/2000, tác giả Hải Lý nêu lên 3 nguyên nhân được nhắc đi nhắc lại nhiều làm cho cổ phần hoá bị chựng lại, thì trong đó có 2 nguyên nhân thuộc yếu tố tổ chức và con người: “ Thứ nhất
Trang 30là sự không nhất trí trong hàng ngũ lãnh đạo ở các cấp về quan điểm cổ phần hóa” và “Nguyên nhân thứ ba là một lực cản rất lớn đối với tiến trình cổ phần hoá đang có nguy cơ trỗi dậy từ phía các doanh nghiệp.” Quan điểm này được tác giả Phan Thế Hải ở Bộ Thương mại đồng tình: “ Chủ trương cổ phần hoá của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt đầøy đủ ở các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là ở các khâu trung gian như sở, ban ngành, tổng công ty”, “ Ngoài việc đụng chạm đến lợi ích, bao gồm cả lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, đơn vị và cả lợi ích của cá nhân, còn có một lý do khác là thói quen trì trệ, thích yên ổn, ngại thay đổi Không ít tổng công ty ngần ngại chỉ đạo triển khai cổ phần hoá, vì e rằng khi một công ty thành viên được cổ phần hoá, tính độc lập sẽ cao hơn, ít lệ thuộc vào tổng công ty hơn.” (Tạp chí Cộng sản số 22 tháng 11/2000) Hoặc theo ông Nguyễn văn Huy ở Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp Trung ương, nhận xét: “nhận thức và quyết tâm cổ phần hoá của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương chưa đạt yêu cầu”
Trên tạp chí Phát triển kinh tế số 122, tác giả Nguyễn hoàng Sơn cho rằng: “Nhiều giám đốc của các doanh nghiệp nhà nước sợ rằng cổ phần hoá sẽ làm mất đi quyền lực vốn có từ bấy lâu nay”
Đối với quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nguyên nhân do yếu tố con người và tổ chức có những đặc điểm riêng như sau:
Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đều có quá trình thành lập và phát triển khá lâu, trung bình trên 20 năm Giám đốc các doanh nghiệp này phần lớn được đào tạo từ trong môi trường kinh tế Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây, đều do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ định, bổ nhiệm Họ quen với hoạt động trong môi trường kinh tế ít nhiều còn bao cấp của nhà nước; nhận được sự hổ trợ, bảo vệ về nhiều mặt từ phía
cơ quan chủ quản Vì vậy, họ không mặn nồng ủng hộ đưa đơn vị mình vào chương trình cổ phần hoá vì sợ rằng sẽ chưa chắc còn điều hành doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp được cổ phần hoá; Hoặc cho dù họ còn tại vị thì cũng phải chịu áp lực rất lớn do cơ chế hoạt động mới đòi hỏi cấp quản trị phải có năng lực thật sự trong cơ chế thị trường nhiều rủi ro và cạnh tranh gay gắt, mà ít nhiều họ chưa được đào tạo chính quy và còn thiếu kinh nghiệm, nhất là trong điều kiện thị trường sản phẩm ngành cơ khí của Việt Nam còn nhiều khó khăn và chưa ổn định Lực cản cổ phần hoá do cấp lãnh đạo trực tiếp tại doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn và có tính quyết định,
Trang 31nhất là cá nhân giám đốc doanh nghiệp, vì họ là người đại diện doanh nghiệp về mặt pháp lý, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự không nhiệt tình ủng hộ cổ phần hoá của các giám đốc doanh nghiệp, hợp cùng với sự thiếu quan tâm và kiên quyết của cấp quản lý vĩ mô nhà nước thực sự là một trở ngại rất lớn cho tiến trình cổ phần hoá Điều này trong thực tế càng thêm vướng mắc vì hầu hết tại các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, các giám đốc doanh nghiệp lại chính là trưởng ban đổi mới của doanh nghiệp! Do vậy, nên dù kế hoạch, lập danh sách cổ phần hoá các doanh nghiệp cơ khí nhà nước phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã có tên một số đơn vị như Công ty Tàu cuốc II và Công ty Cơ điện III…đồng thời đại diện Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn lên xuống làm việc khá nhiều lần để xúc tiến đẩy mạnh cổ phần hoá trong ngành, nhưng kết quả có thể nói là dẫm chân tại chỗ, chưa thể tiến triển được
Bên cạnh nguyên nhân do cấp lãnh đạo trực tiếp doanh nghiệp, sự chậm trễ và hiệu quả thấp kém của quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn do nhận thức chưa đúng của một số không nhỏ trong lực lượng người lao động tại các doanh nghiệp liên quan đến nhận thức của họ các vấn đề việc làm và thu nhập
Đặc điểm cơ cấu lao động tại các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ở Bảng số 13 cho thấy:
