1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương pháp định giá doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

54 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 7,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó việc cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là nhằm mục tiêu cũng cố lại các doanh nghiệp nhà nước, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả, doanh ngh

Trang 1

V V N TI N

TP H Chí Minh – N m 2001

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DN 3 1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần 3

1.2.2 Các yếu tố ảnh nhưởng đến giá trị doanh nghiệp 5 1.2.3 Tầm quan trọng trong việc xác định đúng giá trị DN để cổ phần hoá 8

1.3 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp 9 1.3.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần 9 1.3.2 Phương pháp độ chênh lệch tiền lời 10 1.3.3 Phương pháp hiện giá các kết quả 12 1.3.4 Phương pháp của các nhà thực hành 15

CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỰC HIIỆN CỔ PHẦN HÓA HIỆN

2.1 Nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp 17

2.2 Những vướng mắc trong phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước

thực hiện cổ phần hóa 22

CHƯƠNG III : XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA 31 3.1 Xây dựng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp 31 3.1.1 Xác định giá trị tài sản hữu hình 31

3.1.3 Xác định giá trị quyền sử dụng đất 38

3.2 Ví dụ minh họa việc ứng dụng phương pháp định giá của các nhà thực hành

vào việc định giá Công ty X 41

3.2.2 Các báo cáo tài chính qua các năm 42

Trang 3

3.2.4 Định giá Công ty X 44 3.2.4.1 Định giá tài sản hữu hình ròng 44

3.2.4.3 Định giá giá trị quyền sử dụng đất 47

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phương pháp xác định giá trị

doanh nghiệp trong thời gian tới 48

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 DƯƠNG THỊ BÌNH MINH Lý thuyết tài chính NXB Giáo Dục 1997

2 NGUYỄN THỊ KHOA Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hoá, thực trạng và giải pháp NCKH 2001

3 VÕ THỊ QUÝ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xác định giá trị

doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hóa NCKH

4 NGUYỄN HẢI SẢN Đánh giá Doanh nghiệp NXB tài chính 1999

5 ĐỖ VĂN THUẬN Đánh giá giá trị doanh nghiệp NXB TP.HCM 1996

6 ĐOÀN VĂN TRUỜNG Các phương pháp thẩm định giá trị bất động sản

NXB Khoa học Kỹ thuật 1999

7 Báo thanh niên, Báo tuổi trẻ

8 Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành NXB TP.HCM 2000

9 15 điểm đánh giá doanh nghiệp của FISHER Webside CKcom7.com

10 Tạp chí “Phát triển kinh tế” Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM

11.Tạp chí “Đầu tư chứng khoán”

12.Thông tư 104/1998/TT-BTC ngày 18.7.1998 Hướng dẫn những vấn đề về tài

chính khi chuyển DNNN thành công ty cổ phần

13.Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29.6.1998 về chuyển DNNN thành công ty cổ

phần

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Trong thời gian qua các doanh nghiệp nhà nước có những đóng góp rất lớn cho nền kinh tế nước ta phục vụ đắc lực cho các chủ trương phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước

Với chủ trương chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo đọäng lực thúc đẩy nền kinh tế nước ta tăng trưởng cao, nhưng song song đó một số doanh nghiệp nhà nước đã không thích ứng được với cơ chế thị trường đòi hỏi sự năng động, sáng tạo dẫn đến hoạt động kém hiệu quả, trì trệ, thua lỗ kéo dài, theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội “năng lực cạnh tranh hàng công nghiệp của ta còn thấp; trang thiết bị, công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn yếu kém, lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20 năm Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước chưa cao, hiện có khoảng 20% số doanh nghiệp thua lỗ liên tục… Những điều trên cho thấy , nền kinh tế chưa có chuyển biến tích cực về chiều sâu và chất lượng Đây là yếu tố làm cho nền kinh tế Việt nam phát triển thiếu vững chắc” ( ) 1 Do đó việc cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là nhằm mục tiêu cũng cố lại các doanh nghiệp nhà nước, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả, doanh nghiệp nhà nước chỉ tập trung vào những ngành mũi nhọn, then chốt nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đồng thời thu hút vốn, công nghệ, phương pháp quản lý tiên tiến để phát triển nền kinh tế tiến hành công cuộc hiện đại hóa đất nước

Trong quá trình cổ phần hóa, việc xác định đúng đắn, hợp lý giá trị tài sản doanh nghiệp là một nhiệm vụ rất quan trọng, nó tạo điều kiện cho việc cổ phần hoá nhanh chóng, đồng thời đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư và không làm tổn thất tài sản của nhà nước Tuy nhiên phương pháp để định giá doanh nghiệp hiện nay vẫn có những tồn tại chưa đáp ứng được yêu cầu để định giá doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hoá Do đó việc chọn đề tài “Phương pháp định giá doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá” là nhằm đóng góp thêm ý kiến, giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình định giá

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Làm rõ những vấn đề về lý luận trong việc định giá doanh nghiệp Phân tích thực trạng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp đang được sử dụng,

1 Theo Báo Thanh Niên số 279 ngày 21.11.2001

Trang 6

qua đó xây dựng phương pháp định giá phù hợp với thực tiễn và kiến nghị môt số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Phạm vi nghiên cứu

Định giá doanh nghiệp là một vấn đề lớn và phức tạp, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực và đòi hỏi những kỹ năng chuyên sâu Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài tôi chỉ tập trung vào một số vấn đề chủ yếu liên quan đến việc định giá các doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập

Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng trong quá trình nghiên cứu nội dung của đề tài

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được chia làm 3 chương

Chương I : Cơ sở lý luận của viẹâc xác định giá trị doanh nghiệp

Chương II : Phân tích phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước

thực hiện cổ phần hóa hiện nay

Chương III : Xây dựng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hoá

Trang 7

Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH

GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát về Doanh nghiệp nhà nước và Công ty cổ phần

1.1.1 Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) :

Đây là loại doanh nghiệp mà vốn sản xuất kinh doanh ban đầu do ngân sách nhà nước cấp phát cho doanh nghiệp hoạt động và ngân sách nhà nước hổ trợ trực tiếp các nguồn tài chính để thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của nhà nước

Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn vốn của ngân sách, thực hiện các nghiã vụ nộp thuế theo luật pháp như các doanh nghiệp khác Ngoài ra, các DNNN còn phải nộp khoản thuế trên vốn từ việc sử dụng vốn của ngân sách nhà nước Doanh nghiệp được quyền vay vốn từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, phát hành trái phiếu xí nghiệp theo quy định của pháp luật để huy động vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh

Trong quá trình phân phối thu nhập sau khi thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, bù đắp các chi phí tiêu hao vật chất, trả lương cho người lao động, phần lợi nhuận còn lại được phân phối để hình thành các quỹ khuyến khích kinh tế trong doanh nghiệp và được sử dụng cho yêu cầu tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp này không có sự chuyển dịch về quan hệ sở hữu

