Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, sau thời gian thực tập tại Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn em đã chọn đề tài "Hoạch định chiến lược kinh doanh tại Công ty xi măng
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Ở nước ta, từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế kế hoach hoá tập
trung sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đã rất lúng túng trong công tác
hoạch định chiến lược Các doanh nghiệp cần thiết phải hoạch định và triển
khai một công cụ kế hoạch hoá mới có đủ tính linh hoạt để ứng phó với
những thay đổi của thị trường Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ
sở phân tích và dự đoán các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu của doanh
nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin tổng quát về môi
trường kinh doanh bên ngoài cũng như nội lực của doanh nghiệp
Ở Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn Việc xây dựng
kế hoạch của Công ty mới chỉ dừng lại ở công tác kế hoạch hoá mà chưa có
tầm chiến lược Công ty có nhiều thuận lợi: Tài nguyên dồi dào, thị trường
tiêu thụ rộng lớn, song Công ty đang ngày càng mất dần thị trường do sự cạnh
tranh của các doanh nghiệp mới ra nhập ngành Vì vậy, việc hoạch định và
thực hiện chiến lược kinh doanh là rất quan trọng và cấp bách đối với sự tồn
tại và phát triển của Công ty
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, sau thời gian thực tập tại Công ty
Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn em đã chọn đề tài "Hoạch định
chiến lược kinh doanh tại Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn"
nhằm tìm hiểu về công tác xây dựng kế hoạch của Công ty Luận văn được bố
cục làm 2 phần:
Ph ần 1: Thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch ở Công ty Xi măng
và Xây d ựng công trình Lạng Sơn
Ph ần 2: Một số giải pháp nhằm hoạch định chiến lược kinh doanh đến
n ăm 2010 của Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn
Trang 2VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LẠNG SƠN
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
1 Sự ra đời của công ty
Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn là một doanh nghiệp
nhà nước thành lập vào tháng 10 năm 1960 lấy tên là xí nghiệp Vôi Phai
Duốc trực thuộc Ty kiến trúc Tỉnh Lạng Sơn (Sở Xây Dựng) Nhiệm vụ là sản
xuất vôi với quy mô nhỏ, số lượng công nhân viên chỉ có vài chục người
Đến năm 1972 Ty kiến trúc tỉnh Lạng Sơn quyết định sáp nhập xí
nghiệp với đội cơ giới đá Hồng Phong lấy tên là “Xí Nghiệp Vôi Đá”, lúc này
ngoài nhiệm vụ sản xuất vôi , xí nghiệp còn sản xuất đá các loại , số lượng
công nhân viên đã tăng lên trên 100 người
Đầu năm 1978 Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh Lạng Sơn có chủ trương mở rộng
mặt bằng xí nghiệp, lập dự án xây dựng một phân xưởng sản xuất xi măng lò
đứng P300 Cuối năm 1978 “Xí Nghiệp Vôi Đá” được đổi tên thành “Xí
Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng”
Năm 1991 “Xí Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng” được đổi tên thành
“Nhà Máy Xi Măng Lạng Sơn” Sản lượng sản xuất xi măng ngày một tăng
và trở thành sản phẩm chủ đạo của đơn vị
Tháng 5 năm 2002, công ty đã đổi tên thành “Công ty xi măng và xây
dựng công trình Lạng Sơn” Lúc nay nhiệm vụ của công ty là sản xuất sản
phẩm xi măng và các sản phẩm khác đồng thời tham gia xây dựng các công
trình trong toàn tỉnh
Tên giao dịch: Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn
Trụ sở: Thành Phố Lạng Sơn - Tỉnh Lạng Sơn
Điện thoại: 025.878.425
2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty :
Công ty có các chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 3- Thực hiện chế độ hạch toán độc lập tự chủ về tài chính
- Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch của Công ty
- Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh đúng chế độ chính sách hiện hành
của Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn được giao
- Chấp hành đầy đủ các chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước và
quy định của Tỉnh ủy Lạng Sơn
- Thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng đã ký kết với khách hàng
trong việc mua bán, vận chuyển hàng hóa; hợp đồng liên doanh, liên kết
- Quản lý toàn diện đội ngũ cán bộ công nhân viên, thực hiện chăm lo
đời sống vật chất, tinh thần và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
nghề nghiệp cho cán bộ công nhân viên
- Làm tốt công tác bảo vệ, an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ môi
trường, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc phòng
3 Cơ cấu tổ chức và lao động của công ty xi măng và XDCT Lạng Sơn
3.1 Cơ cấu tổ chức
Do đặc điểm sản xuất của nhà máy mang tính chất sản xuất công nghiệp
ổn định nên tổ chức quản lý của nhà máytheo mô hình trực tuyến chức năng
- Giám Đốc: Phụ trách chung mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy
- Phó GĐ kinh doanh: trực tiếp chỉ đạo công tác kế toán, kế hoạch vật tư
của nhà máy, quản lý các phòng ban
- Phó GĐ kỹ thuật: Chỉ đạo sản xuất ở các bộ phận
- Phòng tiêu thụ: Có nhiệm vụ mở rộng thị trường, đảm nhiệm việc tiêu
thụ sản phẩm, vận chuyển hàng hoá theo yêu cầu của khách hàng theo đúng
số lượng, chất lượng
- Phòng tổ chức hành chính: Quản lý, điều động cán bộ, tổ chức phát
động thi đua trong nhà máy, thực hiện các hoạt động văn thư, lưu trữ hành
chính trong toàn doanh nghiệp
- Phòng kế hoạch: Lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch vật tư, cung ứng vật tư
kịp thời, đảm bảo sản xuất được liên tục và tạo sự nhịp nhàng giữa các phân xưởng
Trang 4- Phòng kỹ thuật KCS: Thực hiện công tác quản lý kỹ thuật sản xuất,
giám sát kỹ thuật, kiểm tra chất lượng NVL đầu vào và quản lý chất lượng sản
phẩm đầu ra của nhà máy
- Phòng kế toán tài vụ: Quản lý công tác tài chính đảm bảo tiền vốn một
cách kịp thời phục vị sản xuất kinh doanh, hạch toán kế toán chính xác kết
quả kinh doanh của đơn vị
- Phân xưởng liệu: Có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu
- Phân xưởng lò: Có nhiệm vụ sản xuất clinke- nửa thành phẩm
- Phân xưởng khai thác đá: Có nhiệm vụ sản xuất đá hộc, đá dăm , là
nguyên liệu cho sản xuất xi măng
- Phân xưởng thành phẩm: Có nhiệm vụ sản xuất xi măng rời và xi măng bao
- Phân xưởng cơ điện: Có nhiệm vụ sửa chữa, kiểm tra, bảo dưỡng thiết
bị sản xuất toàn nhà máy
- Phân xưởng gạch bê tông: Có nhiệm vụ ssản xuất gạch bê tông, cột
điện Tình hình tổ chức bộ máy của công ty được thể hiện ở sơ đồ 2
Trang 5Phòng
Tổ chức hành chính
Phòng tài vụ
PX Khai thác
đá
PX
lò
PX Liệu
PX bê Tông đúc sẵn
PX Thành Phẩm
PX
Cơ điện
Trang 63.2 Cơ cấu lao động
Nói chung lực lượng lao động của Công ty Xi măng và Xây dựng công
trình Lạng Sơn trong nhiều năm gần đây có xu hướng giảm dần về mặt số
lượng và cơ cấu cũng có những thay đổi theo một chiều hướng nhất định
Một số bảng cấu lao động của Công ty Xi măng và Xây dựng công
trình Lạng Sơn như sau:
+ Theo tính ch ất lao động :
Bảng 1 Phân loại lao động theo tính chất
( Ngu ồn: Phòng tổ chức - hành chính )
Ta thấy tổng số lao động của công ty đang giảm, lượng giảm chủ yếu là
lao động trực tiếp, bên cạnh đó lao động gián tiếp lại ngày một tăng ở mức ổn
định là khoảng 4%
+Theo trình độ :
Bảng 2 Phân loại lao động theo trình độ
Qua đây ta thấy rằng trình độ lao động chủ yếu trong công ty là CNKT
chiếm số đông, số lượng lao đông trình độ THCN chiếm số lượng ít, và đều
