Trong lĩnh vực du lịch, thị trường chính của Việt Nam hiện nay là Nhật, châu Aâu, Bắc Mỹ là những nơi Thương mại điện tử đã phát triển, người dân quen với việc mua bán các dịch vụ du lịc
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Phần 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (E-COMMERCE)
1.1 Các khái niệm 1
1.1.1 Internet 1
1.1.1.1 Định nghĩa 1
1.1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển 1
1.1.1.3 Các dịch vụ trên mạng Internet 2
1.1.2 Thương mại điện tử (E-commerce / Electronic Commercial) 3
1.2 Các loại hình thương mại điện tử 4
1.2.1 Intranet: 4
1.2.2 Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B (Business to Business) 4
1.2.3 Giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng – B2C (Business to Consumer) 4
1.3 Các đòi hỏi của thương mại điện tử 5
1.3.1 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin 5
1.3.2 Hạ tầng cơ sở nhân lực 5
1.3.3 Bảo mật an toàn 6
1.3.4 Hệ thống thanh toán qua mạng (paying via the net) 6
1.3.5 Bảo vệ sở hữu trí tuệ 6
1.3.6 Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý 7
1.4 Tiến trình thực hiện thương mại điện tử 7
1.4.1 Giai đoạn 1 .7
1.4.2 Giai đoạn 2 7
1.4.3 Giai đoạn 3 8
1.5 Lợi ích của thương mại điện tử 8
1.5.1 Nắm được thông tin phong phú 9
1.5.2 Giảm chi phí sản xuất 9
1.5.3 Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị 9
1.5.4 Giảm chi phí giao dịch 9
1.5.5 Giúp thiết lập và cũng cố quan hệ đối tác: 10
1.5.6 Tạo điều kiện sớm tiếp cận “nền kinh tế số hoá” (digital economy)10 1.6 Mặt trái của thương mại điện tử 10
1.6.1 Xuất hiện mâu thuẫn giữa kinh doanh truyền thống và kinh doanh thương mại điện tử 10
1.6.2 Rủi ro trong kinh doanh 11
1.7 Kết luận phần 1 12
PHẦN 2: THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG LĨNH VỰC
Trang 32.1.1 Tổng quan về tình hình sử dụng mạng Internet trên thế giới 13
2.1.2 Một vài số liệu về thương mại điện tử trên thế giới 14
2.1.2.1 Lĩnh vực B2C 15
2.1.2.1 Lĩnh vực B2B 16
2.1.3 Sự phát triển thương mại điện tử ở một số quốc gia 16
2.1.3.1 Mỹ 17
2.1.3.2 Liên minh châu Aâu (EU) 17
2.1.3.3 Nhật Bản 18
2.1.3.4 Singapore 18
2.1.3.5 ASEAN 19
2.1.4 Ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành trên thế giới 19
2.1.4.1 Khái niệm lữ hành 19
2.1.4.2 Đặc thù của ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành .20
2.1.4.3 Ứng dụng thươnh mại điện tử vào kinh doanh lữ hành ở một số quốc gia 20
2.1.4.3.1 Mỹ 21
2.1.4.3.2 Anh 22
2.1.4.3.3 Hồng Kông 22
2.1.4.3.4 Canada 22
2.2 Thương mại điện tử ở Việt Nam 23
2.2.1 Internet ở Việt Nam 23
2.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 23
2.2.1.2 Cơ sở hạ tầng 24
2.2.1.3 Tổ chức quản lý nhà nước về Internet 24
2.2.1.4 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet 26
2.2.1.4.1 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) 26 2.2.1.4.2 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet (ISP)26 2.2.1.5 Một vài số liệu về kinh doanh Internet ở Việt Nam 27
2.2.2 Tình hình ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam 29
2.2.2.1 Về hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin 29
2.2.2.2 Hạ tầng cơ sở nhân lực 30
2.2.2.3 Hạ tầng cơ sở kinh tế, pháp lý 30
2.2.2.4 Hạ tầng cơ sở chính trị, xã hội 31
2.2.3 Tình hình ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh của các hãng lữ hành ở Việt Nam 32
2.3 Kết luận phần 2 34
PHẦN 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH LỮ HÀNH Ở VIỆT NAM 3.1 Quan điểm phát triển 35
3.2 Mục tiêu phát triển 36
Trang 43.3 Các giải pháp 36
3.3.1 Các giải pháp vĩ mô 36
3.3.1.1 Tạo dựng một môi trường có tính hỗ trợ giúp cho thương mại điện tử mở rộng và phát triển 36
3.3.1.1.1 Môi trường pháp lý 37
3.3.1.1.2 Môi trường tài chính 38
3.3.1.1.3 Hạ tầng công nghệ thông tin 39
3.3.1.1.4 Đào tạo nguồn nhân lực 39
3.3.1.2 Kích hoạt thương mại điện tử thông qua các dự án thí điểm, trung tâm thí điểm và các thực nghiệm 40
3.3.2 Các giải pháp đối với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành 40
3.3.2.1 Chuẩn bị kinh doanh trên mạng 40
3.3.2.1.1 Xác định mục tiêu của doanh nghiệp 40
3.3.2.1.2 Phân tích đối thủ cạnh tranh 41
3.3.2.2 Con đường phát triển 41
3.3.2.2.1 Giai đoạn 1: góp vui cùng mọi người 41
3.3.2.2.2 Giai đoạn 2: xây dựng một website với cấu trúc hoàn chỉnh .41
3.3.2.2.3 Giai đoạn 3: thử nghiệm thực hiện thương mại điện tử 42 3.3.2.2.4 Giai đoạn 4: thực hiện kinh doanh thương mại điện tử 42
3.3.2.2.5 Giai đoạn 5: phát triển kinh doanh Thương mại điện tử 43 3.3.2.3 Xây dựng một website du lịch 43
3.3.2.3.1 Nội dung là điều kiện tiên quyết 43
3.3.2.3.2 Thông tin phản hồi và đánh giá website của doanh nghiệp .44
3.3.2.3.3 Xây dựng bảng câu hỏi thường gặp 44
3.3.2.3.4 Màu sắc 44
3.3.2.3.5 Kích thước tập tin 45
3.3.2.3.6 Giao diện website 45
3.3.2.4 Phương thức thanh toán 46
3.3.2.5 Chiến lược Marketing 47
3.3.2.5.1 Thu hút khách hàng đến với website của doanh nghiệp47 3.3.2.5.2 Tiếp thị bằng các sự kiện 48
3.3.2.5.3 Địa phương hoá 48
3.3.2.5.4 Công tác quảng bá Website Thương mại điện tử 49
3.4 Kết luận phần 3 53
KẾT LUẬN 54
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1/ Giới thiệu đề tài
Internet ra đời và tiếp theo đó là Thương mại điện tử đã đặt nhân loại kề cận với một cuộc cách mạng sẽ đem lại sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, sự thay đổi căn bản về xã hội tiến tới một thế giới vì sự thịnh vượng chung Thương mại điện tử đang có xu hướng tăng trưởng nhanh về quy mô và phát triển mạnh về chiều sâu trên bình diện toàn cầu, xu hướng này đặt ra yêu cầu khách quan đòi hỏi tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển phải nhanh chóng ứng dụng Thương mại điện tử nhằm tránh nguy cơ bị cô lập hoàn toàn khi đa số các nước phát triển khác đều sử dụng phương thức này trong hoạt động thương mại song phương và đa phương của họ Hơn nữa, nó cũng đặt ra những thách thức cần có những giải pháp chiến lược để khắc phục các diều kiện về trình độ công nghệ, luật pháp, lối sống của dân cư,… còn chưa phù hợp với việc tham gia Thương mại điện tử
Ở Việt Nam, lĩnh vực Thương mại điện tử hiện nay còn rất sơ khai, đang trong giai đoạn mày mò thử nghiệm Trong lĩnh vực du lịch, thị trường chính của Việt Nam hiện nay là Nhật, châu Aâu, Bắc Mỹ là những nơi Thương mại điện tử đã phát triển, người dân quen với việc mua bán các dịch vụ du lịch trên mạng Internet Muốn đứng vững và tiếp tục phát triển ở những thị trường này, các hãng lữ hành của Việt Nam phải áp dụng thương mại điện tử vào kinh doanh Đó là lý
do tôi chọn đề tài nghiên cứu “giải pháp phát triển Thương mại điện tử commerce) trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành ở Việt Nam”
(e-2/ Giới hạn đề tài:
Mặc dù đang phát triển rất nhanh trên thế giới, nhưng Thương mại điện tử vẫn còn là một thuật ngữ mới với nhiều người dân Việt Nam Đa số mọi người chưa có cơ hội tiếp xúc với Internet và Thương mại điện tử
Do đó giới hạn của đề tài nghiên cứu này là chỉ nghiên cứu Thương mại điện tử dựa trên các tài liệu nước ngoài thông qua mạng Internet và chỉ nghiên cứu Thương mại điện tử để ứng dụng trong kinh doanh lữ hành Mục tiêu là đối tượng khách du lịch, hãng lữ hành ở các nước đã có Thương mại điện tử phát triển, họ có điều kiện tiếp xúc với Thương mại điện tử và đã quen với hình thức mua bán qua mạng Internet Từng bước hướng dẫn người dân trong nước làm quen với Thương mại điện tử
3/ Ý nghĩa, Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá các kiến thức cơ bản về Internet và Thương mại điện tử
Nghiên cứu phân tích lĩnh vực Thương mại điện tử trên thế giới và đặc biệt là trong ngành du lịch
