Sự phát triển nhanh chóng của DNNQD đã tạo ra một kênh đầu tư mới để khai thác và phát huy có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành n
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NGOÀI
QUỐC DOANH TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA
1.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các loại hình doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
1.1.1 Doanh nghi ệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta, khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm nhiều hình thức sở hữu đan xen đang đóng
vai trò quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
Kinh tế ngoài quốc doanh rất đa dạng cả về hình thức sở hữu và các loại hình
kinh doanh của các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế
Theo pháp luật hiện hành, các cơ sở kinh doanh ngoài quốc doanh ở nước
ta thường hoạt động theo một trong các hình thức được dưới đây:
Bảng 1.1: Các hình thức kinh doanh ngoài quốc doanh phổ biến
Hình thức kinh doanh Cơ sở pháp lý hiện hành
Hộ kinh doanh cá thể
(Trước đây gọi là cá nhân
và nhóm kinh doanh theo
NĐ số 66/HĐBT)
Điều 17-21 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ban hành ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh (Các quy định thay thế Nghị định số 66/HĐBT ban hành ngày 2/3/1992 trước đây)
Doanh nghiệp tư nhân
Điều 99-104, Luật doanh nghiệp1999 ban hành ngày 20/06/1999 (thay thế các quy định của Luật DNTN ban hành ngày 21/12/1990 trước đây)
Hộ gia đình kinh doanh Điều 116-119 Luật dân sự, điều 5 Luật thương mại
Nhóm kinh doanh Trước đây được quy định bởi NĐ số 66/HĐBT gày
2/3/1992, hiện nay chưa có quy định thay thế
Tổ hợp tác Điều 120- 129 Bộ luật dân sự Việt Nam
Hợp tác xã (HTX) Luật Hợp tác xã ban hành ngày 20/3/1996
Công ty TNHH có hai Luật doanh nghiệp 1999 (Thay thế các quy định của
Trang 2Công ty hợp danh (CTHD) Luật DN 1999 (trước đây không có quy định về loại
hình doanh nghiệp này)
Công ty cổ phần (CTCP) Luật doanh nghiệp1999 (thay thế các quy định trước
đây của Luật công ty ban hành ngày 21/12/1990)
Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
Luật ĐTNN tại Việt Nam ban hành ngày 29/12/1990 đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung ban hành ngày 30/06/1990; 23/12/1992; 12/11/1996 và 06/06/
2000 Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài cũng là loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) Tuy
nhiên theo khái niệm chính trị - pháp luật đã thông dụng ở Việt Nam, đặc biệt là
theo Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), hai nhóm
doanh nghiệp(DN) này được xếp vào thành phần kinh tế tập thể và thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Quy ước này chỉ có tính tương đối, vì theo các
quy định mới của pháp luật về hợp tác xã, hình thức này cũng là một loại hình
kinh doanh do tư nhân thành lập, hoạt động theo các nguyên tắc về cơ bản có thể
so sánh với các doanh nghiệp tư nhân và công ty khác
Loại hình DNNQD hiện nay trong một số tài liệu còn gọi là doanh nghiệp
dân doanh (DNDD) bao gồm: doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CTCP) Đây là những loại hình DN
phổ biến nhất ở nước ta hiện nay
1.1.2 Các lo ại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Thực tế hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh mới mà
không nhất thiết phải thành lập các DN như chung vốn kinh doanh theo các hợp
đồng; liên kết kinh doanh; hoặc các tập thể, cá nhân nhận thuê, khoán một bộ
phận hay toàn bộ cơ sở kinh doanh của một DN; nhận gia công đại lý theo vụ
việc Những mô hình liên kết như vậy có thể đan xen về vốn giữa các cơ sở
Trang 3quốc doanh, các cơ sở kinh doanh của các tổ chức chính trị- xã hội và vốn của tư
nhân Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào hoạt động của các
DNNQD mà chủ yếu là DNTN, công ty TNHH, CTCP
Quan niệm về DN, theo Luật doanh nghiệp, là một tổ chức kinh tế có tên,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh Trong đó, “kinh doanh”
phải được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng hàng hoá, dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
• Doanh nghiệp tư nhân: Điều 99- Luật doanh nghiệp1999 quy định: doanh
nghiệp tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN DNTN có đặc điểm như sau:
− DN thuộc sở hữu tư nhân, chủ DN là người tổ chức, quản lý sản xuất
kinh doanh, có trường hợp chủ DN cũng có thể thuê người quản lý, điều hành
hoạt động kinh doanh
− Là DN mà chủ DN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với kết quả kinh doanh của DN
− Chủ DN có toàn quyền quyết định qui mô, phương thức hoạt động,
quản lý kinh doanh cũng như sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
• Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình DN trong đó các thành viên
cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tương ứng với phần
vốn góp, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào DN Công ty TNHH có hai thành viên
trở lên là DN trong đó phần góp của tất cả các thành viên phải được đóng góp
đầy đủ ngay khi thành lập công ty Các phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ
công ty Công ty không được phép phát hành cổ phiếu [26]
Công ty TNHH thuộc loại công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn, đặc
điểm của loại hình DN này là:
− Công ty TNHH là một pháp nhân kinh doanh, không được phép phát
Trang 4− Vốn của công ty (vốn điều lệ) được chia ra từng phần không nhất thiết
phải bằng nhau Mức góp tùy khả năng tài chính của từng thành viên Các thành
viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN
trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN
− Các thành viên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn
góp của mình cho người khác nhưng phải chào bán phần vốn đó cho các thành
viên còn lại theo tỷ lệ vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện Điều
này có nghĩa là các thành viên cũng có thể chuyển nhượng cho người ngoài
trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết
− Quyền quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty thuộc về hội
đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên và giám đốc (tổng giám đốc)
− Phân phối lợi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp củacác thành viên, nhưng
công ty chỉ được chia lợi nhuận khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành
nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
− Số lượng thành viên không lớn (không quá 50) nên tổ chức và quản lý
tương đối đơn giản
Công ty TNHH có một thành viên là DN do một tổ chức làm chủ sở hữu,
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong
phạm vi số vốn điều lệ của DN Giống như công ty TNHH có hai thành viên trở
lên, công ty TNHH một thành viên cũng không được phép phát hành cổ phiếu
• Công ty cổ phần: là công ty trong đó số thành viên gọi là cổ đông mà công
ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là 3, không hạn chế số lượng tối
đa Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Chứng
chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu
một hoặc một số cổ phần của công ty đó gọi là cổ phiếu Công ty cổ phần có
quyền phát hành trái phiếu [26]
Đây cũng là loại hình công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn Trong đó
các thành viên (cổ đông) có cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn góp vào DN Đây là một
Trang 5trong những loại hình DN đang chiếm nhiều ưu thế và hoạt động có hiệu quả,
đồng thời mang tính xã hội hoá rất cao Đặc điểm của loại công ty này là:
− Công ty được phép phát hành chứng khoán ra công chúng theo đúng quy
định của pháp luật Như vậy, nếu công ty có uy tín, làm ăn phát đạt, cần mở rộng
quy mô sản xuất thì việc mở rộng vốn trong mọi tầng lớp dân cư rất thuận lợi
− Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau Mệnh giá cổ phiếu
là do công ty quyết định phù hợp với hoạt động kinh doanh, đồng thời thu hút
được sự tham gia rộng rãi của công chúng
− Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ hai trường
hợp sau, thứ nhất: cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển
nhượng cổ phần đó cho người khác; thứ hai: trong thời gian ba năm đầu hoạt
động kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ
đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được
quyền chào bán Cổ phần phổ thông cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng cho
người không phải là cổ đông nếu được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông
− Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý và điều hành hoạt động kinh
doanh, quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ
những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông
− Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty kinh
doanh có lãi, hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính Mức cổ
tức cho từng cổ phần do hội đồng quản trị quyết định căn cứ vào kết quả kinh
doanh cùng nhiều yếu tố khác liên quan
− Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế tối đa
Trên đây là ba loại hình DNNQD phổ biến ở nước ta hiện nay, Luật doanh
nghiệp ra đời đã mở thêm loại hình công ty hợp danh, song mô hình công ty này
ít thấy xuất hiện trên thực tế
1.2 Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế thị trường, các DNNQD đã ngày càng phát triển mạnh
mẽ và trở thành một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước Tuỳ theo
Trang 6trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước mà vai trò đó cũng được thể hiện khác
nhau Đối với các nước công nghiệp phát triển, các DNNQD là một nguồn lực
đảm bảo cho sức sống của nền kinh tế, là một bộ phận hợp thành quan trọng
trong cơ cấu đa dạng của các loại hình doanh nghiệp Đối với các nước đang
phát triển và chậm phát triển thì ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của nền kinh
tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, các DNNQD
còn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành công
nghiệp hoá đất nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội Ở
Việt nam từ khi đổi mới, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và