Hiện nay ở nước ta đang trong quá trình chuyển tiếp nền kinh tế sang kinh tế thị trường Trong cơ chế mới, việc phát huy vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, chuyển sở hữu đơn nhất sang đa sở hữu đã dẫn đến xu hướng cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh Doanh nghiệp nhà nước sẽ chỉ tồn tại và hoạt động trong các ngành kinh tế mũi nhọn và then chốt, còn đại bộ phận sẽ chuyển thành công ty cổ phần Quá trình cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh cùng với sự hình thành của những công ty cổ phần mới sẽ cho phép huy động tối đa khối lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư phát triển kinh tế

1.1.2 Công ty cổ phần :

Đây là một tổ chức kinh doanh có số vốn thuộc sở hữu chung của nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần, vốn của công ty được chia thành những

Trang 8

phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành dưới hình thức cổ phiếu Người góp vốn vào công ty được nắm giữ cổ phiếu và được gọi là cổ đông của công ty Cổ phiếu xác nhận quyền của cổ đông được nhận một phần lợi nhuận hàng năm của công ty tương ứng với số vốn góp – gọi là cổ tức Tùy theo loại cổ phiếu phát hành mà cổ tức có thể cố định trên từng cổ phiếu hoặc cổ tức sẽ biến động phụ thuộc vào chính sách phân chia lợi nhuận hàng năm của công ty Về mặt pháp lý, trong loại hình công ty cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn Điều đó có nghĩa là họ chỉ chịu trách nhiệm đối với công nợ của công

ty trong giới hạn số vốn mà họ đã có Cổ phiếu của công ty được mua bán tự do trên thị trường, trừ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng hoặc cổ phiếu phổ thông do các cổ đông sáng lập nắm giữ khi muốn chuyển nhượng phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận hoặc quá thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, do đó tạo điều kiện lợi cho người đầu tư có thể chuyển vốn dễ dàng từ công ty này sang công ty khác Chính vì vậy mà hình thức công ty cổ phần ngày càng phát triển và được giới đầu tư rất quan tâm

Về mặt sở hữu, công ty cổ phần là hình thức sở hữu hỗn hợp mà các cổ đông có thể là nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ, các tổ chức tài chính trung gian và các cá nhân Trong quá trình hoạt động, nếu công

ty cần tăng vốn để mở rộng quy mô kinh doanh, đại cổ đông công ty có thể quyết định phát hành thêm cổ phiếu mới, vay vốn từ ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu

Thu nhập công ty sau khi trừ những khoản bắt buộc như : bồi hoàn chi phí sản xuất, thuế nộp chi ngân sách, trả lãi cho trái phiếu, trả lãi cho cổ phiếu có cổ tức cố định, trích lập các quỹ công ty … phần còn lại được chia đều cho các cổ đông có cổ phiếu mà cổ tức phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Số cổ đông tham gia vào công ty không bị giới hạn số lượng tốt đa Điều này tạo khả năng cho các công ty cổ phần có thể kêu gọi đầu tư với khối lượng lớn Do đó, tại các nước có nền kinh tế phát triển, loại hình công ty cổ phần rất phổ biến và đã góp phần không nhỏ vào quá trình tập trung vốn để thực hiện những dự án phát triển kinh tế với quy mô lớn

Qua các khái niệm về doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần ta thấy sự khác biệt căn bản giữa hai loại hình này chính là quyền sở hữu đối với doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước thuộc quyền sở hữu của nhà nước, do nhà nước quản lý và điều hành Trong công ty cồ phần quyền sở hữu thuộc về các cổ đông, cổ đông nào nắm đủ số lượng cổ phiếu chi phối theo điều lệ thì có quyền

Trang 9

quyết định hoạt động của công ty Việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chính là quá trình chuyển quyển sở hữu doanh nghiệp từ loại hình sở hữu nhà nước sang loại hình sở hữu hỗn hợp, như vậy việc định giá doanh nghiệp đóng vai trò rất lớn trong tiến trình cổ phần hoá là cơ sở để người bán (nhà nước), người mua (công ty, tổ chức, cá nhân…) đạt được mục tiêu thuận mua vừa bán

1.2 Khái niệm giá trị doanh nghiệp :

1.2.1 Giá trị doanh nghiệp :

Giá trị cuối cùng của một doanh nghiệp là một giá trị phức hợp của các yếu tố hữu hình và các yếu tố vô hình

Giá trị của

doanh nghiệp = yếu tố hữu hình Giá trị của các + Giá trị của các yếu tố vô hình

Phương trình trên cho ta thấy việc xác định giá trị doanh nghiệp chính là đánh giá một cách chính xác giá trị của các yếu tố hữu hình và phải lượng hóa được giá trị các yếu tố vô hình Điều này đòi hỏi phải nắm bắt một cách toàn diện các yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp mới có thể đánh giá một cách tổng thể giá trị của nó

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp :

♦ Khả năng sinh lợi : là khả năng tạo ra thu nhập lớn hơn sự mong đợi do đầu

tư mang lại Khi định giá tài sản để đầu tư, thực chất nhà đầu tư không mua tài sản đó mà muốn sở hữu dòng thu nhập do tài sản đó đem lại cho họ trong tương lai Do đó, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư khi mua doanh nghiệp

♦ Xu thế của lợi nhuận : Kết quả trong quá khứ của doanh nghiệp chỉ là cơ sở để xem xét, không phải là yếu tố có tính quyết định Khi nhà đầu tư quyết định mua doanh nghiệp có nghĩa là họ chấp nhận đánh đổi một lượng của cải chắc chắn của họ đang có để có cơ hội sở hữu một dòng của cải mà khả năng doanh nghiệp có thể tạo ra trong tương lai Điều đó có nghĩa là hoạt động đầu

tư có rủi ro Như vậy điều gì đã hấp dẫn họ ? đó chính là xu thế tăng trưởng lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra trong tương lai có thể cao hơn mức mà họ đang kiếm được tương ứng với mức độ rủi ro đã được nhận dạng

♦ Sự lành mạnh của tình hình tài chính : Một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh sẽ làm giảm rủi ro của đồng vốn đầu tư, hay nói cách khác các nhà đầu tư đánh giá cao các cơ hội đầu tư tương đối an toàn Sự yếu kém của các doanh nghiệp về mặt tài chính được biểu hiện như dư nợ nhiều, nợ quá hạn lớn, hàng tồn kho quá mức cần thiết… những doanh nghiệp như vậy

Trang 10

khó tìm được người mua hoặc bán với giá thấp

♦ Hiện trạng của tài sản hữu hình : Tài sản hữu hình là những trang thiết bị cũ hay mới, trình độ công nghệ tiên tiến hay lạc hậu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ cho tương lai, đồng thời cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của chúng trên thị trường về mặt chi phí sản xuất và chất lượng Tức là sẽ quyết định thị phần của doanh nghiệp, điều này lại ảnh hưởng trực tiếp đến dòng doanh thu và lợi nhuận mong đợi trong tương lai Ngoài ra, nếu hàng tồn kho không phù hợp với hoạt động mới thì chi phí giải quyết hàng tồn kho sẽ làm tăng chi phí hoạt động hay làm giảm giá trị doanh nghiệp