Trang 6Đánh giá lĩnh vực Thương mại điện tử hiện nay ở Việt Nam nói chung và thương mại điện tử trong kinh doanh lữ hành nói riêng
Xây dựng các giải pháp để ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh tại các doanh nghiệp lữ hành của Việt Nam
4/ Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp lịch sử: nghiên cứu cách làm Thương mại điện tử ở các nước từ đó rút kinh nghiệm và đưa ra những giải pháp để thực hiện ở Việt Nam
Sử dụng phương pháp mô tả: thu thập số liệu để mô tả lại thực trạng Thương mại điện tử ở Việt Nam
5/ Đối tượng nghiên cứu
Các công ty đã áp dụng Thương mại điện tử vào trong kinh doanh
Các hãng kinh doanh lữ hành trên thế giới có sử dụng Thương mại điện tử
Các công ty ở Việt Nam nói chung và các công ty lữ hành nói riêng
6/ Kết cấu đề tài
Đề tài có kết cấu ba phần:
Phần 1: Tổng quan về Thương mại điện tử (e-commerce)
Phần 2: Thực trạng Thương mại điện tử ở Việt Nam nói chung và ở các doanh
nghiệp lữ hành nói riêng
Phần 3: Giải pháp phát triển Thương mại điện tử trong lĩnh vực kinh doanh lữ
hành ở Việt Nam
Trang 7Hoặc có thể định nghĩa Internet là chỉ một hệ thống lớn lao và kỳ diệu vốn nối kết con người và thông tin thông qua mạng máy tính Internet giúp cho con người
ở khắp nơi trên thế giới chia xẻ ý tưởng và kiến thức cho nhau
1.1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển:
Năm 1957, bộ quốc phòng Mỹ thành lập Cơ quan nghiên cứu các dự án kỹ thuật cao ARPA (Advanced Research Projects Agency), một bộ phận của Bộ Quốc Phòng, với mục đích đảm bảo Mỹ luôn dẫn đầu về công nghệ và kỹ thuật trong quân sự Chỉ một thập niên sau, năm 1969 ARPA thiết lập mạng ARPANET – tiền thân của Internet ngày nay ARPANET là một mạng máy tính nối các máy chủ tại trường Đại học California (Los Angerles), Đại học California (Santa Barbara), Viện nghiên cứu Stanford và Đại học Utah Để đáp ứng nhu cầu chiến tranh hạt nhân, ARPANET được thiết kế sao cho các máy tính vẫn có thể liên lạc được với nhau nếu có một số máy không hoạt động Khác với ngày nay, khi Internet được hàng triệu người sử dụng ở nhà, nơi làm việc, trong trường học và các thư viện,… ARPANET chỉ phục vụ cho các chuyên gia, kỹ sư và các nhà khoa học – những người phải có một số vốn kiến thức về các hoạt động phức tạp của mạng ARPANET
Trong những năm 1970, các chuyên gia đã nghiên cứu và đưa ra các giao thức (Protocol) truyền thông trên Internet Vào những năm 1980, xuất hiện các nhóm thảo luận (newsgroup) và thư điện tử (E-mail) Để cung cấp cho người dùng một giao diện thân thiện, dễ dùng, trường Đại học Minnesota đã đưa ra phần mềm Gropher, một hệ thống menu đơn giản dùng để truy cập hệ thống tập tin (file) trên Internet
Năm 1991, World Wide Web (WWW) ra đời Tim Berners-Lee và các cộng sự tại Phòng thí nghiệm Vật lý hạt cơ bản châu Âu đã phát minh ra giao thức truyền thông siêu văn bản (hypertext), qua đó cho phép người sử dụng có thể duyệt
Trang 8thông tin và các thông tin liên quan khác bằng các siêu liên kết (hyperlink) một cách nhanh chóng, dễ dàng Ngày nay, Tim Berners-Lee là Giám đốc điều hành tổ chức World Wide Web Consortium (gọi tắt W3C) – một nhóm đại diện các trường Đại học và Viện công nghệ có nhiệm vụ xem xét, nghiên cứu một chuẩn chung cho các kỹ thuật web Có thể nói việc phát minh ra WWW là một mốc quan trọng trong lịch sử Internet – Internet phục vụ cho người không chuyên tin học
Thời gian đầu, Internet chỉ cho phép các tổ chức phi lợi nhuận sử dụng vì phần lớn thông tin được cung cấp từ các tổ chức khoa học quốc gia, các cơ quan quản trị hàng không và không gian, và Bộ Quốc phòng Mỹ, với ngân quỹ lấy từ Chính phủ Nhưng khi các hệ thống mạng công ty bùng nổ, người dùng có thể truy cập vào các website thương mại – các website này không sử dụng tiền từ ngân quỹ chính phủ Vào cuối năm 1992, xuất hiện nhà cung cấp thông tin thương mại đầu tiên – Delphi – cung cấp dịch vụ đầy đủ trên Internet cho khách hàng Và sau đó, một vài nhà cung cấp khác ra đời Vào tháng 6/1993 mới chỉ có 130 website Một năm sau số website đã là 3.000 Hiện nay số Website đã lên con số vài trăm triệu
Ngày nay không ai kiểm soát toàn bộ mạng Internet mà mỗi nhà quản trị mạng chỉ quản lý phần mạng của tổ chức mình Tuy nhiên, để Internet phát triển theo một chiều hướng thống nhất, W3C có nhiệm vụ theo dõi các chuẩn về web, phát triển các giao thức truyền thông chung trên Internet W3C cung cấp các thông tin, các mã tham khảo, các ứng dụng cho người dùng và các nhà phát triển W3C có 3 trụ sở đặt tại Mỹ, châu Aâu, và Nhật Bản
1.1.1.3 Các dịch vụ trên mạng Internet:
- World Wide Web (www):
Cung cấp thông tin dạng siêu văn bản (hypertext) Là trang thông tin đa phương tiện (gồm văn bản, âm thanh, hình ảnh, hoạt hình, video) Dịch vụ này cho phép
ta duyệt từ trang Web này đến trang Web khác thông qua các siêu liên kết
- E-mail (Electronic Mail):
Thư điện tử, dịch vụ này cho phép ta gởi, nhận, chuyển tiếp thư điện tử Một bức thư điện tử có thể chứa văn bản cùng hình ảnh, âm thanh, video,…
- FTP (File Transfer Protocol):
Truyền tập tin, dịch vụ này cho phép người sử dụng gởi đi và lấy về các tập tin qua Internet
- Newsgroup:
Nhóm thảo luận, dịch vụ này cho phép nhóm người có thể trao đổi với nhau về một đề tài cụ thể nào đó
- Usenet (user’s network):
Tập hợp vài ngàn nhóm thảo luận (Newsgroup) trên Internet Những người tham
Trang 9điệp của người khác và gởi thông điệp của mình cũng như trả lời các thông điệp khác
1.1.2 Thương mại điện tử (E-commerce / Electronic Commercial)
Thương mại điện tử là một lĩnh vực tương đối mới, ngay tên gọi cũng có nhiều cách gọi khác nhau: thương mại trực tuyến (online trade), thương mại điều khiển học (cyber trade), kinh doanh điện tử (electronic business),… gần đây tên gọi
“Thương mại điện tử “ (electronic commerce) được sử dụng nhiều rồi trở thành quy ước chung, đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù rằng các tên gọi khác vẫn có thể được dùng và được hiểu với cùng một nội dung
Thương mại điện tử được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa là: “các giao dịch thương mại dựa trên việc truyền dẫn điện tử dữ liệu thông qua mạng truyền thông như mạng Internet”
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) thì Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyềàn thông điện tử và công nghệ tin học kỹ thuật số
Thương mại trong “Thương mại điện tử” (electronic commerce) không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ theo cách hiểu thông thường mà bao quát một phạm vi rộng hơn nhiều, và do đó việc áp dụng Thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của gần như tất cả các hoạt động kinh tế Theo ước tính đến nay Thương mại điện tử có trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một ứng dụng
1.2 Các loại hình thương mại điện tử:
Hiện nay thương mại điện tử được phân thành 3 loại hình:
1.2.1 Intranet:
Công ty thiết lập một mạng nội bộ (Intranet) để đơn giản hoá mọi thủ tục điều hành và đồng bộ hoá các hoạt động của công ty Mạng Intranet sẽ được ngăn cách với mạng thông tin Internet bằng bức tường lửa (firewalls) hoặc các giải pháp an toàn khác
Các công ty, tập đoàn đa quốc gia trên thế giới đều sẵn sàng bỏ ra một khoản chi phí ban đầu để thiết lập mạng nội bộ (Intranet) giữa các chi nhánh của công ty ở nước ngoài và công ty mẹ để đồng bộ hoá các hoạt động và xử lý thông tin một cách nhanh chóng
Trang 101.2.2 Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2B (Business to Business)
Đây là hình thức giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp Hai công ty sẽ cho phép nhau truy cập vào những dữ liệu đặc biệt của bên kia Thông thường thì chỉ truy cập vào một phần thông tin để đáp ứng cho việc giao dịch kinh doanh giữa hai bên