DNNQD nói riêng đã ngày càng phát triển mạnh mẽ Sự lớn mạnh của nó gắn
với sự lớn mạnh của đất nước Hiện nay, các DNNQD đang đóng một vai trò
quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thể hiện qua tỷ lệ
phần trăm trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), số công ăn việc làm do
khu vực này mang lại và những đóng góp vào quá trình phân phối thu nhập,
giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn Sự phát triển
của các DNNQD đã thực sự góp phần quan trọng trong giải quyết những mục
tiêu kinh tế - xã hội, vai trò của các DN này được cụ thể hoá ở những khía cạnh
chủ yếu sau đây:
1.2.1 Thu hút l ượng lớn vốn đầu tư của tư nhân vào sản xuất kinh
doanh, khai thác các ngu ồn vốn trong nước
Sự ra đời và phát triển của các loại hình DNNQD, đặc biệt là mô hình
CTCP sẽ tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân có thể tham gia đầu tư Trong quá
trình hoạt động, các loại hình DNNQD có thể dễ dàng huy động vốn vay thông
qua các quan hệ gia đình, bạn bè… Vì vậy, việc phát triển các loại hình
DNNQD được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng
các khoản tiền đang phân tán, nhàn rỗi trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư
Ở nước ta hiện nay, do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, các hình thức sở
hữu nhà nước và sở hữu tập thể chưa khai thác hết tiềm năng kinh tế to lớn của
đất nước thì việc khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản
Trang 7xuất và tạo khả năng khai thác tối đa các tiềm năng kinh tế của đất nước
Sự phát triển nhanh chóng của DNNQD đã tạo ra một kênh đầu tư mới để
khai thác và phát huy có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động
sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực phù hợp với chính sách
khuyến khích đầu tư trong nước, đồng thời khắc phục khuynh hướng chỉ dựa vào
đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) Trên thực tế, có nhiều DNNQD đã
có bước phát triển mới về đầu tư mở rộng quy mô, áp dụng công nghệ tiên tiến,
nâng cao trình độ quản lý, đã tham gia xuất khẩu có hiệu quả cao, nhất là ngành
dệt may, sản xuất đồ gỗ cao cấp, chế biến lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia
đình… mạnh dạn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, số công ty có vốn đầu tư hàng
chục tỷ đồng đã xuất hiện ngày càng nhiều ở các thành phố lớn như thành phố Hồ
Chí Minh, Hà Nội…
Như vậy, nhờ đa dạng hoá các loại hình sản xuất kinh doanh, hàng năm các
DNNQD đã thu hút được một lượng vốn đáng kể của dân cư góp phần khắc
phục được một nghịch lý trong nhiều năm, các DN thiếu vốn đầu tư trong khi đó
lượng vốn trong dân còn nhiều khả năng tiềm ẩn chưa khai thác Tuy lượng vốn
thu hút vào từng DN không lớn, nhưng do số lượng DNNQD phát triển nhiều
nên toàn bộ vốn thu hút vào sản xuất kinh doanh ngày càng tăng
Trong điều kiện hiện nay, khi mà Luật doanh nghiệp ra đời cho phép mọi
người đều có thể thành lập DN, kinh doanh các mặt hàng mà pháp luật không cấm,
cần khuyến khích nhân dân đưa nguồn vốn nhàn rỗi của mình vào hoạt động kinh
doanh để làm lợi cho đất nước
Thực tế cho thấy, các DNNQD là khu vực có khả năng khai thác và thu hút
vốn trong dân cư do tính hiệu quả và quy mô sản xuất chủ yếu là vừa và nhỏ, đòi
hỏi vốn không nhiều, thời gian thu hồi vốn nhanh
1.2.2 Phát tri ển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần thúc
đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Với ưu thế của DNNQD: vốn đầu tư không lớn và dễ thay đổi phương hướng
đầu tư cho phù hợp với nhu cầu thị trường, chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ phù hợp
với năng lực quản lý của tư nhân nên đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân
Trang 8dân tham gia vào khu vực này làm cho số lượng các DN tăng lên rất nhanh, làm
tăng tính cạnh tranh, giảm bớt mức độ rủi ro, đồng thời còn làm tăng số lượng,
chủng loại hàng hoá, dịch vụ, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, phù hợp với
thị hiếu và tập quán tiêu dùng của từng địa phương Như vậy, sự phát triển của các
DNNQD sẽ cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn về nhu
cầu đời sống xã hội Chính việc tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn,
phong phú hơn và có chất lượng tốt sẽ thay thế được nhiều mặt hàng nhập khẩu,
góp phần cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và sự gia tăng xuất khẩu
của khu vực DNNQD là yếu tố góp phần tạo cho nền kinh tăng trưởng và ổn định
Xét trên giác độ tổng cầu, nhìn chung ở nước ta, theo tính toán của các nhà
thống kê, để tăng trưởng 1% GDP cần tăng trưởng tiêu dùng 2,1 đến 2,2% (kể cả
tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống) [25] Khi khu vực kinh tế tư
nhân nói chung và các DNNQD nói riêng phát triển sẽ làm tăng tổng cầu, bởi vì:
− Do mở rộng sản xuất làm cho nhu cầu các yếu tố đầu vào gia tăng
− Thu nhập của người lao động tăng do sản xuất phát triển và do số lao
động được huy động vào làm việc tăng thêm
Bên cạnh đó, một điều được thừa nhận chung là đầu tư là động lực cho tăng
trưởng kinh tế ở tất cả mọi nước Việt Nam đã đạt được tăng trưởng cao trong
thập kỷ qua với vòng tăng trưởng đầu tiên vào đầu những năm 90 được kích
thích do sự “cởi trói” năng lực sản xuất ở giai đoạn đầu đổi mới, sự tăng trưởng
đó có phần đóng góp rất quan trọng của các loại hình DNNQD - loại hình DN
lần đầu tiên được thừa nhận sau ba thập kỷ bị cấm đoán Xét về cơ cấu ngành
của các DNNQD cho thấy, nếu có môi trường kinh doanh thuận lợi, khu vực
kinh tế này có tiềm năng to lớn thúc đẩy một sự tăng trưởng theo định hướng
xuất khẩu của nền kinh tế Thực tế các DNNQD sử dụng nhiều lao động (may
mặc, chế biến thực phẩm, đồ da), là loại DN có định hướng xuất khẩu mạnh, đặc
biệt là vào thị trường châu Âu và Đông Á Hiện tại, đầu tư và tăng trưởng của
khu vực này còn bị hạn chế do môi trường kinh doanh có không ít rủi ro, do các
quy định của Nhà nước và bị chèn ép bởi các DNNN trong cuộc cạnh tranh
không bình đẳng
Trang 9Khác với khu vực DNNN, khu vực DNNQD năng động, tăng trưởng nhanh
góp phần vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế Những gì khu vực này
cần chỉ là môi trường thông thoáng và tín hiệu rõ ràng từ phía Nhà nước
1.2.3 Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế di dân vào đô thị
Một trong những vấn đề nổi cộm của nền kinh tế chuyển đổi nói chung đó
là giải quyết việc làm cho người lao động Giải quyết việc làm cho người lao
động không chỉ đảm bảo đời sống cho nguời lao động mà còn là điều kiện rất
quan trọng đảm bảo duy trì tốt an ninh xã hội Song với số lượng các DNNQD
không ngừng tăng lên , mặc dù chủ yếu với các DNNQD mới được thành lập
phần lớn có quy mô nhỏ, số lao động làm việc trong mỗi DN không nhiều nhưng
với số lượng lớn các DNNQD trong nền kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm mới,
giải quyết có hiệu quả vấn đề thất nghiệp và góp phần giảm bớt các tệ nạn xã
hội, tạo ra sự phát triển hài hoà cho nền kinh tế Đây cũng là đóng góp quan
trọng trọng nhất của khu vực DN này
Phát triển các DNNQD cũng sẽ tạo ra nhiều khả năng thuận lợi để huy
động được nhiều hơn nguồn nhân lực do các DNNQD chủ yếu sử dụng lao động
tại chỗ Đồng thời, điều kiện để đào tạo tay nghề cho người lao động thuận lợi
hơn so với các khu vực kinh tế khác, do đó chi phí đào tạo sẽ không quá lớn
đồng thời qua việc truyền nghề ở các doanh nghiệp góp phần duy trì những làng
nghề truyền thống
Thực tế, ở Việt nam trong thời gian qua, hệ thống DNNN được xắp xếp lại,
các DNNN bằng các giải pháp cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê và giải thể các
DNNN làm ăn thua lỗ thì việc dôi ra một số lượng lao động lớn là điều không
thể tránh khỏi, bên cạnh đó khu vực hành chính Nhà nước cũng thực hiện giảm
biên chế và tuyển dụng mới không nhiều Như vậy, nếu xét về mặt tạo công ăn,
việc làm, thì khu vực nhà nước nói chung và khu vực DNNN nói riêng không
tạo thêm nhiều việc làm, thậm chí còn giảm xuống cả về tuyệt đối và tương đối
trong khi nạn thất nghiệp là một trong những khó khăn lớn nhất của quá trình
chuyển đổi kinh tế ở nước ta trong thời gian qua Do vậy, với sự ra đời và phát
triển của các DNNQD, áp lực thất nghiệp đã được giảm mạnh
Trang 10Như vậy, một mặt các DNNQD đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho người
lao động, mặt khác đã góp phần giải tỏa tâm lý tập trung lao động về khu vực
Nhà nước hay khu vực có vốn ĐTNN Đồng thời, phát triển các DNNQD đã
từng bước làm thay đổi quan niệm của người lao động về vấn đề việc làm, một
mặt, mở ra khả năng giải quyết việc làm và thu nhập của người lao động Do đó,
việc thay đổi quan niệm này đã làm giảm bớt gánh nặng xã hội cho Nhà nước
trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp và những vấn đề xã hội khác
Các DNNQD có tác động thúc đẩy quá trình đô thị hoá phi tập trung
DNNQD phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã
tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản
và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất
thấp, thu nhập chưa cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực DN công
nghiệp, dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn Trên thực tế, số lượng
việc làm mới được tạo thêm từ khu vực DNNQD đã góp phần tích cực trong
mục tiêu thực hiện chuyển dịch lao động nông nghiệp
Sự phát triển của các DNNQD ở nông thôn không chỉ tạo ra việc làm cho
một bộ phận dân cư mà còn thu hút số lượng lớn lao động thời vụ trong thời
gian nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lực lượng lao động
nông nghiệp sang làm công nghiệp và dịch vụ tại địa phương, giảm bớt được tốc
độ di dân vào thành phố
1.2.4 Góp ph ần xoá đói giảm nghèo, tăng thu cho cho ngân sách
Với việc tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động nên phát triển
khu vực kinh tế tư nhân nói chung và DNNQD nói riêng đã tạo thu nhập cho
người lao động, đồng thời góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của
toàn xã hội
Về đóng góp với Ngân sách Nhà nước (NSNN), DN là khu vực tạo ra nguồn
thu chủ yếu cho NSNN Việc phát triển các DNNQD sẽ làm tăng số luợng DN và