Tài sản vô hình : bao gồm những tài sản có giá trị biểu hiện cụ thể như các văn bằng, chứng chỉ phát minh, sáng chế, các giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền theo hợp đồng thuê địa điểm kinh doanh

… và những tài sản không có giá trị biểu hiện cụ thể như các mối quan hệ hợp tác, uy tín công ty, mạng lưới khách hàng, thị trường… là những yếu tố mang lại khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó tác động đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Các công ty danh tiếng sẽ dễ dàng thành công khi tung một sản phẩm mới ra thị trường Một sản phẩm mang nhãn hiệu uy tín bao giờ giá cả cũng cao hơn những sản phẩm cùng loại khác của các công ty vô danh

♦ Tình hình nhân sự : Trong thời đại ngày nay, mọi thứ đều quyết định bởi năng lực hoạt động của con người Doanh nghiệp có thể nhanh chóng đạt được trình độ công nghệ như đối thủ, tuy nhiên để có được một đội ngũ lao động giỏi, nhiệt tình, có thái độ lao động nghiêm túc đòi hỏi doanh nghiệp phải có một chính sách nhân sự phù hợp, phải xây dựng được một nét văn hóa tổ chức đặc trưng cần thiết mà điều đó không thể thực hiện trong một thời gian ngắn Do đó vấn đề con người trong lao động sản xuất và hoạt động quản lý cực kỳ quan trọng, quyết định lợi thế nhiều mặt của doanh nghiệp Yếu tố này được quan tâm khi định giá là lẽ tất nhiên, vì nó quyết định năng suất lao động, một yếu tố của chi phí đầu vào, đồng thời nó cũng quyết định đến quá trình đổi mới công nghệ và hoàn thiện sản phẩm cũng như khả năng thích ứng của doanh nghiệp đối với sự thay đổi của môi trường kinh doanh

Các yếu tố trên được xem xét dưới các góc độ xu hướng hoạt động phát triển của doanh nghiệp trong tương lai thông qua sự đánh giá tiềm năng của doanh nghiệp như :

♦ Sự tăng trưởng : Công ty có sản phẩm hay dịch vụ với tiềm năng thị trường

Trang 11

đủ để gia tăng mạnh doanh số trong vòng ít nhất vài năm nữa không ? Người đầu tư thường lựa chọn những ngành nghề có tiềm năng trên mức trung bình rồi xem xét các công ty trong ngành đó

♦ Mở rộng và đổi mới : Giới quản lý có quyết tâm tiếp tục phát triển sản phẩm để gia tăng doanh số hơn nữa một khi tiềm năng của sản phẩm hiện thời đã khai thác hết ? Điều này đánh giá nổ lực nghiên cứu, cải tiến hoặc phát triển sản phẩm mới của Công ty

♦ Nghiên cứu và phát triển : Hiệu quả của việc nghiên cứu và phát triển so với quy mô công ty như thế nào ? Khi công ty tăng trưởng, hiệu quả của bộ phận nghiên cứu và phát triển là rất quan trọng Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển đúng ra không phải là chi phí tạm thời mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu và lợi nhuận sau này Các ngành nghề khác nhau lại có yêu cầu nghiên cứu và phát triển khác nhau Ví dụ ngành công nghệ phần mềm đòi hỏi chi phí nghiên cứu nhiều hơn ngành siêu thị

Đánh giá lực lượng bán hàng : Công ty có lực lượng bán hàng giỏi trên mức trung bình hay không ? Trong nền kinh tế thị trường kinh doanh là bán hàng và tiếp thị Trong các khâu từ sản xuất đến kinh doanh, tiếp thị và bán hàng cho người tiêu dùng là khâu mang lại lợi nhuận nhiều nhất Ví dụ như Nike không sản xuất gì cả mà đặt hàng tại các nhà cung cấp, để tập trung vào tiếp thị và bán hàng

♦ Tỷ suất lãi gộp : Công ty có tỷ suất lãi gộp đáng kể hay không ? Tỷ suất lãi gộp cho biết cứ mỗi đồng doanh thu công ty thu được bao nhiêu lợi nhuận gộp Nó là tỷ lệ giữa chênh lệch giá bán và giá mua (hoặc chi phí sản xuất)

so với doanh thu Các công ty có tỷ suất lãi gộp thấp thường cần rất nhiều doanh thu để bù đắp chi phí cố định như nhà xưởng, lương quản lý … Khi nhu cầu nền kinh tế sụt giảm, những công ty này sẽ thiệt hại đầu tiên Tỷ suất lãi gộp cũng cho thấy vị trí của công ty trong ngành Công ty có sản phẩm hàng đầu thường có thể định giá cao hơn các đối thủ cạnh tranh Khi tỷ lệ lãi gộp suy giảm, đó có thể là dấu hiệu cho thấy công ty gặp cạnh tranh mạnh mẽ và phải giảm giá bán

♦ Liên tục cải thiện tỷ suất lãi gộp : Công ty đang làm gì để duy trì hay gia tăng tỷ suất lãi gộp ?

♦ Nhắm đến mục tiêu dài hạn : Công ty có tầm nhìn dài hạn hay ngắn hạn về lợi nhuận ? Ví dụ như nhiều công ty chỉ cố bán hàng thật nhiều, bán chịu thoải mái để tăng lợi nhuận trước mắt mà không chú ý đến khả năng thanh toán của khách hàng Về lâu dài các công ty đó có thể gặp rắc rối

Trang 12

♦ Có nhiều tiền : Sự tăng trưởng của công ty có dựa vào vốn tự có hay phải dựa vào phát hành thêm cổ phiếu, và do đó làm loãng quyền sở hữu của các cổ đông hiện thời ? Công ty có thể mở rộng kinh doanh từ vốn tích lũy hoặc phát hành thêm cổ phiếu để có vốn đầu tư hay mua lại cơ sở kinh doanh khác Nếu công ty thiếu tiền để tồn tại hoặc tìm cách mở rộng vượt quá khả năng sẽ dẫn đến phát hành thêm cổ phiếu không thận trọng Lợi nhuận trên cổ phiếu sẽ giảm và kéo theo sự sụt giá của cổ phiếu

♦ Lực lượng lao động : Công ty có mối quan hệ nhân viên tốt hay không ? Nhân viên là tài sản vô hình của công ty Họ có hạnh phúc thì mới làm việc có năng suất và tạo ra nhiều giá trị Nếu họ không hài lòng với công ty, họ có thể không làm hết sức và thậm chí đình công Nếu họ bỏ đi, công ty phải tốn kém chi phí tuyển dụng và đào tạo thay thế

♦ Sự lãnh đạo đoàn kết : Công ty có những quan hệ lãnh đạo tốt hay không ? Các giới lãnh đạo cao cấp trong công ty cần phải thống nhất và hợp tác thì công ty mới đi lên được

♦ Chiều sâu của đội ngũ tài năng : Đội ngũ quản lý của công ty có bề sâu hay không ? Một nhà quản lý xuất sắc cần phải có rất nhiều nhân tài tập hợp sau lưng

