CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm về du lịch quốc tế và du khách quốc tế 1.1.1 Du lịch quốc tế Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà tr
Trang 1Mục lục
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH
1.1 Khái niệm về du lịch quốc tế và du khách quốc tế 1
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của du lịch 1
1.3 Tác động của du lịch vào nền kinh tế quốc dân 3
1.4 Sơ lược về một vài tổ chức du lịch lớn trên thế giới 5
1.4.1 Tổ chức du lịch thế giới 5
1.4.2 Hiệp hội du lịch châu Á – Thái Bình Dương 6
1.5 Thực trạng ngành du lịch quốc tế trên thế giới 7
1.5.1 Tình hình khách du lịch quốc tế trên toàn cầu từ năm 1960 –1998 7
1.5.2 Doanh thu của hoạt động du lịch quốc tế trên toàn thế giới 8
1.5.3 Dự báo tình hình khách du lịch quốc tế giai đoạn 1995 – 2020 9
1.5.4 Những xu hướng thay đổi chủ yếu của thị trường du lịch trong thiên niên kỷ mới .12
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH DU LỊCH QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 2.1 Vị trí của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 17
2.2 Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch ở Việt Nam 19
- 1 -
Trang 22.2.1 Điều kiện tự nhiên 19
2.2.2 Tài nguyên du lịch 21
2.3 Đánh giá thực trạng ngành du lịch ở Việt Nam 24
2.3.1 Thực trạng phát triển ngành du lịch Việt Nam 24
2.3.1.1
Tình hình du khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1990 – 1999 24
2.3.1.2 Doanh thu từ du lịch quốc tế 28
2.3.2 Điểm mạnh và điểm yếu của du lịch Việt Nam 28
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ VÀO VIỆT NAM 3.1 Tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho du khách trong suốt chuyến đi 36 3.1.1 Thiết lập đội ngũ cảnh sát du lịch 36
3.1.2 Aùp dụng thống nhất chế độ một giá cho vé vào cửa tham quan, các phương tiện vận chuyển, khách sạn 37
3.1.3 Visa cho du khách 37
3.1.4 Mở rộng và phát triển các loại hình chuyên chở 39
3.2 Phát triển cơ sở hạ tầng cho ngành du lịch 41
3.2.1 Đối với cơ sở vật chất kỹ thuật 41
3.2.1.1.Phát triển cơ sở hạ tầng cho ngành du lịch 41
3.2.1.2.Khai thác có hiệu quả và bảo tồn tốt các điểm du lịch hiện có 42
3.2.1.3.Mở rộng các khu giải trí cho du khách 43
3.2.1.4.Thiết lập công viên quốc gia với nhiều loài thú tự nhiên 44
3.2.1.5.Mở rộng các hình thức cư trú cho du khách với giá cả hợp lý 44
3.2.1.6.Thu hút thêm vốn nước ngoài để xây dựng các cơ sở du lịch 45
- 2 -
Trang 33.2.2 Đối với sản phẩm du lịch 46
3.2.2.1.Tìm tòi, khai thác, chăm sóc cho các hoạt động văn hoá dân tộc 46
3.2.2.2.Đa dạng hoá sản phẩm du lịch 46
3.2.2.3.Đào tạo nhân lực cho ngành du lịch, tăng cường khả năng chuyên môn cho các nhân viên du lịch 48
3.2.2.4.Tổ chức các cuộc thi đấu thể thao quốc tế lớn 50
3.3 Mở rộng các hoạt động tuyên truyền quảng bá cho du lịch Việt Nam 52
3.3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá cho ngành du lịch Việt Nam, đặc biệt là tạo lập và đẩy mạnh các chương trình quảng cáo 52
3.3.2 Thu hút các nhà thiết kế tour trọn gói 54
3.3.3 Cần tăng cường hơn nữa các hoạt động khuyến mãi .55
3.3.4 Lập văn phòng của tổng cục du lịch tại các nước 56
Kết luận
- 3 -
Trang 4CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA DU LỊCH QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm về du lịch quốc tế và du khách quốc tế
1.1.1 Du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà trong quá trình thực hiện nó có sự
giao tiếp với người nước ngoài, một trong hai phía (du khách hay nhà cung ứng du lịch) phải sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp, về mặt không gian địa lý : du khách đi
ra ngoài đất nước của họ, về mặt kinh tế : có sự giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ Như vậy, du lịch quốc tế cần phải chia thành hai loại nhỏ
Du lịch đón khách (inbound tourism) là loại hình du lịch quốc tế phục vụ, đón
tiếp khách nước ngoài đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch trong đất nước của cơ quan cung ứng du lịch
Du lịch gửi khách (outbound tourism) là loại hình du lịch quốc tế phục vụ và tổ chức đưa khách từ trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch ở nước ngoài
Trong phần trình bày của luận văn này tôi xin dùng cụm từ “du lịch quốc tế” nhưng chỉ đề cập đến du lịch đón khách mà thôi, tức là những hoạt động du lịch
phục vụ cho khách nước ngoài vào Việt Nam
1.1.2 Du khách quốc tế
Du khách quốc tế là những người đi du lịch đến một nước không phải là nơi định cư của mình Thời gian viếng thăm dưới 24 giờ cũng được chấp nhận đối với
du khách quá cảnh (transist tourist)
- 4 -
Trang 51.2 Quá trình hình thành và phát triển của du lịch thế giới
Lịch sử du lịch có nhiều bước thăng trầm, cả sự thành công và thất bại Nhìn chung tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghiệp đều có ảnh hưởng tích cực đến du lịch Chiến tranh, thiên tai, đói kém … là những lý do cơ bản kiềm hãm sự phát triển của du lịch …
Ngay từ thời kỳ cổ đại, du lịch sơ khai đã được hình thành thông qua việc những nhà buôn, các quý tộc, chủ nô sử dụng thời gian rảnh rỗi của mình để đi tham quan, giải trí ở những miền đất lạ đối với họ Ngoài các loại hình du lịch chủ yếu như công vụ, buôn bán, giải trí kể trên, du lịch thể thao cũng đã xuất hiện mà tiêu biểu là ở Hy Lạp cổ đại với sự ra đời của thế vận hội Olympic tổ chức 4 năm một lần từ năm 776 trước Công nguyên chữa bệnh bằng nước khoáng thiên nhiên đã xuất hiện và phổ biến ở nhiều nơi như ở Trung Quốc, Aán Độ, La Mã…