đang ở xu hướng giảm dần qua từng năm với mức ổn định Bên cạnh đó
lượng lao động ở trình độ Cao đẳng, ĐH và trên ĐH ngày càng tăng điều này
thể hiện mức độ cải tạo cơ cấu trình độ cán bộ công nhân viên chức trong
công ty Lực lượng này tăng đều tương ứng với tăng lao động gián tiếp Tuy
vậy mặt bằng chung về trình độ lao động của công ty là tương đối thấp, hầu
Trang 7hết là những CNKT Điều này thể hiện tính chất công việc không đòi hỏi cao
trong sản xuất kinh doanh, những người có trình độ cao thường trong tổ chức
bộ máy quản lý của công ty
Tóm lại, tình trạng lao động của công ty hiện nay đang có xu hướng
giảm đó là do công ty đang có chiến lược mới trong kinh doanh nên từng
bước giảm dần lực lượng lao động gián tiếp thay vào những lao động trực
tiếp
4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Để đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động của Công ty Xi măng và Xây
dựng công trình Lạng Sơn ta thông qua bảng sau:
Bảng 3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
( Nguồn: Báo cáo tài chính các năm-Phòng tài vụ)
Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty 2 năm qua cho thấy:
Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty, ta thấy
Doanh thu năm 2003 tăng 2,334 tỷ đồng so với năm 2002 tương ứng với
15,3%, doanh thu năm 2004 tăng 6,667 tỷ đồng so với năm 2003 tương ứng
với 37,9% Công ty đã đem lại khoản nộp ngân sách Nhà nước đáng kể với
tổng mức nộp ngân sách hàng năm tăng lên qua các năm cụ thể năm 2003tăng
33,35 triệu đồng so với năm 2002 tương ứng với 8.75 %, 2004 tăng 191.68
triệu đồng so với năm 2003 tương ứng với 46,2 %.Thu nhập bình quân của
người lao động cũng tăng qua các năm cụ thể năm 2002 là 900 nghìn
Trang 8đồng/người/tháng thì đến năm 2004 đã là 1200 nghìn đồng/người/tháng Qua
số liệu về lợi nhuận của công ty ta thấy chỉ tiêu này cũng tăng cụ thể năm
2003 tăng 0,11 tỷ đồng so với năm 2002 tương ứng với 8,01%, lợi nhuận năm
2004 tăng 0,7 tỷ đồng so với năm 2003 tương ứng 47,2% Điều đó chứng tỏ
công ty đang từng bước đi vào phát triển mạnh, đời sống người lao động được
nâng cao
II MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC
HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY XI MĂNG VÀ
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LẠNG SƠN
1 Đặc điểm tổ chức sản xuất
Công ty Xi Măng và XDCT Lạng Sơn là đơn vị sản xuất công nghiệp,
sản phẩm của nhà máy mang hình thái vật chất cụ thể Trong đó sản phẩm
chính là xi măng, sản phẩm phụ gồm: vôi cục, ngói xi măng, gạch lát, bê tông,
gạch bê tông, gạch 30*30, đá xây dựng
Trong công ty ngoài bộ máy quản lý còn có các phân xưởng sản xuất
như: phân xưởng liệu, phân xưởng lò, phân xưởng thành phẩm, phân xưởng
cơ điện, phân xưởng khai thác đá, và phân xưởng sản xuất bê tông
Đối với phân xưởng liệu có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu, số người
trong phân xưởng khoảng 50 người.Trong đó có một quản đốc phân xưởng,
hai phó quản đốc phân xưởng, hai thống kê và ba tổ trưởng, làm ba ca liên
tục
Đối với phân xưởng lò có nhiệm vụ sản xuất clinke, số người trong phân
xưởng khoảng 53 người Trong đó có một quản đốc phân xưởng, ba phó quản
đốc phân xưởng, một thống kê và sáu tổ trưởng, làm ba ca liên tục
Đối với phân xưởng thành phẩm có nhiệm vụ sản xướt xi măng rời và xi
măng bao Bao gồm một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phân
xưởng, một cán bộ kĩ thuật, một tổ trưởng và 98 công nhân sản xuất, làm ba
ca liên tục
Trang 9Đối với phân xưởng cơ điện phục vụ sửa chữa, kiểm tra, bảo dưỡng thiết
bị sản xuất toàn nhà máy Số người trong phân xưởng có 35 người Trong đó
có một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phân xưởng, một tổ trưởng,
