và được sư đồng ý của sở công nghiệp UBND Tỉnh trong việc thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo quyết định 338 của Thủ tướng Chính phủ, xí nghiệp đã chủ động cải tiến bộ máy quản lý t
Trang 1* Đặc điểm và tình hình chung của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương
• Công ty cổ phần Giầy Hải Dương có tên giao dịch là: Hải Dương
Freedom Shose Company
• Công ty đặt trụ sở tại : 99- Phủ Lỗ - Hải Tân - Thành Phố Hải Dương
• Công ty cổ phần Giầy Hải Dương là một doanh nghiệp hoạt động dưới
hình thức doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Hiệp hội da giầy Việt
Nam do UBND Tỉnh Hải Dương quản lý
• Nhiệm vụ chính của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương là sản xuất giầy
thể thao xuất khẩu
• Nguyên vật liệu sản xuất chính của công ty hiện nay là các loại da, giả
da, các loại vải đều được nhập khẩu từ Hàn Quốc
• Tổng số công nhân và cán bộ công nhân viên của công ty là 1.600,
trong đó lao động nữ chiếm 70%
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Giầy Hải
Dương
Công ty cổ phần Giầy Hải Dương tiền thân là ( xí nghiệp thuộc và chế biến
da Hải Dương ) Năm 1984, chấp hành nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh uỷ
tỉnh Hải Hưng ( ngày nay là tỉnh Hải Dương ) UBND Tỉnh đã quyết định thành
lập xí nghiệp thộc da và chế biến da với nhiệm vụ thu mua da của gia súc giết
mổ ở các địa phương dùng, tập trung lại để thuộc và chế biến thành da Từ đó
dùng để sản xuất đồ dùng bằng da như : bóng, cặp, túi, giầy thể thao phục vụ
nhu cầu hàng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Như vậy, theo tính toán trên lý
thuyết của dự án này tỏ ra có hiệu quả về mặt kinh tế vì nó không những đáp
ứng được nhu cầu tiêu dùng về các mặt hàng da mà còn tận dụng được nguồn
nguyên liệu khai thác, tránh những lãng phí không cần thiết
Trang 2Tuy nhiên, khi thực thi dự án xí nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn, mà những
khó khăn đó có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp
Khó khăn thứ nhất là do điều kiện về trình độ kỹ thuật công nghệ thuộc
da còn kém
Khó khăn thứ hai là về tận thu mua da rất khó thực hiện
Chính vì vậy mà xí nghiệp đã không thành công ngay từ bước đầu Trước
khó khăn đó xí nghiệp đã nhanh chóng chuyển hướng sản xuất kinh doanh
Được sự cho phép của UBND Tỉnh Hải Hưng, xí nghiệp đã đổi tên thành ( Xí
nghiệp da giầy Hải Hưng ) Từ năm 1985 đến 1988 xí nghiệp da giầy Hải Hưng
với trên 120 công nhân đã sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ nhân dân trong
nước
Là một doanh nghiệp nhà nước, chính vì thế mà tháng 10 năm 1988 được sự
giúp đỡ của Hội liên hiệp da giầy Việt Nam, xí nghiệp đã nhập hai dây chuyền
may đồng bộ của Nhật Bản và Liên Xô với nhiệm vụ chuyên may mũi giầy xuất
khẩu cho Liên Xô, găng tay cho Đức, Ba Lan
Đến cuối năm 1989, thị trường Đông Âu có nhiều biến động, các mặt hàng
xuất khẩu của xí nghiệp sang thị trường này gặp nhiều khó khăn khi không tiêu
thụ được Hơn nữa là một xí nghiệp có quy mô nhỏ, dây chuyền công nghệ còn
lạc hậu nên mặt hàng sản xuất ra không đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới Trong thời gian này, xí nghiệp gặp phải muôn vàn khó khăn : sản phẩm sản
xuất ra không tiêu thụ được, công nhân không có việc làm dẫn đến đời sống
không ổn định
Sang năm 1993, do yêu cầu của công tác sản xuất phù hợp với những vấn đề
do thị trường đặt ra như chất lượng sản phẩm; khối lượng sản phẩm tiêu thụ; giá
thành, giá bán và được sư đồng ý của sở công nghiệp UBND Tỉnh trong việc
thành lập lại doanh nghiệp nhà nước theo quyết định 338 của Thủ tướng Chính
phủ, xí nghiệp đã chủ động cải tiến bộ máy quản lý từ mô hình xí nghiệp thành
mô hình công ty với nhiều phân xưởng sản xuất và mang tên “ Công ty giầy Hải
Hưng ”
Trang 3Cuối năm 1993, Công ty đã tích cực tìm kiếm thị trường, qua đó tạo điều kiện
hội nhập, tiếp thu công nghệ mới Thực hiện chủ trương đó công ty giầy Hải
Hưng đã tiếp cận với công ty FREEDOM - Hàn Quốc Công ty này đã đồng ý
bán máy trả chậm cho công ty giầy Hải Hưng và nhận bao tiêu sản phẩm với
một điều kiện: Công ty FREEDOM cung cấp nguyên liệu chính và mua lại sản
phẩm theo giá mà bên FREEDOM đưa ra
Công ty giầy Hải Hưng nhận thấy với phương thức này sẽ giúp cho công ty có
vốn, có thị trường tiêu thụ để mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ mà lại có thể
phát huy được lượng lao động có tay nghề của công ty Qua tính toán cho thấy