Các chuyến đi với mục đích tôn giáo như truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện lễ nghi tôn giáo của các tín đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo… cũng là một xu hướng lớn trong thời kỳ này
Sang đến thời kỳ trung đại, sự suy sụp của nhà nước La Mã đã làm cho du lịch cũng bị ảnh hưởng sâu sắc Nhiều kiệt tác kiến trúc, nghệ thuật, xã hội và văn học bị vứt bỏ huỷ hoại Cho đến tận thế kỷ thứ 10, du lịch không còn an toàn, tiện nghi và thoải mái như trước đó Chiến tranh liên miên, nhà cầm quyền thay đổi, biên giới biến động… làm cho việc đi lại trở nên khó khăn Du lịch cao cấp đã không thể tồn tại trong giai đoạn này Du lịch tôn giáo là loại hình chủ yếu trong giai đoạn này Những cuộc thập tự chinh tôn giáo, hành hương về thánh địa, nhà thờ diễn ra một các rầm rộ Các quán trọ hai bên đường mọc lên để phục vụ mọi người không phải vì mục đích kinh tế mà đa phần chỉ như dấu hiệu về sự đóng góp của các con chiên cho sự sáng danh Đức Chúa Trời Các dịch vụ du lịch khác nhau ra
- 5 -
Trang 6đời Nơi bán đồ ăn, thức uống, nơi bán đồ lưu niệm, các đồ tế lễ Xuất hiện những người chuyên hướng dẫn cho các khách đi lại, cách hành lễ… Một trong những chuyến viễn du dài ngày đầu tiên của loài người xuất hiện trong giai đoạn này là những cuộc hành trình của Christopher Columbus
Vào thời kỳ cận đại du lịch đã bước sang một trang mới Các chuyến tàu thủy chở khách và hàng hoá định kỳ đầu tiên được hình thành để phục vụ việc đi lại giữa Manchester và London Bridge vào năm 1772 Vào năm 1784, James Watt đã chế tạo ra động cơ hơi nước liên tục đầu tiên Phát minh này đã châm ngòi nổ cho cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, mở ra một chân trời mới cho ngành vận chuyển Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển du lịch trong lịch sử loài người Việc phát minh ra loại xe chạy trên đường ray ở Đức vào thế kỷ 17 là một cuộc cách mạng lớn trong vận chuyển Năm 1830, tuyến tàu hoả chở khách đầu tiên của Anh được khánh thành nối giữa Liverpool và Manchester Năm 1885, một kỹ sư người Đức là Benz đã sáng chế ra chiếc xe hơi đầu tiên Do tính tiện ích của nó, trong vòng 5 năm sau công nghiệp xe hơi đã góp phần đáng kể cho việc thu hút và vận chuyển du khách đi du lịch
Trong giai đoạn đã có một người đầu tiên thực sự tổ chức, kinh doanh du lịch là Thomas Cook Ông được suy tôn là ông tổ của ngành lữ hành Ông đã tổ chức một chuyến du lịch đầu tiên cho 570 người đi từ Leicester đến Loughborough vào tháng sáu năm 1841 Vào năm 1842, ông đã sáng lập ra hãng lữ hành đầu tiên trên thế giới để tiến hành kinh doanh tổ chức các chuyến đi Cho đến năm 1890, những chuyến lữ hành của Cook đã chiếm lĩnh cả thế giới với gần 1000 khách sạn đặc biệt trong danh mục Khát vọng muốn biến du lịch trở nên phổ biến với quảng đại quần chúng của Thomas Cook đã báo trước sự bùng nổ du lịch xuất hiện vào 100 năm sau
- 6 -
Trang 7Mặc dù khó có thể chỉ ra chính xác thời điểm mà du lịch và lữ hành trở nên thông dụng nhưng có thể chắc chắn rằng phát minh ra đường sắt, những tàu trọng tải lớn và những chuyến du lịch của Thomas Cook đã thực sự mang đến cho hàng triệu người trung lưu cơ hội du ngoạn cùng với cộng đồng của họ Cái thế giới trước kia chỉ mở ra cho người giàu thì giờ đây đã mở ra cho những người trung lưu và những người lao động
1.3 Tác động của du lịch vào nền kinh tế quốc dân
Du lịch có ảnh hưởng rõ nét lên nền kinh tế của địa phương thông qua việc tiêu dùng của du khách Như vậy, để hiểu rõ vai trò của du lịch trong quá trình tái sản xuất xã hội trước hết ta cần nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của việc tiêu dùng du lịch
Nhu cầu tiêu dùng trong du lịch là những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt : nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, tham quan, thư giãn, nghỉ ngơi…
Du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá vật chất cụ thể, hữu thể và các hàng hoá phi vật chất Khi đi du lịch du khách cần được ăn uống, cung cấp các phương tiện vận chuyển, lưu trú… Ngoài ra nhu cầu mở rộng kiến thức, quá trình cung ứng các sản phẩm và thái độ của người phục vụ rất được du khách quan tâm Đó là các nhu cầu về dịch vụ
Thông thường, các hoạt động du lịch có liên quan đến hoạt động ngoài trời, tức là phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết Do đó việc tiêu dùng cũng mang tính thời vụ khá rõ nét Điều này không chỉ đúng với việc đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên mà còn đối với cả tài nguyên du lịch nhân văn
- 7 -
Trang 8Một đặc điểm quan trọng và khác biệt giữa việc tiêu dùng du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng Do đó để thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm, người mua hàng được đưa đến nơi sản xuất và tiêu dùng tại chỗ Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính độc quyền và không thể so sánh giá của sản phẩm du lịch này với giá của sản phẩm du lịch kia một cách tùy tiện được