làm tăng khả năng cung ứng các dịch vụ cho xã hội, nhà nước có thể thu thêm
được tiền thuế trên số sản phẩm và dịch vụ gia tăng cũng như thu thêm thuế thu
nhập từ người chủ DN và người lao động Mặt khác, tuy số đóng góp của một
Trang 11DNNQD là không lớn do các DN này chủ yếu là có quy mô nhỏ, song với số
lượng đông đảo các DN cũng có đóng góp một phần đáng kể vào NSNN
Hiện nay ở nước ta mức đóng góp vào NSNN của các loại hình DNNQD
tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện góp phần để đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng, phát triển các hoạt động xã hội công cộng như y tế, giáo dục, xoá đói
giảm nghèo và Nhà nước không phải trợ cấp trở lại cho các DN này như
DNNN
1.2.5 Phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần công
nghi ệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Xét về quy mô sản xuất, các DNNQD đa phần là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ (DNV&N) Số lượng DN tăng khá nhanh, mặc dù một số DN hiện nay cũng
đạt mức quy mô khá hơn nhưng nhìn chung chủ yếu là các DNV&N Do đó có
những hạn chế trong trang bị kỹ thuật Công nghệ sản xuất của loại hình DN này
hầu hết ở trình độ thấp và trung bình, thậm chí nhiều DN và hộ kinh doanh cá thể
sử dụng kỹ thuật lạc hậu, chắp vá, lao động thủ công là chủ yếu
Tuy nhiên hiện nay các DNNQD đã phát triển hơn bất kỳ thời kỳ nào trước
đây, sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Đối
với DN có quy mô tương đối lớn đã có nhiều DN đầu tư thiết bị khá hiện đại,
công nghệ tiên tiến với những sản phẩm có uy tín trên thị trường, các DNNQD
sẽ góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước
1.2.6 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý
theo h ướng kinh tế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh
Sự phát triển của các DNNQD đã góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự
phát triển cân đối giữa các vùng, khắc phục tình trạng mất cân đối nghiêm trọng
về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa
các vùng trong một quốc gia từ việc xây dựng các cụm, khu công nghiệp- dịch
vụ tổng hợp ở nơi có cơ sở hạ tầng phát triển Đồng thời, chính việc phát triển
rộng khắp các DNNQD ở các vùng sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng
nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển
nhanh các ngành sản xuất, dịch vụ tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, rút ngắn
Trang 12khoảng cách chênh lệch về mọi mặt giữa các vùng
Sự phát triển của các DNNQD cũng tạo điều kiện trong việc chuyển dịch
cơ cấu ngành Đến nay, hoạt động của loại hình DNNQD tuy còn nhỏ nhưng
phát triển nhanh, rộng khắp ở các địa phương trong cả nước, do đó trừ một số ít
các lĩnh vực, ngành nghề Nhà nước giữ vai trò độc quyền, còn lại hầu hết các
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thì các DNNQD đều tham gia với mức độ ngày
càng lớn Trong đó ở một số ngành nghề, DNNQD đã chiếm tỷ trọng khá cao
như sản xuất lương thực, thực phẩm, bán lẻ hàng hoá, hàng tiêu dùng, nuôi trồng
thuỷ sản Nếu như trước đây, các DNNQD chỉ hoạt động trong các lĩnh vực
thương mại, dịch vụ là chủ yếu thì vài năm trở lại đây, số DN sản xuất trực tiếp
đã tăng lên đáng kể, kể cả những ngành đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao như cán
thép, dây cáp điện, xi măng, xe gắn máy, máy tính, thiết bị điện tử và đồ điện
gia dụng chất lượng cao Nhiều DN đã bước đầu khẳng định được vị thế của
mình trên thương trường, góp phần tích cực vào quá trình phát triển chung của
cả nước, đồng thời tạo cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và
thúc đẩy cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển
Với sự tham gia của DNNQD cùng với các thành phần kinh tế khác sẽ tạo
ra động lực cạnh tranh, làm cho nền kinh tế hàng hoá phát triển đa dạng, phong
phú, sôi động và có tốc độ tăng trưởng nhanh Chính sự phát triển phong phú, đa
dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hình
thức kinh doanh của các DN này đã tác động mạnh mẽ đến các DNNN, buộc các
DNNN này phải sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức sản
xuất kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường Nói cách khác,
sự phát triển của các DNNQD đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các DN trong nền
kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động hơn, đồng thời cũng tạo nên sức ép lớn
buộc công tác quản lý hành chính của Nhà nước phải thay đổi nhanh nhạy, đáp
ứng yêu cầu đòi hỏi của các DN trong nền kinh tế thị trường
Hiện nay, nhiều DNNN, đặc biệt là các tổng công ty lớn thường đòi hỏi sự
độc quyền và bảo hộ của Chính phủ; còn các DNNQD hầu hết là các DNV&N
Trang 13có tính tự chủ cao, chấp nhận tự do cạnh tranh, nâng cao tính năng động, linh
hoạt của nền kinh tế nhờ quy mô nhỏ, tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, kết
hợp chuyên môn hoá với đa dạng hoá, hoà nhập kịp thời với những đòi hỏi của
nền kinh tế thị trường góp phần làm năng động nền kinh tế
Như vậy, sự phát triển của DNNQD đã góp phần quan trọng hình thành và
xác lập vai trò, vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ
chế thị trường, đẩy nhanh việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc
đẩy cải cách DNNN, cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp
tác với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh
Bên cạnh đó, các DNNQD còn có vai trò tích cực trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ ngành, thúc đẩy
công nghiệp dịch vụ phát triển mạnh, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong
cơ cấu kinh tế Từ năm 1986 đến nay, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển
biến tích cực theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp, tăng
tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp và dịch vụ Đồng thời DNNQD phát
triển ở vùng nông thôn sẽ thu hút lao động nông nghiệp nông thôn sang hoạt
hoạt động công nghiệp,trong đó có phát triển công nghiệp chế biến sản
phẩm nông nghiệp tại địa phương
1.2.7 Góp ph ần hình thành và phát triển các nhà doanh nghiệp có
trình độ chuyên môn, tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của mọi người,
t ừng bước thực hiện công bằng xã hội
Việc ra đời và phát triển của các DNNQD, đã từng bước hình thành đội ngũ
các nhà DN hoạt động trên các lĩnh vực, các ngành nghề của nền kinh tế quốc
dân Trong nền kinh tế thị trường, các chủ DNNQD đã tỏ rõ bản lĩnh và khả
năng thích ứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế Họ đã vươn lên tự khẳng định
mình, tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tạo việc làm và
thu nhập cho người lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội và được xã
hội tôn vinh Đây cũng là một cơ hội tự khẳng định sự nghiệp của các doanh
nhân trong thời kỳ đổi mới kinh tế DNNQD cũng chính là nơi đào tạo và sàng
lọc các nhà quản lý DN qua thực tiễn kinh doanh, góp phần vào việc đào tạo lực
lượng cán bộ quản lý DN có chất lượng cao cho đất nước Mặc dù không tránh
khỏi những bất cập và hạn chế, sự phát triển của các DNNQD đã tạo ra được đội
Trang 14ngũ doanh nhân tiếp cận với kinh tế thị trường
Sự phát triển DNNQD với các loại hình khác nhau đã góp phần làm cho
quan hệ sản xuất chuyển biến phù hợp với lực lượng sản xuất trong giai đoạn
chuyển đổi của nền kinh tế Thị trường lao động được hình thành và phát triển,
các DN chủ động ký kết các hợp đồng lao động theo yêu cầu sản xuất kinh doanh,
tạo cơ hội trong việc tìm kiếm việc làm cho người lao động thay cho việc phân bổ
lao động vào các DNNN theo chỉ tiêu trong thời cơ chế bao cấp trước đây Quan
hệ phân phối cũng trở nên đa dạng, linh hoạt, ngoài phân phối chủ yếu dựa theo
lao động, còn sử dụng các hình thức phân phối theo vốn góp, theo tài sản, theo cổ
phần và nhiều hình thức khác
Sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối đã làm cho
quan hệ sản xuất trở nên mềm dẻo, đa dạng, linh hoạt, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh nền kinh tế và tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay Nhờ vậy đã khơi dậy
và phát huy tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt
là nguồn lao động dồi dào và khả năng sáng tạo của hàng triệu người lao động
Thông qua đó, mọi người dân đều tham gia phát triển kinh tế và hưởng thụ thành
qủa lao động của mình, công bằng xã hội từng bước được thực hiện
1.3 Những ưu thế và hạn chế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế, mỗi loại hình DN đều có những ưu thế và hạn chế riêng
Các DNNQD với đặc trưng thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động gắn liền với lợi ích
và động lực cá nhân, tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh , do đó cũng thể
hiện những mặt ưu thế và hạn chế của nó:
1.3.1 Ưu thế của loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Các DNNQD với đặc trưng thuộc sở hữu tư nhân và phần lớn có quy mô
vừa và nhỏ nên có khá nhiều ưu thế:
− Năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
các DNNQD luôn tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu trong nền kinh tế thị
trường Do các DN này thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người
tiêu dùng nên phản ứng của nó với thị trường nhanh nhạy hơn và do tính tự chủ
Trang 15cao trong kinh doanh, các DN có khả năng đổi mới linh hoạt các loại sản phẩm
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và nhu cầu thị trường Ngay khi gặp phải
giới hạn của nhu cầu thị trường về không gian sẽ chuyển sang đầu tư theo chiều
sâu nhằm nâng cao khả năng sinh lời và sức cạnh tranh thông qua cải tiến công
nghệ, giảm chi phí và cuối cùng thường đi theo hướng mở rộng danh mục sản
phẩm của mình để đưa ra thị trường Mặt khác, các DN này khi gặp những bất
lợi cũng dễ dàng thay đổi tình thế, có thể chuyển đổi sản xuất hay thu hẹp quy
mô mà không gây ra hậu quả lớn cho xã hội
− Tạo lập dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với chi phí thấp
Thông thường, việc thành lập mới các DNNQD không nhất thiết đòi hỏi
vốn đầu tư, mặt bằng sản xuất và quy mô nhà xưởng lớn đã giúp cho DN tiết
kiệm được chi phí cố định DN có thể tận dụng lao động thay thế cho vốn với
