1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo thực tập tại Công ty cổ phần Giầy Hải Dương

57 459 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 548,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và được sư đồng ý của sở công nghiệp UBND Tỉnh trong việc thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo quyết định 338 của Thủ tướng Chính phủ, xí nghiệp đã chủ động cải tiến bộ máy quản lý t

Trang 1

* Đặc điểm và tình hình chung của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương

• Công ty cổ phần Giầy Hải Dương có tên giao dịch là: Hải Dương

Freedom Shose Company

• Công ty đặt trụ sở tại : 99- Phủ Lỗ - Hải Tân - Thành Phố Hải Dương

• Công ty cổ phần Giầy Hải Dương là một doanh nghiệp hoạt động dưới

hình thức doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Hiệp hội da giầy Việt

Nam do UBND Tỉnh Hải Dương quản lý

• Nhiệm vụ chính của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương là sản xuất giầy

thể thao xuất khẩu

• Nguyên vật liệu sản xuất chính của công ty hiện nay là các loại da, giả

da, các loại vải đều được nhập khẩu từ Hàn Quốc

• Tổng số công nhân và cán bộ công nhân viên của công ty là 1.600,

trong đó lao động nữ chiếm 70%

1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Giầy Hải

Dương

Công ty cổ phần Giầy Hải Dương tiền thân là ( xí nghiệp thuộc và chế biến

da Hải Dương ) Năm 1984, chấp hành nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh uỷ

tỉnh Hải Hưng ( ngày nay là tỉnh Hải Dương ) UBND Tỉnh đã quyết định thành

lập xí nghiệp thộc da và chế biến da với nhiệm vụ thu mua da của gia súc giết

mổ ở các địa phương dùng, tập trung lại để thuộc và chế biến thành da Từ đó

dùng để sản xuất đồ dùng bằng da như : bóng, cặp, túi, giầy thể thao phục vụ

nhu cầu hàng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Như vậy, theo tính toán trên lý

thuyết của dự án này tỏ ra có hiệu quả về mặt kinh tế vì nó không những đáp

ứng được nhu cầu tiêu dùng về các mặt hàng da mà còn tận dụng được nguồn

nguyên liệu khai thác, tránh những lãng phí không cần thiết

Trang 2

Tuy nhiên, khi thực thi dự án xí nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn, mà những

khó khăn đó có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp

 Khó khăn thứ nhất là do điều kiện về trình độ kỹ thuật công nghệ thuộc

da còn kém

 Khó khăn thứ hai là về tận thu mua da rất khó thực hiện

Chính vì vậy mà xí nghiệp đã không thành công ngay từ bước đầu Trước

khó khăn đó xí nghiệp đã nhanh chóng chuyển hướng sản xuất kinh doanh

Được sự cho phép của UBND Tỉnh Hải Hưng, xí nghiệp đã đổi tên thành ( Xí

nghiệp da giầy Hải Hưng ) Từ năm 1985 đến 1988 xí nghiệp da giầy Hải Hưng

với trên 120 công nhân đã sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ nhân dân trong

nước

Là một doanh nghiệp nhà nước, chính vì thế mà tháng 10 năm 1988 được sự

giúp đỡ của Hội liên hiệp da giầy Việt Nam, xí nghiệp đã nhập hai dây chuyền

may đồng bộ của Nhật Bản và Liên Xô với nhiệm vụ chuyên may mũi giầy xuất

khẩu cho Liên Xô, găng tay cho Đức, Ba Lan

Đến cuối năm 1989, thị trường Đông Âu có nhiều biến động, các mặt hàng

xuất khẩu của xí nghiệp sang thị trường này gặp nhiều khó khăn khi không tiêu

thụ được Hơn nữa là một xí nghiệp có quy mô nhỏ, dây chuyền công nghệ còn

lạc hậu nên mặt hàng sản xuất ra không đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế

giới Trong thời gian này, xí nghiệp gặp phải muôn vàn khó khăn : sản phẩm sản

xuất ra không tiêu thụ được, công nhân không có việc làm dẫn đến đời sống

không ổn định

Sang năm 1993, do yêu cầu của công tác sản xuất phù hợp với những vấn đề

do thị trường đặt ra như chất lượng sản phẩm; khối lượng sản phẩm tiêu thụ; giá

thành, giá bán và được sư đồng ý của sở công nghiệp UBND Tỉnh trong việc

thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo quyết định 338 của Thủ tướng Chính

phủ, xí nghiệp đã chủ động cải tiến bộ máy quản lý từ mô hình xí nghiệp thành

mô hình công ty với nhiều phân xưởng sản xuất và mang tên “ Công ty giầy Hải

Hưng ”

Trang 3

Cuối năm 1993, Công ty đã tích cực tìm kiếm thị trường, qua đó tạo điều kiện

hội nhập, tiếp thu công nghệ mới Thực hiện chủ trương đó công ty giầy Hải

Hưng đã tiếp cận với công ty FREEDOM - Hàn Quốc Công ty này đã đồng ý

bán máy trả chậm cho công ty giầy Hải Hưng và nhận bao tiêu sản phẩm với

một điều kiện: Công ty FREEDOM cung cấp nguyên liệu chính và mua lại sản

phẩm theo giá mà bên FREEDOM đưa ra

Công ty giầy Hải Hưng nhận thấy với phương thức này sẽ giúp cho công ty có

vốn, có thị trường tiêu thụ để mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ mà lại có thể

phát huy được lượng lao động có tay nghề của công ty Qua tính toán cho thấy

về lâu dài, phương thức này tỏ ra có hiệu quả

Đứng trước thời cơ mới và thách thức mới, công ty đã quyết định ký hợp

đồng nhập 3 dây chuyền sản xuất giầy thể thao trị giá 1.176.000 USD Đồng

thời công ty tiến hành nâng cấp, sửa chữa lại và xây dựng mới thêm hệ thống

nhà xưởng, tuyển thêm công nhân; đào tạo và nâng cao tay nghề cho đội ngũ

công nhân của công ty với sự giúp đỡ của các chuyên gia Hàn Quốc

Tháng 7/1994 công ty đã tiến hành lắp đặt và chạy thử 3 dây chuyền sản xuất

Đến tháng 9/1994, công ty chính thức đi vào hoạt động chuyên sản xuất giầy thể

thao xuất khẩu sang các nước Châu Âu như : Anh, Pháp, Đức, Ba Lan sản

lượng sản xuất ra ngày càng tăng và được thị trường công nhận về chất lượng và

mẫu mã sản phẩm Điều này được thể hiện qua số lượng sản phẩm sau đây:

Trang 4

Bảng 1:Tình hình sản lượng và doanh thu năm 1994 và năm 1995

Chỉ tiêu Năm1994 Năm1995 Chênh lệch ∆%

Sản lượng 317.000 800.000 483.000 1,52

Doanh thu 17 tỷ đồng 43 tỷ đồng 26 tỷ đồng 1,52

Chỉ qua hai năm 1994 và năm1995, mới bắt đầu vào sản xuất công ty đã thành

công và đạt được kết quả khả quan ngay bước đầu Công ty không những tăng

sản lượng sản xuất hàng năm ( năm 1995 sản lượng tăng 1,52% so với năm 1994

) mà sản phẩm giầy thể thao của công ty sản xuất ra đạt tiêu chuẩn, chất lượng

đáp ứng được yêu cầu thị trường Do đó, sản xuất ra đều tiêu thụ hết Điều này

thể hiện qua chỉ tiêu doanh thu năm 1995 dạt 43 tỷ đồng tăng 1,52% so với năm

1994 là 17 tỷ đồng Đây thật là một sự khởi đầu tốt đẹp, là bàn đạp và là tiền đề

vững chắc cho cả quá trình đi lên của công ty

Đến tháng 1 năm 1997, Tỉnh Hải Hưng được tách thành hai tỉnh : Hải Dương

và Hưng Yên Từ đó công ty giầy Hải Hưng trực thuộc Sở công nghiệp Hải

Dương và được đổi tên là “ Công ty giầy Hải Dương ”

Đầu năm 2004, để khuyến khích sản xuất phát triển sản xuất cũng như mở

rộng quy mô tầm vóc của công ty cho nên thực hiện chủ chương của UBND

Tỉnh, Sở Công nghiệp tỉnh Hải Dương – công ty giầy Hải Dương đã chuyển

sang cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Để có thể thu hút được nguồn vốn

đầu tư từ bên ngoài cũng như tranh thủ được nguồn vốn từ cán bộ công nhân

viên trong công ty - nhưng trong đó nhà nước chiếm 51% Tuy vậy trong thời kỳ

đầu cổ phần hoá, công ty vẫn hoạt động trên cơ sở bộ máy quản lý cũ để từng

bước khắc phục những khó khăn khi bắt tay vào cổ phần và tạo ra những tiền đề

vững chắc cho kế hoạch phát triển trong tương lai Hiện nay công ty đã đổi tên

thành Công ty cổ phần Giầy Hải Dương

Trong thời điểm hiện tại, công ty thu hút 1.600 lao động, trong đó 70% là lao

động nữ Lao động của công ty có việc làm thường xuyên Trong những năm

Trang 5

qua, cùng với sự phấn đấu của lãnh đạo và tập thể cán bộ, công nhân viên công

ty đã từng bước phát triển, đời sống, tiền lương cũng luôn được cải tiến Điều đó

góp những phần vững chắc cho bước đường đi lên, phát triển của công ty

2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty

• Nhiệm vụ của công ty cổ phần giầy Hải Dương được quy định như

sau:

- Sản xuất và kinh doanh các loại giầy thể thao để cung cấp cho thị trường

- Xuất khẩu các sản phẩm của công ty và công ty liên doanh, nhập khẩu

thiết bị, nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường

Với mặt hàng chính là đế giầy và giầy thể thao, công ty luôn phát triển nghiên

cứu về mẫu mã và chất lượng, điều đó đã góp phần vào sự phát triển của công ty

ngày càng lớn mạnh và không ngừng nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân

viên

* Ngoài ra công ty còn có nghĩa vụ sau:

- Nghĩa vụ của công ty trong việc quản lý vốn tài sản nhà nước giao

Có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn đầu tư vào công

tác khác nếu có Nhận và sử dụnh hiệu quả tài nguyên đất đai và các nguồn lực

khác do nhà nước giao cho công ty

Có nghĩa vụ công bố công khai báo cáo tài chính hàng năm để cung cấp các

thông tin đánh giá đúng đắn và khách quan về hoạt động của công ty

Thực hiện quản lý doanh thu, chi phí và giá thành sản phẩm theo thông tư

63/TT – BTC ngày 7/6/1999 của bộ tài chính hướng dẫn việc quản lý doanh thu,

chi phí, giá thành sản phẩm, dịch vụ tại các doanh nghiệp nhà nước

Công ty thực hiện phân phối lợi nhuận sau thuế và quản lý quỹ trong công ty

phải luôn tuân thủ theo thông tư 64/TT –BTC ngày 7/6/1999 của bộ tài chính

hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận sau thuế và quản lý quỹ trong doanh

nghiệp nhà nước

- Nghĩa vụ của công ty trong quản lý kinh doanh :