Aûnh hưởng kinh tế của du lịch được thể hiện thông qua tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch Quá trình này tác động lên lĩnh vực phân phối, lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến những lĩnh vực phân phối, lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác nhau của quá trình tái sản xuất xã hội
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán cân thu chi của khu vực và của đất nước Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nước đến Ngược lại phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch nước ngoài Trường hợp đầu cán cân thu chi sẽ nghiêng về nước đón khách, trường hợp thứ hai nhà nước phải xuất một lượng ngoại tệ lớn để gởi khách đi du lịch nước ngoài Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo động hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hoá Các cân thu chi được thực hiện giữa các vùng có trình độ kinh tế khác nhau, tuy không làm biến đổi cán cân kinh tế của đất nước, song có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế các vùng sâu, vùng xa
Khi khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch, du khách từ mọi nơi sẽ đổ về làm cho nhu cầu về mọi loại hàng hoá tăng lên đáng kể Việc đòi hỏi một số lượng lớn vật tư, hàng hoá các loại đã kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan,
- 8 -
Trang 9đặc biệt là nông nghiệp, công nghiệp chế biến…Bên cạnh đó, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp và hấp dẫn Điều này có nghĩa là yêu cầu hàng hoá phải được sản xuất trên một công nghệ cao, trình độ tiên tiến Các chủ xí nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết
bị hiện đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao để sản xuất các mặt hàng đáp ứng nhu cầu du khách
Du lịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ được nhiều mặt hàng không phải qua nhiều khâu nên tiết kiệm được lao động, chênh lệch giá giữa người bán và người mua không quá cao nên điều này kích thích được sản xuất và tiêu dùng Do là xuất khẩu tại chỗ nên có thể xuất khẩu được những mặt hàng dễ hư hỏng mà ít bị rủi ro như hoa quả, rau tươi… Nhiều mặt hàng do du lịch tiêu thụ tại chỗ nên không cần đóng gói bảo quản
Qua phân tích trên đây chúng ta thấy du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế của các quốc gia Nhiều nước trên thế giới coi du lịch là cứu cánh để mong muốn vực dậy nền kinh tế của mình
Tuy nhiên, về mặt kinh tế, du lịch cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực Rõ ràng nhất là tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hoá tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng chi tiêu của người dân địa phương, nhất là của những người mà thu nhập của họ không liên quan đến du lịch
1.4 Sơ lược về một vài tổ chức du lịch lớn trên thế giới
1.4.1 Tổ chức du lịch thế giới (WTO – World Tourism Organization)
Tổ chức du lịch thế giới WTO là một tổ chức liên chính phủ của chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc WTO được thành lập ngày 2 tháng 1 năm 1975 trên cơ sở tổ chức tiền thân của nó là Liên Minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức : International Union of Official Travel Organization IUOTO Tháng 5 năm 1975 tổ
- 9 -
Trang 10chức này bắt đầu đi vào hoạt động Tuy nhiên tại kỳ họp đầu tiên của WTO, để đánh dấu sự kiện quan trọng năm 1970, đã quyết định lấy ngày 27 tháng 9 hàng năm làm ngày du lịch thế giới
Mục tiêu chủ yếu của WTO là đẩy mạnh phát triển du lịch góp phần phát triển kinh tế, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia vì hoà bình, thịnh vượng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo
Đại hội đồng là cơ quan tối cao của WTO họp hai năm một lần gồm những đại biểu là thành viên chính thức Giúp việc cho Đại hội đồng là các ban chuyên môn như Ban Thư ký, Hội đồng chấp hành, Uûy ban giải quyết các trở ngại đối với du lịch, Uûy ban khảo sát nghiên cứu, Uûy ban cơ sở vật chất du lịch, Uûy ban vận chuyển và 6 Uûy ban khu vực
Tổ chức du lịch thế giới có 3 loại thành viên : thành viên chính thức, thành viên liên kết và thành viên chi nhánh Đến nay hội viên của tổ chức này gồm 131 quốc gia, 4 thành viên liên kết và 139 thành viên chi nhánh đại diện cho ngành du lịch toàn thế giới Đây là tổ chức liên chính phủ lớn nhất về du lịch với mục đích điều phối mọi hoạt động có liên quan đến phát triển du lịch như kích thích hợp tác nghiên cứu, kinh doanh giữa các tổ chức và các quốc gia Tổ chức du lịch Thế giới thường quyên tổ chức các hội nghị, hội thảo về du lịch, tổng kết và thống kê các hoạt động du lịch thế giới, khuyến cáo các chính phủ và các tổ chức quốc tế có những chính sách phù hợp để phát triển du lịch…
Trụ sở chính của WTO đặt tại thủ đô Mandrit, Tây Ba Nha
Từ khi ra đời, Tổ chức du lịch thế giới đã có 12 kỳ họp của Đại hội đồng Hội đồng du lịch thế giới là Liên minh của 65 quan chức đứng đầu thế giới trong các lĩnh vực của khu vực Mục đích của nó là chứng minh cho các chính phủ thấy rõ sự
- 10 -
Trang 11đóng góp to lớn của du lịch đối với nền kinh tế quốc gia và thế giới, đẩy mạnh và mở rộng thị trường du lịch phù hợp với môi trường, đấu tranh loại bỏ những trở ngại kìm hãm ngành du lịch phát triển
Ngày 17 tháng 9 năm 1981, tại Hội nghị Đại hội đồng của Tổ cnhức du lịch thế giới lần thứ 4 tại Italia, Việt Nam đã được kết nạp là thành viên chính thức của tổ chức này