giá lao động thấp, từ đó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn
− Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh
Các DNNQD với số lượng đông đảo, phần nhiều có quy mô không lớn, do
vậy thường khó có khả năng độc quyền trên thị trường Các DN này dễ dàng và
sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh, có thể sản xuất sản phẩm chất lượng tốt
ngay cả khi điều kiện kinh doanh còn nhiều hạn chế, nhất là với những sản phẩm
có hàm lượng lao động thủ công cao Nó làm cho nền kinh tế sống động và thúc
đẩy việc sử dụng tối đa các tiềm năng của mọi thành phần kinh tế
− Các DNNQD sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức
độ rủi ro cao
Do khó có thể cạnh tranh trên thị trường truyền thống của các DN lớn cũng như
các công ty, tổng công ty thuộc sở hữu nhà nước, các DNNQD thường tìm cách phát
triển những lĩnh vực mới, chấp nhận rủi ro cao để thu lợi nhuận
1.3.2 Nh ững hạn chế của loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Bên cạnh những ưu thế mà các DNNQD có được, trong thực tiễn hoạt
động sản xuất kinh doanh, các DNNQD có những hạn chế nhất định Từ khảo
sát các DNNQD có những hạn chế sau:
− Phát triển tự phát và thể hiện tính kém bền vững
Trang 16Các DNNQD với đặc trưng thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động gắn liền với
lợi ích và động lực cá nhân, mục tiêu cao nhất là tối đa hoá lợi nhuận do đó dễ
dàng bỏ qua hoặc không coi trọng các mục tiêu kinh tế, xã hội khác Bên cạnh
đó, do tính tự phát cùng với khả năng tài chính hạn chế, không có được sự bảo
hộ của Nhà nước nên khi có những biến động lớn về thị trường, các DN này dễ
đi đến tình trạng phá sản và dễ dẫn đến tình trạng đổ vỡ gây khủng hoảng kinh
tế nếu Nhà nước buông lỏng quản lý
− Hạn chế về quy mô
Trừ một số nước công nghiệp phát triển cao như CHLB Đức, Nhật Bản,
Mỹ… cùng với quá trình tư nhân hoá và làn sóng sáp nhập các công ty đã tạo ra
các công ty tư nhân có quy mô rất lớn, còn lại phần lớn loại hình DNTN ở các
nước có quy mô vừa và nhỏ Do hạn chế về quy mô, các DNTN này gặp không
ít khó khăn, trở ngại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và trong quản lý của
Nhà nước, cụ thể:
• Khả năng tài chính hạn chế
Các DNNQD phần lớn vốn tự có ít, khả năng vay vốn của các DN thấp
Mặt khác các DN này thường thiếu tài sản để thế chấp, hoặc tài sản thế chấp có
giá trị thấp nên khó vay vốn của ngân hàng và cũng ít có khả năng huy động vốn
ngoài thị trường Do vậy hạn chế phát triển, mở rộng kinh doanh, chuyển đổi
công nghệ, hạn chế sức cạnh tranh trên thị trường
• Trình độ kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu
Phần lớn máy móc thiết bị trong các DNNQD có quy mô vừa và nhỏ đều đã
lạc hậu trong khi hiện nay, công nghệ được coi là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong
việc đo lượng chất lượng sản phẩm Việc sử dụng công nghệ kỹ thuật lạc hậu sẽ
không cải tiến được chất lượng, mẫu mã và giá thành sản phẩm, tù đó làm giảm
khả năng cạnh tranh của DN Sức cạnh tranh của hàng hoá thấp, khó tiêu thụ, độ
rủi ro cao
• Ít có khả năng thu hút được các nhà quản lý và công nhân giỏi
Do còn tồn tại tâm lý của người lao động muốn được làm việc trong các
DNNN để đảm bảo sự ổn định và có mức thu nhập cao hơn Do đó, các
Trang 17DNNQD khi cần tuyển chọn lao động có tay nghề cao thường gặp nhiều khó
khăn Đối với các DN này, việc đào tạo công nhân và chủ DN, đầu tư cho
nghiên cứu cũng có nhiều hạn chế
− Hoạt động phân tán, rải rác khắp cả nước nên khó quản lý và hỗ trợ
Khác với các DNNN được thành lập và hoạt động theo quy hoạch cụ thể,
gắn với phân vùng lãnh thổ, các DNNQD phân bố rải rác khắp cả nước, hoạt
động phân tán theo nhiều lĩnh vực kinh doanh đa dạng nên gây nhiều khó khăn
cho việc quản lý cũng như hỗ trợ phát triển đối với loại hình doanh nghiệp này
1.4 Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển
doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Qua các kỳ đại hội Đảng, sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh nói chung và các DNNQD nói riêng đang ngày càng được quan tâm đúng
mức và được khẳng định tồn tại lâu dài dưới sự đảm bảo của Nhà nước Do vậy,
các chính sách, pháp luật đã được ban hành và điều chỉnh, bổ sung nhằm phá bỏ
mọi rào cản, tạo môi trường cho các DNNQD phát triển
1.4.1 Ch ủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp
ngoài qu ốc doanh
Tháng 12.1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt quan
trọng trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khẳng định sự tồn tại
lâu dài của các thành phần kinh tế Từ những đổi mới trong tư duy lý luận, cơ
chế chính sách, Đảng và Nhà nước đã đổi mới cách nhìn nhận về sự tồn tại của
các loại hình DN Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi trong sản
xuất kinh doanh của các DN trong nước và cả các DN liên doanh, liên kết với
các DN nước ngoài, khuyến khích mọi người tham gia kinh doanh, phát triển
sản xuất, mọi cá nhân có khả năng về vốn, kỹ thuật, công nghệ đều được phép
thành lập DN, hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật
Tháng 03/1989, Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) khẳng định sự nhất
quán trong chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần để giải phóng mọi năng
lực sản xuất và coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược
lâu dài , có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH Nghị quyết đã nhấn
Trang 18mạnh các hình thức kinh tế ngoài quốc doanh như cá thể, tiểu chủ, tư bản tư
nhân là cần thiết cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ở nước ta
Chủ trương đổi mới tiếp tục được khẳng định trong kỳ Đại hội lần thứ
VII của Đảng năm 1991 Tháng 04/1991, Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư
nhân ra đời và có hiệu lực đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các DNNQD
quy mô lớn hoạt động Luật doanh nghiệp tư nhân đã công nhận sự tồn tại và
phát triển lâu dài của DNTN, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của
DNTN với các DNNN Trong khuôn khổ pháp luật, DNTN có quyền tự do
kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh Trên cơ sở tổng kết
thực tiễn công cuộc đổi mới, Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 2 (khoá VII)
năm 1992 đã đưa ra một số chủ trương để phát huy tiềm năng của các DNNQD
như bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm đảm bảo cho DNNQD được phát huy không
hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật
không cấm
Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 khẳng định, kinh tế tư bản tư nhân
có vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước, vì vậy đòi hỏi nhà nước cần
phải có biện pháp khuyến khích phát triển, tạo điều kiện đi đôi với việc tăng
cường quản lý hướng dẫn làm ăn hợp pháp Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng
lần thứ tư (khoá VIII) tháng 12/1997 tiếp tục cụ thể hoá chủ trương xây dựng
nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCN, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân,
đồng thời chủ trương phát triển các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết giữa
các thành phần kinh tế Tháng 06/1999, Luật doanh nghiệp đã được thông qua
thay thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Sự ra đời của Luật
doanh nghiệp đã có những đổi mới mạnh mẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho các
DNNQD thành lập và phát triển Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã ban hành một
số luật có liên quan như: Luật thương mại (1997), Luật các tổ chức tín dụng
(1997), Luật thuế giá trị gia tăng (1997), Luật thuế thu nhập (1997)… nhằm tiến
tới hoàn thiện môi trường pháp lý cho các DN
Trang 19Đại hội lần thứ IX của Đảng 04/2001 chỉ rõ cần đổi mới và hoàn thiện
khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế chính sách, thủ tục hành chính
nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất,
kinh doanh của mọi thành phần kinh tế Tiếp đó, Nghị định 90/2001/NĐ-CP về
khuyến khích và hỗ trợ phát triển DN được ban hành Theo đó, Nhà nước sẽ
thành lập các tổ chức tư vấn, điều phối và hỗ trợ DN như quỹ bảo lãnh tín
dụng, Cục phát triển DN của Bộ Kế hoạch và đầu tư, đồng thời xây dựng các
khu công nghiệp tập trung, hỗ trợ cung cấp thông tin, đào tạo, xúc tiến xuất
khẩu
Như vậy, các chủ trương và quan điểm của Đảng đã có những đổi mới quan
trọng mang tính đột phá, từ chỗ nhận thức và hành động không thừa nhận nền
kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế tư nhân là lực lượng phải cải tạo, đến xác
định mỗi thành phần kinh tế đều có vị trí quan trọng trong cơ cấu của nền kinh
tế, đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng
phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Từ chỗ coi kinh tế quốc
doanh là chủ đạo theo nghĩa các DNNN phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi
ngành nghề, lĩnh vực, độc quyền, chi phối thị trường, đã chuyển sang coi khu
vực ngoài quốc doanh trong đó có các DNNQD là một bộ phận trong cơ cấu nền
kinh tế quốc dân, có khả năng góp phần xây dựng đất nước và được phát triển
không hạn chế trong các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được kinh
doanh, xuất nhập khẩu và đầu tư ra nước ngoài theo quy định chung, thực hiện
hợp tác với DNNN Những nỗ lực trên đã tạo hành lang pháp lý để các DNNQD
có thể phát triển nhanh chóng và vững chắc, đóng góp cho sự phát triển kinh tế
của đất nước
1.4.2 Chính sách c ủa Nhà nước về phát triển doanh nghiệp ngoài
qu ốc doanh
Những chủ trương của Đảng trong các kỳ đại hội đã được cụ thể hoá bằng
các chính sách và pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho khu vực kinh tế
tư nhân nói chung và các DNNQD nói riêng phát triển nhanh chóng cả về số
lượng và quy mô hoạt động
Trang 20Luật đất đai được ban hành năm 1993 đã thay thế cho Luật đất đai năm
1988 là một cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo cho các DNNQD sử dụng đất
một cách hiệu quả, ổn định, lâu dài Theo đó, Nhà nước không thừa nhận các
yêu cầu đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng Quy định này đã đảm bảo