Do tính chất của giao dịch là mua bán, trao đổi hàng hoá với số lượng nhiều nên doanh số của hình thức này hiện nay chiếm tới 2/3 doanh số của giao dịch thương mại trên thế giới Các tập đoàn và công ty lớn trên thế giới đã và đang nhanh chóng tham gia vào hình thức này Theo chủ tịch của hãng Intel: “trong vòng năm năm nữa, các công ty sẽ là công ty kinh doanh trên Internet hoặc công ty đó sẽ không còn tồn tại”
1.2.3 Giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng - B2C (Business to Consumer)
Đây là hình thức được mọi người chú ý nhất Thông thường khi nghĩ đến Thương mại điện tử đều nghĩ đến hình thức này, đó là bán hàng đến người tiêu dùng thông qua mạng Internet Mặc dù Thương mại điện tử còn nhiều hình thức giao dịch khác
Doanh nghiệp và người tiêu dùng đều ủng hộ rất nhiệt tình loại hình kinh doanh này Phía doanh nghiệp thì có lợi trong việc cắt giảm chi phí kinh doanh, được giới thiệu sản phẩm của mình trên toàn thế giới Về phía người tiêu dùng thì chỉ việc ngồi nhà vẫn có thể lựa chọn được món hàng mình ưa thích và khi cần chỉ nhấn chuột là đã có thể mua được món hàng mình cần với giá cả hợp lý và được gởi về tận nhà là một tiện lợi từ trước đến nay chưa hề có
1.3 Các đòi hỏi của thương mại điện tử:
Không nên nhìn nhận thương mại điện tử đơn thuần chỉ là dùng phương tiện điện tử để thực hiện hoạt động buôn bán truyền thống, mà nên hiểu rằng một khi chấp nhận và ứng dụng Thương mại điện tử thì toàn bộ hình thái hoạt động của một quốc gia sẽ thay đổi, cả hệ thống giáo dục, tập quán làm việc, quan hệ quốc tế,… Những đòi hỏi của thương mại điện tử là một tổng thể hàng chục vấn đề phức tạp đan xen nhau trong một mối quan hệ hữu cơ, bao gồm:
1.3.1 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin:
Thương mại điện tử chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc Hạ tầng cơ sở công nghệ bao gồm từ các chuẩn của doanh nghiệp, quốc gia và sự liên kết của các chuẩn ấy với các chuẩn quốc tế, tới các kỹ thuật ứng dụng và thiết bị ứng dụng Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ riêng từng doanh nghiệp mà phải là một hệ thống quốc gia, với tư cách một phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin khu vực và toàn cầu Và hệ thống này phải tới được từng cá nhân trong hệ thống thương mại
Trang 11Hệ thống này không chỉ có tính hiện hữu sẵn sàng mà còn phải có tính thực hiện được, nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện thông tin (điện thoại, máy tính,…) và chi phí dịch vụ truyền thông (phí nối mạng và truy cập mạng,…) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được Điều này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với các nước đang phát triển với mức sống còn thấp, ví dụ như ở Việt Nam
1.3.2 Hạ tầng cơ sở nhân lực:
Aùp dụng thương mại điện tử tất yếu nảy sinh hai đòi hỏi: một là đa số người dân phải sử dụng quen thuộc và có khả năng xử lý các hoạt động trên mạng Internet Hai là có một đội ngũ chuyên gia tin học thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới nhất cũng như có khả năng thiết kế các phần mềm để phục vụ cho hoạt động thương mại điện tử
Bên cạnh đó một yêu cầu tất yếu nữa của kinh doanh trực tuyến là tất cả mọi người tham gia đều phải giỏi Anh ngữ vì ngôn ngữ chủ yếu sử dụng trong thương mại nói chung và trong thương mại điện tử nói riêng vẫn là tiếng Anh
1.3.3 Bảo mật an toàn:
Giao dịch thương mại điện tử đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn Trong thương mại, người mua thì lo các chi tiết của thẻ tín dụng của mình bị lộ và kẻ xấu sẽ lợi dụng mà rút tiền, người bán thì lo người mua không thanh toán cho các hợp đồng đã được ký theo kiểu điện tử qua Web
Kỹ thuật mã hoá (cryptography) hiện đại với khoá dài tối thiểu tới 1024 bit, thậm chí 2048 bit, cộng với các công nghệ SSL (Secure Sockets Layer), SET (Sercure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này, trong đó có vấn đề
“chữ ký điện tử “ (electronic signature) và chữ ký số hoá (digital signature) là chữ ký biểu diễn bằng các bit điện tử, và được xác thực thông qua giải mã
1.3.4 Hệ thống thanh toán qua mạng (paying via the net)
Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện trên thực tế khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động thông qua mạng Internet (paying via the net) Khi chưa có hệ thống này thì Thương mại điện tử chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, buôn bán vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc bằng các phương tiện thanh toán truyền thống Khi ấy hiệu quả của Thương mại điện tử bị giảm thấp và có thể không đủ để bù lại các chi phí công nghệ đã bỏ ra
1.3.5 Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Càng ngày giá trị sản phẩm càng cao ở khía cạnh “chất xám” của nó chứ không phải ở bản thân nó Tài sản cơ bản của từng đất nước, từng tổ chức và từng con người đã và đang chuyển thành “tài sản chất xám” là chủ yếu, thông tin trở thành tài sản và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có nghĩa là bảo vệ thông tin Vì lẽ đó, nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền của các thông tin trên Web (các hình thức quảng cáo, các nhãn hiệu thương mại, các cơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng,…)
Trang 12Điều đó có nghĩa là hệ thống pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ về sở hữu trí tuệ sẽ phải được thay đổi phù hợp
1.3.6 Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý:
Các quốc gia phải thiết lập môi trường kinh tế, pháp lý, và xã hội (kể cả văn hoá, giáo dục) cho nền kinh tế số hoá nói chung và cho thương mại điện tử nói riêng, ví dụ quyết định đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ thu trả thuế, và các dịch vụ khác như thư tín, dự báo thời tiết, thông báo giờ tàu xe,… và đưa các nội dung của kinh tế số hoá vào văn hoá và giáo dục các cấp
Về pháp lý có hàng loạt vấn đề phải xử lý:
- Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thương mại điện tử
- Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (electronic signature - tức chữ ký dưới dạng số đặt vào một thông điệp dữ liệu), và chữ ký số hoá (digital signature - tức biện pháp biến đổi nội dung thông điệp dữ liệu khi dùng mã khoá để giải mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu) Thành lập các thiết chế pháp lý, các cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác thực chữ ký điện tử và chữ ký số hoá
- Bảo vệ pháp lý các hợp đồng thương mại điện tử
- Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử
- Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với các mục đích bất hợp pháp như thu thập tin tức mật, thay đổi thông tin trên các trang Web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virus phá hoại,…
1.4 Tiến trình thực hiện thương mại điện tử
1.4.1 Giai đoạn 1
Các doanh nghiệp tham gia Thương mại điện tử trong giai đoạn này sẽ tạo dựng các Website và đưa chúng lên mạng Internet để khách hàng có thể truy cập 24/24 Các Website này đơn giản là những trang quảng cáo sản phẩm, dịch vụ, giới thiệu về công ty Một số công ty đã thiết lập hệ thống đơn đặt hàng (booking form), giỏ mua bán hàng hoá (shopping cart), nhưng những thông tin từ các đơn đặt hàng này được xử lý một cách thủ công Chính vì thế người ta gọi thương mại điện tử giai đoạn này là “ca ta lô điện tử“ Tuy chưa mang lại giá trị trao đổi thương mại lớn, nhưng thương mại điện tử trong giai đoạn này đã tạo một bước đột phá đối với thương mại truyền thống, tạo ra mối liên kết hoàn toàn mới giữa người bán và người mua
1.4.2 Giai đoạn 2
Thương mại điện tử trong giai đoạn này nhắm vào thị hiếu của khách hàng là