chủ yếu làm theo giờ hành chính
Đối với phân xưởng khai thác đá có nhiệm vụ khai thác và sản xuất đá
hộc, đá dăm, số công nhân viên trong phân xưởng là 47 người, trong đó bao
gồm một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phân xưởng, một thống kê,
một tổ trưởng sản xuất, làm vào giờ hành chính
Đối với phân xưởng sản xuất bê tông có nhiệm vụ sản xuất gạch bê tông,
cột điện Bao gồm một quản đốc phân xưởng, một phó quản đốc phân xưởng,
một thống kê và 86 công nhân sản xuất, làm hai ca
2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất xi măng ở công ty xi măng và
XDCT Lạng Sơn
Trong công ty xi măng thì xi măng là sản phẩm theo dây truyền có quy
trình sản xuất phức tạp, kiểu chế biến liên tục Quá trình sản xuất sản phẩm
trải qua nhiều giai đoạn công nghệ chế biến theo một quy trình nhất định Quy
trình này được điều khiển thông qua hệ thống máy vi tính hiện đại Do vậy
phân xưởng liệu, phân xưởng lò và phân xưởng thành phẩm hoạt động khép
kín sản xuất
Nguyên liệu chính: Đá vôi, đất sét
Nhiên liệu : Than Phụ gia : Quặng sắt, quặng barit, thạch cao, xỉ ,đá đen
Trang 10K IL
Sơ đồ 2: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất xi măng
ở công ty xi măng và XDCT Lạng Sơn
Vê viên nung Đo Đập Silô Silô VL Silô
Trộn ẩm clinke Lường Clinke Clinke hỗn hợp thạch cao
Phối liệu bằng cân điện tử Silô xi măng phân ly nghiền xi măng
Xi măng rời xi măng đóng bao kho thành phẩm
EĐá vôi Ba rit
Đập hàm
Đập búa
Silô
đá vôi
Barít
Sấy Đập
Quặng sắt Than
Đất sét
Si lô than
Si lô đất sét Quặng ba
rít
Phối liệu bằng cân điện tử tử
Gầu nâng
VL hỗn hợp Phân ly Nghiền phối
liệu
Si lô
P.lịệu
Thạch cao
Đập
Trang 123 Đặc điểm về máy móc thiết bị
Hệ thống sản xuất xi măng đen bao gồm những máy móc thiết bị chính sau:
- 4 Lò nung quay: Hệ thống lò nung quay do Rumani sản xuất và
cung cấp thiết bị phụ tùng kem theo dây chuyền lò nung
- Máy nghiền nguyên liệu gồm : 5 cái Công nghệ ướt do Rumani sản
xuất
- 3 Máy bừa bùn năng suất thiết kế là 60 m3 / giờ máy
- 5 Giếng điều chế mỗi cái dung tích chứa 1.500 m3
- 3 Máy nghiền than ( hệ thống nghiền bi)
- 5 Máy sấy than năng suất 14 tấn / giờ máy
- 3 Bơm Pulles năng suất 35 tấn / giờ máy
- 6 Máy nghiền xi măng (Clinker) trong đó : 4 cái năng suât thiết kế
14,5 tấn / giờ máy và 2 cái năng suất thiết kế 16 tấn / giờ máy
- 3 Máy nghiền đóng bao năng suất 34 tấn / giờ máy
- Phương tiện vận tải :
- 3 Máy cán đá trong đó : 2 cái với công suất 40 tấn / giờ cái và 1 cái
80 tấn giờ cái
- 2 Máy xúc
- Cầu trục 10 tấn x 9 cái
- Cần trục 10 tấn x 2 cái
Nhìn chung, hệ thống máy móc thiết bị trong Công ty đa dạng về chủng
loại, đầy đủ về số lượng đảm bảo cho vận hành dây chuyền sản xuất 85.000
tấn xi măng một năm
4 Đặc điểm về nguyên vật liệu
Đối với Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn , sản xuất
theo công qui trình công nghệ khép kín do đó yêu cầu thời gian sản xuất liên
tục suốt ngày đêm, chỉ khi nào thiết bị trong dây chuyền công nghệ bị sự cố
hoặc dừng sửa chữa theo định kỳ thì mới ngừng hoạt động
Chủng loại vật tư phục vụ sản xuất xi măng bao gồm :
- Nguyên vật liệu chính :
+ Đá vôi; Đất sét ; Quặng sắt; Quỳ khê; Phụ gia; Thạch cao;
- Nguyên vật liệu phụ :
Trang 13+ Gạch ngoại; Gạch nội; Gạch Cao nhuôm;Bi đạn dùng cho máy
nghiền; Vỏ bao ; Dầu nhờn, mỡ máy
- Nhiên liệu : Than cám Hòn Gai; dầu MFO ; dầu Diezel ; xăng
- Năng lượng : Điện
- Các thiết bị phụ tùng thay thế và các chủng loại vật tư dùng trong
chế tạo phụ tùng thay thế cho sửa chữa thiết bị, lượng vật tư này
cũng chiếm một tỷ trọng khá lớn
Nói chung nguồn nguyên liệu sản xuất của Công ty Xi măng và Xây
dựng công trình Lạng Sơn là nguồn nguyên liêu thiên nhiên tương đối lớn