chắc chắn quyền lợi sử dụng đất của các doanh nghiệp trong thời gian thuê đất
của nhà nước một cách hợp pháp Tiếp đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
luật của Luật đất đai ban hành ngày 02/12/1998 đã tăng cường vị trí pháp lý cho
các tổ chức thuê đất kinh doanh Nghị định 17/1999/NĐ- CP(có hiệu lực thi
hành từ ngày12/04/1999) cụ thể hoá thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị
quyền sử dụng đất Đây là những quy định mới góp phần ổn định các quan hệ sử
dụng đất, làm rõ các quyền của người sử dụng đất và cải cách cơ bản các thủ tục
hành chính liên quan đến việc thực hiện các quyền này[41]
Như vậy, về phía các doanh nghiệp, Luật đất đai sửa đổi đã có những ưu
điểm sau:
− Luật Đất đai sửa đổi tăng cường phạm vi quyền sử dụng đất của các
DN như tài sản thế chấp vay vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, góp vốn
bằng giá trị quyền sử dụng đất, có quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất…
− Giảm bớt các thủ tục phiền hà có liên quan đến việc thuê đất, quyền sử
dụng đất, chuyển nhượng đất…Làm rõ các quyền của người sử dụng đất và các
thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện các quyền này
Luật đất đai ngày càng có những quy định rõ ràng hơn trong việc tạo điều
kiện cho các DN thuê đất của nhà nước hoặc thuê lại quyền sử dụng đất trong
các khu công nghiệp tập trung Trong quá trình thực hiện, Chính phủ đã ban
hành nhiều nghị định bổ sung và điều chỉnh Luật đất đai cho phù hợp với tình
hình thực tế
Chính sách thuế, tín dụng, đầu tư
Các chính sách về thuế, tín dụng, đầu tư là những chính sách có ảnh hưởng
trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN
Trang 21Trong những năm qua, nhiều văn bản, pháp luật thuế, tín dụng và đầu tư đã được
ban hành theo hướng phù hợp hơn đối với các yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Năm 1994 Quốc hội đã ban hành ban hành Luật khuyến khích đầu tư
trong nước Các chính sách về đầu tư đã góp phần tạo môi trường thuận lợi
cho các các DNNQD như được thuê mặt bằng trong các khu công nghiệp tập
trung; lập các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay trung và dài hạn; có các chế độ
ưu tiên, ưu đãi trong đầu tư vào một số ngành nghề, vùng lãnh thổ; bảo đảm
an toàn cho hoạt động đầu tư, đảm bảo tài sản và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư.v.v
Bên cạnh những chính sách về đầu tư, nhiều sắc thuế đã được ban hành và bổ
sung sửa đổi cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế như thuế giá trị gia tăng;
thuế thu nhập DN, thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế chuyển quyền sử dụng đất,
thuế nhà đất; thuế xuất nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế thu nhập với những
người có thu nhập cao… Các chính sách thuế đã có nhiều mặt tích cực hỗ trợ cho
các DNNQD trong hoạt động sản xuất kinh doanh như hệ thống thuế ngày càng
hoàn chỉnh hơn, đối tượng chịu thuế được mở rộng và không phân biệt các thành
phần kinh tế; thuế suất áp dụng thống nhất cho các đối tượng và giản đơn hoá; có
nhiều ưu đãi thuế cho các cơ sở kinh tế trong đó có DNNQD
Về tín dụng, tháng 12/1997 Luật các tổ chức tín dụng đã được ban hành
Nhà nước đã có những biện pháp cụ thể hỗ trợ về tín dụng đối với các DNNQD
trong đầu tư phát triển thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, hỗ trợ trong các dự án
phát triển nông nghiệp nông thôn, trong các chính sách cho vay vốn tạo việc
làm Thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, các DNNQD có thể được vay với lãi suất
ưu đã thấp hơn lãi suất cho vay từ các Ngân hàng thương mại
Nhìn chung, từ nhiều năm nay, Nhà nước ta đã coi trọng việc khai thác và
phát huy tiềm năng đầu tư của kinh tế ngoài quốc doanh; một bước tiến khá
quan trọng từ thể chế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang thể chế kinh tế thị
trường, thể hiện rõ quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực mà pháp luật không
cấm
Chính sách thương mại
Trang 22Tháng 04/1997, Luật thương mại đã được thông qua tạo có sở pháp lý cho
các hoạt động thương mại của các DN Chính sách thương mại được đổi mới
trên các mặt: tự do hoá thương mại, đổi mới chính sách xuất nhập khẩu, đổi
mới hệ thống thuế quan, giảm bớt các quy định về hạn ngạch
− Tự do hoá thương mại bao gồm tự do hoá giá cả, tự do kinh doanh
đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy hình thành hệ thống
thị trường đồng bộ thống nhất
− Đổi mới chính sách xuất nhập khẩu: các thành phần kinh tế đều được
quyền tham gia hoạt động ngoại thương, xoá bỏ quy định mức vốn tối thiểu để
được hoạt động xuất nhập khẩu Các DN có giấy phép kinh doanh đều được
phép tham gia xuất nhập khẩu
− Đổi mới hệ thống thuế quan, giảm mức thuế và hợp lý hoá thuế xuất
nhập khẩu Đổi mới thủ tục hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu, thay
đổi cơ chế quản lý xuất nhập khẩu từ phương pháp hành chính sang phương
pháp kinh tế thông qua hệ thống thuế quan
Chính sách khoa học công nghệ
Hiện nay, khoa học công nghệ trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ và đang
có ảnh hưởng lớn đến các nước đang phát triển Để đảm bảo khả năng cạnh
tranh của các DN khi bước vào hội nhập kinh tế, Nhà nước đã có những chính
sách tạo điều kiện cho các DN có khả năng tiếp cận với thành quả khoa học
công nghệ tiên tiến Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động đào tạo kỹ
năng và xây dựng kết cấu hạ tầng khoa học công nghệ, tạo thị trường và thông tin
khoa học công nghệ cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Nhà nước cũng đã và
đang triển khai nghiên cứu các chương trình khoa học công nghệ Nhờ đó bước
đầu đã tạo điều kiện cho các DN nói chung và DNNQD nói riêng tiếp cận với các
công nghệ mới, nhận chuyển giao công nghệ, đầu tư phát triển công nghệ
Luật Khoa học và công nghệ được Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000 xác
định rõ Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững đất nước [3]
Trang 23Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới chính sách khoa học công
nghệ với các nội dung:
- Xác định cách thức tiếp nhận công nghệ hợp lý thông qua đầu tư nước
ngoài, mua bằng phát minh, sáng chế Khuyến khích đầu tư nước ngoài có
công nghệ tiên tiến
- Khuyến khích các hoạt động đào tạo kỹ năng và xây dựng kết cấu hạ tầng
khoa học công nghệ, tạo thị trường và thông tin khoa học công nghệ cho khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động
- Nhà nước cũng đã và đang triển khai nghiên cứu các chương trình khoa
học công nghệ Nhờ đó, bước đầu đã tạo môi trường cho các chủ thể kinh doanh,
trong đó có các DNNQD tiếp cận với công nghệ, tiếp thu công nghệ mới, nhận
chuyển giao công nghệ, đầu tư phát triển công nghệ
Trong những năm gần đây, hoạt động khoa học công nghệ đã có những
chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xã
hội Trình độ công nghệ trong nhiều ngành sản xuất được nâng lên nhanh chóng
Khoa học công nghệ bước đầu đã trở thành nhân tố quyết định giúp các
DNNQD vượt qua khó khăn, kinh doanh có hiệu quả và sản phẩm có sức cạnh
tranh trên thị trường, góp phần phát triển và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Kết luận chương 1
- Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận chung về phát triển các loại hình
DNNQD trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, trong đó bao gồm
các loại hình DNTN, CTTNHH và CTCP Đồng thời đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chế
của loại hình DNNQD, khẳng định những đóng góp quan trọng của các DNNQD đối với
nền kinh tế Đó là, có thể thu hút lượng vốn đầu tư của nhân dân vào sản xuất kinh doanh,
khai thác các nguồn vốn trong nước; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu cho
ngân sách; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế di dân vào đô thị; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý, hình thành và phát triển các nhà doanh nghiệp có
trình độ, tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của mọi người, nâng cao khả năng cạnh
Trang 24tranh của nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, đất nước
- Luận văn đã đề cập và phân tích những chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước nhằm tạo môi trường thuân lợi cho các DNNQD được mở mang,
phát triển và có khả năng đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới kinh tế của
đất nước
Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (1986-2002)
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Hà Nội
Hà Nội- Thủ đô nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là “Trung tâm đầu não
chính trị- hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá khoa học, giáo dục kinh tế
và giao dịch quốc tế của cả nước” [6] Hà Nội là thành phố cổ đã được hình thành
và phát triển gần 1000 năm, nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp
với 5 tỉnh: Bắc Ninh,Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Tây và Hưng Yên Thành phố
Hà Nội có tổng diện tích 920,97 km2, chiếm 0,28% diện tích tự nhiên cả nước
Tính đến 31/12/2002, dân số Hà Nội là 2.931.400 người, chiếm 3,67% dân
số cả nước Trong đó dân số đô thị 1.721.400 người chiếm 58,7%, nông thôn
1.210.000 người, chiếm 41,3% Tỷ suất sinh năm 2002 của Hà Nội là 1,465%
giảm 0,41% so với năm 1995 [4] Tuy nhiên do tác động của quá trình đô thị
hoá, hiện nay tốc độ tăng dân số cơ học của Hà Nội khá cao đã tạo một sức ép
lớn về mọi mặt cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội thủ đô
Số lượng lao động ở Hà Nội cũng tăng nhanh qua các năm Năm 2002 toàn
thành phố đã giải quyết việc làm cho 62.500 người tăng 4,1% so với năm 2001
Tuy nhiên theo kết quả điều tra lao động việc làm trên phạm vi thành phố, tỷ lệ
thất nghiệp khu vực thành thị của Hà Nội năm 2002 là 7,08%, cao nhất trong cả
nước Bên cạnh đó, sự gia tăng nhanh chóng nguồn lao động ngoại tỉnh vào Hà
Trang 25Nội làm việc cũng đã gây áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm của trong
giai đoạn hiện nay
Cơ cấu phân bố lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế có sự thay
đổi cơ bản kể từ khi thực hiện đổi mới kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng lao