Trang 6

Công ty phải đăng ký kinh doanh và thực hiện kinh doanh đúng ngành nghề

đã đăng ký, chịu trách nhiệm với nhà nước về kết quả hoạt động kinh doanh và

chịu trách nhiệm trước khách hàng, trước pháp luật về sản phẩm và dịch vụ do

công ty thực hiện

Tiến hành chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với

nhiệm vụ nhà nước và nhu cầu thị trường Công ty cũng phải thực hiện các quy

định của nhà nước về bảo vệ tài nguyên môi trường quốc phòng và an ninh quốc

gia

Như vậy, mục tiêu chung của công ty là đảm bảo thực hiện tốt các nghĩa vụ

đối với nhà nước, đồng thời không ngừng phát triển quy mô doanh nghiệp , nâng

cao đời sống cán bộ, công nhân trong công ty

3 Công nghệ sản xuất

Quy trình công nghệ sản xuất giầy thể thao là quy trình phức tạp kiểu chế biến

liên tục, không gián đoạn về thời gian Công ty cổ phần giầy Hải Dương sử dụng

nguyên vật liệu chính là các loại da ( da trắng , da đen , da vàng ) ; các loại giả

da ; đế cao su được nhập từ Hàn Quốc Ngoài ra, còn rất nhiều nguyên vật

liệu phụ và các chất phụ da khác như : Tấm trang trí, đệm đế, mút xố, keo, dung

dịch Một số phải nhập từ Hàn Quốc, còn lại công ty tìm các nguyên liệu trong

nước để tiết kiệm chi phí

Trong giai đoạn hiện nay, công ty cổ phần giầy Hải Dương chỉ sản xuất giầy

thể thao xuất khẩu

Trang 7

Qua sơ đồ quy trình sản xuất giầy thể thao trải qua các công đoạn sau:

o Chặt: Nguyên liệu dược lấy từ kho của công ty, đó là các loại da, giả da,

xốp được đưa vào các máy chặt theo các cỡ dao khác nhau của từng

cỡ giầy thành những chi tiết nhỏ của một đôi giầy Có một số nguyên

liệu như các loại vải cần phải qua công đoạn bồi ( hay còn gọi là cán )

để gia công cho áp dính hai mặt vào nhau sau đố mới đem chặt

Trang 8

o May: Các chi tiết nhỏ được chuyển sang xưởng thêu để thêu chi tiết tuỳ

theo từng mẫu giầy, sau đó chuyển sang xưởng may để may thành các

đôi mũ giầy Công đoạn này do các công nhân xưởng may thực hiện

bằng các máy khâu chuyên dùng cho việc may các loại giầy thể thao

o Gò: Đế giầy lấy từ kho được kết hợp với các đôi mũ giầy, tiếp đó dùng

các chất phụ gia chủ yếu là keo để gò thành các đôi giầy hoàn chỉnh

Sau cùng các đôi giầy được đóng thành từng hộp và nhập vào kho thành

phẩm Công đoạn đóng hộp sử dụng các nguyên liệu như giấy nhét, bìa

cát tông, băng dính

4 Các bộ phận sản xuất và mối quan hệ giữa chúng:

Xuất phát từ đặc diểm của quy trình công nghệ sản xuất giầy thể thao là quy

trình sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục Để tổ chức sản xuất hoàn toàn với

quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, công ty cổ phần giầy Hải Dương đã tổ

chức việc sản xuất ở các xưởng sản xuất, mỗi xưởng thực hiện một hoặc hai

công đoạn

Vậy toàn bộ quy trình sản xuất giầy thể thao được thực hiện ở ba xưởng sản xuất

như sau:

Trang 9

g mayIII

Xưởn

g may

II

Bộ phận thêu

Xưởng

gò ráp

Dây chuyề

n

1

Dây chuyề

Trang 10

o Bộ phận cán: Gồm 95 Người chia làm ba tổ, có nhiệm vụ cán một

số nguyên liệu cần phải được áp dính vào nhau trước khi đem chặt

o Bộ phận chặt: Gồm 120 người chia làm 3 tổ có nhiệm vụ nhận

nguyên liệu từ kho là các loại da, giả da và một số nguyên liệu đã cán do bộ phận cán chuyển sang

 Xưởng may: Gồm 431 người chia làm 3 phân xưởng nhỏ

Phân Xưởng May I, Phân xưởng may II, Phân xưởng may III, và một số bộ phận

thêu Bộ phận thêu nhận các chi tiết từ xưởng chặt và thêu trang trí theo các mẫu

thêu khác nhau tuỳ từng mẫu giầy Sau đó chuyển sang xưởng may, phân xưởng

may nhận những nhiệm vụ chi tiết nhỏ của một đôi giầy do bộ phận thêu chuyển

sang cùng với các vật liệu phụ khác từ kho để may thành mũ giầy

 Xưởng gò ráp: Gồm 150 người chia thành hai dây chuyền Mỗi dây

chuyền có 3 tổ Xưởng này có nhiệm vụ nhận đế và các chất phụ gia từ

kho chủ yếu là keo, nhận các đôi giầy từ xưởng may chuyển sang để gò

thành đôi giầy hoàn chỉnh

Để việc quản lý sản xuất ở từng phân xưởng được chặt chẽ, công ty bố trí

mỗi phân xưởng một quản đốc, một phó quản đốc, một kế toán và một thống kê

xưởng Các nhân viên xưởng này có nhiệm vụ theo dõi, giám sát và đôn đốc sản

xuất đảm bảo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như việc quản lý

chi phí, tránh tình trạng lãng phí các yếu tố sản xuất Một mặt tạo ra tính chủ

động sản xuất phân xưởng trong công ty và tăng tinh thần trách nhiệm trong

quản lý và việc sử dụng vốn ở các phân xưởng

5 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp

Hiện nay cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất của công ty cổ phần giầy