1.4.2 Hiệp hội du lịch châu Á – Thái Bình Dương (PATA – Pacific Asia Travel
Association) :
PATA là một trong những hiệp hội du lịch có uy tín trên thế giới Các thông tin về du lịch do tổ chức này cung cấp khá chính xác về mặt nội dung và có tính thời sự cao Được thành lập năm 1951 tại Hawai với tên gọi là Hiệp hội lữ hành khu vực Thái Bình Dương, tổ chức này có mục đích thúc đẩy sự phát triển hợp tác trong lĩnh vực du lịch giữa các nước, các cơ quan du lịch của các nước trong khu vực Hiện nay PATA có 17.000 thành viên bao gồm các chính quyền, các công ty hàng không, hàng hải, các khách sạn, các công ty du lịch Các công ty này nằm trong 79 Chi hội
ở 49 quốc gia Chi hội PATA Việt Nam, một thành viên của PATA được thành lập ngày 4/1/1994 Ngày nay Việt Nam đã có hơn 90 hội viên bao gồm các hãng lữ hành, khách sạn, hàng không và các cơ quan nhà nước về du lịch
Hàng năm PATA tổ chức hội nghị thường niên lần lượt tại các nước thành viên nhằm trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ hợp tác về du lịch giữa các nước trong khu vực
Cơ quan quyền lực cao nhất của PATA là Hội nghị thường niên, Uûy ban điều hành, Uûy ban thường trực và Ban Thư Ký Ban Thư ký của PATA đặt tại San Francisco Caliphornia, Hoa Kỳ Với mục đích nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các thành viên với nhau và giữa PATA với các tổ chức khác PATA còn có các văn phòng ở Singapore, Sydney, San Francisco
- 11 -
Trang 12Hội nghị thường niên của PATA xem xét các hoạt động của hội trong năm, có thẩm quyền sửa đổi điều lệ, Nguyên tắc hoạt động và Bộ máy tổ chức, thông qua các vấn đề ngân sách, xác định địa điểm của kỳ họp kế tiếp và thông qua dự thảo nghị quyết của hội nghị
PATA còn tổ chức Hội chợ du lịch Thái Bình Dương nhằm yểm trợ cho việc xúc tiến hợp tác kinh doanh du lịch Tại hội chợ này các doanh nghiệp du lịch có điều kiện tiếp xúc, giới thiệu mình và ký kết các hợp đồng liên kết kinh doanh du lịch
1.5 Thực trạng du lịch quốc tế trên thế giới
1.5.1 Tình hình khách du lịch quốc tế trên toàn cầu từ năm 1960 –1998
Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO – World Tourist Organization) ta có thể nhận thấy tình hình phát triển khá khả quan của du lịch Lượng khách du lịch quốc tế tăng lên không ngừng trong thời gian qua Từ 70 triệu lượt khách vào năm 1960 thì đến năm 1998 con số này đã đạt đến mức 635 triệu lượt khách vào năm 1998 Điều này đã chứng tỏ sự lớn mạnh của kỹ nghệ du lịch trên toàn cầu
Bảng 1.1 Số lượng du khách quốc tế trên thế giới thời kỳ 1960 – 1998
Đơn vị tính : triệu lượt người
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
- 12 -
Trang 13Đồ thị 1.1 Lượng khách du lịch quốc tế trên thế giới thời kỳ 1960 –1998
Lượng khách (triệu người)
1.5.2 Doanh thu mà hoạt động du lịch quốc tế mang lại trên toàn thế giới
Với đơn vị tính là tỷ đôla Mỹ ta có thể thấy được doanh thu từ du lịch quốc tế đã gia tăng một cách nhanh chóng trong suốt giai đoạn từ 1960 cho đến năm 1998 (tăng trung bình 164%/năm) Từ 7 tỷ USD vào năm 1960, con số này đã tăng hơn gấp đôi tức là đạt mức 18 tỷ USD vào năm 1970, để rồi vào năm 1980 đã đạt đến
105 tỷ USD và rồi 269 tỷ USD vào năm 1990 Cho đến năm 1998 doanh thu từ du lịch quốc tế mang lại đã đạt đến con số 445 tỷ USD
Bảng 1.2 Doanh thu của du lịch quốc tế trên toàn thế giới
thời kỳ 1960 - 1998
Đơn vị : tỷ USD
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
- 13 -
Trang 14Đồ thị 1.2 Doanh thu từ hoạt động du lịch quốc tế thời kỳ 1960-1998
1.5.3 Dự báo tình hình khách du lịch quốc tế giai đoạn 1995 – 2020
Theo báo cáo chính thức của tổ chức du lịch thế giới WTO tại hội nghị lữ
hành du lịch quốc tế được tổ chức tại Nhật Bản ngày 2/12/1999 thì nếu như trong
năm 1995 số lượng du khách quốc tế chỉ là 565 triệu người thì sang năm 2000 con
số này sẽ đạt ở mức 668 triệu người, rồi 1006 triệu vào năm 2010 và đến năm 2020
sẽ đạt đến mức 1561 triệu người
Bảng 1.3 Lượng du khách quốc tế dự tính trong giai đoạn 1995 – 2020
Đơn vị : triệu người
1995 565
2000 668
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
Với số lượng du khách như trên, Tổ chức Du lịch thế giới WTO dự báo vào
năm 2020 Trung Quốc sẽ là quốc gia đứng đầu trong tốp 10 nước đón khách du lịch
nước ngoài hàng đầu thế giới với 130 triệu du khách, chiếm 8.3% tổng lượng khách
- 14 -
Trang 15và tốc độ gia tăng khách du lịch quốc tế đến Trung Quốc giai đoạn 1995 – 2020 sẽ là 7,8%/năm
Các quốc gia như Pháp, Hoa Kỳ, Tây Ba Nha, Hongkong, Anh , Italy, Mexico, Liên bang Nga, Cộng hoà Séc cũng nằm trong danh sách này Chỉ với 10 quốc gia đứng đầu trong danh sách các nước đón du khách quốc tế họ đã chiếm 45,7% thị phần khách du lịch quốc tế đến với 716,2 triệu khách
Bảng 1.4
Danh sách 10 nước đứng đầu thế giới trong
du lịch đón khách vào năm 2020
Quốc gia Số lượng khách
(triệu lượt) Thị phần (%) Tỷ lệ gia tăng hàng năm 1995 – 2020 (%)
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
Phần lớn các quốc gia nằm trong danh sách 10 nước đón được nhiều du khách quốc tế đến nhất vào năm 2020 cũng chính là những quốc gia gửi lượng khách đi du lịch nước ngoài nhiều nhất như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Anh, Pháp, Ý, Liên bang Nga