1.2.3 Tầm quan trọng của việc xác định đúng giá trị doanh nghiệp để cổ

phần hóa :

Xác định giá trị doanh nghiệp là khâu quan trọng trong tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước do bởi tính thiết yếu của nó đối với việc cổ phần hóa và sự phức tạp trong việc xác định chính xác lượng giá trị này Giá trị doanh nghiệp không chỉ thể hiện qua những tài sản vật chất hữu hình có thể đánh giá được, hay những con số trong các báo cáo kế toán, mà còn thể hiện thông qua các yếu tố vô hình : uy tín sản phẩm, nhãn hiệu, thương hiệu, thị phần… Những giá trị tồn tại dưới dạng tài sản vô hình này chỉ có thể được đánh giá một cách tương đối chính xác và đòi hỏi các chuyên gia đánh giá phải có trình độ hiểu biết cao về doanh nghiệp cũng như lĩnh vực, ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động Hơn nữa giá trị doanh nghiệp là một đại lượng biến đổi theo thời gian, ngay cả trong thời kỳ điễn ra tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Do đó, việc xác định giá trị doanh nghiệp là một công việc rất phức tạp và mang một ý nghĩa to lớn, nên nó đòi hỏi phải có một phương pháp khoa học, hợp lý và khả thi

♦ Giá trị doanh nghiệp là cơ sở để tính toán, thực hiện các chương trình, chính sách của nhà nước, của doanh nghiệp đối với cán bộ công nhân viên trong

Trang 13

doanh nghiệp, thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của chính phủ trong việc cổ phần hóa, tránh gây tình trạng xáo trộn, thiệt hại về lợi ích cho tập thể công nhân viên trong doanh nghiệp khi cổ phần hóa

♦ Giá trị doanh nghiệp là cơ sở để xác định giá trị chuyển đổi giữa người mua và người bán Do đó việc xác định đúng giá trị doanh nghiệp sẽ làm tiến trình cổ phần hóa diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng ổn định tình hình để tếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh và tránh được tình trạng trì trệ kéo dài trong việc mua bán cổ phần vì xác định giá trị doanh nghiệp quá cao, hay những tổn thất do đánh giá thấp giá trị doanh nghiệp

♦ Qua việc đánh giá đúng giá trị doanh nghiệp sẽ thấy rõ được những mặt mạnh, mặt yếu đang tồn tại trong bản thân doanh nghiệp Qua đó thấy được các rủi ro, những triển vọng và các yếu tố khác như nhân sự, pháp lý, thị trường từ đó có những định hướng chiến lược và chính sách kinh doanh thích hợp trong tương lai, tăng cường vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường trong và ngoài nước

1.3 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp :

1.3.1 Phương pháp giá trị tài sản thuần :

Phương pháp này đánh giá giá trị doanh nghiệp dựa trên giá trị thị trường của tài sản đó

Trong thực tế, giá trị kế toán của một doanh nghiệp không phải là giá trị hợp lý của doanh nghiệp đó, mà giá trị hợp lý chính là giá trị thị trường Tuy nhiên việc xác định giá trị thị trường của một loại tài sản là một công việc khá phức tạp, nó đòi hỏi sự hiểu biết chuyên môn của nhà thẩm định, theo phương pháp này :

Giá trị của

doanh nghiệp =

Giá trị thị trường toàn bộ tài sản - Giá trị thị trường của nợ Phương pháp này làm người ta yên lòng vì nó được theo dõi và kiểm chứng bằng kế toán Nó được sử dụng phổ biến ngay cả các tập đoàn lớn để tham khảo Tuy nhiên phương pháp này có một số nhược điểm sau :

- Làm phát sinh chi phí do phải thuê chuyên gia đánh giá

- Không loại bỏ hoàn toàn tính chủ quan trong đánh giá

- Mặc nhiên cho rằng giá trị tài sản mà một doanh nghiệp đang nắm giử ngang bằng với số tiền mặt sử dụng ngay

- Tính vào giá trị của doanh nghiệp cả những tài sản đã không còn giá trị

Trang 14

do hao mòn vô hình

- Giá trị doanh nghiệp không phải là một phép cộng đơn giản giá trị thực tế của từng loại tài sản mà phải đánh giá chúng qua giá trị hữu ích của các tài sản, tính chất đồng bộ, khả năng sinh lợi

- Phương pháp này mới xác định giá trị doanh nghiệp trong trạng thái tĩnh, nó chưa tính đến ảnh hưởng của các yếu tố phi vật chất (vô hình) đến giá trị doanh nghiệp

1.3.2 Phương pháp độ chênh lệch tiền lời :

Lập luận cơ bản là doanh nghiệp đầu tư một tổng thể các phương tiện kỹ thuật (“tài sản có” hữu hình) vào hoạt động là để tạo ra khả năng sinh lời Mà các “tài sản có” phải được trả thù lao một cách bình thường để chứng minh giá trị kinh tế hoặc tính hữu ích của nó Cần phải phân tích sự khác biệt giữa khả năng sinh lời và việc trả tiền cho các “tài sản có” Nếu sự khác biệt là dương (khả năng sinh lời cao hơn tiền lời trả cho các các “tài sản có”) thì không những giá trị của tài sản được công nhận mà nó còn làm xuất hiện một giá trị siêu ngạch biểu hiện sự hiện hữu của một tài sản có khác, tài sản vô hình Tài sản vô hình là một khái niệm trừu tượng liên quan đến rất nhiều khía cạnh trong hoạt động của doanh nghiệp, đây chính là nhân tố làm cho giá trị của doanh nghiệp cao hơn hay thấp hơn so với giá trị sổ sách của nó Tài sản vô hình này bao gồm

vị trí địa lý, uy tín của doanh nghiệp, trình độ quản lý, trình độ tay nghề của công nhân, bí quyết kỹ thuật, mẫu mã và nhãn hiệu của hàng hóa, … và được gọi là lợi thế thương mại (Goodwill) Goodwill sẽ được đánh giá từ tiền lời của món lợi siêu ngạch được tái sinh trong suốt thời gian hoạt động Nếu sự sai biệt giữa tính sinh lời và tiền phải trả là âm thì giá trị của các “tài sản có” hữu hình không được công nhận và một sự mất giá của giá trị tài sản cần phải được phân tích Đối nghịch lại với từ Goodwill, mô hình này gọi sự mất giá là Badwill hay bất lợi thế thương mại Người ta áp dụng một lối tính toán cổ điển về hiện giá tiền lời để xác định giá trị của Goodwill

Nếu gọi S là giá trị của các “tài sản có” hữu hình được đưa vào KD

i là chi phí vốn cơ hội của các “tài sản có”

P là khả năng thu lợi

r là tỷ suất chiết khấu

n là thời kỳ hiện tại hóa của tiền lời

Thì tiền lời hàng năm sẽ là : P – (S* I) và khi đó :

Trang 15

n (P – (S* i))t

Goodwill = ∑

t = 1 (1 + r)t

Trong công thức này chúng ta cần làm sáng tỏ một số vấn đề sau :