Hải Dương được bố trí rất khoa học Cùng với việc sắp xếp lại khối gián tiếp,

các phòng ban ngày càng có xu hướng tính đơn giản gọn nhẹ, đủ mạnh để làm

cho guồng máy sản xuất kinh doanh của công ty hoạt động một cách nhịp nhàng,

Trang 11

đồng bộ Điều này tạo thuận lợi cho việc huy động vốn của công ty đạt được

hiệu quả cao

Do có sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển

theo xu hướng chung, nhất là trong điều kiện vừa chuyển từ mô hình xí nghiệp

lên mô hình công ty với nhiều phân xưởng trong tình hình đó, công ty cổ phần

giầy Hải Dương đã hết sức cố gắng và chấn chỉnh từng bước, hoàn thiện bộ máy

quản lý Qua nhiều năm, công ty đã dần dần tổ chức được bộ máy quản lý tương

đối gọn nhẹ và hiệu quả đã đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất, tăng

năng suất lao động, hiệu quả lao động Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức

còn đảm bảo phù hợp với đặc diểm tổ chức sản xuất Chính vì vậy mà công ty

ngày càng mở rộng quy mô sản xuất và đứng vững trên thị trường

Bộ máy quản lý của công ty cổ phần giầy Hải Dương có thể khái quát bằng

sơ đồ sau:

Trang 12

Qua bảng cơ cấu tổ chức bộ máy tổ chức của công ty cổ phần giầy Hải

Dương, ta nhận thấy rằng cơ cấu tổ chức của công ty được thực hiện theo mô

hình đa bộ phận với cơ cấu trực tuyến nghĩa là: các công việc hàng ngày để các

phân xưởng thuộc trách nhiệm của các cán bộ quản lý phân xưởng, nhưng các kế

hoạch và các chính sách dài hạn phải tuân thủ theo kế hoạch và hướng dẫn thực

hiện của công ty để phối hợp giữa các phân xưởng mục tiêu chung của công ty

Giám đốc của công ty quản lý theo chế độ một thủ trưởng Các phòng chức năng

có nhiệm vụ và trách nhiệm tham mưu cho toàn bộ hệ thống trực tuyến đề xuất,

đưa ra những quy định, quyết định khi được giám đốc thông qua và sẽ trở thành

mệnh lệnh được truyền đạt từ trên xuống dưới theo tuyến đã quy định

Mô hình cơ cấu tổ chức trên đã tạo điều kiện cho công ty thực hiện có hiệu

quả các dự án liên doanh với nước ngoài Công ty quản lý tập trung ở tổng công

ty, các phân xưởng thành viên có điều kiện nâng cao tinh thần trách nhiệm, phát

huy sáng tạo, thực hiện các kế hoạch, chình sách sản xuất kinh doanh thống nhất

toàn công ty

 Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý của Công ty cổ phần

Giầy Hải Dương:

• Giám đốc: là người đại diện cho công ty, chịu trách nhiệm trước nhà

nước pháp luật, uỷ ban nhân dân tỉnh về mọi hoạt động của công ty

Giám đốc có nhiệm vụ sau:

o Phụ trách chung về những công việc trọng tâm, chiến lược của

công ty

o Chỉ đạo công tác kinh doanh, Marketing, công tác tổ chức cán bộ,

công tác đối ngoại và đầu tư mở rộng sản xuất

• Phó giám đốc:

o Phó giám đốc tài chính chỉ đạo công tác kế toán, tài vụ, công tác

hành chính, công tác xây dựng cư bản, công tác bảo vệ và vệ sinh môi trường

Trang 13

o Phó giám đốc kinh doanh chỉ đạo công tác sản xuất kinh doanh

của công ty

o Các phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc phân cho

những công việc cụ thể theo mảng chức năng của mình, chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về quyết định của mình

• Phòng kế hoạch – XNK:

Làm nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, xây dựng giá cả, chào hàng và gửi

hàng, thông tin trao đổi, thống nhất giá cả với kách hàng Khi nhận L/C của

khách hàng thì phòng kinh doanh - XNK theo đơn đặt hàng lặp kế hoạch sản

xuất, căn cứ vào đinh mức kinh tế kỹ thuật tính toán nhu cầu vật tư trong nước

và nước ngoài

Giao kế hoạch sản xuất và lịch giao hàng cho xưởng sản xuất căn cứ L/C mua

hàng của khách hàng làm thủ tục xuất hàng, xin C/O và lập chứng từ thanh toán

• Phòng kỹ thuật:

o Có nhiệm vụ nghiên cứu cơ cấu mặt hàng, thiết kế mẫu, chế tạo

sản phẩm chào hàng phù hợp từng nước, từng mùa

o Chế thử sản phẩm đã kí hợp đồng

o Lập quy trình công nghệ

o Xây dưng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất liệu sản phẩm, tổ chức hướng

dẫn kiểm tra quản lý chất lượng sản phẩm

o Lập kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị theo định kỳ

• Phòng tài vụ:

+ Thực hiện chế độ hoạch toán tổng hợp, tự chủ tài chính trong doanh

nghiệp, quản lý các loại vốn của công ty

+ Xây dựng kế hoạch tài chính, hoạch toán kế toán, phân tích hoạt động

kinh tế và các chức năng tài chính của công ty

+ Thực hiện nghiêm chỉnh pháp lệnh thống kê kế toán, chế độ báo cáo

tài chính hiện hành của doanh nghiệp nhà nước, thường xuyên kiểm tra

hoạt động tài chính của các đơn vị thành viên

Trang 14

o Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy công ty và đơn vị trực thuộc,

đảm bảo mô hình sản xuất có hiệu quả

o Thực hiện nhiệm vụ chọn tuyển, bố trí sử dụng lao động đảm bảo

nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, chăm lo điều kiện sản xuất, giải quyết các chính sách về lao động theo quy định của bộ luật lao động và của công đoàn

o Xây dựng kế hoạch lao động tiền lương và các tiêu chuẩn định

mức lao động phương án trả tiền lương theo điều kiện của công

ty

o Thực hiện công tác tổ chức các cán bộ theo quy định điều lệ của

công ty và phân cấp quản lý cán bộ của cấp trên

o Thực hiện công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật, công tác đào tạo

nâng cấp, nâng bậc cho cán bộ công nhân viên

• Phòng vật tư:

Có nhiệm vụ tiếp nhận kế hoạch vật tư của phòng kế hoạch - XNK và

giao dịch với khách hàng giúp lãnh đạo của công ty mua sắm vật tư

o Kiểm tra chất lượng vật tư về chất lượng, mầu sắc và cho phép

nhập kho hay không

o Tổ chức cấp phát vật tư cho sản xuất định mức

• Các đơn vị thành viên khác:

o Xưởng giầy thể thao cao cấp, xưởng giầy vải, xưởng đế giầy,

xưởng cơ khí điện có quy chế tổ chức hoạt động riêng do lãnh đạo công ty

o Duyệt, phù hợp với pháp luật và điều lệ của công ty

o Có nhiệm vụ quản lý sử dụng có hiệu quả tài sản, vốn thiết bị vật

tư lao động dược giao và chấp hành nghiêm chỉnh sự điều hành của giám đốc công ty, chịu trách nhiệm về an toàn lao động, thiết

bị cháy nổ trước giám đốc công ty và pháp luật

Trang 15

o Có quyền tự chủ trong sản xuất, sử dụng lao động, sử dụng máy

móc, bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời phục vụ cho sản xuất Được chủ động tài chính kinh doanh, tổ chức nhân sự theo sự phân công của công ty

Trang 16

- Giầy vải các loại

- Giầy thể thao các loại

• Giầy vải các loại chủ yếu là giầy bảo hộ lao động, giầy đá cầu, giầy múa

Balê, chất liệu để sản xuất loại giầy này là bằng vải, đế bằng cao su

mềm

• Các loại giầy thể thao của công ty thì có giầy người lớn: giầy Levi’s,

giầy Sport ; và các loại giầy trẻ em như : giầy BB, giầy Magic Giầy thể

thao chủ yếu là xuất khẩu

1.2 Về mặt bao gói:

Đối với từng đơn đặt hàng cụ thể công ty sẽ tiến hành đóng gói theo yêu cầu

của khách hàng Bao bì có thể do khách hàng cung cấp đối với sản phẩm xuất

khẩu hoặc do công ty tự chọn Thông thường bao gói gồm hai lớp : bên trong là

túi nilon, còn bên ngoài là thùng carton

1.3 Về nhãn mác:

Khi thực hiện chiến lược của mình công ty luôn gắn nhãn hiệu cho sản

phẩm Tuy nhiên tuỳ vào từng loại thị trường mà chủ của nhãn mác khác nhau

Đối với sản phẩm xuất khẩu thì công ty thường gắn nhãn hiệu của nhà trung

gian do công ty Freedom cung cấp

Đối với sản phẩm tiêu thụ nội địa như giầy Levi’s, Sprot, BB, Magic

1.4 Về mẫu mã kiểu dáng

Công ty có cả một trung tâm thiết kế mẫu luôn tìm kiếm mẫu mã đang được

ưa chuộng trên thị trường và cho ra đời nhiều kiểu dáng mới đẹp, phù hợp với

các loại đối tượng khách hàng giầy thời trang, giầy dành cho trẻ em

Trang 17

2 Các chỉ tiêu số lượng mặt hàng tiêu thụ

Bảng 2 : Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty

Tên sản phẩm Sản lượng tiêu thụ(đôi) So sánh

Năm 2002 Năm2003 Chênh lệch Tỷ lệ (%)

Qua bảng số liệu trên ta thấy số lượng giầy BB có chiều hướng giảm dần ,

trong khi đó thì giầy Sport có xu hướng tăng lên Cụ thể, số lượng giầy BB năm

2003 so với năm 2002 giảm 157.996 đôi còn số lượng giầy Sport tăng lên

200.000 đôi Giầy Magic và giầy Levi’s có lượng bán ra gần bằng nhau

Nhìn chung tổng số giầy bán ra qua các năm đều tăng lên, cụ thể là năm 2003

tổng số giầy bán ra tăng 30.603 đôi so với năm 2002

Trong năm 2003 lượng giầy BB, giầy Magic, giầy Levi’s đều giảm còn giầy

Sport tăng lên Điều đó, chứng tỏ công ty ngày càng được tín nhiệm, nhiều công

ty nước ngoài đến đặt hàng để xuất khẩu

Bên cạnh đó, công ty cũng cần phải có giải pháp hợp lý để nâng cao doanh

thu của các sản phẩm khác bằng cách cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm tốt,

giá cả phải chăng nhằm mục đích lôi kéo ngời tiêu dùng trong nước

3 Đặc điểm về thị trường của công ty cổ phần giầy Hải Dương

- Thị trường trong nước: Công ty cổ phần giầy Hải Dương là một doanh

nghiệp có một quá trình kinh doanh lâu dài, vì thế mà công ty có một hệ

thống mạng lưới tiêu thụ rộng rãi Mặt khác, công ty đã có được uy tín về

chất lượng sản phẩm vững mạnh tạo tiền đề cho việc cạnh tranh mở rộng

Trang 18

- Thị trường nước ngoài: Sản phẩm của công ty đã xuất khẩu sang một số

nước như : Italia, Pháp, Đức, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, Bỉ, Áo, Hy lạp,

Hunggary Nhưng sản phẩm của công ty phần nào chưa đáp ứng về chất

lượng, mẫu mã, giá thành sản phẩm và giá bán còn cao, không cạnh tranh

được với sản phẩm của các nước tư bản Phương hướng của công ty trong

3 năm tới là tích cực đầu tư chiều sâu cho máy móc thiết bị, chuyên môn

hoá sản xuất, nhập công nghệ sản xuất tiên tiến để nâng cao khả năng

cạnh tranh của sản phẩm, để trong một tương lai gần sản phẩm của công

ty sẽ có chỗ đứng trên thị trường khu vực và thế giới

Bảng 3 : Kết quả tiêu thụ của công ty với thị trường nước ngoài

Số lượng(đôi)