cùng với địa thế của công ty nằm trong khu vực miền núi phía Bắc nên rất
thuận lợi về nguồn nguyên liệu
5 Đặc điểm về vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của công ty chủ yếu được hình thành từ ngân sách của
Tổng công ty xi măng Việt Nam
Bảng 4: Bảng cơ cấu vốn kinh doanh của công ty từ năm 2002 - 2004:
( Ngu ồn: Báo cáo tài chính các năm-Phòng tài vụ)
Qua bảng trên ta thấy tỉ lệ vốn cố định chiếm hơn 14% tổng số vốn kinh
doanh, còn vốn lưu động chiếm khoảng trên 85% Tuy nhiên ta thấy số vốn lưu
động của công ty đang có xu hướng tăng qua các năm từ 2003 đến 2004 Điều
đó chứng tỏ quy mô sản xuất kinh doanh của công ty đang được mở rộng dần
6 Đặc điểm về thị trường và khách hàng
Sản phẩm xi măng Công ty đã có hơn 45 năm nay trên thị trường, nên
có thể dễ dàng thấy rằng thị trường chính của công ty là những thị trường
truyền thống mà công ty có sự uy tín, trách nhiệm cao
Bảng 5: Bảng phân phối sản phẩm ra thị trường theo địa lý như sau
Các sản phẩm chủ yếu Thị trường tiêu thụ
1 Xi măng đen Lạng Sơn, Thái bình và 6 tỉnh phía bắc (Vĩnh phúc, Phú thọ, Yên bái, Lào cai, Hà Giang và
Trang 143 Clinker Lạng Sơn, Thái bình, Hà nội, …
(Ngu ồn: Phòng kinh doanh)
Có thể nói thị trường tiêu thụ xi măng Lạng Sơn là trung bình, chủ yếu
là thị trường truyền thống của công ty Thị trường này tiêu thụ gần 80% tổng
sản phẩm của công ty sản xuất ra trong đó riêng thị trường Lạng Sơn và một
số vùng lân cận chiếm gần 60% Chính từ đặc điểm của thị trường phân phối,
ta thấy lượng khách hàng tiêu dùng sản phẩm xi măng Lạng Sơn chủ yếu là
những khách hàng quen thuộc
7 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua một số chỉ tiêu tổng hợp
Để đánh giá một cách chính xác toàn diện về thực trạng kinh doanh của
công ty ta phải đi sâu phân tích một số chỉ tiêu tài chính của công ty từ đó tìm
ra nguyên nhân giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công
ty Sau đây ta đi đánh giá chỉ tiêu về: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu =
îc
−
®t
¹
®thuDoanh
nhuËnLîi
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu có thể mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp càng tốt Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng
doanh thu, giảm chi phí nhưng điều kiện để có hiệu quả là tốc độ tăng lợi
nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh ở
Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn được phản ánh ở bảng sau:
Bảng 6: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu (2002 - 2004)
Đơn vị tính : tỷ đồng
Năm Chỉ tiêu 2002 2003 2004
So sánh 03/02 So sánh 04/03
CL Tl (%) CL Tl (%)
Doanh thu 15,253 17,587 24,254 +2,334 +15,3 +6,667 +37,9
Lợi nhuận 1,372 1,482 2,182 +0,110 +8,01 +0,700 +47,2
Tỷ suất Lợi nhuận/Doanh thu 0,089 0,084 0,091 -0,005 -5,6 +0,007 +8,3
Theo bảng trên ta thấy năm 2004 là năm có tỷ suất lợi nhuận theo
doanh thu cao nhất và năm 2003 là thấp nhất Cụ thể năm 2002 công ty giữ
Trang 15được 0,091 tỷ đồng, năm 2003 công ty còn giữ được 0,084 tỷ đồng và đến
năm 2004 công ty đã giữ được 0,091 tỷ đồng Qua phân tích như trên ta thấy
chỉ tiêu này của công ty biến đổi thất thường Chứng tỏ công ty vẫn chưa có
phương án sử dụng vốn lưu động một cách hợp lý dẫn tới hiệu quả sinh lời
thấp nó phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố khách quan, luôn biến động với
cường độ khá lớn Công ty cần có những biện pháp hợp lý để ổn định tốc độ
tăng trưởng của chỉ tiêu này
III THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
CỦA CÔNG TY XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LẠNG SƠN
1 Xác định mục tiêu
Sau khi dựa vào các căn cứ trên, phòng kế hoạch đưa ra các mục tiêu,