Tuy nhiên dẫn đầu trong danh sách các nước có khách đi du lịch nước ngoài nhiều nhất lại là nước Đức với 152,9 triệu lượt khách, chiếm 98,8% tổng lượng khách đi du lịch nước ngoài trên toàn thế giới, kế đến là Nhật Bản với 141,5 triệu
- 15 -
Trang 16lượt khách và chiếm tỷ lệ 9,1%
Bảng 1.5 Danh sách 10 nước đứng đầu trong du lịch gửi khách vào năm 2020
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
Lượng du khách quốc tế không ngừng tăng lên sẽ mang lại một doanh thu to lớn cho ngành du lịch thế giới Theo ước tính của Tổ chức du lịch thế giới, doanh thu mà ngành du lịch toàn cầu đạt được vào 1995 là 401 tỉ USD sẽ tăng vọt vào năm 2020 là 2000 tỉ USD
Bảng 1.6 Doanh thu từ du lịch quốc tế thời kỳ 1995 – 2020
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
Nếu lấy năm 1995 làm mốc, ta có thể thấy tốc độ tăng trưởng của du lịch toàn cầu phân theo khu vực của vùng Nam Á tăng trưởng trong giai đoạn 1995 –
2000 cao nhất trên toàn thế giới với tốc độ là 8.5%, tuy nhiên tốc độ này giảm dần vào giai đoạn 2000-2010 chỉ còn 6.2% và sang giai đoạn 2010-2020 chỉ còn 5.4%/năm Trong khi đó, nếu tính tốc độ tăng trưởng du lịch hàng năm cho suốt giai
- 16 -
Trang 17đoạn 2020-2030, Trung Đông sẽ là khu vực có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất trung bình 6.7%/năm, rồi đến Châu Mỹ 6.5%/năm, và Nam Á 5.4%/năm Châu Phi và Châu Aâu là những châu lục có tốc độ phát triển du lịch chậm nhất, đều chỉ đạt ở mức 3.1% cho giai đoạn 1995-2020
Bảng 1.7 Tốc độ tăng trưởng du lịch trên toàn cầu
Đơn vị : triệu người
Năm
gốc Dự báo Tốc độ tăng trung bình hàng năm (%)
Vùng 1995 2000 2010 2020
1995-2000 2000-2010 2010-2020 1995-2020 Châu
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
1.5.4 Những xu hướng thay đổi chủ yếu của thị trường du lịch trong thiên niên
- 17 -
Trang 18- Cụ thể là số lượng khách đi du lịch gần trong năm 1995 là 82% trong toàn bộ khách du lịch thì đến năm 2020 chỉ còn là 76%; trong khi đó lượng khách du lịch đường xa tăng từ 18% trong năm 1995 sẽ đạt mức 24% trong năm 2020
Bảng 1.8 Tỷ trọng khách du lịch đường xa và du lịch đường gần
thời kỳ 1995 - 2020
Đơn vị : %
Tỷ trọng khách
Nguồn : WTO- World Tourist Organization / Marketing
• Các chuyến du lịch sẽ trở nên thường xuyên hơn
- Với tốc độ công nghiệp hoá ngày càng cao, xu hướng trong thời gian tới con người sẽ có nhiều ngày nghỉ hơn trong một năm từ đó dẫn đến một điều tất yếu là họ sẽ giành nhiều thời gian hơn cho du lịch Theo dự báo của Tổ chức
du lịch thế giới, nếu trung bình trong năm 1990 mỗi khách du lịch có 2 kỳ nghỉ thì vào năm 2000 con số này sẽ tăng lên là 3 kỳ và cho đến năm 2020 sẽ tăng lên thành 4 kỳ nghỉ trong một năm
1.5.4.2 Du khách sẽ được thuận lợi hơn trong chuyến du lịch
- Để thuận lợi hơn cho các điểm đến trong chương trình du lịch, xu hướng sắp tới của các nước là sẽ tháo gỡ những trở ngại cho vấn đề nhập cảnh vào biên giới, cụ thể là là trong vấn đề đòi hỏi visa du lịch Hiện nay chỉ với một lần xin visa vào các nước Schengen là du khách đã có thể thăm quan tất cả các nước trong khối này Điều này sẽ giúp cho họ cảm thấy thoải mái và tạo thêm điều kiện cho các nước trong khối Schengen đón thêm khách du lịch
- Bên cạnh đó, việc sử dụng đồng tiền chung cho các nước trong khu vực cũng
- 18 -
Trang 19là một xu hướng mới của các nước trên thế giới Điều này rõ ràng sẽ có ảnh hưởng tích cực đến du lịch, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho du khách trong việc mua sắm và sử dụng dịch vụ ở các nước lân cận nhau trong cùng một chuyến đi Ta có thể thấy cụ thể như việc sử dụng đồng EURO rõ ràng sẽ giúp cho du khách đơn giản hơn vì chỉ cần mang theo một loại tiền tệ khi đi
du lịch các nước Châu Aâu Ngoài việc thuận lợi trong thanh toán, đồng tiền chung còn là phương tiện giúp du khách dễ dàng so sánh giá cả giữa các nước với nhau Đồng thời việc sử dụng đồng tiền chung còn giúp du khách tiết kiệm đượng những chi phí cho việc hoán đổi giữa các đồng tiền
1.5.4.3 Cơ cấu của ngành du lịch và lữ hành sẽ thay đổi
• Các tổ chức có liên quan đến du lịch và các hãng lữ hàng có xu hướng sẽ liên minh và hợp nhất
- Cụ thể là các hãng hàng không lớn sẽ liên kết lại thành từng nhóm và sẽ nắm giữ phần lớn các chuyến bay cho khách trước năm 2010
- Các cụm khách sạn sẽ trở nên lớn hơn và hợp nhất hơn
- Với xu hướng toàn cầu hoá sẽ giúp cho các nhà điều hành chương trình mở rộng hoạt động xuyên qua biên giới các quốc gia nhiều hơn nữa
• Các kỹ thuật hiện đại sẽ được sử dụng nhằm hỗ trợ hoạt động du lịch
- Ví dụ như việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc mới như Internet sẽ làm gia tăng việc đặt chỗ trực tiếp với một số lượng các đại lý có giới hạn
- Vấn đề kinh tế của các nước sẽ tạo ra một hệ thống cấp bậc cho các điểm đến trong ngành du lịch Chẳng hạn như những khu vực phát triển sẽ mời gọi du khách với những sản phẩm và dịch vụ du lịch đa dạng với những giá cả cao hơn
- Các phương tiện vận chuyển phục vụ du lịch sẽ đa dạng hơn : Ngoài
- 19 -
Trang 20việc sử dụng các loại máy bay lớn và nhỏ tuỳ theo từng chuyến du lịch, xu hướng sắp tới các hãng du lịch sẽ mở rộng hơn nữa các chuyến
du lịch bằng tàu biển cũng như bằng các tuyến xe lửa tốc hành
1.5.4.4 Xu hướng mới trong vấn đề marketing sản phẩm du lịch
Xu hướng sắp tới trên thị trường du lịch sẽ có sự phân khúc thị trường theo các phân đoạn sau