về lâu dài, phương thức này tỏ ra có hiệu quả
Đứng trước thời cơ mới và thách thức mới, công ty đã quyết định ký hợp
đồng nhập 3 dây chuyền sản xuất giầy thể thao trị giá 1.176.000 USD Đồng
thời công ty tiến hành nâng cấp, sửa chữa lại và xây dựng mới thêm hệ thống
nhà xưởng, tuyển thêm công nhân; đào tạo và nâng cao tay nghề cho đội ngũ
công nhân của công ty với sự giúp đỡ của các chuyên gia Hàn Quốc
Tháng 7/1994 công ty đã tiến hành lắp đặt và chạy thử 3 dây chuyền sản xuất
Đến tháng 9/1994, công ty chính thức đi vào hoạt động chuyên sản xuất giầy thể
thao xuất khẩu sang các nước Châu Âu như : Anh, Pháp, Đức, Ba Lan sản
lượng sản xuất ra ngày càng tăng và được thị trường công nhận về chất lượng và
mẫu mã sản phẩm Điều này được thể hiện qua số lượng sản phẩm sau đây:
Trang 4Bảng 1:Tình hình sản lượng và doanh thu năm 1994 và năm 1995
Chỉ tiêu Năm1994 Năm1995 Chênh lệch ∆%
Sản lượng 317.000 800.000 483.000 1,52
Doanh thu 17 tỷ đồng 43 tỷ đồng 26 tỷ đồng 1,52
Chỉ qua hai năm 1994 và năm1995, mới bắt đầu vào sản xuất công ty đã thành
công và đạt được kết quả khả quan ngay bước đầu Công ty không những tăng
sản lượng sản xuất hàng năm ( năm 1995 sản lượng tăng 1,52% so với năm 1994
) mà sản phẩm giầy thể thao của công ty sản xuất ra đạt tiêu chuẩn, chất lượng
đáp ứng được yêu cầu thị trường Do đó, sản xuất ra đều tiêu thụ hết Điều này
thể hiện qua chỉ tiêu doanh thu năm 1995 dạt 43 tỷ đồng tăng 1,52% so với năm
1994 là 17 tỷ đồng Đây thật là một sự khởi đầu tốt đẹp, là bàn đạp và là tiền đề
vững chắc cho cả quá trình đi lên của công ty
Đến tháng 1 năm 1997, Tỉnh Hải Hưng được tách thành hai tỉnh : Hải Dương
và Hưng Yên Từ đó công ty giầy Hải Hưng trực thuộc Sở công nghiệp Hải
Dương và được đổi tên là “ Công ty giầy Hải Dương ”
Đầu năm 2004, để khuyến khích sản xuất phát triển sản xuất cũng như mở
rộng quy mô tầm vóc của công ty cho nên thực hiện chủ chương của UBND
Tỉnh, Sở Công nghiệp tỉnh Hải Dương – công ty giầy Hải Dương đã chuyển
sang cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Để có thể thu hút được nguồn vốn
đầu tư từ bên ngoài cũng như tranh thủ được nguồn vốn từ cán bộ công nhân
viên trong công ty - nhưng trong đó nhà nước chiếm 51% Tuy vậy trong thời kỳ
đầu cổ phần hoá, công ty vẫn hoạt động trên cơ sở bộ máy quản lý cũ để từng
bước khắc phục những khó khăn khi bắt tay vào cổ phần và tạo ra những tiền đề
vững chắc cho kế hoạch phát triển trong tương lai Hiện nay công ty đã đổi tên
thành Công ty cổ phần Giầy Hải Dương
Trong thời điểm hiện tại, công ty thu hút 1.600 lao động, trong đó 70% là lao
động nữ Lao động của công ty có việc làm thường xuyên Trong những năm
Trang 5qua, cùng với sự phấn đấu của lãnh đạo và tập thể cán bộ, công nhân viên công
ty đã từng bước phát triển, đời sống, tiền lương cũng luôn được cải tiến Điều đó
góp những phần vững chắc cho bước đường đi lên, phát triển của công ty
2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
• Nhiệm vụ của công ty cổ phần giầy Hải Dương được quy định như
sau:
- Sản xuất và kinh doanh các loại giầy thể thao để cung cấp cho thị trường
- Xuất khẩu các sản phẩm của công ty và công ty liên doanh, nhập khẩu
thiết bị, nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường
Với mặt hàng chính là đế giầy và giầy thể thao, công ty luôn phát triển nghiên
cứu về mẫu mã và chất lượng, điều đó đã góp phần vào sự phát triển của công ty
ngày càng lớn mạnh và không ngừng nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân
viên
* Ngoài ra công ty còn có nghĩa vụ sau:
- Nghĩa vụ của công ty trong việc quản lý vốn tài sản nhà nước giao
Có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn đầu tư vào công
tác khác nếu có Nhận và sử dụnh hiệu quả tài nguyên đất đai và các nguồn lực
khác do nhà nước giao cho công ty
Có nghĩa vụ công bố công khai báo cáo tài chính hàng năm để cung cấp các
thông tin đánh giá đúng đắn và khách quan về hoạt động của công ty
Thực hiện quản lý doanh thu, chi phí và giá thành sản phẩm theo thông tư
63/TT – BTC ngày 7/6/1999 của bộ tài chính hướng dẫn việc quản lý doanh thu,
chi phí, giá thành sản phẩm, dịch vụ tại các doanh nghiệp nhà nước
Công ty thực hiện phân phối lợi nhuận sau thuế và quản lý quỹ trong công ty
phải luôn tuân thủ theo thông tư 64/TT –BTC ngày 7/6/1999 của bộ tài chính
hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận sau thuế và quản lý quỹ trong doanh
nghiệp nhà nước