Trang 13được tiếp nhận và chuyển xuống cho một hệ thống xử lý đơn đặt hàng Nếu khách hàng đồng ý mua họ có thể thanh toán trực tuyến (payment online)
Một số doanh nghiệp sử dụng các công nghệ kinh doanh thông minh để phân tích các thuộc tính mua hàng của khách hàng và lập hồ sơ khách hàng Ví dụ khách hàng đã một lần vào đăng ký mua sách văn học tại website: www.amazone.com thì hệ thống dữ liệu khách hàng tự động lập hồ sơ và khi công tyï có một đầu sách văn học mới, chương trình sẽ gởi e-mail tự động đến chào bán cho khách hàng Quy trình này đòi hỏi công ty phải:
- Xây dựng một phần mềm dành cho việc mua hàng (shopping cart software)
- Phần mềm thanh toán an toàn bằng thẻ tín dụng
(secure payment software)
- Phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc nhận biết sở thích của khách hàng và quản lý các thông tin trong suốt quá trình bán hàng
1.4.3 Giai đoạn 3
Thay vì cung cấp thông tin trên Website hoặc các máy chủ để mọi người truy cập khai thác, người ta trong đợi các doanh nghiệp sẽ trực tiếp chuyển thông tin qua mạng tới từng khách hàng, từng máy tính cá nhân Doanh nghiệp sẽ phải cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng của họ bất cứ ở đâu, bất kỳ lúc nào họ muốn thông qua máy tính xách tay, điện thoại di động hoặc từ máy chủ đến máy chủ
Thương mại điện tử ở giai đoạn này không định hướng vào web mà định hướng vào khách hàng Thay vì phải ngồi trước máy tính, mở trình duyệt để tìm kiếm thông tin thì các hệ thống thương mại điện tử thế hệ này sẽ tự động biết khách hàng cần thông tin gì để gửi đến Điều này đòi hỏi các ứng dụng tự động và thông minh ở cả hai đầu giao dịch và phần mềm trung chuyển khả dĩ cho phép các ứng dụng tương tác với nhau mà không cần sự tác động của con người
1.5 Lợi ích của thương mại điện tử
Thương mại điện tử đem lại những lợi ích rất lớn, giúp người tham gia thu được thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi phí tiếp thị và giao dịch, rút ngắn quá trình sản xuất, tạo dựng và cũng cố quan hệ bạn hàng,… Trên quan điểm chiến lược, Thương mại điện tử giúp một số nước chuyển sang nền kinh tế số hoá như là một xu hướng tất yếu không thể đảo ngược, và bằng cách đó nước đang phát triển có thể tạo được một bước tiến nhảy vọt
Lợi ích của Thương mại điện tử rất to lớn và bao quát thể hiện ở một số mặt chính sau đây:
1.5.1 Nắm được thông tin phong phú
Thương mại điện tử giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường nhờ đó có thể xây dựng chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực, và thị trường quốc tế Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, là loại hình
Trang 14doanh nghiệp đang được các nước quan tâm, coi là một trong những động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế
1.5.2 Giảm chi phí sản xuất
Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng Các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như bỏ hẳn), theo số liệu của hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm theo hướng này đạt tới 30% Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài, nếu nhìn nhận vấn đề từ gốc độ chiến lược
1.5.3 Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị
Thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị Thông qua Website, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng Catalogue điện tử (electronic catalogue) trên website phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalogue in ấn chỉ có khuôn khổ giới hạn và luôn lỗi thời Theo số liệu của hãng máy bay Boeing, nay đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet và mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại
1.5.4 Giảm chi phí giao dịch:
Thương mại điện tử giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao hàng, thanh toán) Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và bằng khoảng 0,5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện Chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng khoản 5% chi phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện chuyển phát nhanh, chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng khoảng từ 10% tới 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường
Trong hai yếu tố cắt giảm này yếu tố thời gian đáng kể hơn, vì việc nhanh chóng làm cho thông tin hàng hoá tiếp cận người tiêu thụ (mà không phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn đối với thương mại Ngoài ra, việc giao dịch nhanh chóng, sớm nắm bắt được nhu cầu còn giúp cắt giảm số lượng và thời gian hàng lưu kho, cũng như kịp thời thay đổi sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường
1.5.5 Giúp thiết lập và cũng cố quan hệ đối tác:
Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và cũng cố mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình thương mại: người tiêu thụ, doanh nghiệp Các cơ quan chính phủ có thể giao dịch trực tiếp và liên tục với nhau, gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa Nhờ đó sự hợp tác, quản lý được tiến hành nhanh chóng và liên tục, các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới
Trang 151.5.6 Tạo điều kiện sớm tiếp cận “nền kinh tế số hoá” (digital economy)
Thương mại điện tử sẽ giúp các nước đang phát triển tiếp cận với nền kinh tế số hoá hay còn gọi là nền kinh tế ảo (virtual economy), vì nếu các nước này không có cơ hội tiếp cận thì chỉ sau khoảng một thập kỷ nữa, các nước này có thể bị bỏ rơi hoàn toàn Nếu sớm chuyển sang nền kinh tế số hoá thì một nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhảy vọt, tiến kịp các nước đi trước trong một thời gian ngắn hơn
1.6 Mặt trái của thương mại điện tử
1.6.1 Xuất hiện mâu thuẫn giữa kinh doanh truyền thống và kinh doanh
thương mại điện tử
Theo kiểu buôn bán truyền thống thì người mua và người bán sẽ giao dịch với nhau qua ba kênh mua bán đó là: mặt đối mặt, qua điện thoại và qua thư tín Nay lại xuất hiện thêm một kênh mới đó là mua bán thông qua mạng Internet Trên mạng Internet người tiêu dùng có thể vào thẳng Website của nhà sản xuất và mua hàng trực tiếp với giá rẻ, chứ không thông qua những nhà bán lẻ, những nhà phân phối trung gian Chính điều này làm nảy sinh mâu thuẫn giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ
Ví dụ vào năm 1999 công ty sản xuất quần jean nổi tiếng Levis Strauss bắt đầu bán quần jean nữ trên Website của họ đến thẳng người tiêu dùng khu vực Bắc Mỹ Họ đã rất thành công trên kênh phân phối này Nhưng sau đó các cửa hàng bán lẻ bắt đầu tẩy chay không bán sản phẩm của Levis Strauss vì giá bán trên website rẻ hơn giá bán của các cửa hàng bán lẻ Điều này dẫn đến doanh số của toàn công ty sút giảm Do đó Levis Strauss Co phải ngưng bán sản phẩm trên Webiste của họ trực tiếp đến người sử dụng cuối cùng và họ phải suy nghĩ đến một chiến lược mới
Một ví dụ khác là hãng hàng không KML của Hà Lan đã bán trực tiếp chỗ của các chuyến bay vận chuyển hàng hoá (cargo) đến thẳng người tiêu dùng cuối cùng Điều này làm cho các khách hàng trung gian của KLM không hài lòng và họ đã chuyển sang sử dụng dịch vụ của hãng hàng không khác Điều này dẫn đến việc KML phải ngưng thực hiện việc kinh doanh này và suy nghĩ lại một chiến lược kinh doanh khác
1.6.2 Rủi ro trong kinh doanh
Trong các giao dịch giữa người mua và người bán, sự an toàn là vấn đề cơ bản nhất Khách hàng chấp nhận rủi ro khi dùng thẻ tín dụng tại các cửa hàng vì họ có thể nhìn thấy và sờ thấy hàng hoá và đánh giá được cửa hàng Còn trên Internet, không có tất cả những cái đó Bằng sự nhận thức về những rủi ro của các giao dịch trên Internet, doanh nghiệp có thể lựa chọn các giải pháp công nghệ giúp họ vượt qua những rủi ro này
- Sự lừa bịp:
Việc tạo ra các Website giả bằng cách sao chép Website của những tổ chức hợp pháp là rất dễ dàng Trên thực tế, nhiều kẻ lừa đảo có được số thẻ tín dụng một
Trang 16cách bất hợp pháp nhờ việc thiết lập các Website trông rất chuyên nghiệp, nhưng thực tế là nhái lại các doanh nghiệp hợp pháp
- Sự phơi bày bất lợi:
Khi các thông tin giao dịch được truyền “một cách rõ ràng”, tin tặc (hacker) có thể can thiệp vào quá trình truyền tin để lấy các thông tin nhậy cảm của khách hàng
- Hành động trái phép:
Một doanh nghiệp cạnh tranh của bạn hoặc một khách hàng bất bình có thể sửa đổi thông tin trên Website để từ chối dịch vụ đối với các khách hàng tiềm năng hoặc làm sai các chức năng Website của bạn
- Nghe trộm:
Nội dung bí mật của một giao dịch, nếu không được bảo vệ, có thể bị can thiệp trên đường đi trên Internet
- Thay đổi dữ liệu:
Nội dung của một giao dịch không những có thể bị can thiệp, mà còn có thể bị thay đổi trên đường đi một cách vô ý hoặc hữu ý Tên khách hàng, số thẻ tín dụng, giá trị tiền truyền đi một cách lộ liễu trên Internet là miếng mồi ngon để tin tặc thực hiện việc thay đổi dữ liệu như vậy
1.7 Kết luận phần 1
- Internet ra đời và tiếp theo là Thương mại điện tử đã đặt nhân loại kề cận với cuộc cách mạng sẽ đem lại sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, sự thay đổi căn bản về xã hội tiến tới một thế giới vì sự thịnh vượng chung
- Thương mại điện tử khác hẳn với phương thức hàng đổi hàng hay hàng đổi tiền trực tiếp, mặt đối mặt giữa người bán và người mua theo kiểu “tiền trao cháo múc” Ở đây, nó thể hiện cách “mua trâu vẽ bóng” (có luật pháp bảo vệ) hay qua thương lượng trên mạng Internet Thương mại điện tử không có ranh giới về thời gian và địa lý, nó có khả năng tiếp nhận các đơn đặt hàng và nhận các khoản thanh toán qua mạng
- Phạm vi của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu như mọi hình thái hoạt động kinh tế chứ không chỉ bao gồm buôn bán hàng hoá và dịch vụ
- Bên cạnh những lợi ích tuyệt vời do Thương mại điện tử mang lại cùng với việc đa hoạt động kinh doanh trên mạng, các doanh nghiệp đồng thời cũng nhận ra những rủi ro do Thương mại điện tử mang lại Rủi ro hàng đầu đó là tính bảo mật
Trang 17Phần 2
THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG LĨNH VỰC
KINH DOANH LỮ HÀNH Ở VIỆT NAM
2.1 Thương mại điện tử ngày nay trên thế giới
2.1.1 Tổng quan về tình hình sử dụng mạng Internet trên thế giới
Hiện nay số lượng người trên thế giới sử dụng mạng Internet đang trên đà gia tăng một cách mạnh mẽ Vào tháng 3/1999 mới chỉ có 158 triệu người sử dụng Internet nhưng đến tháng 11/2000 thì số lượng người sử dụng Internet đã lên đến con số 407,1 triệu người Trong đó gia tăng mạnh nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương từ 26,55 triệu người vào tháng 3/1999 lên 104,88 triệu người vào tháng 11/2000 Hiện nay đứng đầu thế giới về số người sử dụng Internet vẫn là Mỹ và Canada với 167,12 triệu người, kế đó là châu Aâu 113,14 triệu người Thấp nhất là châu Phi với 3,11 triệu người
Bảng 1: Số người sử dụng mạng Internet trên thế giới
Đơn vị: người Tháng 3/1999 Tháng 11/2000 Tỉ lệ tăng Toàn thế giới 158.000.000 407.100.000 257,6%Châu Phi 1.140.000 3.110.000 273 %Châu Á/Thái
Bình Dương
26.550.000 104.880.000 395%
Châu Aâu 36.760.000 113.140.000 307%Trung Đông 78.000 2.400.000 307%Canada và Mỹ 88.330.000 167.120.000 189%Mỹ Latinh 4.630.000 16.450.000 355%
Nguồn: Nua Internet Surveys (www.nua.net)
Biểu đồ 1: Tỉ lệ người sử dụng Internet chia theo khu vực trên thế giới tính
đến tháng 11/2000
Châu Phi 1%
Châu Aâu 29%
Trung Đông 1%
Châu Á/TBD 27%
Canada & Mỹ
42%
Trang 18Bảng 2: Tỉ lệ người sử dụng Internet trên dân số từng quốc gia:
Số người sử dụng Internet (tính đến 2/2001)
Dân số (ước tính đến 2/2001)
Tỉ lệ người dùng Internet /số dân
Toàn thế giới 420.846.100 6.131.806.207 6.86%Trung Quốc 20.878.500 1.261.942.471 1.65%Nhật Bản 38.951.000 126.650.172 30,75%Hàn Quốc 15.198.000 47.481.954 32,01%Aán Độ 4.460.610 1.015.013.512 0,44%ASEAN 6.237.641 490.302.566 1,27%Việt Nam 114.733 78.786.885 0,15%
Nguồn: Tổng cục Bưu điện Việt Nam
Biểu đồ 2: Tỉ lệ người sử dụng Internet trên dân số từng quốc gia
Hàn Quốc
Aán Độ ASEAN Việt
Nam
2.1.2 Một vài số liệu về thương mại điện tử trên thế giới
Sau giai đoạn đơn thuần chỉ trên lý thuyết, cuối cùng thương mại điện tử cũng đi vào khía cạnh thực tiễn của nó Internet đang cho phép các công ty mở ra những kênh phân phối mới, có thêm nhiều khách hàng và nhà cung cấp, tăng doanh số và tăng lợi nhuận Dưới đây là một vài ví dụ:
- Cisco Connection Online: đây là một Website thương mại doanh nghiệp tới
doanh nghiệp (B2B), hiện đang bán được 11 triệu USD thiết bị mạng mỗi ngày, tương ứng với 4 tỷ USD một năm, xấp xỉ 60% tổng doanh thu của Cisco System
- Doanh số mà Dell Computers thu được từ Website của nó là 5 triệu USD
mỗi ngày, tức khoảng 1,8 tỷ USD mỗi năm
- Dịch vụ du lịch Expedia của Microsoft thu được 4 triệu USD mỗi tuần, hay
hơn 200 triệu USD hàng năm từ việc bán vé máy bay trên mạng
Trang 19- Cửa hàng máy tính trên mạng của NECX thu được 5 trệu USD mỗi tháng từ
việc bán các sản phẩm liên quan đến máy tính, tức khoảng 60 triệu USD mỗi năm
- 1800-Flowers đã tạo ra 30 triệu USD doanh thu hàng năm từ bán hàng trên
mạng chiếm khoảng 10% tổng doanh thu toàn công ty
2.1.2.1 Lĩnh vực B2C (Business to Consumer – giao dịch giữa doanh nghiệp và ngườ tiêu dùng)
Theo báo cáo ngày 27/7/2001 của eMarketer, dự báo doanh số của Thương mại điện tử toàn cầu dưới hình thức B2C (giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng) sẽ đạt 428 tỉ USD vào năm 2004, so với 101,1 tỉ USD của năm 2001 và 167,2 tỉ USD trong năm 2002
Khu vực Bắc Mỹ vẫn là khu vực phát triển mạnh nhất và dẫn đầu về doanh số giao dịch trong lĩnh vực B2C, với 197,9 tỉ USD vào năm 2004, tăng mạnh so với 74,4 tỉ USD của năm nay và 110,6 tỉ USD trong năm 2002
Châu Aâu sẽ phát triển tiếp theo khu vực Bắc Mỹ với một tốc độ chóng mặt Doanh số sẽ đạt 182,5 tỉ USD vào năm 2004 so với năm nay chỉ đạt khoảng 16,5
Bảng 3: Doanh số thương mại điện tử toàn cầu dưới hình thức B2C
Đơn vị: tỉ USD Khu vực 2000 2001 2002 2003 2004 Bắc Mỹ 47,5 74,4 110,6 135,2 197,9 Mỹ Latinh 0,7 1,8 3,3 5,5 8,1 Châu Aâu 8,1 16,5 37,1 81,8 182,5 Châu Phi/
Trung Đông 0,2 0,3 0,6 1,1 1,6 Châu Á 3,2 8,3 15,6 26,4 38,0 Toàn thế giới 59,7 101,1 167,2 250,0 428,1
Nguồn: eMarketer, 2001 (www.emarketer.com)
2.1.2.1 Lĩnh vực B2B (Business to Business – giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp)
Thương mại điện tử trong lĩnh vực B2B đang phát triển mạnh Đây là hình thức mang lại doanh thu lớn nhất Trong năm 2000, 80% doanh số thương mại điện tử được thu từ hình thức này
Trang 20Bảng 4: Doanh số thương mại điện tử toàn cầu dưới hình thức B2B
Đơn vị: tỉ USD Khu vực 2000 2001 2002 2003 2004 Tỉ lệ %
năm
2004 Bắc Mỹ 159,2 316,8 563,9 964,3 1600,8 57,7%Mỹ Latinh 36,2 68,6 121,2 199,3 300,6 10,8%Châu Aâu 26,2 52,4 132,7 334,1 797,3 28,7 %Châu Phi/
Trung Đông
2,9 7,9 17,4 33,6 58,4 2,1%
Châu Á 1,7 3,2 5,9 10,6 17,7 0,6 %Toàn thế
giới
226,2 448,9 841,1 1541,9 2774,8 100 %
Nguồn: eMarketer, 2001 (www.emarketer.com)
2.1.3 Sự phát triển thương mại điện tử ở một số quốc gia
2.1.3.1 Mỹ
Công nghệ thông tin ở Mỹ đã phát triển cao, trong các năm 1995-1997 đã đóng góp 28 - 41% tổng số gia tăng của GDP Theo các số liệu ứơc tính gần đúng, Mỹ đang chiếm tỷ trọng trên 70% trong tổng doanh số thương mại điện tử của toàn thế giới Nước Mỹ đã chuyển sang “nền kinh tế tri thức” nên chi phí giao dịch trong nền kinh tế Mỹ (gọi chung các chi phí giao dịch thương mại và bảo vệ sở hữu cả vật thể lẫn trí tuệ) chiếm tới 45% GDP Trong tình huống đó, thương mại điện tử có ý nghĩa kinh tế sống còn đối với nước Mỹ, nhờ nó chi phí giao dịch có thể giảm đi hàng chục, thậm chí hàng trăm lần