- Du lịch sinh thái : ta sẽ có các mức độ đáp ứng khác nhau cho các vấn đề khác nhau mà du khách quan tâm trong chuyến du lịch của mình như sau
Sơ đồ 1.1 Các mức độ đáp ứng khác nhau cho sự quan tâm của du khách
- 20 -
Quan tâm đặc biệt mong muốn hoa, động vật,
được thiên nhiên địa chất, chụp ảnh
nhạy cảm nhất
thiên nhiên
giữa thiên nhiên
Mức độ đòi hỏi
- Du lịch văn hoá : sẽ gia tăng mạnh đặc biệt là tại các điểm đến ở Châu Aâu,
Trang 21Trung Đông và châu Á
- Du lịch theo chủ đề : Các chương trình du lịch này sẽ tạo ra các ngày nghỉ
“an toàn và hiệu quả” Các chủ đề du lịch mới sẽ phát triển trên toàn cầu, chẳng hạn như du lịch với chủ đề “ Vua của các loài thú” tại công viên Disney hay chủ đề “Thành phố Rome cổ kính” tại Ý…
- Du lịch bằng tàu biển : sẽ tiếp tục gia tăng nhanh Với phương châm”càng lớn càng tốt”, hầu như mỗi năm lại xuất hiện những con tàu biển ngày càng lớn hơn Hiện nay trong số 42 tàu du lịch được hạ thủy thì đã có 29 tàu với trọng tải bằng hoặc hơn 60.000 tấn, tức là có sức chứa hơn 1.200 hành khách Những dự án cho những con tàu du lịch khổng lồ đã sắp thành hiện thực với một khách sạn mang tên Westin sẽ là một khách sạn nổi với sức chứa 6.200
khách
- Du lịch thám hiểm : bao gồm các chuyến du lịch đến các đỉnh núi , xuống thám hiểm đại dương, đến các điểm vùng Nam cực của trái đất, thậm chí đến cả các chuyến du lịch thám hiểm mặt trăng và không gian dự định sẽ trở
thành hiện thực vào năm 2020…
Như vậy, lịch sử ngành du lịch thế giới từ khi ra đời đến nay đã không ngừng phát triển và lớn mạnh Từ những chuyến du lịch sơ khai đã được hình thành thông qua việc những nhà buôn, các quý tộc, chủ nô sử dụng thời gian rảnh rỗi của mình để đi tham quan, giải trí ở những miền đất lạ đến các chuyến đi với mục đích tôn giáo, chữa bệnh…ngày nay du lịch đã trở thành một ngành công nghiệp dịch vụ quan trọng của thế giới
Với mức độ phát triển ngành càng cao, con người càng có nhiều thời gian và tiền bạc cho nhu cầu giải trí của mình hơn, trong có có vấn đề đi du lịch Nhu cầu này cũng ngày càng đa dạng, phong phú hơn; các chuyến đi sẽ trở nên thường
- 21 -
Trang 22xuyên hơn và xa hơn Du lịch đã mang lại doanh thu to lớn cho các quốc gia trên thế giới, nếu như ngành du lịch thế giới chỉ đạt được 7 tỷ USD doanh thu vào năm 1960 với 70 triệu khách thì đến năm 1998 con số này đã là 445 tỷ USD với số lượng du khách là 635 triệu lượt người
Chính vì thế các quốc gia cũng như các doanh nghiệp đã không ngừng cải tiến các phương tiện kỹ thuật, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, cách thức quản lý … Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành công nhiệp không khói này Du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng đang và sẽ là một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia trên thế giới
- 22 -
Trang 23CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH
DU LỊCH QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
2.2 Vị trí của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 2.2.1 Những nhận định tổng quan
2.2.1.1 Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời Nhìn lên bản đồ, Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía Đông bán đảo Đông Dương, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, Campuchia, phía Đông, nam và tây nam là biển Đông và Thái Bình Dương Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, biên giới đất liền dài 3.730 km Trên đất liền, từ điểm cực bắc đến điểm cực nam (theo đường chim bay) dài 1.650 km, từ điểm cực đông sang điểm cực tây nơi rộng nhất 600 km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất 50 km (Quảng bình)
Lãnh thổ Việt Nam có tọa độ địa lý : 8 độ 02 phút đến 23 độ 23 phút vĩ độ Bắc và 102 độ 08 phút đến 109 độ 28 phút kinh độ Đông với diện tích toàn quốc gia là 330.991 km2 Lãnh hải rộng 12 hải lý, tính từ đường cơ sở Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ sở
Theo số liệu thống kê, dân số Việt Nam tính đến ngày 01/04/1999 là 76.324.753 người
2.2.1.2 Việc đầu tư phát triển du lịch ở Việt Nam là phù hợp với trào lưu phát
triển du lịch của khu vực và thế giới
- 23 -
Trang 24Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội và đang phát triển với tốc độ nhanh Với nguồn thu từ du lịch tăng nhanh như đã phân tích ở trên, nhiều nước đã coi du lịch như ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mình Hòa chung với trào lưu phát triển du lịch trong khu vực, tốc độ gia tăng du khách quốc tế đến Việt Nam trong những năm gần đây tương đối cao Năm 1990 nước ta đón 250.000 khách, năm 1991 tăng lên 300.000 khách, nhưng đến năm 1997 lượt khách vào Việt Nam tăng lên gần 1.716.000 và dự kiến chúng ta đã đón được hơn 2 triệu khách trong năm 2000 này Vào tháng 5/1995, Chính phủ đã chính thức phê duyệt Quy họach tổng thể Phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 Đây là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch của các địa phương trong cả nước
2.2.2 Vị trí của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
Sau nhiều năm đổi mới, nhất là vào những năm đầu của thập kỷ 90, nền kinh tế của cả nước đi vào thế ổn định, có mức tăng trưởng đáng kể và từng bước phát triển thích ứng với cơ chế thị trường Trong thời kỳ 1995-1999, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm về GDP của Việt Nam ở mức cao và đạt 7.51%