- Nghĩa vụ của công ty trong quản lý kinh doanh :
Trang 6Công ty phải đăng ký kinh doanh và thực hiện kinh doanh đúng ngành nghề
đã đăng ký, chịu trách nhiệm với nhà nước về kết quả hoạt động kinh doanh và
chịu trách nhiệm trước khách hàng, trước pháp luật về sản phẩm và dịch vụ do
công ty thực hiện
Tiến hành chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với
nhiệm vụ nhà nước và nhu cầu thị trường Công ty cũng phải thực hiện các quy
định của nhà nước về bảo vệ tài nguyên môi trường quốc phòng và an ninh quốc
gia
Như vậy, mục tiêu chung của công ty là đảm bảo thực hiện tốt các nghĩa vụ
đối với nhà nước, đồng thời không ngừng phát triển quy mô doanh nghiệp , nâng
cao đời sống cán bộ, công nhân trong công ty
3 Công nghệ sản xuất
Quy trình công nghệ sản xuất giầy thể thao là quy trình phức tạp kiểu chế biến
liên tục, không gián đoạn về thời gian Công ty cổ phần giầy Hải Dương sử dụng
nguyên vật liệu chính là các loại da ( da trắng , da đen , da vàng ) ; các loại giả
da ; đế cao su được nhập từ Hàn Quốc Ngoài ra, còn rất nhiều nguyên vật
liệu phụ và các chất phụ da khác như : Tấm trang trí, đệm đế, mút xố, keo, dung
dịch Một số phải nhập từ Hàn Quốc, còn lại công ty tìm các nguyên liệu trong
nước để tiết kiệm chi phí
Trong giai đoạn hiện nay, công ty cổ phần giầy Hải Dương chỉ sản xuất giầy
thể thao xuất khẩu
Trang 7Qua sơ đồ quy trình sản xuất giầy thể thao trải qua các công đoạn sau:
o Chặt: Nguyên liệu dược lấy từ kho của công ty, đó là các loại da, giả da,
xốp được đưa vào các máy chặt theo các cỡ dao khác nhau của từng
cỡ giầy thành những chi tiết nhỏ của một đôi giầy Có một số nguyên
liệu như các loại vải cần phải qua công đoạn bồi ( hay còn gọi là cán )
để gia công cho áp dính hai mặt vào nhau sau đố mới đem chặt
Trang 8o May: Các chi tiết nhỏ được chuyển sang xưởng thêu để thêu chi tiết tuỳ
theo từng mẫu giầy, sau đó chuyển sang xưởng may để may thành các
đôi mũ giầy Công đoạn này do các công nhân xưởng may thực hiện
bằng các máy khâu chuyên dùng cho việc may các loại giầy thể thao
o Gò: Đế giầy lấy từ kho được kết hợp với các đôi mũ giầy, tiếp đó dùng
các chất phụ gia chủ yếu là keo để gò thành các đôi giầy hoàn chỉnh
Sau cùng các đôi giầy được đóng thành từng hộp và nhập vào kho thành
phẩm Công đoạn đóng hộp sử dụng các nguyên liệu như giấy nhét, bìa
cát tông, băng dính
4 Các bộ phận sản xuất và mối quan hệ giữa chúng:
Xuất phát từ đặc diểm của quy trình công nghệ sản xuất giầy thể thao là quy
trình sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục Để tổ chức sản xuất hoàn toàn với
quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, công ty cổ phần giầy Hải Dương đã tổ
chức việc sản xuất ở các xưởng sản xuất, mỗi xưởng thực hiện một hoặc hai
công đoạn
Vậy toàn bộ quy trình sản xuất giầy thể thao được thực hiện ở ba xưởng sản xuất
như sau:
Trang 9g mayIII
Xưởn
g may
II
Bộ phận thêu
Xưởng
gò ráp
Dây chuyề
n
1
Dây chuyề
Trang 10o Bộ phận cán: Gồm 95 Người chia làm ba tổ, có nhiệm vụ cán một
số nguyên liệu cần phải được áp dính vào nhau trước khi đem chặt
o Bộ phận chặt: Gồm 120 người chia làm 3 tổ có nhiệm vụ nhận
nguyên liệu từ kho là các loại da, giả da và một số nguyên liệu đã cán do bộ phận cán chuyển sang
Xưởng may: Gồm 431 người chia làm 3 phân xưởng nhỏ
Phân Xưởng May I, Phân xưởng may II, Phân xưởng may III, và một số bộ phận
thêu Bộ phận thêu nhận các chi tiết từ xưởng chặt và thêu trang trí theo các mẫu
thêu khác nhau tuỳ từng mẫu giầy Sau đó chuyển sang xưởng may, phân xưởng
may nhận những nhiệm vụ chi tiết nhỏ của một đôi giầy do bộ phận thêu chuyển
sang cùng với các vật liệu phụ khác từ kho để may thành mũ giầy
Xưởng gò ráp: Gồm 150 người chia thành hai dây chuyền Mỗi dây
chuyền có 3 tổ Xưởng này có nhiệm vụ nhận đế và các chất phụ gia từ
kho chủ yếu là keo, nhận các đôi giầy từ xưởng may chuyển sang để gò
thành đôi giầy hoàn chỉnh
Để việc quản lý sản xuất ở từng phân xưởng được chặt chẽ, công ty bố trí
mỗi phân xưởng một quản đốc, một phó quản đốc, một kế toán và một thống kê
xưởng Các nhân viên xưởng này có nhiệm vụ theo dõi, giám sát và đôn đốc sản
xuất đảm bảo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như việc quản lý
chi phí, tránh tình trạng lãng phí các yếu tố sản xuất Một mặt tạo ra tính chủ
động sản xuất phân xưởng trong công ty và tăng tinh thần trách nhiệm trong
quản lý và việc sử dụng vốn ở các phân xưởng
5 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp
Hiện nay cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất của công ty cổ phần giầy
Hải Dương được bố trí rất khoa học Cùng với việc sắp xếp lại khối gián tiếp,
các phòng ban ngày càng có xu hướng tính đơn giản gọn nhẹ, đủ mạnh để làm
cho guồng máy sản xuất kinh doanh của công ty hoạt động một cách nhịp nhàng,
Trang 11đồng bộ Điều này tạo thuận lợi cho việc huy động vốn của công ty đạt được
hiệu quả cao
Do có sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển
theo xu hướng chung, nhất là trong điều kiện vừa chuyển từ mô hình xí nghiệp
lên mô hình công ty với nhiều phân xưởng trong tình hình đó, công ty cổ phần
giầy Hải Dương đã hết sức cố gắng và chấn chỉnh từng bước, hoàn thiện bộ máy
quản lý Qua nhiều năm, công ty đã dần dần tổ chức được bộ máy quản lý tương
đối gọn nhẹ và hiệu quả đã đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất, tăng
năng suất lao động, hiệu quả lao động Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức
còn đảm bảo phù hợp với đặc diểm tổ chức sản xuất Chính vì vậy mà công ty
ngày càng mở rộng quy mô sản xuất và đứng vững trên thị trường
Bộ máy quản lý của công ty cổ phần giầy Hải Dương có thể khái quát bằng
sơ đồ sau:
Trang 12
Qua bảng cơ cấu tổ chức bộ máy tổ chức của công ty cổ phần giầy Hải
Dương, ta nhận thấy rằng cơ cấu tổ chức của công ty được thực hiện theo mô
hình đa bộ phận với cơ cấu trực tuyến nghĩa là: các công việc hàng ngày để các
phân xưởng thuộc trách nhiệm của các cán bộ quản lý phân xưởng, nhưng các kế
hoạch và các chính sách dài hạn phải tuân thủ theo kế hoạch và hướng dẫn thực
hiện của công ty để phối hợp giữa các phân xưởng mục tiêu chung của công ty
Giám đốc của công ty quản lý theo chế độ một thủ trưởng Các phòng chức năng
có nhiệm vụ và trách nhiệm tham mưu cho toàn bộ hệ thống trực tuyến đề xuất,
đưa ra những quy định, quyết định khi được giám đốc thông qua và sẽ trở thành
mệnh lệnh được truyền đạt từ trên xuống dưới theo tuyến đã quy định
Mô hình cơ cấu tổ chức trên đã tạo điều kiện cho công ty thực hiện có hiệu
quả các dự án liên doanh với nước ngoài Công ty quản lý tập trung ở tổng công
ty, các phân xưởng thành viên có điều kiện nâng cao tinh thần trách nhiệm, phát
huy sáng tạo, thực hiện các kế hoạch, chình sách sản xuất kinh doanh thống nhất
toàn công ty
Chức năng nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý của Công ty cổ phần
Giầy Hải Dương:
• Giám đốc: là người đại diện cho công ty, chịu trách nhiệm trước nhà
nước pháp luật, uỷ ban nhân dân tỉnh về mọi hoạt động của công ty
Giám đốc có nhiệm vụ sau:
o Phụ trách chung về những công việc trọng tâm, chiến lược của
công ty
o Chỉ đạo công tác kinh doanh, Marketing, công tác tổ chức cán bộ,
công tác đối ngoại và đầu tư mở rộng sản xuất
• Phó giám đốc:
o Phó giám đốc tài chính chỉ đạo công tác kế toán, tài vụ, công tác
hành chính, công tác xây dựng cư bản, công tác bảo vệ và vệ sinh môi trường
Trang 13o Phó giám đốc kinh doanh chỉ đạo công tác sản xuất kinh doanh
của công ty
o Các phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc phân cho
những công việc cụ thể theo mảng chức năng của mình, chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về quyết định của mình
• Phòng kế hoạch – XNK:
Làm nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, xây dựng giá cả, chào hàng và gửi
hàng, thông tin trao đổi, thống nhất giá cả với kách hàng Khi nhận L/C của
khách hàng thì phòng kinh doanh - XNK theo đơn đặt hàng lặp kế hoạch sản
xuất, căn cứ vào đinh mức kinh tế kỹ thuật tính toán nhu cầu vật tư trong nước
và nước ngoài
Giao kế hoạch sản xuất và lịch giao hàng cho xưởng sản xuất căn cứ L/C mua
hàng của khách hàng làm thủ tục xuất hàng, xin C/O và lập chứng từ thanh toán
• Phòng kỹ thuật:
o Có nhiệm vụ nghiên cứu cơ cấu mặt hàng, thiết kế mẫu, chế tạo
sản phẩm chào hàng phù hợp từng nước, từng mùa
o Chế thử sản phẩm đã kí hợp đồng
o Lập quy trình công nghệ
o Xây dưng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất liệu sản phẩm, tổ chức hướng
dẫn kiểm tra quản lý chất lượng sản phẩm
o Lập kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị theo định kỳ
• Phòng tài vụ:
+ Thực hiện chế độ hoạch toán tổng hợp, tự chủ tài chính trong doanh
nghiệp, quản lý các loại vốn của công ty
+ Xây dựng kế hoạch tài chính, hoạch toán kế toán, phân tích hoạt động
kinh tế và các chức năng tài chính của công ty