Tháng 7/1997 chính phủ Mỹ công bố bản “khuôn khổ cho thương mại điện tử toàn cầu” (Framework for Global Electronic Commerce) Trong đó nêu ra 5 nguyên tắc cơ bản của thương mại điện tử :
- Internet chịu sự chi phối của thị trường (với nghĩa là không chịu sự điều chỉnh, kiểm soát của chính phủ), khu vực tư nhân giữ vai trò tiên phong
- Chính phủ không nên có các hạn chế không cần thiết đối với thương mại điện tử
- Nếu chính phủ cần phải tham gia thì chỉ là tạo môi trường pháp lý giản đơn và nhất quán cho thương mại điện tử, chứ không phải là điều tiết nó
- Chính phủ công nhận các tính chất đặc thù của Internet, nó không phải theo các khuôn khổ điều tiết đã xác lập cho lĩnh vực truyền thanh và truyền hình
- Thương mại điện tử trên Internet cần phải mang tính toàn cầu, không phân biệt đối xử giữa những người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau
Trang 212.1.3.2 Liên minh châu Aâu (EU)
Công nghệ thông tin châu Âu đã phát triển cao, cả về phần cứng và phần mềm, đó là nền tảng vững chắc cho thương mại điện tử
Tháng 4/1997 Uûy ban châu Aâu phát hành tài liệu “Sáng kiến châu Aâu trong thương mại điện tử” (A European Initiative internet Electronic Commerce) nhằm thúc đẩy Sự phát triển thương mại điện tử ở châu Aâu Tài liệu đó bao quát cả một khuôn khổ pháp lý và mội trường không những cho thương mại điện tử trong nội bộ liên minh và với cả thế giới Tài liệu này nêu ra 4 lĩnh vực phải xử lý
- Bảo đảm các khuôn khổ pháp lý của thương mại điện tử ở châu Aâu tương thích với khuôn khổ pháp lý toàn cầu
Từ ngày 19/7/2001 Luật về chữ ký điện tử của EU đã bắt đầu có hiệu lực Chữ ký điện tử có thể được sử dụng trong các giao dịch thương mại trên mạng Internet Các công ty và công dân EU có thể sử dụng chữ ký điện tử để ký kết các hợp đồng kinh tế lớn hoặc để mua các đồ vật rất nhỏ qua mạng Internet
2.1.3.3 Nhật Bản
Nền công nghệ thông tin của Nhật Bản có đặc điểm nổi bật là công nghệ phần cứng khá xuất sắc, nhưng công nghệ phần mềm thì thua khá xa so với Mỹ và Châu Aâu và sự thâm nhập của công nghệ thông tin vào đời sống xã hội cũng thấp so với Mỹ, cứ 100 gia đình thì có 30 gia đình có máy tính Đầu năm 1995, chính phủ Nhật Bản đã ra chính sách về xây dụng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, lập ra Hội đồng xúc tiến thương mại điện tử (Electronic Commerce Promotion Council) với nhiệm vụ vạch phương hướng và hỗ trợ phát triển các cơ sở hạ tầng công nghệ và xã hội cần thiết cho thương mại điện tử Hội đồng được cấp 300 triệu USD, 1/3 dùng cho xúc tiến phát triển thương mại điện tử B2C, 2/3 dùng cho B2B Hội đồng xúc tiến thương mại điện tử của Nhật đang hỗ trợ cho các dự án xây dựng các cửa hàng ảo, các tiêu chuẩn cho thông tin sản phẩm, vấn đề bảo mật và an toàn, công nghệ thẻ thông minh, các trung tâm xác thực, chứng nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá
Theo dự báo của Hội đồng xúc tiến thương mại điện tử, tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử trong khoảng thời gian 1999 – 2002 mới đạt khoảng 126,05 tỉ USD, bằng 1% tổng trị giá giao dịch thương mại chung
Trang 222.1.3.4 Singapore
Từ lâu Singapore đã tuyên bố mục tiêu biến nước này thành một trong những nước đứng đầu thế giới về điện toán hoá Chính phủ đã xây dựng “Kế hoạch công nghệ thông tin năm 2000” với mục tiêu giúp người dân tiếp cận công nghệ thông tin, và làm cho công nghệ thông tin thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội Singapore Bước thứ nhất của kế hoạch này đã hoàn tất vào cuối năm 1997: tới thời điểm đó tất cả các cơ quan, công sở đều đã liên kết vào Internet
Riêng về thanh toán điện tử, Singapore là một trong những nước áp dụng đầu tiên trên thế giới, tháng 12/1996, nhân phiên họp khai mạc cấp Bộ trưởng WTO tổ chức ở Singapore, đã chính thức khai trương việc ứng dụng toàn diện các loại thẻ tiền mặt Internet, thẻ thông minh, thẻ mua hàng điện tử, túi tiền điện tử Hệ thống giao dịch điện tử an toàn (Secure Electronic Transaction: SET) mang tính quốc tế, thành lập tháng 4/1997 đã đưa vào sử dụng cuối năm 1998
Trong năm 1998 các văn kiện quan trọng bậc nhất điều chỉnh hoạt động Thương mại điện tử ở Singapore ra đời: Luật giao dịch điện tử (Electronic Transaction Act: ETA), Luật bí mật riêng (Privacy code), Luật bản quyền cũng được sửa đổi lại cho phù hợp với các yêu cầu của Thương mại điện tử,…
2.1.3.5 ASEAN
Các nước ASEAN bắt đầu có các hoạt động về thương mại điện tử từ năm 1997, mở đầu bằng hội nghị bàn tròn ASEAN về thương mại điện tử tổ chức ở Malaysia vào tháng 10/1997, với nội dung xoay quanh việc xây dựng một kế hoạch hợp tác trong lĩnh vực này
Để xúc tiến hợp tác về Thương mại điện tử, ASEAN đã lập ra “tiểu ban điều phối về thương mại điện tử (Coordinating Committee on Electronic Commerce: CCEC) Vào tháng 7/1998 Tiểu ban này họp Hội nghị lần thứ nhất Tháng 9/1998 họp Hội nghị lần 2, tại hội nghị này, CCEC đã thông qua bản “Các nguyên tắc chỉ đạo thương mại điện tử” Trong đó thể hiện sự lo ngại của các nước thành viên trước tình trạng yếu kém về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin,
cơ sở hạ tầng pháp lý, tài chính của mình trước xu thế phát triển của Thương mại điện tử, sự dè dặt nhất định trước các rủi ro, tổn thất có thể phát sinh khi buộc phải tham gia trong lúc một môi trường thích hợp chưa được tạo dựng và giữa các nước chưa có khả năng liên thông
2.1.4 Ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành trên thế giới
2.1.4.1 Khái niệm Lữ hành:
Trong thư tịch Trung Quốc từ Lữ hành gần nghĩa với từ Lữ du (Du lịch) Từ Du lịch (tourism) xuất hiện sớm nhất trong quyển từ điển Oxford xuất bản năm 1811
ở Anh, có hai ý nghĩa là đi xa và du lãm Nghĩa là rời nhà đi xa rồi trở về, trong thời gian ấy thì tham quan, du lãm ở một hoặc vài địa phương
Trang 23Về định nghĩa du lịch, một số tổ chức quốc tế và học giả đều rất hứng thú trong việc từ các góc độ khác nhau tiến hành nghiên cứu, đưa ra rất nhiều định nghĩa về việc du lịch, trong đó có những định nghĩa có ảnh hưởng lớn trên thế giới là:
- Tại hội nghị Manila 1980 của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), định nghĩa được nêu ra “việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải di
cư và một cách hoà bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển cá nhân về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hoá và tinh thần cùng với việc việc đẩy mạnh sự hiểu biết và hợp tác giữa mọi người” Ưu điểm chủ yếu của nó là nhấn mạnh mục đích hoà bình của việc du lịch, đồng thời nó cũng bao quát cả việc du lịch để vui chơi tiêu khiển, cũng bao quát cả việc du lịch vì công việc Nhưng chổ khiếm khuyết của nó là chưa nhấn mạnh tới tính chất đất lạ của việc du lịch, cũng như chưa phản ánh đặc điểm tổng hợp khách quan của hoạt động du lịch của người du lịch
- Giới du lịch phương Tây thường công nhận định nghĩa của Hội Liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch (AIEST): “Du lịch là sự tổng hoà các hiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và tạm thời cư trú của những người không định cư dẫn tới Số người này không định cư lâu dài, vả lại cũng không làm bất kỳ hoạt động nào để kiếm tiền” Đặc điểm chủ yếu của nó là nêu ra rằng
du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính tổng hợp, đồng thời cũng thể hiện tính chất đất lạ, tính tạm thời và tính không hành nghề của hoạt động
du lịch Nhưng “không làm bất kỳ hoạt động nào để kiếm tiền” là chỉ nhắm vào việc du lịch giải trí, chứ chưa tính đến việc du lịch thương mại Thật ra các hoạt động công thương như đàm phán buôn bán, ký kết hợp đồng và triển lãm khuyến mãi cùng tham quan dưới hình thức du lịch tổ chức cho đại biểu sau khi kết thúc hội nghị cũng thuộc vào khái niệm du lịch