nhiệm vụ phải thực hiện Các mục tiêu được cụ thể hoá bằng hệ thống các chỉ
tiêu: Doanh thu, sản lượng, lợi nhuận, nộp ngân sách
Tại Công ty có 3 loại mục tiêu là: Mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
2 Mục tiêu chiến lược của Công ty đến năm 2015
- Phát triển quy mô sản xuất lên 3 triệu tấn xi măng một năm, tiếp tục phát
triển công ty thành một tập đoàn kinh tế đủ sức vửân xuất xi măng, vừa thực
hiện các công trình xây dựng, hình thành một tập đoàn thựchiện chiến lược
liên kết theo chiều dọc một phần Tức là tự đảm nhận cung ứng nguyên liệu
cho quá trình sản xuất xây dựng Nguyên liệu chính mà tập đoàn cung ứng là
xi măng chất lượng cao
- Tiến hành Cổ phần hoá Công ty nhằm chủ động hoạt động kinh doanh và đạt
hiệu quả cao trong kinh doanh Đến năm 2008, Công ty phải hoàn thành mục
tiêu này
2 Mục tiêu dài hạn của Công ty đến năm 2010
- Đầu tư đổi mới côngnghệ sản xuất Công nghệ sản xuất hiện nay của công ty
là công nghệ lò đứng Công ty đang tiến tới sản xuất theo công nghệ xi măng
lò quay với công suất là 3 triệu tấn một năm Mục tiêu này phải hoàn thành
vào năm 2010
- Mở rộng thị trường và quy mô phân phối sản phẩm ra toàn quốc, đặc biệt
chú trọng vào thị trường Miền Bắc
2 Mục tiêu ngắn hạn
Trang 16- Tăng cường chất lượng cho sản phẩm của Công ty, đảm bảo đúng tiêu chuẩn
quy cách của Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng VIệt Nam
- Tăng thu nhập cho người lao động trong Công ty, đảm bảo mức thu nhập
phù hợp với tốc độ trượt giá bình quân của thị trường
- Mở rộng thị trường tiêu thụ và thiết lập các kênh phân phối sản phẩm ra toàn
MIền trung chuẩn bị cho việc thực hiện mục tiêu trung hạn và dài hạn của
Công ty
- Doanh thu của Công ty đạt 30 tỷ vào năm 2008, 45 tỷ vào năm 2010, 50 tỷ
vào năm 2015
- Lợi nhuận đạt 5 tỷ vào năm 2008, 7 tỷ vào năm 2010, 15 tỷ vào năm 2015
- Bảng 7: Mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 17( Ngu ồn: Phòng kế hoạch - kỹ thuật )
Như vậy, Công ty đã xác định mục tiêu phát triển đến năm 2015 Trong
đó nêu rõ các mục tiêu về sản lượng, doanh thu, lao động, đầu tư Đây chỉ là
các mục tiêu đề ra, để thực hiện được các mục tiêu này, Công ty cần phải phân
tích rõ môi trường kinh doanh, các nguồn lực hiện có, và xu hướng phát triển
Từ đó, Công ty lập chiến lược và kế hoạch hành động cụ thể
2 Phân tích môi trường
2.1 Phân tích môi trường bên ngoài
2.1.1 Môi tr ường quốc tế:
Ngày nay, xu hướng hội nhập (toàn cầu hoá, khu vực hoá) là xu hướng
chung của toàn thế giới Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và
mỗi doanh nghiệp nói riêng đều có ít nhiều chịu ảnh hưởng của môi trường
quốc tế
Đá bazan, quặng sắt là phụ gia xi măng nên nó tham gia hình thành nên
giá thành xi măng Hiện nay, so với các nước trong khu vực và trên thế giới,
giá xi măng ở nước ta tương đối cao, trung bình 50-52 USD/tấn đối với xi
măng bao cho khu vực phía Bắc và 60-62 USD/tấn ở khu vực phía Nam Ta
có thể so sánh giá xi măng với một số nước qua bảng sau:
Bảng 8 : Giá xi măng ở một số nước Tên nước và vùng lãnh thổ Giá xi măng lò quay (USD/tấn)
Hồng Kông 42 USDR và 45 USDB
Indonesia 40 USDR và 55,55 USDB
Malaysia 48,95 USDR và 48,95 USDB
Philippin 39,34 USDR và 40,29 USDB
Đài Loan 47,33 USDR và 54,50 USDB
Thái Lan 66,16 USDR và 69,59 USDB
Trang 18-( 1 USD = 8,3 NDT; USDR giá xi măng rời; USDB giá xi măng bao)
Đây là yếu tố bất lợi khi nước ta bước vào hội nhập khu vực và thế giới
Giá xi măng giảm thì kéo theo giá nguyên liệu đầu vào cũng phải giảm Đây
là một yếu tố ảnh hưởng đến giá thành, gián tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của
ngành công nghiệp phụ gia xi măng
Bên cạnh đó là yếu tố công nghệ Cho đến nay, công nghệ sản xuất xi