+ Thực hiện nghiêm chỉnh pháp lệnh thống kê kế toán, chế độ báo cáo
tài chính hiện hành của doanh nghiệp nhà nước, thường xuyên kiểm tra
hoạt động tài chính của các đơn vị thành viên
Trang 14o Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy công ty và đơn vị trực thuộc,
đảm bảo mô hình sản xuất có hiệu quả
o Thực hiện nhiệm vụ chọn tuyển, bố trí sử dụng lao động đảm bảo
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, chăm lo điều kiện sản xuất, giải quyết các chính sách về lao động theo quy định của bộ luật lao động và của công đoàn
o Xây dựng kế hoạch lao động tiền lương và các tiêu chuẩn định
mức lao động phương án trả tiền lương theo điều kiện của công
ty
o Thực hiện công tác tổ chức các cán bộ theo quy định điều lệ của
công ty và phân cấp quản lý cán bộ của cấp trên
o Thực hiện công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật, công tác đào tạo
nâng cấp, nâng bậc cho cán bộ công nhân viên
• Phòng vật tư:
Có nhiệm vụ tiếp nhận kế hoạch vật tư của phòng kế hoạch - XNK và
giao dịch với khách hàng giúp lãnh đạo của công ty mua sắm vật tư
o Kiểm tra chất lượng vật tư về chất lượng, mầu sắc và cho phép
nhập kho hay không
o Tổ chức cấp phát vật tư cho sản xuất định mức
• Các đơn vị thành viên khác:
o Xưởng giầy thể thao cao cấp, xưởng giầy vải, xưởng đế giầy,
xưởng cơ khí điện có quy chế tổ chức hoạt động riêng do lãnh đạo công ty
o Duyệt, phù hợp với pháp luật và điều lệ của công ty
o Có nhiệm vụ quản lý sử dụng có hiệu quả tài sản, vốn thiết bị vật
tư lao động dược giao và chấp hành nghiêm chỉnh sự điều hành của giám đốc công ty, chịu trách nhiệm về an toàn lao động, thiết
bị cháy nổ trước giám đốc công ty và pháp luật
Trang 15o Có quyền tự chủ trong sản xuất, sử dụng lao động, sử dụng máy
móc, bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời phục vụ cho sản xuất Được chủ động tài chính kinh doanh, tổ chức nhân sự theo sự phân công của công ty
Trang 16- Giầy vải các loại
- Giầy thể thao các loại
• Giầy vải các loại chủ yếu là giầy bảo hộ lao động, giầy đá cầu, giầy múa
Balê, chất liệu để sản xuất loại giầy này là bằng vải, đế bằng cao su
mềm
• Các loại giầy thể thao của công ty thì có giầy người lớn: giầy Levi’s,
giầy Sport ; và các loại giầy trẻ em như : giầy BB, giầy Magic Giầy thể
thao chủ yếu là xuất khẩu
1.2 Về mặt bao gói:
Đối với từng đơn đặt hàng cụ thể công ty sẽ tiến hành đóng gói theo yêu cầu
của khách hàng Bao bì có thể do khách hàng cung cấp đối với sản phẩm xuất
khẩu hoặc do công ty tự chọn Thông thường bao gói gồm hai lớp : bên trong là
túi nilon, còn bên ngoài là thùng carton
1.3 Về nhãn mác:
Khi thực hiện chiến lược của mình công ty luôn gắn nhãn hiệu cho sản
phẩm Tuy nhiên tuỳ vào từng loại thị trường mà chủ của nhãn mác khác nhau
Đối với sản phẩm xuất khẩu thì công ty thường gắn nhãn hiệu của nhà trung
gian do công ty Freedom cung cấp
Đối với sản phẩm tiêu thụ nội địa như giầy Levi’s, Sprot, BB, Magic
1.4 Về mẫu mã kiểu dáng
Công ty có cả một trung tâm thiết kế mẫu luôn tìm kiếm mẫu mã đang được
ưa chuộng trên thị trường và cho ra đời nhiều kiểu dáng mới đẹp, phù hợp với
các loại đối tượng khách hàng giầy thời trang, giầy dành cho trẻ em
Trang 172 Các chỉ tiêu số lượng mặt hàng tiêu thụ
Bảng 2 : Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty
Tên sản phẩm Sản lượng tiêu thụ(đôi) So sánh
Năm 2002 Năm2003 Chênh lệch Tỷ lệ (%)
Qua bảng số liệu trên ta thấy số lượng giầy BB có chiều hướng giảm dần ,
trong khi đó thì giầy Sport có xu hướng tăng lên Cụ thể, số lượng giầy BB năm
2003 so với năm 2002 giảm 157.996 đôi còn số lượng giầy Sport tăng lên
200.000 đôi Giầy Magic và giầy Levi’s có lượng bán ra gần bằng nhau
Nhìn chung tổng số giầy bán ra qua các năm đều tăng lên, cụ thể là năm 2003
tổng số giầy bán ra tăng 30.603 đôi so với năm 2002
Trong năm 2003 lượng giầy BB, giầy Magic, giầy Levi’s đều giảm còn giầy
Sport tăng lên Điều đó, chứng tỏ công ty ngày càng được tín nhiệm, nhiều công
ty nước ngoài đến đặt hàng để xuất khẩu
Bên cạnh đó, công ty cũng cần phải có giải pháp hợp lý để nâng cao doanh
thu của các sản phẩm khác bằng cách cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm tốt,
giá cả phải chăng nhằm mục đích lôi kéo ngời tiêu dùng trong nước
3 Đặc điểm về thị trường của công ty cổ phần giầy Hải Dương
- Thị trường trong nước: Công ty cổ phần giầy Hải Dương là một doanh
nghiệp có một quá trình kinh doanh lâu dài, vì thế mà công ty có một hệ