2.1.4.2 Đặc thù của ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành
- Hình thức kinh doanh trong thương mại điện tử giống với hình thức kinh doanh lữ hành truyền thống lâu nay, nghĩa là khách hàng trả tiền trước rồi mới nhận được dịch vụ So với lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng thì để phát triển Thương mại điện tử cần phải có thời gian để người tiêu dùng quen dần với việc mua hàng mà không được nhìn thấy, sờ thấy món hàng mình định mua Đây là một lợi điểm để ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành một cách thuận lợi
- Một du khách đang thực hiện chương trình du lịch của mình, nếu ông ta muốn thay đổi hoặc bổ xung thêm chương trình thì chỉ cần kết nối vào website của hãng lữ hành mà ông ta đang mua dịch vụ để bổ sung thêm những yêu cầu Rất nhanh và tiện lợi
Trang 242.1.4.3 Ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành ở một số quốc
gia:
Mới đây một nghiên cứu với quy mô lớn có tên là Du lịch – Khách sạn và Kinh
doanh điện tử, được Công ty nghiên cứu thị trường – Tư vấn quốc tế Arthur
Andersen, Đại học Tổng hợp New York, Cơ quan Quản lý Du lịch Hoa Kỳ,
Trung tâm Nghiên cứu Du lịch – Khách sạn Preston Robert Tisch và Tổ chức Dữ
liệu Tài chính và Công nghệ Du lịch Khách sạn tiến hành Kết quả công bố ngày
4/6/2001 Cuộc nghiên cứu cho thấy, trong những năm tới đây, các chức năng
tiếp thị và bán hàng của ngành du lịch bao gồm các chuyến tham quan, các
chương trình du lịch truyền thống, quản lý dữ liệu khách hàng và quá trình tự
động hoá bán hàng sẽ từng bước đưa lên các website trên Internet Tiếp theo đó
là các công đoạn như xây dựng hệ thống dữ liệu, quản lý sản lượng, thu mua, hệ
thống thông tin điều hành và đặt phòng cũng có thể được áp dụng rất hiệu quả
với công cụ Internet Về việc đặt chỗ qua mạng, hiện nay có khoảng 4,9% các
khách hàng của các khách sạn được khảo sát thực hiện đặt phòng qua mạng và
dự đoán con số này sẽ tăng hơn 3 lần trong 3 năm tới (tương đương 15,4%)
2.1.4.3.1 Mỹ:
Theo một nghiên cứu của nhóm PhoCusWright (CNET News.com) thì ngày càng
có nhiều khách hàng chọn việc đăng ký du lịch thông qua các Website du lịch
hơn là gọi điện thoại trực tiếp đến các Công ty lữ hành như lâu nay Tính đến
tháng 11 năm 2001 có 21 triệu người Mỹ, chiếm 13% dân số Mỹ, thường xuyên
đặt chương trình du lịch qua mạng Internet Theo PhoCusWright trong năm 2000
có 39% khách du lịch đặt chương trình tour trực tiếp ở các công ty lữ hành, chỉ
27% đặt chương trình tour trên mạng Internet Nhưng trong năm 2001, việc đặt
chỗ qua mạng Internet tăng lên 41%, đặt chổ trực tiếp tại công ty lữ hành là
26%, gọi điện thoại đến đặt chổ là 26% Lý do của việc thay đổi này chính là
giá, 60% số khách du lịch đặt chổ qua mạng Internet khi được hỏi đều cho rằng
họ chọn hình thức này là do giá các dịch vụ trên mạng Internet cạnh tranh hơn
Theo ông Philip Wolf, trưởng nhóm nghiên cứu PhoCusWright, ứng dụng vào
lĩnh vực du lịch sẽ là một ứng dụng quan trọng của Thương mại điện tử
Bảng 5: Tỉ lệ khách du lịch mua dịch vụ thông qua mạng Internet
Mua dịch vụ du lịch qua mạng Internet 27% 41%
Mua dịch vụ du lịch trực tiếp tại Công ty lữ hành 39% 26%
Mua dịch vụ du lịch qua điện thoại - 26%
Về doanh thu thì theo dự báo của eMarketer: doanh thu của Thương mại điện tử
trong lĩnh vực du lịch sẽ đạt 12,4 tỉ USD trong năm 2001 và đạt được con số 25,2
Trang 25doanh phần cứng và phần mềm máy vi tính Để đạt được kết quả này là do
những lợi ích của việc ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh Khách
hàng có thể dễ dàng kiểm tra giá dịch vụ của các công ty khác nhau, lấy thông
tin về giờ đến và đi của máy bay, xe lửa, tìm hiểu về dịch vụ của các chương
trình du lịch, kiểm tra khả năng đặt chổ ở các khách sạn,…
Tuy nhiên việc ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành ở Mỹ hiện
nay cũng chưa thể thay thế được phương pháp kinh doanh lữ hành truyền thống
Tổng doanh thu du lịch trong năm 2000 là 221 tỉ USD, trong đó doanh thu qua
mạng Internet chỉ đạt 12,4 tỉ USD chiếm 5,6%
2.1.4.3.2 Anh:
Du lịch tiếp tục là một trong những lĩnh vực thu hút khách hàng sử dụng Internet
nhiều nhất hiện nay ở Anh Trong số 15,2 triệu người Anh sử dụng Internet thì có
đến 30% là truy cập vào các website du lịch Khách hàng truy cập vào website
du lịch thường chia làm hai nhóm, một nhóm là nhằm lấy thông tin về các
chuyến bay, lịch tàu hoả, nhóm còn lại thì lấy thông tin về các chương trình du
lịch trọn gói hoặc tự thiết kế chương trình du lịch Thường thì phụ nữ thích truy
cập vào những website cung cấp thông tin các chuyến bay như:
www.lastminute.com là website dẫn đầu số lượng người truy cập, trong tuần cuối
của tháng 6/2001 có đến 305.000 người truy cập
2.1.4.3.3 Hồng Kông:
Theo nghiên cứu của NetValue thì các Website về du lịch đang bùng nổ ở Hồng
Kông Trong tháng 5/2001 đã có 200.000 người truy cập vào các website du lịch,
tăng gấp đôi so với tháng 1/2001 với 91.000 người truy cập Thời gian trung bình
cho một lần truy cập vào các website du lịch cũng gia tăng từ 11,9 phút tăng lên
22,6 phút như hiện nay
Bảng 6:
Lượng người truy cập website du lịch 91.000 người 200.000 người
Thời gian trung bình một lần truy cập 11,9 phút 22,6 phút
Theo số liệu của NetValue thì 53% lượng người truy cập vào website du lịch ở
Hồng Kông là phụ nữ; 43,9% có tuổi từ 15 đến 24 tuổi và 40% là sinh viên
Bốn Công ty lữ hành xây dựng website thành công và dẫn đầu hiện nay ở Hồng
Kông là: www.hongthai.com chiếm đa số lượng khách truy cập, tiếp theo là
Đứng thứ năm là website www.i-evertravel.com, đây là công ty lữ hành chỉ kinh
doanh trên mạng Internet
Trang 262.1.4.3.4 Canada
Theo nghiên cứu mới nhất của Ispos-Reid, công nghệ Internet đã làm một cuộc cách mạng sâu rộng trong lĩnh vực du lịch của Canada Hơn một nữa số người Canada truy cập Internet (59%) là để tìm kiếm thông tin du lịch và 18% đã thực hiện việc mua các dịch vụ du lịch trên mạng Internet
Hầu hết khách hàng (92%) mua dịch vụ du lịch qua mạng Internet đều cho rằng họ không còn sử dụng dịch vụ của các hãng lữ hành truyền thống
Dựa trên những số liệu của Ipsos-Reid có thể nói rằng việc ứng dụng Thương mại điện tử vào kinh doanh lữ hành ở Canada có một tương lai tươi sáng Theo như nghiên cứu thì trong số những người chưa mua dịch vụ du lịch qua mạng có 26% trả lời là họ có kế hoạch đặc chương trình du lịch qua mạng Internet vào năm tới Dự kiến đến cuối năm 2001, Canada có 6.000.000 khách hàng mua dịch vụ du lịch thông qua mạng Internet
2.2 Thương mại điện tử ở Việt Nam
2.2.1 Internet ở Việt Nam
2.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Việt Nam chính thức hoà mạng Internet vào ngày 1/1/1997 Tuy nhiên để nhập cuộc vào dòng Internet toàn cầu, Việt Nam cũng đã có những bước chuẩn bị trước đó
Vào năm 1992, Việt Nam cử người tham gia Hội nghị lần thứ 2 của Hiệp hội Internet tổ chức tại Kobe Đây là lần đầu tiên Việt Nam quan tâm một cách chính thức đến Internet
Năm 1993, Viện Công nghệ Thông tin xây dựng mạng Netnam phục vụ các tổ chức nước ngoài và mạng VAREnet phục vụ nghiên cứu giảng dạy
Năm 1994 Netnam được phép đưa vào sử dụng trong các tổ chức không thuộc nước ngoài và bức thư điện tử đầu tiên được Thủ tướng Võ Văn Kiệt gởi đến Thủ tướng Thụy Điển, ngài Carl Bildt
Năm 1995, bản Báo điện tử đầu tiên của tờ Tuổi trẻ do Bưu điện tỉnh Khánh Hoà cho ra đời
Năm 1996, Công ty phát triển đầu tư công nghệ FPT xây dựng mạng trí tuệ Việt Nam và Công ty Điện toán & Truyền số liệu (VDC) giới thiệu VN-Mail