Trang 19

Nhìn chung trong giai đoạn 2001-2002 sản phẩm của công ty chủ yếu xuất

khẩu sang các nước thuộc Châu Âu Đây là các thị trường truyền thống của

công ty từ năm 1991 đến nay Số liệu cụ thể, năm 2001 xuất khẩu được

1.150.501 đôi giầy thể thao, năm 2002 xuất khẩu được 1.278.139 đôi và năm

2003 xuất khẩu được 987.409 đôi

Ngoài ra, công ty còn đang áp dụng phương pháp định giá từ chi phí :

Giá bán = Giá thành +Thuế + Lợi nhuận mong đợi

Phương pháp này có ưu điểm là nằm trong tầm kiểm soát của công ty

Bảng 4: Mức giá hiện tại của một số mặt hàng chủ yếu

STT Tên sản phẩm Giá bán 1 đôi giầy(đ)

* Nhận xét: Qua mức giá hiện tại của một số sản phẩm chủ yếu thì ta thấy giá cả

còn quá cao, không cạnh tranh được với các đối thủ trong nước như: công ty

giầy Hà Nội; giầy Thượng Đình và các nước tư bản

Chính vì thế mà công ty cổ phần giầy Hải Dương vạch ra những chiến lược là

“ chiết khấu theo số lượng ” Đối với khách hàng quen thuộc hoặc khách hàng

Trang 20

có số lượng lớn công ty sẽ giảm giá Chế độ triết khấu cho những khách hàng

thanh toán nhanh và những khách hàng lâu năm

Nhìn chung chiến lược giá của công ty là khá linh hoạt, cùng với chiến lược

điều chỉnh giá theo số lượng đã khuyến khích khách hàng mua khối lượng lớn,

do đó doanh số bán không ngừng tăng

5 Hệ thống phân phối

a) Đối với thị trường xuất khẩu:

Việc xuất khẩu chủ yếu bằng phương thức trực tiếp Bằng nghiệp vụ của mình

công ty trực tiếp xuất hàng cho nhà nhập khẩu nước ngoài Sau đó nhà nhập

khẩu tuỳ ý phân phối sản phẩm đã mua, có thể qua các tổ chức thương mại hoặc

bán trực tiếp cho người tiêu dùng

b) Đối với thị trường nội địa:

Hiện tại công ty đang áp dụng kênh phân phối sau:

(1)

(2)

(3)

(1) Kênh trực tiếp: Ở kênh này, người sản xuất trực tiếp đưa hàng

tới người tiêu dùng Nó có ưu điểm là tạo sự gắn bó giữa người sản xuất và người tiêu dùng, có thông tin chính xác về thị trường, không phải chia sẻ lợi nhuận với khâu trung gian nhưng lại phức tạp do doanh nghiệp phải tự làm ngoài sản xuất, không chuyên môn hoá, nhiều khi không có sự năng động như các thành phần trung gian vốn tiếp xúc trực tiếp với thị trường

Người bán buôn

Người bán lẻ

Trang 21

(2) Kênh gián tiếp dài: kênh này, đại lý tiếp nhận khối lượng sản

phẩm khá lớn từ công ty đồng thời trực tiếp bán hàng và thực hiện các dich vụ kèm theo Các đại lý độc lập với công ty nên công ty không có quyền lựa chọn hay kiểm soát Điều này đã làm hạn chế đến khả năng tiêu thụ của công ty Tuy nhiên vị trí của đại lý luôn thuận lợi, tập trung nơi dân cư đông đúc

(3) Kênh gián tiếp dài: kênh này là phổ biến nhất trong các kênh

phân phối hàng hoá Ưu điểm của nó là chức chặt chẽ, mua bán theo từng khâu nên quay vòng vốn nhanh hơn, có tính chuyên môn hoá, có nhiều khả năng mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ Nhưng việc quản lý và điều hành kênh này trở nên khó khăn hơn Những nhà sản xuất quy mô lớn thường sử dụng kênh này

Ngoài các kênh trên còn tồn tại mộ số kênh không chính thức tham gia vào

quá trình tiêu thụ sản phẩm

6 Hình thức xúc tiến bán hàng:

Đây là một chính sách rất quan trọng đối với tiêu thụ sản phẩm trong nền

kinh tế thị trường Trong kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, công ty phải có kế hoạch

xúc tiến bán hàng tương xứng

Xúc tiến bán hàng là tập hợp các biện pháp của người bán, thường mang

tính tức thời, nhằm làm tăng lượng bán ngay lập tức nhờ các lợi ích vật chất

được bổ sung cho người mua Xúc tiến bán hàng nhằm vào cả người trung gian

phân phối và người tiêu dùng cuối cùng

Trang 22

• Một số hình thức mà công ty dùng trong xúc tiến bán hàng :

- Hội nghị khách hàng: Tập trung các khách hàng lớn, các bạn hàng quan

trọng và làm cho nêu ra được các ưu nhược điểm, các vướng mắc trong

mua bán, đồng thời công ty sẽ đưa ra các hướng giải quyết, các dự án và

chính sách của mình

- Hội thảo : Tập trung các nhà khoa học, bạn hàng lớn để tăng cường, lôi

kéo khách hàng đến với sản phẩm của công ty

- Tặng quà: Là những sản phẩm mà công ty đang và sẽ bán, hoặc ít nhất

phải có hình ảnh của công ty Tuỳ điều kiện mà xác định số lượng, đối

tượng và thời điểm tặng quà

- Tham gia các hội chợ hàng tiêu dùng, triển lãm hàng chất lượng cao và

một số hội chợ ở nước ngoài như: Hồng Kông, Nhật, Trung Quốc

- Để giới thiệu chi tiết về sản phẩm như kích cỡ, màu sắc, giá cả cho

kách hàng công ty đã sử dụng Catalogue

- Hoạt động quảng cáo : Công ty đã ý thức được tầm quan trọng của công

tác này nhưng do ngân sách không đủ lớn nên chưa được tiến hành nhiều

và thường xuyên Trong thời gian qua công ty đã tiến hành quảng cáo trên

một số tạp chí chuyên ngành, quảng cáo bằng tấm lớn ở trước cổng công

ty, trước các tổng đại lý lớn

- Ngoài ra còn nhiều hình thức khác như : In ấn và phát hành tài liệu về sản

phẩm, bán thử, vé sổ số tiền thưởng, giá chiết khấu Xúc tiến bán hàng

phải tiến hành có trình tự từ thăm dò, điều tra đến tiếp cận và trình bầy

giới thiệu và xử lý các phản hồi và kiểm tra giám sát

7 Đối thủ cạnh tranh :