Bảng số 13: Đặc điểm cơ cấu lao động của các doanh nghiệp nhà nước
ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 32Thành phần lao động Tên doanh nghiệp Bq ngành
Cty CK276 Xn CKSC ARGINCO CtyCKBTriệu
Các doanh nghiệp nhà nước ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ lao động nữ chiếm tương đối khá 16,65%, đồng thời lao động có độ tuổi >= 30 tuổi chiếm gần 65% trong đó độ tuổi từ 40 đến 50 tuổi chiếm gần 24% Các đối tượng lao động này thường đã có độ chín kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp và thường có xu hướng thích ổn định, bắt đầu ngại môi trường thường xuyên thay đổi và rủi ro Đặc điểm cơ cấu lao động này có ảnh hưởng khá lớn đến quá trình cổ phần hoá
Một số lớn những người này sống, làm việc và quen với môi trường bao cấp nhà nước trước đây, an phận với sự “ổn định” của doanh nghiệp nhà nước và bám chặt với cái hư danh là “công nhân viên chức nhà nước”, ngại thay đổi, nhận thức một cách đơn giản máy móc và đồng nhất hoá cổ phần hoá với tư nhân hoá, lo sợ rằng bản thân mình sẽ sớm bị lớp chủ mới loại bỏ nằm ngoài dây chuyền, mất việc, thu nhập giảm sút, không bảo đảm giải quyết tốt các chế phúc lợi xã hội sau khi cổ phần hoá Với những nghi ngại như vậy, một bộ phận người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước không ủng hộ mạnh mẽ việc đưa doanh nghiệp mình vào thực hiện cổ phần hoá
Về quan điểm, việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đặt ra nhiều vấn đề tranh cải bên trong nội bộ ngành và cấp chủ quản của doanh nghiệp Một số ý kiến cho rằng tính chất hoạt động của ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn không hoàn toàn mang tính thị trường, là ngành cần để nhà nước tập trung đầu tư và phát triển nhằm đảm bảo thực
Trang 33hiện tốt các mục tiêu kinh tế xã hội chung Cổ phần hoá sẽ làm cho doanh nghiệp, sau khi chuyển đổi sở hữu, quá đề cao tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, chạy theo lợi nhuận, sẽ gây nhiều khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu kinh tế xã hội Do đó, họ đấu tranh cho quan điểm giữ mô hình doanh nghiệp nhà nước đối với các doanh nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn, không ủng hộ cổ phần hoá loại ngành này
Trong số các doanh nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn, có một số đơn vị không là doanh nghiệp hoàn toàn độc lập, mà nằm trong tổ chức chung đồng bộ và đa lĩnh vực ngành nghề, như Xí nghiệp
cơ khí sửa chửa thuộc Công ty tàu cuốc II Việc tách rời các đơn vị này ra cổ phần hoá làm cho lãnh đạo các Công ty, Tổng công ty cấp trên trực tiếp lo âu sẽ bị mất quyền lực, bị động trong điều hành để thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ của họ Do đó, họ không sẵn lòng, tự nguyện, hoặc tìm cách trì hoãn nếu có chủ trương bắt buộc đưa bộ phận doanh nghiệp trực thuộc thực hiện cổ phần hoá
2.2.3/ Nhóm nguyên nhân liên quan đến yếu tố tài chánh:
Nhóm yếu tố và nguyên nhân liên quan đến tài chánh trong quá trình cổ phần hoá bao gồm các vấn đề chủ yếu, như: xác định giá trị doanh nghiệp, giá trị sử dụng đất khi thay đổi hình thức sở hữu, cổ đông cổ phiếu và vấn đề nợ vay phải thu phải trả Tất cả các vấn liên quan đến nhóm yếu tố tài chánh đều phức tạp, khó khăn và chính là nguyên chủ yếu có ảnh hưởng lớn nhất, làm cho quá trình cổ phần hoá bị chậm chạp
A/ Xác định giá trị doanh nghiệp trong cổ phần hoá:
Khi thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thì việc xác định giá trị doanh nghiệp là một việc cấp thiết và là vấn đề quan trọng, mấu chốt, làm cơ sở cho các bước tiếp theo trong quá trình cổ phần hoá, như định giá trị cổ phiếu Đây cũng là một vướng mắc to lớn và phổ biến, gặp phải ở hầu hết các ngành, các địa phương khi thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nói chung “Doanh nghiệp cố ý đánh giá trị thấp, cơ quan tài chánh đánh giá trị cao, hai bên có kè, mất nhiều phiên họp Tương tự khi xác định giá trị lợi thế thương quyền, các doanh nghiệp không muốn áp dụng công thức do Bộ Tài chánh đặt ra.” (Vương Linh- báo Phụ nữ ngày 27/01/1999)
Việc xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp, tức là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá để cả “người mua” và “người bán” đều chấp nhận là phù hợp nguyên tắc của thị trường