động trong khu vực kinh tế quốc doanh, tỷ trọng lao động khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh tăng nhanh, đặc biệt từ khi thực hiện chỉ thi 20/1998/CT-TTg ngày
21/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh, sắp xếp và đổi mới DNNN đã
góp phần thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực quốc
doanh sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
♦ Về thuận lợi:
- Hà Nội có chính sách kinh tế đối ngoại mở cửa linh hoạt, an ninh chính
trị và trật tự xã hội được giữ vững Đây là điều kiện quan trọng đảm bảo cho
việc phát triển ổn định lâu dài, bền vững để các DN yên tâm đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh
- Là thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam, trung tâm lớn về văn hoá,
khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế cả nước, Hà Nội nhận được sự
quan tâm đầu tư và được sự chỉ đạo về mọi mặt của Trung ương trong quá trình
xây dựng và phát triển của thủ đô Nhờ đó, các DNNQD trên địa bàn tận dụng
được lợi thế về vị trí của thủ đô trong việc tiếp cận nhanh chóng các thông tin
trong và ngoài nước, có được sự hỗ trợ kịp thời từ các cơ quan chuyên trách
cũng như từ các tổ chức hiệp hội hỗ trợ phát triển DNNQD Bên cạnh đó, các
DNNQD trên địa bàn có điều kiện tuyển dụng được những nhà quản lý, đội ngũ
lao động có kinh nghiệm và được đào tạo có chất lượng
- Hà nội với vị trí là trung tâm thông tin và giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội
trong nước và quốc tế cũng đã tạo cơ hội cho các DN có điều kiện tiếp xúc và nắm
bắt kịp thời những thông tin và động thái mới của thị trường trong nước và quốc tế
cũng như có nhiều thuận lợi trong việc tiếp cận những thành tựu khoa học công
nghệ và tinh hoa văn hoá thế giới, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh
nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá
- Các DNNQD ở Hà Nội có ưu thế so với các doanh nghiệp khác ở phía
Trang 26Bắc trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh, dễ dàng hơn trong việc tổ chức
tiêu thụ những sản phẩm hàng hoá trên địa bàn có mật độ dân cư tập trung cao
và mở rộng thị trường tiêu thụ ra các địa phương khác, cũng như có nhiều lợi thế
hơn trong việc tiếp cận các nguồn nguyên liệu đầu vào, các dịch vụ công nghệ
cao, dịch vụ tài chính, ngân hàng…
♦ Về khó khăn:
- Các DNNQD trên địa bàn luôn luôn phải đứng trước những áp lực về cạnh
tranh gay gắt trên thị trường để tồn tại, không chỉ giữa các DN thuộc khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh, mà cả với các DNNN hiện vẫn đang còn tồn tại tình
trạng độc quyền dưới hình thức độc quyền của một công ty hay độc quyền nhóm
và đặc biệt là vói các DN có vốn ĐTNN có trình độ khoa học công nghệ cao, sản
xuất những sản phẩm có uy tín trên thị trường thế giới
- Thủ đô cũng là địa bàn rất nhạy cảm, do đó các DNNQD cũng gặp phải
những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh khi có những
biến động về thị trường
Tóm lại, với vị thế là thủ đô, Hà Nội vừa có những tiềm năng, lợi thế so
sánh; vừa có những thách thức không thuận lợi trong quá trình phát triển của thủ
đô nói chung và qua đó cũng có những tác động nhất định đối với việc phát triển
các DNNQD nói riêng
2.2 Thực trạng doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm khuyến khích mọi thành
phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh, thành phố Hà Nội đã thực hiện đồng bộ
nhiều chính sách và biện pháp nhằm tạo điều kiện cho các DNNQD đầu tư sản
xuất Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ VIII đã khẳng định
chủ trương “phát triển mạnh các các thành phần, loại hình kinh tế”, “tạo điều kiện
thuận lợi để các DNNQD phát triển” Chương trình công tác lớn của Thành ủy Hà
Nội đã đề cập đến mục tiêu và nhiệm vụ đổi mới quan hệ sản xuất, trong đó khẳng
định: “Kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể… được khuyến khích phát triển và đóng góp
ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế xã hội”… Do vậy, các chính sách cụ thể để
thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các DNV&N
Trang 27đã được thể hiện qua đề án số 18- ĐA/TW với nội dung “Tiếp tục đổi mới cơ chế,
chính sách khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” [8]
Để hướng dẫn thực hiện Luật doanh nghiệp, UBND thành phố Hà Nội đã
ban hành quy chế quản lý DN hoạt động theo Luật doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hà Nội Quyết định số 135/2002/QĐ- UB, phân rõ trách nhiệm các
cấp, các ngành trong quản lý, hỗ trợ các DNNQD Vì vậy, việc chỉ đạo triển
khai Luật doanh nghiệp đã được thực hiện một cách nhất quán, thống nhất từ
Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố đến các sở, ngành, quận, huyện
Các cơ quan Nhà nước ở Hà Nội trong phạm vi thẩm quyền đã thực hiện
tốt các quy định của Luật doanh nghiệp Cụ thể: không ban hành, hay phục hồi
các giấy phép không cần thiết; không đòi hỏi thêm hồ sơ, giấy tờ và các thủ tục
trái luật; không can thiệp hành chính trái thẩm quyền vào công việc kinh doanh,
quản lý nội bộ của các DN Bên cạnh đó, Hà Nội còn đã tổ chức nhiều đợt tập
huấn về Luật doanh nghiệp cho cán bộ các DN trên địa bàn thành phố
Hà Nội còn là địa phương đầu tiên ban hành Quy chế về phối hợp quản lý DN
sau đăng ký, trong đó xác định rõ UBND thành phố tổ chức quản lý DN, quy định cụ
thể trách nhiệm và cơ chế phối hợp của các sở ngành, quận, huyện, của các phường,
xã trong quản lý DN sau đăng ký (Công tác cấp đăng ký kinh doanh cho các DN
hoạt động theo Luật doanh nghiệp được giao cho phòng đăng ký kinh doanh- Sở kế
hoạch và đầu tư; công tác quản lý được giao cho UBND các quận, huyện; đăng ký
hộ kinh doanh cá thể được giao cho UBND các phường, xã phối hợp thực hiện)
Hà Nội cũng đã đẩy nhanh công tác cải cách hành chính ở các lĩnh vực, ở
các cấp, các ngành của thành phố nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính, cải
thiện môi trường đầu tư Quy định về quy trình và thời hạn giải quyết một số thủ
tục hành chính theo quyết định số 100/2002/QĐ-UB đã giúp giảm thời gian xử
lý các hồ sơ, đơn giản thủ tục tại các cơ quan quản lý Nhà nước của thành phố
tránh gây phiền hà cho các DN
Các chính sách ưu đãi phát triển DN nói chung và DNNQD nói riêng đã
được nghiên cứu và xây dựng Để cụ thể hoá các chính sách ưu đãi thuế theo
Luật Khuyến khích đầu tư, ngày 18-11-1999, UBND thành phố Hà Nội đã có
Trang 28Chỉ thị số 20/1999/CT- UB về cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư
Như vậy cùng với các chủ trương, chính sách của Trung ương, thành phố
Hà Nội đã có những chính sách và giải pháp cụ thể để tạo môi trường thuận lợi
cho khu vực KTNQD phát triển Việc phát triển loại hình DNNQD được xác
định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thành phố để đẩy nhanh phát
triển kinh tế thủ đô
2.2.1 Số lượng và cơ cấu các loại hình doanh nghiệp
Trước khi thực hiện đường lối đổi mới (1986), cũng như các địa phương
khác trên cả nước, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là đối tượng trong thực
hiện cải tạo XHCN và không được pháp luật bảo vệ Từ sau Đại hội VI (tháng
12/1986) và nhất là từ khi ban hành Luật DNTN và Luật Công ty (thông qua
ngày 21/12/1990 và có hiệu lực từ 15/4/1991) cùng nhiều Nghị quyết, chỉ thị và
chính sách khuyến khích khác, kinh tế tư nhân đã được hồi sinh và phát triển trở
lại cùng với sự phát triển của loại hình DNNQD
Theo Luật doanh nghiệp, các chủ DN của KTNQD có thể lựa chọn một
trong ba loại hình DN như DNTN, công ty TNHH, CTCP Trên địa bàn Hà Nội
số DNNQD đã được thành lập và hoạt động ở 12 quận huyện với số lượng ngày
càng tăng Trong giai đoạn 1992- 2002 đã có 14.404 DNNQD được đăng ký
hoạt động Từ năm 2000 đến nay, số DNNQD thành lập mới liên tục tăng
nhanh, năm sau cao hơn năm trước Số DN này chiếm tới 75% trong tổng số DN
trên địa bàn và tăng 224% so với giai đoạn 1992 –1999
Bảng 2.1: Số lượng DNNQD đăng ký kinh doanh ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội
Như vậy, thực hiện Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty, giai đoạn
1992 –1999 bình quân mỗi năm có 556 DN được thành lập (trung bình khoảng
Trang 2946 DN/ tháng), giai đoạn 2000 – 2002, thực hiện Luật doanh nghiệp, bình quân
mỗi năm có 3.320 DN được thành lập mới (trung bình khoảng 276 DN/ tháng),
gấp 6 lần so với bình quân năm giai đoạn 1992 – 2002 Qua số liệu ở trên, số
lượng DN được thành lập mới giai đoạn 2000- 2002 gấp hơn 2 lần số lượng
các DN được thành lập giai đoạn 1992- 1999, và cao nhất vào năm 2002 với
4.262 DN mới được thành lập (tăng cả về số tương đối và tuyện đối), chiếm
tới 19,8% tổng số DN trong cả nước Đây là kết quả của 3 năm thi hành Luật
doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội Như vậy, Hà Nội là thành phố
có số lượng DNNQD đứng thứ hai trong cả nước, chỉ sau thành phố Hồ Chí
Minh Tuy nhiên, mức tăng về số lượng của mỗi loại hình DNTN, công ty
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội
♦ Loại hình doanh nghiệp tư nhân: Theo số liệu của Sở kế hoạch đầu tư
Hà Nội, đến năm 1993, trên địa bàn thành phố chỉ mới có 83 DN thì đến năm
2002 có 1.613 DN, tăng gần 20 lần, trong đó, năm 1994 tăng lên 394 DN (tăng
374%), năm 1995 là 484 DN (tăng 22%) Tuy nhiên, từ năm 1996 và nhất là
năm 1997, tốc độ phát triển về số lượng đã chậm lại so với trước và tăng lại vào
năm 2000 Điều đó, có thể lý giải mức tăng đó là do tác động tích cực của Luật
DNTN (năm 1992) và Luật doanh nghiệp (năm 1999)
♦ Loại hình công ty TNHH: Năm 1993 có 601 công ty, năm 1995 tăng
lên 1.569 công ty Đến năm 2000, khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực, số lượng
công ty đăng ký lên tới 5.319 công ty bằng 151,8% tổng số công ty TNHH được
thành lập trước đó và số lượng các công ty này tiếp tục tăng với tốc độ cao trong
Trang 30những năm tiếp theo và đạt con số 10.914 công ty TNHH tính đến hết ngày
31/12/2002 Đây là một bước tiến đáng kể của Luật doanh nghiệp trong việc
hiện thực hoá quyền tự do kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
được tổ chức theo loại hình hiện đại với địa vị pháp lý rõ ràng
♦ Công ty cổ phần: Bên cạnh sự phát triển của các công ty TNHH, CTCP