♦ “Tài sản có” hữu hình được đưa vào kinh doanh (S) : Là tất cả các tài sản hữu

hình được đưa vào kinh doanh kể cả các tài sản được thuê mướn, không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Còn các tài sản nào không được đưa vào kinh doanh thì phải loại trừ ra kể cả các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp

♦ Chi phí vốn cơ hội của “tài sản có” (i) : Là chi phí vốn để có được các tài sản

hữu hình đó Tuy nhiên trong thực tế để đơn giản người ta thường dùng mức lãi suất cho vay trung và dài hạn của ngân hàng

♦ Khả năng thu lợi (P) : Là lợi nhuận sau thuế và lãi vay Lợi nhuận này do các

tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và các tài sản do vay mượn bên ngoài tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

♦ Tỷ suất chiết khấu (r) : Là tỷ suất hoàn vốn và thường được lấy bằng tỷ suất

lợi nhuận bình quân của ngành mà trong đó doanh nghiệp đang hoạt động

♦ Số thời kỳ hiện tại hóa của tiền lời (n) : có thể nói rằng trong công thức này n

là một biến số rất nhạy cảm, một mình nó có thể làm thay đổi một cách có ý nghĩa giá trị tính toán Phải thừa nhận rằng hiện nay chưa có một phương pháp khoa học nào có thể xác định một cách chính xác thời kỳ hiện tại hoá của tiền lời n Đây còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi về mặt lý thuyết lẫn thực tế định giá

Giá trị tổng thể của doanh nghiệp sẽ thu được bằng cách cộng goodwill với tài sản có ròng đã được đánh giá lại

V = GW + A

Ưu điểm của phương pháp này :

- Là một phương pháp để ấn định trực tiếp các giá trị vô hình

- Các tài sản không tham gia vào quá trình kinh doanh không được tính đến khi xác định lợi thế thương mại

Hạn chế của phương pháp độ chênh lệch tiền lời

Trang 16

- Phương pháp này dựa vào tính thường xuyên của siêu lợi nhuận, mà tiền lời

do sai biệt lợi nhuận sẽ kéo theo các nhà cạnh tranh vào thị trường và như vậy lợi thế sai biệt sẽ không còn

- Trong một vài trường hợp rất khó áp dụng đối với các doanh nghiệp không có hoặc nắm giữ rất ít một lượng tài sản “tài sản có” hữu hình nhưng lại có khả năng tạo ra một lượng doanh thu, lợi nhuận rất lớn như các công ty kinh doanh trên mạng, ngành bảo hiểm, ngân hàng, quảng cáo… Hoặc một số doanh nghiệp mới thành lập (chưa tạo ra lợi nhuận) nhưng có triển vọng tăng trưởng và thu lợi nhuận cao trong tương lai như ngành tin học, ngành nghiên cứu sản xuất vật liệu mới…

- Trong thực tế, một số vấn đề về việc chọn lọc của tỷ suất tham khảo, thời kỳ hiện tại hóa của tiền lời là rất khó khăn

1.3.3 Phương pháp hiện giá các kết quả :

Doanh nghiệp tồn tại như một dự án cụ thể có chứa đựng khả năng sản sinh

ra thu nhập Mỗi đồng vốn bỏ ra phải thu về càng nhanh càng tốt, phải không ngừng sinh lời và sinh lời càng nhiều càng tốt Chính vì vậy mà các tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả đầu tư được xây dựng dựa trên việc xác định thời điểm bỏ vốn và thu hồi vốn, đồng thời phải bỏ ra bao nhiêu và thu được về bao nhiêu Đó chính là lý do quyết định sự ra đời và thừa nhận trong thực tế của lý thuyết về dòng tiền tệ và lý thuyết về hiện giá các giá trị trong tương lai

Phương pháp hiện giá chứng khoán hiện có :

Theo phương pháp này, giá trị của doanh nghiệp bằng giá trị hiện giá của trái phiếu công ty và cổ phiếu Để xác định giá trị của doanh nghiệp ta phải tính giá trị của trái phiếu và cổ phiếu

a/ Định giá trái phiếu : n I M

Công thức tính như sau : PV = ∑ +

t = 1 (1 + r) n (1 + r) n

Trong đó : PV : Giá trị hiện tại của trái phiếu

I : Tiền lãi của trái phiếu hàng năm

M : Mệnh giá trái phiếu

n : Thời gian đáo hạn của trái phiếu

r : Tỷ suất chiết khấu : là lãi suất thị trường của các trái

phiếu có cùng rủi ro

b/ Định giá cổ phiếu : Giá trị cổ phiếu là tổng hiện giá của cổ tức được chia trong tương lai Công thức tính tổng quát :

Trang 17

n D t

P0 = ∑

t =1 (1 + r) t

Trong đó : P0 : Hiện giá của cổ phiếu

Dt : Lợi tức cổ phần năm thứ t

r : Tỷ suất chiết khấu : là tỷ lệ sinh lời cần thiết trên vốn cổ phần của công ty và thường được tính bằng tỷ suất lợi nhuận của cổ phần thường ROE

Như vậy, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp bằng việc hiện giá chứng khoán hiện có được thực hiện khá đơn giản, có thể áp dụng đối với các công ty cổ phần đại chúng, song chúng cũng có một số bất lợi sau :

♦ Phụ thuộc vào cơ cấu vốn của một công ty (cơ cấu vốn của một công ty bao gồm : vốn vay (D) và vốn cổ phần (E)) : nếu toàn bộ vốn vay dưới hình thức trái phiếu dài hạn thì mới định giá trái phiếu được

♦ Không cho phép nhận diện các cơ hội tạo ra giá trị, vì vậy không chỉ rõ nguồn gốc tạo ra giá trị

♦ Sự không phù hợp giữa chính sách lợi tức cổ phần và tỷ lệ chiết khấu

♦ Nếu người bán cho rằng giá trị của tài sản đã thu được qua việc hiện tại hóa toàn bộ tiền lời trong tương lai thì người mua không được hưởng tiền lời nào khác nữa

Phương pháp hiện giá dòng ngân lưu :

Dòng ngân lưu là những khoản tiền do doanh nghiệp tạo ra trong một giai đoạn nào đó và chúng sẵn sàng cho việc tái đầu tư, trả nợ dài hạn hay hoàn trả vốn gốc cho chủ sở hữu

CF = NI + DEP + ΔPRO

- NI : Lợi nhuận thuần trong kỳ

- DEP : khấu hao và trích lập quỹ hoàn trái

- ΔPRO : Tăng (giảm) dự phòng hoàn trái

Mô hình hiện giá dòng ngân lưu là một công cụ hữu hiệu và thích hợp dùng để phân tích các hoạt động dài hạn và ra quyết định của nhà quản trị và các nhà đầu tư Khi áp dụng mô hình này, hầu như toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng tới giá trị doanh nghiệp đều được đưa vào xem xét Trong phương pháp này, các khoản thu nhập hay chi phí của doanh nghiệp đều được chiết khấu về thời điểm tính