thống mạng lưới tiêu thụ rộng rãi Mặt khác, công ty đã có được uy tín về
chất lượng sản phẩm vững mạnh tạo tiền đề cho việc cạnh tranh mở rộng
Trang 18- Thị trường nước ngoài: Sản phẩm của công ty đã xuất khẩu sang một số
nước như : Italia, Pháp, Đức, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, Bỉ, Áo, Hy lạp,
Hunggary Nhưng sản phẩm của công ty phần nào chưa đáp ứng về chất
lượng, mẫu mã, giá thành sản phẩm và giá bán còn cao, không cạnh tranh
được với sản phẩm của các nước tư bản Phương hướng của công ty trong
3 năm tới là tích cực đầu tư chiều sâu cho máy móc thiết bị, chuyên môn
hoá sản xuất, nhập công nghệ sản xuất tiên tiến để nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, để trong một tương lai gần sản phẩm của công
ty sẽ có chỗ đứng trên thị trường khu vực và thế giới
Bảng 3 : Kết quả tiêu thụ của công ty với thị trường nước ngoài
Số lượng(đôi)
Trang 19Nhìn chung trong giai đoạn 2001-2002 sản phẩm của công ty chủ yếu xuất
khẩu sang các nước thuộc Châu Âu Đây là các thị trường truyền thống của
công ty từ năm 1991 đến nay Số liệu cụ thể, năm 2001 xuất khẩu được
1.150.501 đôi giầy thể thao, năm 2002 xuất khẩu được 1.278.139 đôi và năm
2003 xuất khẩu được 987.409 đôi
Ngoài ra, công ty còn đang áp dụng phương pháp định giá từ chi phí :
Giá bán = Giá thành +Thuế + Lợi nhuận mong đợi
Phương pháp này có ưu điểm là nằm trong tầm kiểm soát của công ty
Bảng 4: Mức giá hiện tại của một số mặt hàng chủ yếu
STT Tên sản phẩm Giá bán 1 đôi giầy(đ)
* Nhận xét: Qua mức giá hiện tại của một số sản phẩm chủ yếu thì ta thấy giá cả
còn quá cao, không cạnh tranh được với các đối thủ trong nước như: công ty
giầy Hà Nội; giầy Thượng Đình và các nước tư bản
Chính vì thế mà công ty cổ phần giầy Hải Dương vạch ra những chiến lược là
“ chiết khấu theo số lượng ” Đối với khách hàng quen thuộc hoặc khách hàng
Trang 20có số lượng lớn công ty sẽ giảm giá Chế độ triết khấu cho những khách hàng
thanh toán nhanh và những khách hàng lâu năm
Nhìn chung chiến lược giá của công ty là khá linh hoạt, cùng với chiến lược
điều chỉnh giá theo số lượng đã khuyến khích khách hàng mua khối lượng lớn,
do đó doanh số bán không ngừng tăng
5 Hệ thống phân phối
a) Đối với thị trường xuất khẩu:
Việc xuất khẩu chủ yếu bằng phương thức trực tiếp Bằng nghiệp vụ của mình
công ty trực tiếp xuất hàng cho nhà nhập khẩu nước ngoài Sau đó nhà nhập
khẩu tuỳ ý phân phối sản phẩm đã mua, có thể qua các tổ chức thương mại hoặc
bán trực tiếp cho người tiêu dùng
b) Đối với thị trường nội địa:
Hiện tại công ty đang áp dụng kênh phân phối sau:
(1)
(2)
(3)
(1) Kênh trực tiếp: Ở kênh này, người sản xuất trực tiếp đưa hàng
tới người tiêu dùng Nó có ưu điểm là tạo sự gắn bó giữa người sản xuất và người tiêu dùng, có thông tin chính xác về thị trường, không phải chia sẻ lợi nhuận với khâu trung gian nhưng lại phức tạp do doanh nghiệp phải tự làm ngoài sản xuất, không chuyên môn hoá, nhiều khi không có sự năng động như các thành phần trung gian vốn tiếp xúc trực tiếp với thị trường
Người bán buôn
Người bán lẻ
Trang 21(2) Kênh gián tiếp dài: kênh này, đại lý tiếp nhận khối lượng sản
phẩm khá lớn từ công ty đồng thời trực tiếp bán hàng và thực hiện các dich vụ kèm theo Các đại lý độc lập với công ty nên công ty không có quyền lựa chọn hay kiểm soát Điều này đã làm hạn chế đến khả năng tiêu thụ của công ty Tuy nhiên vị trí của đại lý luôn thuận lợi, tập trung nơi dân cư đông đúc
(3) Kênh gián tiếp dài: kênh này là phổ biến nhất trong các kênh
phân phối hàng hoá Ưu điểm của nó là chức chặt chẽ, mua bán theo từng khâu nên quay vòng vốn nhanh hơn, có tính chuyên môn hoá, có nhiều khả năng mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ Nhưng việc quản lý và điều hành kênh này trở nên khó khăn hơn Những nhà sản xuất quy mô lớn thường sử dụng kênh này
Ngoài các kênh trên còn tồn tại mộ số kênh không chính thức tham gia vào
quá trình tiêu thụ sản phẩm
6 Hình thức xúc tiến bán hàng:
Đây là một chính sách rất quan trọng đối với tiêu thụ sản phẩm trong nền
kinh tế thị trường Trong kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, công ty phải có kế hoạch
xúc tiến bán hàng tương xứng
Xúc tiến bán hàng là tập hợp các biện pháp của người bán, thường mang
tính tức thời, nhằm làm tăng lượng bán ngay lập tức nhờ các lợi ích vật chất
được bổ sung cho người mua Xúc tiến bán hàng nhằm vào cả người trung gian
phân phối và người tiêu dùng cuối cùng