là loại hình DN có sự phát triển mạnh nhất Giai đoạn 1992- 1999, số CTCP được
thành lập là 148 công ty thì trong 3 năm 2000, 2001, 2002 đâ có tới 1.857 DN tăng
1.255% Như vậy, số lượng các DN thành lập theo loại hình này trên địa bàn còn
chiếm tỷ lệ nhỏ song tốc độ tăng khá cao
Như vậy, trong tổng số 14.404 DNNQD được thành lập trên địa bàn Thành
phố Hà Nội đến năm 2002, cơ cấu được phân bổ như sau: trong đó loại hình
công ty TNHH chiếm 75,9%, công ty cổ phần chiếm 12,89%; DNTN chiếm
11,19 % tổng số DN đã được đăng ký kinh doanh, thể hiện sự nổi trội của loại
hình công ty TNHH, tỷ trọng công ty cổ phần tuy còn thấp nhưng chiếm ưu thế
hơn so với mức bình quân chung của cả nước
Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình đăng ký kinh doanh các loại hình DNNQD ở
Hà Nội( Năm 1991- 2002) Năm
Nguồn: Sở kế hoach và đầu tư Hà Nội
Tuy nhiên, trên thực tế theo số lượng DN đã được cấp mã số thuế của cục thuế
Hà Nội, đến năm 2002, loại hình DNTN chiếm 7,86%, công ty TNHH chiếm
80,04% và CTCP chiếm 12,1% tổng số DNNQD được cấp mã số thuế [14] Như
vậy, so sánh cơ cấu theo loại hình DN giữa số đăng ký ban đầu với số liệu ở Cục
thuế, có thể thấy rằng, tỷ lệ “rơi rụng” ngay ở chặng đường đầu của quá trình
kinh doanh ở các DNTN là cao nhất, tiếp đến là loại hình CTCP và thấp nhất với
loại hình công ty TNHH Điều đó bước đầu cho thấy sự “ổn định” của loại hình
DNTN và CTCP không cao bằng loại hình công ty TNHH
Trang 311- DNTN
% trong tổng số
569 10,88
768 9,74
956 7,86
2- CTTNHH
% trong tổng số
4.482 85,67
6.538 82,95
9.730 80.04
3- CTCP
% trong tổng số
181 3,46
576 7,31
1.471 12,10
Nguồn: Phòng nghiệp vụ Cục thuế Hà Nội- theo số lượng đã được cấp mã
số thuế của Hà Nội
Trên địa bàn cả nước, trong các loại hình DNNQD, DNTN chiếm tỷ trọng
lớn trong khi đó tại Hà Nội, công ty TNHH lại là hình thức phổ biến, được nhiều
DN lựa chọn hơn cả, tỷ trọng CTCP tuy có chiếm ưu thế hơn so với mức bình
quân chung của cả nước song vẫn còn rất thấp so với số lượng các công ty
TNHH Sở dĩ có sự lựa chọn này là do trong điều kiện nước ta hiện nay, mới
chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, do
những khía cạnh tâm lý xã hội nên đa phần dân cư chưa mấy tin tưởng vào các
loại hình mang tính “tập thể”, và chưa có thói quen đầu tư qua việc mua bán cổ
phiếu Đa phần các chủ DN trong các DNNQD cũng bị tâm lý này chi phối, vì
vậy đa phần các công ty TNHH về thực chất cũng là DNTN với các thành viên
của công ty trong gia đình Loại hình DN này khá phù hợp với tâm lý chung của
người dân Việt nam hiện nay, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà nội, các chủ
DN luôn xác định sự mở rộng về quy mô hoạt động cũng như ngành nghề kinh
doanh trong tương lai, đồng thời tính chất “tư nhân” theo cách hiểu của người dân
Việt Nam, của các chủ doanh nghiệp vẫn là động lực cơ bản thúc đẩy các chủ
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh Động lực này chi phối tất cả các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có vấn đề quản lý trong DN Do
vậy, hiện nay ở Hà Nội, loại hình công ty TNHH vẫn đang là loại hình phổ biến
và phù hợp Tuy nhiên theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, các
Trang 32chuyên gia kinh tế cho rằng, trong các loại hình DN, loại hình công ty cổ phần
có nhiều ưu điểm hơn, là loại hình công ty sẽ ngày càng phổ biến trong nền kinh
tế hiện đại Uu điểm nổi bật của loại hình công ty này là khả năng phân tán rủi
ro cho nhiều cổ đông cùng chịu, cũng như khả năng huy động vốn từ nhiều
nguồn khác nhau, từ đó để tập trung nguồn lực tài chính cho đầu tư Mặc dù vậy,
loại hình này chỉ có thể hoạt động với hiệu quả cao khi được quản lý chặt chẽ
trong nền kinh tế hoạt động theo luật pháp
Xem xét diễn biến cho thấy trong cơ cấu loại hình DNNQD ở Hà Nội đang
biến động theo chiều hướng tích cực: Tỷ trọng DNTN đang giảm dần, tỷ trọng
công ty TNHH cũng đang có chiều hướng giảm, ngược lại tỷ trọng công ty cổ phần
đang có xu hướng tăng rất nhanh
Như vậy, về mặt pháp lý, Nhà nước đã tạo cho khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh những sự lựa chọn khác nhau về loại hình DN, còn trên thực tiễn, chính
ưu thế và hiệu quả của mỗi loại hình sẽ sẽ quyết định xu thế lựa chọn của khu
vực KTNQD trong khuôn khổ của hệ thống pháp luật hiện hành Hiện tại khi
xem xét cơ cấu của DNNQD trên địa bàn Hà Nội theo loại hình DN thì cho đến
hết năm 2002, loại hình công ty TNHH đang giữ vị trí phổ biến và có vai trò
quan trọng nhất trong khối DNNQD
2.2.2 Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở
thành ph ố Hà Nội
Điều 21 Hiến pháp 1992 quy định “Kinh tế cá thể, tư bản tư nhân được chọn
hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập DN không bị hạn chế về
quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh” Với
quyền được tự do kinh doanh trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật
không cấm đã phát huy khả năng của các DNNQD, góp phần làm phong phú, đa
dạng và phát triển nhiều ngành nghề mới, trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
(đặc biệt là các ngành nghề được bãi bỏ giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh) và ngày càng có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, các
DNNQD vào việc cung ứng các sản phẩm thiết yếu cho thị trường nội địa và xuất
khẩu, giải quyết việc làm và đời sống cho nhiều người lao động trên địa bàn thủ đô
Thực tế, đến nay trên địa bàn Thành phố đã có trên 10 ngàn DNNQD hoạt
Trang 33động trong các lĩnh vực ngành nghề tương đối đa dạng Các DN này tập trung trong
các lĩnh vực thương mại - dịch vụ, lĩnh vực vận tải hàng hoá và hành khách, xây
dựng, du lịch… Một số DNNQD trên địa bàn thực hiện kinh doanh tổng hợp (kết
hợp giữa sản xuất, thương mại và tư vấn) trong lĩnh vực dịch vụ đòi hỏi có hàm
lượng chất xám cao như ngành công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, lĩnh
vực tài chính- ngân hàng (Ngân hàng thương mại cổ phần hoặc công ty đầu tư,
công ty thuê mua tài chính)
Cơ cấu ngành nghề đăng ký kinh doanh của các DNNQD trên địa bàn thành
phố hiện nay đã có sự thay đổi Nếu như trước đây, các DNNQD với quy mô vốn
nhỏ bé, tập trung hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đến nay
đã có nhiều DN mạnh dạn đầu tư vào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp với những ngành nghề phong phú, đa dạng, tập trung vào sản xuất các sản
phẩm thiết yếu phục vụ tiêu dùng trong nước và cả cho xuất khẩu hay trong các
ngành công nghiệp chủ lực của Hà Nội như điện tử và công nghệ thông tin, dệt –
may, da – giày, cơ - kim khí, chế biến thực phẩm đã thể hiện được sự đầu tư có
chiều sâu trong sản xuất và đầu tư cho phát triển công nghệ cao theo hướng CNH
– HĐH nền kinh tế Tỷ trọng các DNNQD đầu tư vào các ngành công nghiệp, xây
dựng, giao thông cũng đã có sự tăng lên rất nhiều so với trước
Bảng 2.5: Cơ cấu ngành đăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002
Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội
Tuy nhiên, dù có những cải thiện đáng kể trong cơ cấu ngành nghề sản xuất
kinh doanh của các DNNQD trên địa bàn Thủ đô, song trên thực tế, xu hướng sản
xuất kinh doanh của các DN vẫn tập trung đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực thương mại,
dịch vụ thể hiện qua cơ cấu vốn đầu tư và số lượng lao động sử dụng cũng như
doanh thu nộp thuế
Theo đánh giá của phòng quản lý công nghiệp ngoài quốc doanh, Sở công
nghiệp Hà Nội, có khoảng 3000 DN có đăng ký kinh doanh sản xuất công nghiệp,
Trang 34trong đó có khoảng gần 1000 DN hoạt động hoạt động sản xuất công nghiệp được
coi là hoạt động chính Đánh giá này tương đối sát với số liệu của Cục thuế Hà Nội
Bảng 2.6: Cơ cấu các DNNQD thực tế hoạt động phân theo ngành kinh
Nguồn: Phòng nghiệp vụ, Cục thuế Hà Nội- năm 2003
Theo số liệu trên, số DNNQD thực tế hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp
đã ngày càng tăng về số lượng Năm 2000 có 395 DN, năm 2001 là 486 DN và
năm 2002 là 632 DN Cơ cấu theo loại hình DN của các DNNQD trong ngành
công nghiệp được phân bố như sau:
Bảng 2.7: Số lượng các DNNQD hoạt động trong ngành công nghiệp ở
thành phố Hà nội(Năm 2000- 2002) Năm
Nguồn: Sở công nghiệp Hà Nội, năm 2003
Sự tăng mạnh về số lượng DN làm cho ngành nghề và lĩnh vực hoạt động
của các DN công nghiệp ngoài quốc doanh mở rộng rất nhanh, sản phẩm hàng
hoá ngày càng nhiều hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của thị trường
Tuy nhiên, tỷ trọng các DN có hoạt động sản xuất kinh doanh công nghiệp
là chính lại giảm dần qua các năm, từ 7,55% năm 2000 xuống còn 5,20% vào
năm 2002 Trong khi đó số lượng các DNNQD hoạt động trong lĩnh vực thương
mại, dịch vụ hoạt động trên địa bàn không ngừng tăng cao trong các thời kỳ,
năm 2000 số DN hoạt động trong lĩnh vực này là 4.837 DN, đến năm 2002 lên
tới 11.525 DN, chiếm tỷ trọng 94,80% trong tổng số các DN thực tế hoạt động
Trang 35trên địa bàn Hà Nội Sự gia tăng về số lượng DN đã giải quyết được việc làm
cho người lao động, các cơ sở này tập trung chủ yếu ở các quận nội thành, đặc
biệt là quận Hai Bà Trưng và quận Hoàn Kiếm Nhiều DN đã vươn lên trong
kinh doanh bán buôn và xuất nhập khẩu, đã góp phần làm cho thị trường Hà Nội
khởi sắc, tích cực phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân, đóng góp một
phần quan trọng vào nguồn thu Ngân sách thành phố Các DNNQD trong lĩnh
vực thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng tăng 2,8 lần trong giai đoạn 1996-
2002, từ 1.285 DN lên 3.576 DN, nâng tỷ trọng trong tổng số DN hoạt động
trong lĩnh vực này của Hà Nội từ 78, 9% năm 1996 lên 94,08% năm 2002, đóng
góp một phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế thủ đô trong thời gian qua
Bảng 2.8: Số DNNQD hoạt động trong một số ngành dịch vụ ở thành
phố Hà nội(Năm 1996- 2002) Năm
Nguồn: Tính toán trên cơ sở số liệu Niên giám thống kê Hà Nội , năm 2002
Tuy nhiên, các ngành dịch vụ chất lượng cao như dịch vụ tài chính,
tín dụng, bảo hiểm… chủ yếu hiện nay vẫn do các DNNN hoặc DN có
vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ
Trong các loại hình DNNQD tham gia kinh doanh dịch vụ thì các DNTN