Trang 18

toán Tỷ lệ chiết khấu phản ảnh mức độ rủi ro của Doanh nghiệp

Công thức tính như sau : n CFt Vn

VDN = ∑ +

t = 1 (1 + r) t (1 + r) n

Trong đó : VDN : Hiện giá ròng của doanh nghiệp

Vn : Giá trị thanh lý doanh nghiệp vào cuối năm thứ n

CFt : Ngân lưu tại năm t

r : Tỷ suất chiết khấu (là chi phí vốn bình quân WACC)

của một công ty và được tính như sau : WACC = Wd * Kd + Wp * Kp + Ws * Ks Với : Wd , Wp , Ws ( We) là tỷ trọng vốn vay, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường

Kd , Kp , Ks là chi phí vốn vay, vốn cổ phần ưu đãi, vốn cổ phần thường sử dụng lợi nhuận giữ lại (hay phát hành cổ phiếu thường mới)

Chi phí vốn là sự kết hợp trên cơ sở của hai nhân tố : Tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro và phần bù rủi ro

Thông thường các doanh nghiệp tồn tại và phát triển không chỉ có vốn, nó còn có một khả năng đặc biệt đó là có thể tạo ra những khoản lợi nhuận cao hơn nhiều với lợi nhuận bình thường của tài sản, đây chính là khoản siêu lợi nhuận Nhưng dù sao nó cũng chỉ là “có thể” và “khả năng” mà thôi Nó hoàn toàn khác so với tính hiện thực của các khoản vốn, của lợi nhuận tất yếu không có rủi

ro – những khoản đã thuộc về người bán một cách rõ ràng Các khoản siêu lợi nhuận có thể thành hiện thực hay không một phần phụ thuộc vào những tiền đề mà người bán đã tạo ra, một phần khác phụ thuộc vào khả năng duy trì và phát triển doanh nghiệp trong tương lai của người mua Như vậy, người bán chỉ bán một phần của tương lai đã được biết của doanh nghiệp vì anh ta còn phải để cho người mua khoản lời của phần kia Theo đánh giá chung của các nhà quản trị tài chính thì mỗi bên sẽ được hưởng một nữa giá trị tương lai của nó Khi đó số thời kỳ n được tính như là kết quả của việc hiện giá dòng ngân lưu ròng bằng nhau và vĩnh cữu được chia làm hai

Tuy nhiên việc xác định số hiện giá thời kỳ n còn phụ thuộc vào sự thương lượng giữa bên mua và bên bán Nếu siêu lợi nhuận đạt được phụ thuộc chủ yếu vào những lợi thế thương mại mà người bán đã tạo dựng được từ trước thì phần lớn tương lai sẽ thuộc về họ Ngược lại nếu siêu lợi nhuận phụ thuộc

Trang 19

chủ yếu vào khả năng quản trị của người kế tục doanh nghiệp thì phần lớn tương lai sẽ thuộc về người mua

Phương pháp này cho phép đánh giá toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng tới giá trị doanh nghiệp, qua đó thấy được xu thế phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, là cơ sở để người mua và người bán thương lượng phân chia siêu lợi nhuận trong tương lai Phương pháp này được áp dụng rất phổ biến song nó cũng xuất hiện một vài hạn chế sau :

♦ Các phương pháp khấu hao khác nhau làm cho việc đối chiếu trở nên khó khăn

♦ Không thể đo lường chính xác thành tích của bất cứ năm nào vì có thể có sự điều chỉnh để cải thiện dòng ngân lưu trong một năm nào đó

♦ Thời gian hiện tại hóa dòng thu nhập là một vấn đề gây nhiều tranh cãi

1.3.4 Phương pháp cuả các nhà thực hành :

Doanh nghiệp trước hết là một tài sản, nếu bán tài sản này đi thì người mua sẽ mua với mức giá không cao hơn số tiền mà họ đã bỏ ra để tạo lập một tài sản khác có công dụng tương tự Vì vậy đứng trên phương diện tài sản đơn thuần, giá bán doanh nghiệp sẽ là giá trị thực tế của tài sản tại doanh nghiệp đã được kiểm kê, đánh giá lại sau khi trừ các khoản nợ Mặt khác, doanh nghiệp với tư cách là một thực thể pháp lý, sẽ tiếp tục hoạt động để tạo ra sản phẩm và dịch vụ, qua đó mang lại lợi ích cho chủ đầu tư trong tương lai Từ đó, giá trị doanh nghiệp đem bán sẽ là hiện giá của các thu nhập đối với vốn của chủ sở hữu trong tương lai (Vf) Vf bao gồm cả giá trị thực tế của tài sản hữu hình và giá trị lợi thế của doanh nghiệp trong tương lai (còn gọi là giá trị của tài sản vô hình trong tương lai), thể hiện dòng tiền tự do đối với vốn của chủ sở hữu trong tương lai Nhưng nếu đem bán phần vốn chủ sở hữu tại doanh nghiệp theo Vf thì người mua sẽ không thu được gì trong tương lai Do vậy, cần phải có sự phân chia tương lai giữa người mua và người bán Trên thế giới, các chuyên gia đánh giá thường vận dụng tỷ lệ phân chia tương lai là 50/50

Từ lập luận trên, nếu gọi Vcph là giá bán doanh nghiệp thì mức giá được xác định theo công thức tổng quát sau :

Trang 20

Mô hình trên là sự kết hợp giữa phương pháp giá trị tài sản thuần trong việc kiểm kê đánh giá lại tài sản vật chất của doanh nghiệp với phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do đối với nguồn vốn của chủ sở hữu trong tương lai Sự kết hợp này đã làm xuất hiện lợi nhuận siêu ngạch (hay giá trị lợi thế) và sự phân chia giá trị này giữa người mua cổ phần doanh nghiệp cổ phần hóa và người bán cổ phần đó

Bằng cách cách ly lợi thế thương mại trong phương trình chung, người ta làm xuất hiện một món lợi nhuận siêu ngạch cùng với sự phân chia của nó

Thật vậy, giá trị hiện giá dòng tiền tự do đối với vốn chủ sở hữu trong tương lai ngang bằng giá trị lợi thế tổng thể trong tương lai và giá trị “tài sản có” ròng, ta có :

Vf = A + FCG Thay vào phương trình (1) ta được :

Vcph = ½ ( A + Vf) = ½ ( A + A + FCG) = A + ½ FCG

Vì Vf là hiện giá dòng tiền tự do đối với vốn chủ sở hữu trong tương lai nên nó phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa Dòng tiền tự do đối với vốn chủ sở hữu chính là thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp sau khi đã trang trãi các khoản lãi vay, nợ phải trả đến hạn và đầu tư vào tài sản để duy trì hoặc mở rộng quy mô hoạt động Vì vậy có thể căn cứ vào kế hoạch doanh thu, chi phí, đầu tư và tình hình tài chính của doanh nghiệp dự báo cho khoảng thời gian tối thiểu 5 năm tính từ thời điểm cổ phần hóa để xác định Phương pháp này vẫn mang những hạn chế của các phương pháp đã tạo nên nó trong việc đánh giá lại tài sản doanh nghiệp Tuy nhiên phương pháp này rất thực tiễn và rất hữu ích trong việc xác nhận một sự phối hợp các giá trị và để giải thích một sự phân chia tương lai