măng trên thế giới đã có sự tiến bộ rất nhiều nhưng nguồn nguyên liệu thay
thế thì chưa có Mặt khác, với công nghệ sản xuất xi măng hiện tại thì xi
măng thường cần lượng phụ gia đá bazan khoảng 15- 25%, khoảng 5-6%
quặng sắt nhưng với xi măng mác cao thì hầu như không cần loại phụ gia này
Hiện nay, tỷ lệ mác cao ở các nước đã sản xuất được loại xi măng này chiếm
khoảng 1,5 -6% trong tổng sản lượng xi măng Đây là một tỷ lệ thấp Do đó
nhu cầu về đá bazan, quặng sắt làm phụ gia xi măng còn khá cao
2.1.2 Môi tr ường quốc dân
* Các nhân t ố kinh tế
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta tương
đối ổn định, trung bình gần 9% Song song với sự tăng trưởng của nền kinh tế
thì tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng Từ năm 1998 - 2002, tỷ lệ đô thị hoá của
Việt Nam tăng từ 19% lên 24% Tốc độ đô thị hoá tăng nhanh tạo sức ép về
nhu cầu nhà ở đô thị ngày càng tăng Hàng loạt các khu chung cư ỏ các thành
phố lớn đã và đang được xây dựng: Khu chung cư Linh Đàm, Định Công (
Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh ),
Mặt khác, trong xu hướng hội nhập, Việt Nam đã kí hiệp định thương mại
Việt - Mỹ; là thành viên của ASEAN và từ ngày 1/1/2003 chính thức tham gia
lộ trình AFTA Vì vậy, Nhà nước phải xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài Hàng loạt các
công trình xây dựng, đường xá đã được xây dựng: đường mòn Hồ Chí Minh,
đường quốc lộ 1A mới
Trang 19Đấy là những điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp xây dựng phát
triển Theo số liệu thống kê, từ năm 1999 đến nay, giá trị sản xuất công
nghiệp vật liệu xây dựng tăng trưởng hàng năm từ 21% đến 23% ( giá trị sản
xuất công nghiệp vật liệu xây dựng năm 2001 là 27.212 tỷ đồng và dự kiến
năm 2002 là 33.076 tỷ đồng) Trong đó, xi măng tăng từ 11,8 triệu tấn (1999)
lên 16,18 triệu tấn (2001) và 17,61 triệu tấn (2002)
Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010, Nhà
nước đã xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội như sau:
- Đưa GDP năm 2005 lên gấp đôi năm 1995 và GDP năm 2010 tăn gấp đôi
năm 2000, trong đó giá trị tăng thêm của công nghiệp và xây dựng tăng bình
quân 10-10,5%
- Đảm bảo tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP
- Tỷ trọng trong GDP của công nghiệp là 38 - 39% vào năm 2005 và 40 -
41% vào năm 2010
- Tỷ trọng lao động công nghiệp trong tổng số lao động tăng lên 20 - 21%
vào năm 2005 và 23 - 24% vào năm 2010
Theo đó, nhu cầu về xi măng đến năm 2005 sẽ là 29,1 triệu tấn và đến 48,6
triệu tấn vào năm 2010 Nhu cầu về xi măng tăng kéo theo nhu cầu về phụ gia
xi măng cũng tăng
Song việc Việt Nam kí kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và tham
gia vào các thoả thuận khu vực thương mại tự do theo lộ trình CEPT/AFTA
sẽ gây cho ngành công nghiệp phụ gia xi măng nói chung và Công ty Khoáng
sản-Xây dựng-Phụ gia xi măng Thanh Hoá nói riêng không ít khó khăn Theo
đúng lộ trình, đến năm 2006, ngành công nghiệp xi măng phải hội nhập
AFTA Bên cạnh sự cạnh tranh về chất lượng sản phẩm thì giá thành xi măng
của ta cũng cao hơn nhiều nước trong khu vực Do đó, để cạnh tranh các
doanh nghiệp sản xuất xi măng phải tìm cách giảm giá thành Điều này sẽ kéo
theo giá phụ gia xi măng cũng phải giảm
Như vậy, với tình hình kinh tế vĩ mô hiện nay và xu hướng trong tương
lai thì vừa đem lại những cơ hội, thuận lợi cho ngành công nghiệp phụ gia xi
măng nói chung và Công ty xây dựng công trình Lạng Sơn nói riêng: nhu cầu
Trang 20về phụ gia tăng, nhưng cũng gây ra không ít khó khăn: đó là đòi hỏi phải tìm
cách thay đổi công nghệ, phương pháp quản lý để giảm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm
* Các nhân t ố chính trị - pháp luật