Tháng 8/1996, chính phủ giao cho Tổng cục Bưu điện chuẩn bị quy chế tạm thời về sử dụng Internet
Ngày 9 tháng 3 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định 21/CP về quy chế tạm thời về quản lý, sử dụng mạng Internet tại Việt Nam
Ngày 23 tháng 8 năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet Nghị định này thay thế cho Nghị định 21/CP
Trang 272.2.1.2 Cơ sở hạ tầng:
Năm 1993 Tổng cục Bưu chính Viễn thông thiết lập một mạng toàn quốc truyền dữ liệu trên X.25, gọi là mạng VIETPAC, nối 32 tỉnh thành, mạng này không đủ đáp ứng nhu cầu truyền dữ liệu ngày càng tăng, nên gần đây Tổng cục đã phát triển một mạng khung toàn quốc tên là VNN nối với Internet và các mạng nội bộ của các cơ quan nhà nước và tư nhân VNN là một mạng quốc gia đường dài, có
2 cổng (gateway) đi quốc tế, một cổng ở Hà Nội, một cổng ở TPHCM với tổng dung lượng đường truyền là 34Mbps
- Cổng Hà Nội có 3 đường quốc tế: một đường có vận tốc 2Mbps nối với Úc bằng vệ tinh, một đường có vận tốc 16Mbps nối với Hồng Kông bằng cáp quang và một đường nối với Nhật có vận tốc 2Mbps
- Cổng Thành phố Hồ Chí Minh có 2 đường quốc tế: nối với Mỹ bằng đường truyền 6Mbps và nối với Singapore thông qua đường truyền 8Mbps
Việc thiết lập 2 cổng quốc tế đi 2 hướng khác nhau và theo 2 phương thức truyền dẫn khác nhau (vệ tinh và cáp biển) đã đảm bảo độ tin cậy của mạng, cũng như giữ vững vai trò chủ quản mạng lưới và dịch vụ Internet ở Việt Nam
2.2.1.3 Tổ chức quản lý nhà nước về Internet
Theo nghị định số 55/2001/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 31/8/2001 về việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet thì hiện nay Internet ở Việt Nam được quản lý như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Internet trong phạm vi cả nước
- Tổng cục Bưu Điện thực hiện quản lý nhà nước đối với việc thiết lập hệ thống thiết bị, cung cấp và sử dụng dịch vụ truy nhập, dịch vụ kết nối Internet, bao gồm:
o Xây dựng chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển Internet
o Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định về cấp phép và quản lý dịch vụ truy nhập, dịch vụ kết nối Internet
o Quy hoạch, quản lý và phân bổ tài nguyên Internet
o Chủ trì, phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý hệ thống chứng thực trên Internet
- Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường thực hiện quản lý nhà nước việc nghiên cứu ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến trong các hoạt động Internet
- Bộ Văn Hoá – Thông tin thực hiện quản lý nhà nước đối với thông tin trên Internet, bao gồm:
o Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lý thông tin trên Internet
o Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định về cấp phép và quản lý đối với việc phát hành báo chí, xuất bản phẩm trên Internet, các quy định về quản lý việc thiết lập và cung cấp các loại hình tin tức điện tử trên Internet
Trang 28- Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước đối với việc bảo đảm an ninh trong hoạt động Internet, bao gồm:
o Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ đảm bảo an ninh quốc gia đối với hoạt động Internet
o Xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp kỹ thuật để quản lý an ninh thông tin trên Internet theo quy định của pháp luật, trên cơ sở bảo đảm chất lượng dịch vụ Internet
- Bộ tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ chế hỗ trợ tài chính đối với việc cung cấp và sử dụng dịch vụ truy nhập, dịch vụ kết nối Internet cho các đối tượng ưu tiên
- Ban Cơ yếu Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với việc mã hoá và giải mã thông tin trên Internet, bao gồm:
o Tổ chức nghiên cứu xây dựng chính sách, tiêu chuẩn mật mã quốc gia sử dụng trên Internet
o Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định về cung cấp và sử dụng mã hoá và giải mã thông tin trên Internet
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thục hiện quản lý nhà nước đối với các dịch vụ ứng dụng Internet thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của mình, bao gồm:
o Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định quản lý đối với việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ ứng dụng Internet
o Ban hành và công bố danh mục các dịch vụ ứng dụng Internet bị cấm hoặc chưa được phép cung cấp và sử dụng trên Internet
- Uûy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện việc quản lý hoạt động Internet trên địa bàn tỉnh, thành phố
2.2.1.4 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet
2.2.1.4.1 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP – Internet Exchange Provider)
Là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phần mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt được Tổng cục Bưu điện cấp giấy phép cung cấp dịch vụ kết nối Internet
Hiện nay Công ty điện toán truyền số liệu (VDC) thuộc Tổng công ty Bưu chính Viễn Thông Việt Nam là đơn vị chủ trì cung cấp dịch vụ kết nối Internet cho các ISP, ICP đã được cấp giấy phép truy nhập Internet VDC là doanh nghiệp có tầm quan trọng trong lĩnh vực Internet tại Việt Nam với nhiều chức năng và nhiệm vụ:
- Tổ chức quản lý mạng VNN, bảo dưỡng các thiết bị và khai thác các dịch vụ
Trang 29quản lý tên miền và địa chỉ, đề xuất việc mở thêm các địa chỉ máy chủ ở nước ngoài
- Chủ trì, làm đầu mối đàm phán với các đối tác mở kênh Internet ra quốc tế
- Làm đầu mối thanh toán quốc tế các dịch vụ Internet
- Điều hành hoạt động mạng theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về Internet
Với Nghị định 55/2001/NĐ-CP dự đoán có thêm một vài IXP sẽ ra đời trong năm nay
2.2.1.4.2 Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet (ISP – Internet Service Provider):
Là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, được Tổng cục Bưu điện cấp giấy phép cung cấp dịch vụ truy nhập Internet
Hiện nay Việt Nam đang có 5 nhà cung cấp dịch vụ truy nhập Internet (ISP) là:
- Công ty VDC: bên cạnh chức năng là nhà cung cấp IXP, VDC còn là ISP và
đồng thời là ICP Tính đến tháng 7/2001 số lượng thuê bao của VDC vẫn chiếm ở mức cao nhất trong 5 nhà cung cấp (ISP) với tỉ lệ 57,24%
- Công ty FPT: Tính đến tháng 7/2001 số lượng thuê bao của FPT khoảng hơn
33.000, chiếm 27,76% thị phần
- Viện công nghệ thông tin (Netnam): tính đến tháng 7/2001 số lượng thuê
bao của Netnam đạt 7300 thuê bao, chiếm 6,13% thị phần
- Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn (SaigonNet): có sự
tăng trưởng mạnh trong 6 tháng đầu năm 2001, tính đến tháng 7/2001 mạng Saigonet có 11.000 thuê bao Trung bình mỗi tháng có từ 800 đến 1000 thuê bao mới Sự tăng trưởng này đã đưa thị phần của công ty từ 4% vào cuối năm
1999 lên 8,87% hiện nay
- Công ty điện tử viễn thông quân đội (mạng Vietel): mạng này được Tổng
cục Bưu điện cấp phép là ISP vào ngày 29/8/1998 nhưng cho đến nay vẫn chưa đi vào hoạt động
Biểu đồ 3: thị phần của các ISP ở Việt Nam
Netnam 6,13% Saigon Net8,87%
FPT 27,76%
VDC
57,24%
Trang 302.2.1.5 Một vài số liệu về kinh doanh Internet ở Việt Nam:
Theo thống kê của Tổng Công ty Bưu Chính Viễn Thông (VNPT) tính đến cuối tháng 6/2001, số lượng thuê bao Intrenet ở nước ta đạt 132.874, trong đó có 150 thuê bao sử dụng đường truyền trực tiếp Như vậy trong 3 năm từ 1997 đến 2000, tốc độ tăng số thuê bao Internet tại Việt Nam bình quân 260%/năm, cao hơn nhiều so với mức tăng chung của khu vực châu Á – Thái Bình Dương là 38%/năm Trung bình mỗi tháng ở Việt Nam có thêm 1.500 thuê bao Internet mới
Bảng 7: Số người dùng Internet và tỉ lệ người dùng/số dân của Việt Nam
Tháng Số người sử dụng
Internet Dân số Tỉ lệ 06/2001 132.874 78.786.885 0,17%
Biểu đồ 4: Cơ cấu thuê bao
Nước ngoài 21%
Cá nhân
55%
Hành chính 3%
DNTN 16%
DNNN 5%