Trang 22• Một số hình thức mà công ty dùng trong xúc tiến bán hàng :
- Hội nghị khách hàng: Tập trung các khách hàng lớn, các bạn hàng quan
trọng và làm cho nêu ra được các ưu nhược điểm, các vướng mắc trong
mua bán, đồng thời công ty sẽ đưa ra các hướng giải quyết, các dự án và
chính sách của mình
- Hội thảo : Tập trung các nhà khoa học, bạn hàng lớn để tăng cường, lôi
kéo khách hàng đến với sản phẩm của công ty
- Tặng quà: Là những sản phẩm mà công ty đang và sẽ bán, hoặc ít nhất
phải có hình ảnh của công ty Tuỳ điều kiện mà xác định số lượng, đối
tượng và thời điểm tặng quà
- Tham gia các hội chợ hàng tiêu dùng, triển lãm hàng chất lượng cao và
một số hội chợ ở nước ngoài như: Hồng Kông, Nhật, Trung Quốc
- Để giới thiệu chi tiết về sản phẩm như kích cỡ, màu sắc, giá cả cho
kách hàng công ty đã sử dụng Catalogue
- Hoạt động quảng cáo : Công ty đã ý thức được tầm quan trọng của công
tác này nhưng do ngân sách không đủ lớn nên chưa được tiến hành nhiều
và thường xuyên Trong thời gian qua công ty đã tiến hành quảng cáo trên
một số tạp chí chuyên ngành, quảng cáo bằng tấm lớn ở trước cổng công
ty, trước các tổng đại lý lớn
- Ngoài ra còn nhiều hình thức khác như : In ấn và phát hành tài liệu về sản
phẩm, bán thử, vé sổ số tiền thưởng, giá chiết khấu Xúc tiến bán hàng
phải tiến hành có trình tự từ thăm dò, điều tra đến tiếp cận và trình bầy
giới thiệu và xử lý các phản hồi và kiểm tra giám sát
7 Đối thủ cạnh tranh :
Trang 23- Đối với các đối thủ cạnh tranh trong tỉnh : Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hải
Dương có một số công ty TNHH, Hợp tác xã sản xuất mặt hàng giầy thể
thao và giầy ba ta Tuy nhiên, vơí dây chuyền sản xuất thủ công dựa vào
tay nghề của người thợ là chủ yếu - cho nên năng suất không được cao và
mẫu mã không đa dạng, cộng với chất lượng thấp chưa thật sự đáp ứng
được nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng Mặc dù vậy với giá thành
phải chăng, các mặt hàng của những đơn vị này cũng chiếm được nhu cầu
của những gia đình có thu nhập vừa phải
- Đối với các đối thủ cạnh tranh vùng lân cận : Do vị trí địa lý của công ty
nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm miền Bắc : Hà Nội – Hải Phòng –
Quảng Ninh ; cộng với một khu vực đồng bằng Sông Hồng phát triển
mạnh mẽ thì Công ty cổ phần Giầy Hải Dương đã gặp không ít những khó
khăn do có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng mặt hàng sản xuất Mà đặc biệt
ở đây là các công ty như Giầy Hà Nội, Giầy Thuỵ Khuê, Giầy Thượng
Đình đây là những công ty có dây chuyền sản suất tương đối hiện đại
Tuy nhiên bằng sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của cán bộ công nhân
viên, công ty cổ phần Giầy Hải Dương đã có những hướng đi vững chắc
để củng cố về mẫu mã và chất lượng nhằm bình ổn được giá cả, chiếm
lĩnh được thị trường Chính vì vậy mà đời sống lao động của công nhân
cũng được cải thiện và công ty cũng có một chỗ đứng vững chắc trên thị
trường nội địa
- Đối với đối thủ cạnh tranh quốc tế : Trong những năm gần đây, khách
hàng quen thuộc của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương là các thị trường
khó tính như : Đức, Bỉ, Ba Lan, Italia, Aó, Pháp, Hunggari tuy nhiên
do dây chuyền sản xuất của công ty vẫn còn lạc hậu cho nên vẫn còn hạn
chế về mẫu mã và chất lượng, chưa thực sự đủ sức cạnh tranh với các
thương hiệu nổi tiếng của các nước bản địa Vì thế những bản hợp đồng
xuất khẩu trên vẫn mang tính tìm hiểu để dần dần mở rộng thị trường
Trang 24trong những năm tới Đó cũng là phương hướng và nhiệm vụ của công ty
trong thời điểm hiện nay
8 Nhận xét về tình hình tiêu thụ và công tác Marketing của công ty cổ
phần giầy Hải Dương
Qua phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh tiêu thụ trong thời
gian gần đây ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty tương đối tốt
Chứng tỏ chiến lược kinh doanh của công ty là phù hợp với biến động của thị
trường, quyết định chuyển đổi mặt hàng của công ty kinh doanh của công ty là
hoàn toàn đúng đắn Chiến lược kinh doanh của công ty là hướng về xuất khẩu,
hoạt động xuất khẩu là hoạt động không thể thiếu được trong quá trình kinh
doanh của công ty Trong những năm gần đây, hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch của
công ty đều hoàn thành, sở dĩ đạt được kết quả như vậy là do tập thể cán bộ
công nhân viên trong công ty đã đoàn kết nhất trí và không ngừng phát huy
những tiền đề mà công ty đã tạo dựng, biết phát huy những yếu tố thuận lợi và