Trang 23

- Đối với các đối thủ cạnh tranh trong tỉnh : Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hải

Dương có một số công ty TNHH, Hợp tác xã sản xuất mặt hàng giầy thể

thao và giầy ba ta Tuy nhiên, vơí dây chuyền sản xuất thủ công dựa vào

tay nghề của người thợ là chủ yếu - cho nên năng suất không được cao và

mẫu mã không đa dạng, cộng với chất lượng thấp chưa thật sự đáp ứng

được nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng Mặc dù vậy với giá thành

phải chăng, các mặt hàng của những đơn vị này cũng chiếm được nhu cầu

của những gia đình có thu nhập vừa phải

- Đối với các đối thủ cạnh tranh vùng lân cận : Do vị trí địa lý của công ty

nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm miền Bắc : Hà Nội – Hải Phòng –

Quảng Ninh ; cộng với một khu vực đồng bằng Sông Hồng phát triển

mạnh mẽ thì Công ty cổ phần Giầy Hải Dương đã gặp không ít những khó

khăn do có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng mặt hàng sản xuất Mà đặc biệt

ở đây là các công ty như Giầy Hà Nội, Giầy Thuỵ Khuê, Giầy Thượng

Đình đây là những công ty có dây chuyền sản suất tương đối hiện đại

Tuy nhiên bằng sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của cán bộ công nhân

viên, công ty cổ phần Giầy Hải Dương đã có những hướng đi vững chắc

để củng cố về mẫu mã và chất lượng nhằm bình ổn được giá cả, chiếm

lĩnh được thị trường Chính vì vậy mà đời sống lao động của công nhân

cũng được cải thiện và công ty cũng có một chỗ đứng vững chắc trên thị

trường nội địa

- Đối với đối thủ cạnh tranh quốc tế : Trong những năm gần đây, khách

hàng quen thuộc của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương là các thị trường

khó tính như : Đức, Bỉ, Ba Lan, Italia, Aó, Pháp, Hunggari tuy nhiên

do dây chuyền sản xuất của công ty vẫn còn lạc hậu cho nên vẫn còn hạn

chế về mẫu mã và chất lượng, chưa thực sự đủ sức cạnh tranh với các

thương hiệu nổi tiếng của các nước bản địa Vì thế những bản hợp đồng

xuất khẩu trên vẫn mang tính tìm hiểu để dần dần mở rộng thị trường

Trang 24

trong những năm tới Đó cũng là phương hướng và nhiệm vụ của công ty

trong thời điểm hiện nay

8 Nhận xét về tình hình tiêu thụ và công tác Marketing của công ty cổ

phần giầy Hải Dương

Qua phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh tiêu thụ trong thời

gian gần đây ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty tương đối tốt

Chứng tỏ chiến lược kinh doanh của công ty là phù hợp với biến động của thị

trường, quyết định chuyển đổi mặt hàng của công ty kinh doanh của công ty là

hoàn toàn đúng đắn Chiến lược kinh doanh của công ty là hướng về xuất khẩu,

hoạt động xuất khẩu là hoạt động không thể thiếu được trong quá trình kinh

doanh của công ty Trong những năm gần đây, hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch của

công ty đều hoàn thành, sở dĩ đạt được kết quả như vậy là do tập thể cán bộ

công nhân viên trong công ty đã đoàn kết nhất trí và không ngừng phát huy

những tiền đề mà công ty đã tạo dựng, biết phát huy những yếu tố thuận lợi và

thực hiện hàng loạt các biện pháp quản lý một cách đồng bộ, đúng đắn

Bên cạnh thành tích đạt được, trong những năm gần đây hoạt động sản xuất

kinh doanh của công ty còn nhiều hạn chế như sau:

- Kế hoạch sản xuất còn mang tính thời vụ, thụ động

- Thị trường xuất khẩu còn hạn chế

- Thi trường nội địa đã được công ty quan tâm nhưng chưa thật đúng mức

- Công ty chưa có phòng Marketing riêng, nên công tác thị trường nắm bắt

thông tin chậm, độ chính xác không cao Công tác nghiên cứu tiêu thụ, hỗ

trợ tiêu thụ chưa được tốt, điều này có ảnh hưởng đến hiệu quả của công

ty

II TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG

Do đặc thù của công ty là một doanh ngiệp sản xuất công nghệ với quy mô

lớn nên công ty có một lượng lao động khá lớn Trong những năm gần đây công

ty đã từng bước giảm biên chế định biên lại lao động để nâng cao hiệu quả sản

Trang 25

xuất kinh doanh, đồng thời công ty không ngừng đẩy mạnh công tác bồi dưỡng

lao động, nâng cao tay nghề và tuyển dụng nhân sự có trình độ cao

1 Cơ cấu lao động của công ty năm 2003

Bảng 5: Phân loại lao động

Trang 26

- Mặt mạnh: công ty cần nhiều lao động nên phần nào đã góp phần tạo công

ăn việc làm cho rất nhiều người, đồng thời làm giảm bớt nạn thất nghiệp

đang là vấn đề cần phải được giải quyết ở nước ta hiện nay

- Mặt yếu: Do là một cơ sở sản xuất nên chỉ có cấp lãnh đạo mới có trình

độ cao còn công nhân đa số ở nông thôn nên trình độ phần lớn chỉ tốt

nghiệp phổ thông trung học trở xuống Vì vậy, trình độ của các thành viên

trong công ty không đồng đều

2. Tình hình sử dụng thời gian lao động

Lập kế hoạch sử dụng thời gian lao động của công nhân

Kế hoạch sử dụng thời gian lao động của công nhân tính toán đưa ra số ngày

làm việc bình quân của một công nhân sản xuất trong năm kế hoạch Nó là căn

cứ để xác định số lao động và quỹ tiền lương năm kế hoạch

Kế hoạch này được lập ra trong bảng cân đối thời gian lao động của 1 công

nhân Thực chất của việc lập bảng này là xác định tổng số ngày vắng mặt bình

quân của 1 công nhân theo các lý do nghỉ phép năm, nghỉ ốm, nghỉ chế độ nữ,

nghỉ họp, công tác vì những ngày còn lại đã có chế độ nhà nước quy định

Số ngày nghỉ phép năm được tính bình quân gia quyền theo số công nhân và

số ngày phép giống nhau cho số ngày phép giống nhau cho các nhóm khác nhau

Công ty có 1.600 công nhân trong đó có 1.550 người được nghỉ phép 12 ngày,

30 người được nghỉ 15 ngày, 10 người nghỉ 18 ngày và 10 người được nghỉ 20

ngày Số ngày nghỉ phép bình quân của công nhân công ty bằng

Trang 27

Số ngày nghỉ phép bình quân của năm 2002 theo kế hoạch là 12.5 ngày

Bảng 6 : Kế hoạch sử dụng thời gian lao động năm 2003

1 Tổng số ngày theo dương lịch 365 365

7 Tổng số giờ rút bớt (giờ/ ca) 0,23 0,25

8 Độ dài ngày làm việc bình quân

giờ

Số ngày nghỉ ốm năm 2002 ước thực hiện là 8 ngày Năm 2003 số ngày nghỉ

ốm dựa vào số ngày nghỉ ốm năm trước kết hợp với việc thiết kế các biện pháp

cải thiện trật tự vệ sinh nhà xưởng, điều kiện làm việc như lắp thêm quạt thông

gió, cải thiện điều kiện chiếu sáng, lắp cửa kính che gió mùa đông, trang bị thêm

Trang 28

ủng và sửa chữa lại nền gian xưởng, nhờ đó mà giảm 20% số ngày nghỉ ốm năm

trước, dự kiến giảm 1,5 ngày so với năm 2002

Số ngày nghỉ chế độ phụ nữ được lập kế hoạch dự trên kế hoạch nghỉ sinh

cháu của chị em đăng ký và chế độ nhà nước quy định

Số ngày nghỉ hội họp đối với công nhân sản xuất thương rất ít Họ chỉ được

nghỉ phép để đại hội công nhân viên chức Ngoài ra có thể được nghỉ tập tự vệ

hay khám nghĩa vụ quân sự

2.2 Thời gian làm việc của công ty

Bảng 7 : Thực hiện thời gian làm việc năm 2003

Thời gian tháng làm việc 21 ngày do nghỉ chờ việc

3 Tuyển dụng và đào tạo

Một thời gian dài công ty luôn ở trong tình trạng thừa lao động từ cuối năm

1989 đến năm 2001 công ty không mở lớp đào tạo công nhân nào Để chuẩn bị

cho năm 2003 lớp công nhân đến tuổi sẽ về hưu 1 số lượng lớn, nên năm 2002

công ty đã mở lớp đào tạo tại chỗ 100 học sinh là con em công nhân viên của

công ty Do vậy, đến năm 2003 số công nhân về hưu và về chế độ dôi dư theo

nghị định 41 của Chính phủ là 500 lao động, số học sinh có thể thay thế vào sản

xuất được

Về cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ: Do mức lương thấp, vị trí xa sôi nên rất khó

khăn trong việc tuyển cán bộ chuyên ngành Do vậy hàng năm cử công nhân đi

học tại chức, năm 2003 công ty đã mở lớp đào tạo 30 sinh viên cao đẳng

Ngày đăng: 30/11/2015, 17:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:Tình hình sản lượng và doanh thu năm 1994 và năm 1995 - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 1 Tình hình sản lượng và doanh thu năm 1994 và năm 1995 (Trang 4)
SƠ ĐỒ KẾT CẤU SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
SƠ ĐỒ KẾT CẤU SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP (Trang 9)
Bảng 2 : Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 2 Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty (Trang 17)
Bảng 5: Phân loại lao động - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 5 Phân loại lao động (Trang 25)
Bảng 6 : Kế hoạch sử dụng thời gian lao động năm 2003 - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 6 Kế hoạch sử dụng thời gian lao động năm 2003 (Trang 27)
Bảng 8 : Thực hiện các chỉ tiêu lao động tiền lương - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 8 Thực hiện các chỉ tiêu lao động tiền lương (Trang 32)
Bảng 10 : Tình hình tăng giảm TSCĐ đến ngày 31-12-2003 - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 10 Tình hình tăng giảm TSCĐ đến ngày 31-12-2003 (Trang 38)
Bảng 11 : Một số chi phí  theo khoản mục của công ty cổ phần giầy - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 11 Một số chi phí theo khoản mục của công ty cổ phần giầy (Trang 40)
Bảng 13: Tình hình tiêu thụ sản phẩm thực tế với kế hoạch năm 2003 - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 13 Tình hình tiêu thụ sản phẩm thực tế với kế hoạch năm 2003 (Trang 42)
Bảng 15: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2002-2003 - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
Bảng 15 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2002-2003 (Trang 45)
6. Hình thức xúc tiến bán hàng - báo cáo thực tập tại Công  ty  cổ  phần  Giầy  Hải  Dương
6. Hình thức xúc tiến bán hàng (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w