Tóm lại trong chương này chúng ta đã tìm hiểu một cách khái quát về Doanh nghiệp nhà nước và Công ty cổ phần, những đặc điểm cùng với những vai trò của nó trong nền kinh tế, một số khái niệm có liên quan đến việc xác định giá trị doanh nghiệp, qua đó bộc lộ giá trị doanh nghiệp không chỉ là một phép cộng đơn giản các giá trị tài sản trong doanh nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào các yếu tố như : lao động, tài chính, công nghệ, chiến lược, thị trường… và trên hết chính là sự kết hợp các yếu tố đó Bên cạnh đó chúng ta cũng xem xét một số phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp thường được áp dụng và giải thích tính hợp lý, ưu – nhược điểm và phạm vi ứng dụng của mỗi phương pháp Do đó, để xây dựng giá trị một doanh nghiệp cụ thể, chúng ta cần căn cứ vào mục đích,

Trang 21

đặc điểm, chiến lược phát triển của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp đánh giá thích hợp hoặc cùng một lúc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để so sánh, đối chiếu, từ đó mới có thể đưa ra một mức giá hợp lý làm cơ sở cho việc thương lượng giữ người mua và người bán trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp

Trang 22

Chương II : PHÂN TÍCH PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ

TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN

CỔ PHẦN HÓA HIỆN NAY

2.1 Nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp :

Theo nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ quy định :

Điều 11 : Nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp :

55 Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá toàn bộ tài sản hiện có doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là giá trị thực tế của doanh nghiệp sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả

56 Các yếu tố xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp

Số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa Giá trị thực tế của tài sản tại doanh nghiệp xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm cổ phần hóa

57 Lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về vị trí địa lý, uy tín mặt hàng (nếu có) Lợi thế này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận thực hiện tính trên vốn kinh doanh bình quân 3 năm trước khi cổ phần hóa, giá trị lợi thế nói trên chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế của doanh nghiệp

Điều 12 : Khi xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp không phải nhất thiết thuê kiểm toán độc lập Những doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê thì cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét thuê tổ chức kiểm toán độc lập xác định Tiền thuê kiểm toán được tính vào chi phí cổ phần hóa

Thông tư số 104 – 1998/TT/BTC ngày 18/7/1998 của Bộ Tài Chính hướng dẫn những vấn đề về tài chính khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần, cụ thể phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp được hướng dẫn như sau :

Nguyên tắc xác định : Theo quy định tại điều 11 và 12 của nghị định số 44 – 1998/NĐ/CP ban hành ngày 29/6/1998 của Chính Phủ

Kiểm kê tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp

- Tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp phải kiểm kế bao gồm : Tài sản lưu

Trang 23

động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn được phản ánh trong bảng cân đối kế toán theo chế độ kế toán hiện hành

- Tài sản thuê ngoài, vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công, nhận bán hộ, nhận ký gửi được kiểm kê riêng

2.1 – Kiểm kê tài sản phải theo các yêu cầu sau đây :

2.1.1 Xác định số lượng tài sản thực tế hiện có đến thời điểm xác định giá trị

doanh nghiệp

2.1.2 Phân loại tài sản hiện có thuộc sở hữu của DN

− Tài sản mà doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng thì căn cứ vào thông số kỹ thuật và thực trạng tài sản để xác định chất lượng còn lại của từng tài sản, loại hoặc nhóm tài sản Chất lượng còn lại được thể hiện bằng tỷ lệ % so với chất lượng tài sản mua sắm, đầu tư xây dựng mới

− Tài sản không có nhu cầu sử dụng bao gồm tài sản không cần dùng, tài sản không có khả năng phục hồi cho quá trình sản xuất kinh doanh được kê khai riêng để có biện pháp xử lý

− Tài sản hình thành từ quỹ khen thưởng, phúc lợi (nếu có) cần kiểm kê để bàn giao riêng cho Công ty cổ phần quản lý, sử dụng

2.1.3 Xác định tài sản thiếu hụt so với sổ sách (nếu có)

2.1.4 Đối chiếu và phân loại các khoản công nợ

Nợ phải thu khó đòi phải có chứng từ hợp lệ, cụ thể :

Khoản nợ mà con nợ không xác nhận

Con nợ là pháp nhân đã bị giải thể, phá sản

Con nợ là cá nhân đã chết, đã bỏ trốn, không có người kế thừa trách nhiệm

Các khoản nợ khó đòi do các nguyên nhân khác

2.2 - Tổ chức kiểm kê tài sản :

Giám đốc doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa phải thành lập Hội đồng để kiểm kê tài sản theo các yêu cầu trên Thành viên Hội đồng kiểm kê gồm :

− Giám đốc doanh nghiệp Nhà nước thực hiện cổ phần hóa là Chủ tịch Hội đồng

− Kế toán trưởng là thành viên Hội đồng

Trang 24

Ngoài ra, tùy theo tình hình cụ thể, Giám đốc doanh nghiệp mời các chuyên gia kỹ thuật am hiểu tính năng tác dụng và chất lượng của tài sản để tham gia vào Hội đồng kiểm kê tài sản

3 Xử lý tài sản và các khoản nợ trước khi cổ phần hóa :

3.1 Các tài sản sau đây không tính vào giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa 3.1.1 Những tài sản mà doanh nghiệp không thể tiếp tục sử dụng đã phản

ánh trên báo các tài chính trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp có thể xử lý theo một trong những biện pháp sau đây :

− Cơ quan quản lý trực tiếp của doanh nghiệp điều động cho các doanh nghiệp khác thuộc phạm vi quản lý của mình

− Tổ chức bán đấu giá (hoặc thanh lý) ; Tiền thu từ bán đấu giá (hoặc thanh lý) nếu phát sinh trước thời điểm cổ phần hóa thì tính vào giá trị doanh nghiệp, nếu phát sinh sau thời điểm cổ phần hóa thì phải nộp vào tài sản tương ứng quy định tại điểm 2 mục V của thông tư này

− Nếu khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần mà tài sản này không bán đấu giá (hoặc thanh lý) được thì cơ quan quyết định ủy quyền cho Công ty cổ phần quản lý hộ, chậm nhất trong vòng

90 ngày kể từ thời điểm cổ phần hóa, cơ quan quyết định cổ phần hóa phải tổ chức bán đấu giá hoặc (hoặc thanh lý) để thu hồi vốn Việc bán đấu giá (hoặc thanh lý) tài sản được thực hiện theo quy định hiện hành

3.1.2 Nợ phải thu khó đòi quy định tại Điểm 2.1.4 mục này :

3.1.3 Chi phí xây dựng dở dang của những công trình đã đình hoãn trước

thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

3.1.4 Các khoản đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác nhưng doanh

nghiệp không thực hiện cổ phần hóa khoản đầu tư này thì cơ quan quyết định cổ phần hóa xử lý