thực hiện hàng loạt các biện pháp quản lý một cách đồng bộ, đúng đắn
Bên cạnh thành tích đạt được, trong những năm gần đây hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty còn nhiều hạn chế như sau:
- Kế hoạch sản xuất còn mang tính thời vụ, thụ động
- Thị trường xuất khẩu còn hạn chế
- Thi trường nội địa đã được công ty quan tâm nhưng chưa thật đúng mức
- Công ty chưa có phòng Marketing riêng, nên công tác thị trường nắm bắt
thông tin chậm, độ chính xác không cao Công tác nghiên cứu tiêu thụ, hỗ
trợ tiêu thụ chưa được tốt, điều này có ảnh hưởng đến hiệu quả của công
ty
II TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG
Do đặc thù của công ty là một doanh ngiệp sản xuất công nghệ với quy mô
lớn nên công ty có một lượng lao động khá lớn Trong những năm gần đây công
ty đã từng bước giảm biên chế định biên lại lao động để nâng cao hiệu quả sản
Trang 25xuất kinh doanh, đồng thời công ty không ngừng đẩy mạnh công tác bồi dưỡng
lao động, nâng cao tay nghề và tuyển dụng nhân sự có trình độ cao
1 Cơ cấu lao động của công ty năm 2003
Bảng 5: Phân loại lao động
Trang 26- Mặt mạnh: công ty cần nhiều lao động nên phần nào đã góp phần tạo công
ăn việc làm cho rất nhiều người, đồng thời làm giảm bớt nạn thất nghiệp
đang là vấn đề cần phải được giải quyết ở nước ta hiện nay
- Mặt yếu: Do là một cơ sở sản xuất nên chỉ có cấp lãnh đạo mới có trình
độ cao còn công nhân đa số ở nông thôn nên trình độ phần lớn chỉ tốt
nghiệp phổ thông trung học trở xuống Vì vậy, trình độ của các thành viên
trong công ty không đồng đều
2. Tình hình sử dụng thời gian lao động
Lập kế hoạch sử dụng thời gian lao động của công nhân
Kế hoạch sử dụng thời gian lao động của công nhân tính toán đưa ra số ngày
làm việc bình quân của một công nhân sản xuất trong năm kế hoạch Nó là căn
cứ để xác định số lao động và quỹ tiền lương năm kế hoạch
Kế hoạch này được lập ra trong bảng cân đối thời gian lao động của 1 công
nhân Thực chất của việc lập bảng này là xác định tổng số ngày vắng mặt bình
quân của 1 công nhân theo các lý do nghỉ phép năm, nghỉ ốm, nghỉ chế độ nữ,
nghỉ họp, công tác vì những ngày còn lại đã có chế độ nhà nước quy định
Số ngày nghỉ phép năm được tính bình quân gia quyền theo số công nhân và
số ngày phép giống nhau cho số ngày phép giống nhau cho các nhóm khác nhau
Công ty có 1.600 công nhân trong đó có 1.550 người được nghỉ phép 12 ngày,
30 người được nghỉ 15 ngày, 10 người nghỉ 18 ngày và 10 người được nghỉ 20
ngày Số ngày nghỉ phép bình quân của công nhân công ty bằng
Trang 27Số ngày nghỉ phép bình quân của năm 2002 theo kế hoạch là 12.5 ngày
Bảng 6 : Kế hoạch sử dụng thời gian lao động năm 2003
1 Tổng số ngày theo dương lịch 365 365
7 Tổng số giờ rút bớt (giờ/ ca) 0,23 0,25
8 Độ dài ngày làm việc bình quân
giờ
Số ngày nghỉ ốm năm 2002 ước thực hiện là 8 ngày Năm 2003 số ngày nghỉ
ốm dựa vào số ngày nghỉ ốm năm trước kết hợp với việc thiết kế các biện pháp
cải thiện trật tự vệ sinh nhà xưởng, điều kiện làm việc như lắp thêm quạt thông
gió, cải thiện điều kiện chiếu sáng, lắp cửa kính che gió mùa đông, trang bị thêm
Trang 28ủng và sửa chữa lại nền gian xưởng, nhờ đó mà giảm 20% số ngày nghỉ ốm năm
trước, dự kiến giảm 1,5 ngày so với năm 2002
Số ngày nghỉ chế độ phụ nữ được lập kế hoạch dự trên kế hoạch nghỉ sinh
cháu của chị em đăng ký và chế độ nhà nước quy định
Số ngày nghỉ hội họp đối với công nhân sản xuất thương rất ít Họ chỉ được
nghỉ phép để đại hội công nhân viên chức Ngoài ra có thể được nghỉ tập tự vệ
hay khám nghĩa vụ quân sự
2.2 Thời gian làm việc của công ty
Bảng 7 : Thực hiện thời gian làm việc năm 2003
Thời gian tháng làm việc 21 ngày do nghỉ chờ việc
3 Tuyển dụng và đào tạo
Một thời gian dài công ty luôn ở trong tình trạng thừa lao động từ cuối năm
1989 đến năm 2001 công ty không mở lớp đào tạo công nhân nào Để chuẩn bị
cho năm 2003 lớp công nhân đến tuổi sẽ về hưu 1 số lượng lớn, nên năm 2002
công ty đã mở lớp đào tạo tại chỗ 100 học sinh là con em công nhân viên của
công ty Do vậy, đến năm 2003 số công nhân về hưu và về chế độ dôi dư theo
nghị định 41 của Chính phủ là 500 lao động, số học sinh có thể thay thế vào sản
xuất được
Về cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ: Do mức lương thấp, vị trí xa sôi nên rất khó
khăn trong việc tuyển cán bộ chuyên ngành Do vậy hàng năm cử công nhân đi
học tại chức, năm 2003 công ty đã mở lớp đào tạo 30 sinh viên cao đẳng