Các quy định về khai thác tài nguyên – khoáng sản có phần thông
thoáng hơn Trước đây, để được khai thác đá bazan các doanh nghiệp phải
bảo vệ thành công đề tài nghiên cứu khoa học đá bazan có thể làm phụ gia xi
măng nhưng bây giờ thì không cần Đây là một thuận lợi cho các doanh
nghiệp ra nhập ngành sau và giảm bớt rào cản ra nhập ngành
* Các nhân t ố văn hoá - xã hội
Để có thể thành đạt trong kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ
hướng nỗ lực của mình vào các thị trường mục tiêu mà còn phải biết khai thác
tất cả các yếu tố của môi trường kinh doanh, trong đó có yếu tố môi trường
văn hoá
Văn hoá là môi trường tổng hợp, bao gồm: kiến thức, lòng tin, nghệ
thuật, pháp luật, đạo đức, phong tục và bất cứ khả năng, thói quen nào được
con người chấp nhận Vì vậy, văn hoá ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi mỗi
cá nhân, hành vi của người tiêu dùng
Về sắc thái văn hoá, nó vừa chịu ảnh hưởng của truyền thống lại vừa
chịu ảnh hưởng của môi trường, lãnh thổ và khu vực Sắc thái văn hoá in đậm
lên dấu ấn ứng xử của người tiêu dùng trong đó có vấn đề quan niệm và thái
độ đối với hàng hoá, dịch vụ mà họ cần mua Chẳng hạn, yếu tố đạo Khổng
đã ảnh hưởng sâu sắc đến tầng lớp người già ở nhiều dân tộc Á Đông Ngay
trên lãnh thổ Việt Nam, miền Bắc chịu ảnh hưởng của nho giáo nhiều hơn
Trong khi khẳng khái, cương trực, khí tiết là những phẩm chất cao đẹp của
những nhà nho yêu nước chân chính thì những nét gàn dở, khách sáo và bệnh
sỹ chi phối rất lớn lối nghĩ, cách thức tiêu dùng hàng hoá của không ít kẻ sỹ
nữa mùa Chẳng hạn, một số người ở niềm Bắc cứ giàu lên một chút là đua
nhau mua sắm đủ thứ, thích nhà cao tầng - đã có thời là biểu tượng của sự
Trang 21giàu có, đi trước thiên hạ Ngày nay, truyền thống Đại gia đình không còn
nhiều, hầu hết con cái sau khi lập gia đình đều không muốn ở chung với bố
mẹ Do đó, nhu cầu về nhà ở tăng lên Như vậy, sự thay đổi truyền thống này
sẽ kích cầu tiêu thụ sản phẩm của Công ty
Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ dân trí của Việt Nam ngày
một được nâng cao hơn Điều này sẽ tạo điều kiện cho Công ty có nguồn lao
động có trình độ quản lý, kỹ thuật, có đội ngũ công nhân có trình độ bậc thợ
cao
* Các y ếu tố kỹ thuật - công nghệ
Ngày nay, yếu tố công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp Công nghệ có tác động quyết định
đến 2 yếu tố cơ bản tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: chất
lượng và chi phí cá biệt của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho
thị trường Song để thay đổi công nghệ không phải dẽ Nó đòi hỏi doanh
nghiệp cần phải đảm bảo nhiều yếu tố khác như: trình độ lao động phải phù
hợp, đủ năng lực tài chính, Với Công ty Xi măng và Xây dựng công trình
Lạng Sơn, đây vừa là điều kiện thuận lợi vừa tạo ra những khó khăn: sự phát
triển của công nghệ giúp Công ty có điều kiện lựa chọn công nghệ phù hợp để
nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, nhưng khó khăn cho Công
ty là hầu hết lao động của Công ty đều là lao động phổ thông, trình độ thấp
Mặt khác, khi áp dụng công nghệ mới, sử dụng máy móc thì lượng lượng lớn
của Công ty hiện nay sẽ giải quyết như thế nào? Vì vậy, khi hoạch định chiến
lược kinh doanh Công ty cần phải chú ý đến vấn đề này
* Y ếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết Yếu tố này ảnh
hưởng đến chất lượng các mỏ đá bazan, quặng sắt Các mỏ ở vị trí địa lý khác
nhau sẽ có thành phần hoá học trong quặng sắt, đá bazan không giống nhau
Mặt khác, thời tiết cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Chẳng hạn,
quặng sắt có độ ẩm lớn > 12% thì có hiện tượng bám dính ở cửa đổ xuống cân
cấp liệu Vì vậy, trong mùa mưa Công ty cần có biện pháp khai thác, vận