lại chiếm tỷ trọng lớn nhất, kế đó mới đến các công ty TNHH và CTCP Nhìn
chung ở Hà Nội cũng như trong cả nước, các DNNQD thường tập trung trong
những ngành, lĩnh vực không đòi hỏi quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài,
dễ dàng thu hồi vốn và có lợi nhuận cao Như vậy, các DN thương mại dịch vụ vẫn
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh
Bảng 2.9: Số lượng DNNQD phân theo loại hình DN hoạt động trong
Trang 36Nguồn: Phòng nghiệp vụ, cục thuế Hà Nội
Trong lĩnh vực sản xuất, khu vực DNNQD chiếm tỷ trọng thấp khoảng 26,5%
tổng số DNNQD Các DN đang hoạt động hầu hết đều đang sản xuất các sản phẩm
dễ xin phép hoạt động, nhưng mức lợi nhuận thấp và tiêu thụ thông qua các đại lý
thương mại DNTN là bộ phận có quy mô nhỏ nhất và sức cạnh tranh thấp nhất trong
khối DNNQD, chưa có khả năng hợp tác và vươn ra thị trường quốc tế
Nguyên nhân chủ yếu của xu hướng này là do các DNNQD trên địa bàn:
Thiếu vốn đầu tư cho các dự án kinh doanh về công nghiệp nặng
Tâm lý muồn thu hồi vốn đầu tư nhanh qua ngành thương mại, dịch
vụ, công nghiệp nhẹ, hoặc công nghiệp chế biến thực phẩm quy mô nhỏ.Thực
tế, tuy tỷ lệ các DNNQD ở Hà Nội bị phá sản thấp hơn so với một số địa
phương khác, nhưng do vẫn mang nặng tâm lý do dự, ít dám mạo hiểm, nên
dễ mất cơ hội kinh doanh hoặc khó mở rộng khả năng sản xuất kinh doanh
trong những ngành nghề này
Hạn chế về công nghệ và khả năng kỹ thuật của các DNNQD
Bên cạnh đó, hành lang pháp lý và các chính sách cụ thể còn phức tạp hoặc
chưa tạo đủ sức thu hút các doanh nhân bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực công
nghiệp nặng, công nghệ cao, lĩnh vực hạ tầng và dịch vụ công cộng Để điều
chỉnh cơ cấu đầu tư trong khu vực này với việc hình thành một cơ cấu hợp lý, đa
dạng và cân đối cần phải có tác động mạnh mẽ với sự thay đổi trong chính sách
kinh tế vĩ mô từ trung ương đến địa phương
Trong giai đoạn hiện nay, để giải phóng lực lượng sản xuất, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc , phát huy nội lực cần đặc biệt coi
trọng phát huy khả năng của các DNNQD Dự báo trong những năm tới, trong
Trang 37lĩnh vực công nghiệp, các DNNQD sẽ tiếp tục tăng nhanh về số lượng và Hà
Nội sẽ xuất hiện nhiều DNNQD có quy mô lớn Khi đó sự tích tụ tập trung quy
mô DN sẽ diễn ra mạnh hơn, các DNNQD hiện nay sẽ phát triển nhanh, hoạt
động của các DN này tại các khu công nghiệp vừa và nhỏ sẽ gia tăng nhanh
chóng Phân bố hoạt động công nghiệp sẽ chuyển dịch theo hướng thu hẹp dần
tại các quận nội thành và phát triển mạnh ở các huyện ngoại thành
Nhìn chung các DNNQD trên địa bàn Hà Nội hiện nay đã có những cơ sở
điển hình sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của người
dân Thủ đô hoặc xuất khẩu Tuy nhiên, theo các số liệu thống kê, cũng như kết quả
điều tra khảo sát cho thấy các DNNQD phát triển mang tính tự phát, một số ngành
nghề mà Nhà nước cần lại thiếu vắng, rất ít DN thực hiện đa dạng hoá sản phẩm
của mình Đa số các cơ sở DNNQD ở Hà Nội tập trung vào lĩnh vực thương mại,
dịch vụ, sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ và thấp nhất là sản xuất nông
nghiệp Điều này một phần do sự cứng nhắc trong các văn bản, chỉ cho phép DN
sản xuất các sản phẩm đăng ký kinh doanh, thủ tục bổ sung ngành nghề còn không
ít khó khăn cho DN Bên cạnh đó, một số DN còn kinh doanh không đúng ngành
nghề đăng ký, trốn thuế, vi phạm các quy tắc về hợp đồng lao động, bảo hiểm
2.2.3 Sự phân bố doanh nghiệp theo địa bàn
Các DNNQD được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phân bố không
đồng đều giữa các quận, huyện nội và ngoại thành Trong tổng số các DNNQD, có
đến 86% tổng số các DN đăng ký kinh doanh đặt trụ sở tại các quận nội thành, đặc
biệt là các quận Đống Đa, Hai Bà trưng, Hoàn Kiếm, Ba Đình là nơi có mật độ DN
tập trung đông nhất Theo số liệu của sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội, tính đến
31/5/2003 quận Đống Đa: 4.017 DN; Hai Bà Trưng: 3.744 DN; Hoàn Kiếm: 2.599
DN; Ba Đình: 2.210 DN [29]
Cùng với tốc độ đô thị hoá các huyện ngoại thành và việc thành lập một số
đơn vị hành chính mới trên địa bàn thành phố (các quận Tây Hồ, Thanh Xuân,
Cầu Giấy), bước đầu đã làm tăng số DN ở các huyện ngoại thành mà chủ yếu là
các DN sản xuất công nghiệp, tuy nhiên mật độ các DN đăng ký trụ sở giao dịch
trong các quận nội thành vẫn ở tỷ lệ cao
Trang 38Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội
( Số liệu trên không bao gồm các công ty đã giải thể, phá sản theo Luật DN )
2.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động, vốn của các DNNQD
Mặt bằng sản xuất kinh doanh
Hiện nay, thực trạng sử dụng đất của các DN nói chung sử dụng có tình
trạng vừa thừa lại vừa thiếu, thừa với các DNNN được thành lập trước đây do
lịch sử để lại, nhưng lại thiếu đối với các DN mới được thành lập gần đây Đã
vậy, chính sách cho thuê đất của địa phương còn gặp nhiều khó khăn, phiền hà
Luật đất đai năm 1993 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 15 –10 – 1993,
UBND thành phố Hà Nội đã cho các tổ chức trong nước sử dụng đất dưới hình
thức thuê đất Tính đến đầu năm 2003 trong tổng số 1.614 hợp đồng thuê đất theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND Thành phố cho phép thuê và
diện tích đất ký hợp đồng thuê đất thực hiện bước 2 theo Chỉ thị 245/ TTg của
Thủ tướng chính phủ với tổng diện tích 14.530.732,84 m2 [19] được phân bổ cho
các loại hình DN như sau:
Bảng 2.11: Diện tích mặt bằng các loại hình doanh nghiệp hiện đang sử dụng
Loại hình doanh nghiệp Diện tích sử dụng (m 2 ) Tỷ trọng (%)
Trang 39Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội
Diện tích đất đã được ký hợp đồng thuê đất ở trên được sử dụng theo cơ cấu sau:
- Đất dùng để xây dựng cơ sở sản xuất: 56,3%
- Đất dùng để xây dựng trụ sở, cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ:
20,9%
- Đất dùng để xây dựng kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp: 22,8%
Như vậy, tính đến hết năm 2002, diện tích đất mà các DNNQD ở Hà Nội
được thuê chỉ chiếm 15,66 % trong khi tỷ lệ này là 83,3% đối với các DNNN,
trong đó các công ty TNHH chiếm diện tích lớn nhất (60%), các công ty cổ phần
chiếm 37,67% diện tích, nhỏ nhất là các DNTN chiếm 1,28%
Trên thực tế, các DNTN hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, khách
sạn, nhà hàng và công nghiệp chế biến chủ yếu là các cơ sở kinh doanh có
quy mô nhỏ, diện tích đất sử dụng của các cơ sở này phần lớn là đất của chủ
DN, số cơ sở được cấp đất hoặc thuê đất để kinh doanh rất ít Các DNNQD
thường thuê lại đất của các cơ quan, DNNN với chi phí cao, trung bình từ
8.000- 12.000đ/m2 /tháng
Do hạn chế về quỹ đất, nhất là đất trong nội thành và do quy hoạch sử dụng
đất chưa rõ ràng làm cho các DNNQD ít có được các thông tin về quy hoạch sử
dụng đất cho sản xuất tại địa bàn của mình ngoài thông tin về các khu công nghiệp
và các khu đô thị lớn Bên cạnh đó, các chính sách về đất đai hiện đang là một trở
ngại cho sự phát triển các DNNQD, vì chính sách và luật pháp về đất đai chưa ổn
định, thủ tục thuê, chuyển nhượng kéo dài và không rõ ràng, thời hạn cho thuê đất
ngắn trong khi các DN được cấp đất phải mất nhiều thời gian, tiền bạc và công sức
để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng nên nhìn chung đất mà các DNNQD
đang sử dụng hiện nay chủ yếu là đất của chủ DN
Trong tổng số diện tích đất mà các DNNQD hiện đang sử dụng, thì diện tích
dùng cho nhà xưởng sản xuất chiếm khoảng 40% Qua khảo sát cho thấy, ngoài
Trang 40công ty cổ phần có quy mô nhà xưởng tương đối lớn và được trang bị khá đồng bộ,
còn trong cơ sở sản xuất thuộc các loại hình DN còn lại nhà xưởng được xây dựng
phần nhiều thiếu hoàn chỉnh, nhiều cơ sở chưa đảm bảo các điều kiện cần thiết về
an toàn và bảo vệ sức khỏe cho người lao động Do mặt bằng sản xuất chật hẹp nên
việc xây dựng và bố trí nhà xưởng sản xuất gặp rất nhiều khó khăn, nhiều cơ sở do
phải tận dụng diện tích nên khu vực sản xuất được bố trí thiếu khoa học Mặt khác,
các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh phần nhiều vẫn nằm giữa các khu dân cư nên
đã có những tác động xấu về môi trường
Tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn định đã ảnh
hưởng tiêu cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN Luật đất đai chỉ quy
định quyền sử dụng đất, không cho phép tư nhân có quyền sở hữu và hạn chế nghiêm
ngặt về việc mua bán đất đai, hậu quả là quyền sử dụng đất không chuyển nhượng công
khai, giá đất thiếu tính ổn định, dẫn đến tình trạng đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả Trong
môi trường chính sách như vậy, bất lợi hơn cả vẫn là các DNNQD mới thành lập, rất
khó có được mặt bằng đất đai ổn định, hợp pháp Tuy nhiên để khắc phục những
khó khăn này cho các DN, nhằm tạo điều kiện cho các DN vừa và nhỏ nói chung
và các DNNQD nói riêng có mặt bằng sản xuất, kinh doanh Theo quy hoạch, hiện
nay tại thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng 13 cụm công nghiệp vừa và nhỏ
với tổng diện tích 360 ha đã được phê duyệt, cấp giấy chứng nhận, cho DN thuê đất
với thời hạn 50 năm Thành phố sẽ hỗ trợ xây dựng hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào,
hệ thống điện, nước đến từng DN, đồng thời hỗ trợ 30% chi phí giải phóng mặt bằng
trong hàng rào cho DN [9] Đến nay đã có 7 khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ đã
hoàn thành xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đang được các DN vừa và nhỏ mà chủ yếu là
các DNNQD xây dựng và hoàn thiện nhà xưởng cụ thể như sau:
Bảng 2.12: Các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội
STT Tên khu công nghiệp Diện tích (ha) Tình hình sử dụng đất
1 Khu công nghiệp vừa và nhỏ xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì 12 Đã cho các DN thuê, đạt 100%
2 Khu công nghiệp vừa và nhỏ phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy 8,3 Đang giải phóng mặt bằng
3 Cụm công nghiệp vừa và nhỏ xã Minh Khai, huyện Từ Liêm 21,7 Đã cho các DN thuê, đạt 100%
4 Khu công nghiệp vừa và nhỏ xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh 18,5 Đã hoàn thành GPMB, đã có 100% các DN đăng ký thuê