3.1.5 Tài sản thuê tài chính là phần nợ chưa trả cho chủ tài sản

3.1.6 Tài sản thuê ngoài : Trường hợp bên cho thuê đồng ý bán, doanh

nghiệp đi thuê đồng ý mua tài sản đang thuê ngoài thì doanh nghiệp

đi thuê có trách nhiệm thanh toán theo giá hai bên thỏa thuận Nếu bên cho thuê là doanh nghiệp Nhà nước cùng cơ quan quản lý trực tiếp đồng ý chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp cổ phần hóa thì cơ

Trang 25

quan quản lý trực tiếp của doanh nghiệp quyết định điều động tài sản cho bên đi thuê, bên giao tài sản được hạch toán giảm vốn, bên nhận tài sản được hạch toán tăng vốn Bên nhận tài sản (DN cổ phần hóa) phải đánh giá lại tài sản và tính vào giá trị doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp cổ phần hóa đi thuê có đầu tư , cải tạo nâng cấp thêm trên tài sản đi thuê thì giá trị còn lại của phần đã đầu tư, cải tạo, nâng cấp xử lý như sau :

Nếu doanh nghiệp cho thuê nhận lại tài sản thì doanh nghiệp này thanh toán lại cho doanh nghiệp thuê giá trị đầu tư nâng cấp Nếu bên cho thuê là doanh nghiệp Nhà nước đồng ý nhận lại tài sản kèm theo giá trị đã đầu tư, cải tạo, nâng cấp thì hai bên có thể bàn giao giá trị đã đầu tư nâng cấp và hạch toán theo nguyên tắc tăng, giảm vốn như trên

Nếu Công ty cổ phần tiếp tục thuê tài sản thì chi phí đã đầu tư, cải tạo, nâng cấp được tính vào giá trị doanh nghiệp

3.1.7 Tài sản hình thành từ quỹ khen thưởng, phúc lợi (nếu có)

3.2 Đối với tài sản doanh nghiệp đang xử lý, sử dụng nhưng chưa xác định được chủ sở hữu thì đều được coi là tài sản thuộc vốn Nhà nước và phải xác định giá trị Khi xác định được chủ sở hữu, Bộ tài chính sẽ xử lý đối với từng trường hợp cụ thể

3.3 Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá chứng khoán, chênh lệch tỷ giá, các khoản lãi chưa phân phối (nếu có), cũng phải xử lý trước khi xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp

3.4 Số dư bằng tiền quỹ khen thưởng, phúc lợi được chia cho người lao động để mua cổ phần

4 Giá thị trường dùng để xác định giá trị thực tế tài sản được quy định như sau : 4.1 Đối với tài sản mà trên thị trường có lưu thông thì giá thị trường là giá đang mua, hoặc đang bán của tài sản đó

4.2 Đối với tài sản chuyên dùng hoặc là tài sản đầu tư xây dựng thì căn cứ vào suất đầu tư (hay giá đầu tư ) ở thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

do cấp có thẩm quyền quy định

4.3 Nếu là tài sản đặc thù không lưu thông trên thị trường thì tính theo giá trị tài sản cùng loại có công suất, tính năng kỹ thuật tương tương, nếu không có tài sản tương đương thì tính theo giá của tài sản đó đã ghi trên sổ kế toán

Trang 26

5 Nội dung và phương pháp xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp để cổ phần hóa

5.1 Đối với tài sản cố định, tài sản lưu động là hiện vật đã được kiểm kê và xác định theo công thức sau :

Số lượng giá trị thị trường Giá trị thực tế của của tài sản tại thời Chất lượng còn thực tế = từng tài sản x điểm xác định giá x lại của tài sản (%)

trị doanh nghiệp 5.2 Đối với tài sản là vốn bằng tiền thì tính theo số dư vốn bằng tiền đã kiểm quỹ hoặc đã đối chiếu tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp Nếu số

dư là ngoại tệ thì phải quy đổi ra tiền Việt Nam theo tỷ giá liên ngân hàng công bố tại thời điểm gần nhất

5.3 Đối với nợ phải thu là các khoản nợ đã được đối chiếu xác nhận

5.4 Đối với các khoản chi phí dở dang (bao gồm chi phí sản xuất, kinh doanh, chi phí sự nghiệp, chi phí đầu tư xây dựng) thì tính theo số dư chi phí thực tế trên sổ kế toán

5.5 Đối với tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạn thì tính theo số dư thực tế trên số kế toán đã đối chiếu xác nhận tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

5.6 Đối với tài sản đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn thì tính vào giá trị doanh nghiệp các khoản mà Công ty cổ phần sẽ tiếp tục kế thừa

5.7 Đối với tài sản vô hình (nếu có) thì tính theo giá trị còn lại đang hạch toán trên sổ kế toán

5.8 Đối với doanh nghiệp có lợi thế kinh doanh thì phải tính thêm giá trị lợi thế vào giá trị thực tế của doanh nghiệp như sau :

− Trường hợp giá trị lợi thế (như thế mặt hàng, vị trí địa lý) đã được đánh giá thì lấy số dư thực tế trên sổ kế toán để tính vào giá trị doanh nghiệp

− Trường hợp chưa xác định được giá trị lợi thế kinh doanh thì căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận siêu ngạch bình quân của 3 năm liền kề với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp để tính giá trị lợi thế theo công thức

Trang 27

Tổng số lợi nhuận thực hiện

Tỷ suất lợi nhuận bình quân của 3 năm liền kề

3 năm của doanh nghiệp = Tổng số vốn nhà nước theo

sổ kế toán 3 năm liền kề

Tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận bình bình quân chung

siêu ngạch = 3 năm của DN - của DNNN cùng

ngành nghề trên cùng địa bàn

Giá trị lợi thế tính theo sổ kế toán Tỷ suất lợi nhuận

vào giá trị DN = bình quân của x siêu ngạch x 30%

Giá trị thực tế của doanh nghiệp để cổ phần hóa là tổng số các khoản (5.1 + 5.2 + 5.3 + 5.4 + 5.5 + 5.6 + 5.7 + 5.8) nói trên

5.9 Những doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê thì cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét thuê tổ chức kiểm toán độc lập xác định Tiền thuê kiểm toán được tính vào chi phí cổ phần hóa

6 Xác định giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là phần còn lại của giá trị thực tế doanh nghiệp trừ đi các khoản nợ thực tế phải trả kể cả số dư quỹ phúc lợi, khen thưởng

Nợ thực tế phải trả : Là tổng số các khoản nợ được quy định ở Mục A ( nợ phải trả – Mã số 300) Bảng cân đối kế toán trừ (-) các khoản nợ không trả được

Các khoản nợ không trả được là các khoản nợ mà chủ nợ đã giải thể, đã phá sản, đã chết, đã bỏ trốn hoặc chủ nợ từ bỏ quyền đòi nợ

2.2 Những vướng mắc trong phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Qua nghiên cứu lý thuyết của vấn đề định giá và các văn bản hướng dẫn của Chính Phủ ta nhận thấy có một số sự khác biệt lớn, cụ thể giá trị doanh

Ngày đăng: 30/11/2015, 19:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w