Trong toàn cuộc hội nhập kinh tế của nước ta với quốc tế hoặc khu vực, du lịch là ngành đi đầu Bản chất của du lịch là giao du Do đó, hoạt động du lịch bao giờ cũng có chất quốc tế, kể cả khi chưa có chính sách mở cửa Bởi vì quốc gia nào cũng cần có quan hệ quốc tế, giữa các quốc gia thời nào cũng phải có đi lại với nhau, có người của nước này đến nước khác, không với mục đích du ngoạn cũng với mục đích công việc, chữa bệnh, học tập, tham quan… Cùng với xu thế hội nhập
- 24 -
Trang 25quốc tế, ngành du lịch Việt Nam đã chuyển biến trên nhiều mặt, vai trò của ngành
du lịch trong nền kinh tế của Việt Nam ngày càng được khẳng định, nét “quốc tế” của ngành du lịch ngày càng nổi rõ Cụ thể là :
- Hệ thống kinh doanh du lịch phát triển nhanh và ngày càng có nhiều doanh nhân nước ngoài tham dự Tính đến cuối năm 1999 cả nước có gần 1 000 doanh nghiệp lớn nhỏ kinh doanh du lịch, trong đó có 90 doanh nghiệp lữ hành quốc tế Trong số gần 1000 doanh nghiệp du lịch có 276 doanh nghiệp nhà nước, 460 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân, 114 doanh nghiệp của tư bản nước ngoài Do sức hấp dẫn của môi trường du lịch Việt Nam, các nhà đầu tư quốc tế đã trình nhiều dự án Tuy nhiên, năm
1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực nên một số dự án bị hủy Từ đầu năm 1998 tình hình đang dần dần trở lại mạnh
- Du khách nước ngoài tăng nhanh và thu hút dịch vụ du lịch với giá lớn trong tổng giá trị dịch vụ du lịch Nhờ du lịch phát triển, công ăn việc làm cho người lao động tăng lên, thị trường hàng hoá đặc sản được mở rộng, khiến cho nhiều người có việc làm, nhiều sản phẩm có nơi tiêu thụ, nhiều gia đình nông dân, thị dân có thêm thu nhập
- Cần thấy rõ một điều là tuy số lượng khách du lịch quốc tế chỉ bằng trên dưới 20% lượng khách du lịch Việt Nam, nhưng doanh số và lợi nhuận thu được từ du khách quốc tế lại lớn hơn thu từ du khách nội địa gấp 4 lần Với số lượng du khách vượt qua con số 2 triệu lượt người vào năm 2000, Tổng cục du lịch đã dự tính doanh số sẽ hơn 1.105 triệu USD Nhưng du khách Việt Nam dù có tăng lên 11 triệu, như dự tính, doanh số từ phần này cũng chỉ khoảng hơn 200 triệu USD
- 25 -
Trang 26Từ 1995 đến 1999, GDP của ngành du lịch tăng trung bình hàng năm 6.05% và chiếm 3.55% GDP của cả nước Cần lưu ý rằng con số này chỉ tính riêng về hoạt động của khách sạn – nhà hàng, nếu như tính cả những ngành có liên quan đến
du lịch thì tỷ trọng của nó trong GDP của Việt Nam chắc chắn sẽ cao hơn nữa
2.3 Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch ở Việt Nam
2.3.1 Điều kiện tự nhiên của Việt Nam
2.3.1.1 Về mặt địa hình
Vị trí địa lý cùng với lịch sử phát triển lãnh thổ lâu dài và phức tạp đã tạo cho Việt Nam một hoàn cảnh tự nhiên khá độc đáo Ba phần tư diện tích là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp Độ cao địa dưới 1.000 m (so với mực nước biển) chiếm tới 85% Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm khoảng 1% Trong số những đỉnh núi cao của Việt Nam có đỉnh Phanxipăng (ở Lào Cai) cao nhất, 3.143m
Miền bắc và đông bắc bộ (tả ngạn sông Hồng) có các nếp núi uốn dạng hình cánh cung bao quanh khối núi vòm sông Chảy, mở rộng về phí tây bắc, quay mặt lồi về đông, một đầu chụm lại ở Tam Đảo
Miền tây bắc và bắc trung bộ (từ tả ngạn sông Hồng chạy đến núi Động Ngài – Bạch Mã, Thừa Thiên Huế) có những nét khác biệt khá rõ so với địa hình miền Bắc và đông Bắc bộ Đây là cùng núi non trùng điệp, hùng vĩ, có nhiều núi cao, vực sâu, sườn đốc, lắm thác, nhiều ghềnh
Miền nam trung bộ và nam bộ (từ núi Động Ngài và Bạch Mã trở vào phía nam) Phía tây nam bộ là một vùng sơn nguyên đồ sộ, trong đó nổi lên các cao nguyên đất đỏ bazan có dạng xếp tầng, chênh lệch nhau tới 500 m, bên cạnh đó là các mạch núi bao quanh phía bắc và phía nam sơn nguyên Phía đông của nam trung bộ có các mạch núi nam Trường Sơn đâm ngang, chia cắt địa hình thành những ô nhỏ Phần còn lại nằm ở phía nam là vùng đồng bằng rộng lớn
Đất nông nghiệp của Việt Nam chiếm 22,2%, đất lâm nghiệp chiếm 29,12% diện tích tự nhiên Trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều loại đất nhưng chiếm diện tích
- 26 -
Trang 27lớn hơn cả là hai nhóm đất : Feralit ở các miền đồi núi và đất phù sa ở vùng đồng bằng Dù là loại đất nào thì tính năng của mỗi loại vẫn có thể thích ứng cho những loại cây trồng khác nhau tạo nên sự đa dạng phong phú trong danh mục cây trồng ở Việt Nam
2.2.1.2 Về mặt khí hậu
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22oC đến 27oC Hàng năm có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm Nhìn chung Việt Nam có một mùa nóng mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh, ít mưa Việt Nam chịu sự tác động mạnh của gió mùa đông bắc, nên nhiệt độ trung bình thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ ở Châu Á So với các nước khác thì ở Việt Nam nhiệt độ về mùa Đông lạnh hơn và mùa hạ ít nóng hơn
2.2.1.3 Về mặt thủy văn
Việt Nam có 2860 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên Dọc theo bờ biển, cứ khoảng 20 km lại có một cửa sông Sông của Việt Nam thường là sông nhỏ, ngắn và dốc Hướng chảy của các con sông chủ yếu là tây bắc – đông nam Tuy nhiên cũng có một số sông chảy theo hướng vòng cung, uốn dòng theo các cánh cung của núi như sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam
Nhìn chung sông ngòi Việt Nam có tổng lượng nước chảy dồi dào Hệ thống sông Hồng hàng năm đổ ra biển khoảng 122 tỷ m3 nước Tổng lượng nước chảy của hệ thống sông Mêkông khoảng 1.400 tỷ m3 Tất cả các con sông có lượng nước chảy phân bố không đều trong năm bởi có một mùa lũ và một mùa cạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô của khí hậu
Về phương diện du lịch, tài nguyên nước, chẳng hạn như sông Đồng Nai và sông Sài Gòn ở thành phố Hồ Chí Minh có giá trị đối với việc thu hút khách Trên sông Sài Gòn, đoạn từ Nhà Bè đến Lái Thiêu, dòng sông uốn khúc với cảnh quan
- 27 -
Trang 28thơ mộng ở hai bên tạo nên tuyến du lịch sông nước cho du khách Trên sông Đồng Nai, đọan từ Nhà Bè dọc theo ranh giới giữa Thành phố và tỉnh Đồng Nai cũng có thể sử dụng vào mục đích tham quan, du lịch
2.2.1.4 Về mặt sinh vật
Rừng của Việt Nam là rừng rậm tiêu biểu cho rừng nhiệt đới Bên cạnh các kiểu rừng nhiệt đới còn có các kiểu rừng cận nhiệt đới trên núi trung bình hay núi cao Ven biển miền tây và nam bộ còn có các loại rừng ngập mặn chủ yếu là các cây sú, vẹt, tràm, đước …
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện tại độ che phủ của rừng Việt Nam chỉ còn dưới 30% điện tích lãnh thổ Đất trống đồi trọc ngày càng tăng lên, gỗ quý ngày càng hiếm, một số loài thú quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng
2.2.2 Tài nguyên du lịch Việt Nam
2.2.2.1 Dân cư, dân tộc của Việt Nam
Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau Trong đó dân tộc Việt (Kinh) chiếm gần 90% tổng số dân cả nước, hơn 10% còn lại là dân số của
53 dân tộc Trải qua bao nhiêu thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam gắn bó với nhau trình suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hóa riêng
Bản sắc văn hóa của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động kinh tế Từ việc ăn, mặc, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui chơi của mỗi dân tộc đều mang những nét riêng biệt Đằng sau sự khác biệt về ngôn ngữ, về tập tục hay lối sống, về trang phục hay sinh hoạt … của các dân tộc lại toát lên những nét chung Đó là đức tính cần cù, chịu khó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiện gắn bó hòa đồng; với kẻ thù – không khoan nhượng; với con người – nhân hậu, vị tha, khiêm nhường … Tất cả những đặc tính đó là phẩm chất của con
- 28 -
Trang 29ngườiViệt Nam
54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau
- Nhóm Việt – Mường có 4 dân tộc là : Việt (Kinh), Chứt, Mường, Thổ
- Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là : Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái
- Nhóm Môn – Khmer, có 21 dân tộc là : Ba Na, Brâu, Bru-Vân Kiều,
Chơ-Ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Giẻ-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ-mú, Mạ, Mảng, M’nông, Ơ-du, Rơ-măn, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng
- Nhóm Mông-Dao có 3 dân tộc là : Dao, Mông, Pà Thẻn
- Nhóm Kadai có 4 dân tộc là : Cờ Lao, La-chí, La ha, Pu péo
- Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là : Chăm, Chu-ru, Eâđê, Gia-rai, Ra-glai
- Nhóm Hán có 3 dân tộc là : Hoa, Ngái, Sán-dìu
- Nhóm tạng có 6 dân tộc : Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La
Nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung hay văn hóa các dân tộc nói riêng là những công việc không có giới hạn Khai thác những nét đặc sắc của nền văn hóa truyền thống các dân tộc là một tiềm năng to lớn cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam
2.2.2.2 Các danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử
Việt Nam là đất nước thuộc vùng nhiệt đới, bốn mùa xanh tươi Địa hình có núi, có rừng, có sông, có đồng bằng và có cả cao nguyên Núi non đã tạo nên những vùng cao có khí hậu rất gần với ôn đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều điểm nghỉ dưỡng và danh lam, thắng cảnh như : Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Đà Lạt (Lâm Đồng), núi Bà Đen (Tây Ninh)…, động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Từ Thức (Thanh Hóa), động Phong Nha (Quảng Bình)…, thác Bản Giốc(Cao Sơn La), hồ Ba Bể (Bắc Kạn), hồ thủy điện sông Đà (Hòa Bình – Sơn La), hồ Thủ điển Trị An (Đồng Nai), hồ thủy điển Ialy (Tây Nguyên), hồ Thác Bà
- 29 -
Trang 30(Yên Bái), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh, đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), đảo Phú Quốc (Kiên Giang) … với 3.260 km bờ biển có 125 bãi biển, trong đó có 16 bãi tắm đẹp nổi tiếng như : Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Non Nước (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hòa), Vũng Tàu (Bà rịa – Vũng Tàu)…
Với hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có khoảng 1 nghìn di tích lịch sử (trong đó có 2.250 di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ) lịch sử, văn hóa, dấu ấn của quá trình dựng nước và giữ nước, như Đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu… Đặc biệt khu
di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di Sản Văn hóa thế giới Hàng nghìn đền, chùa, nhà thờ, các công trình xây dựng, các tác phẩm nghệ thuật – văn hóa khác nằm rải rác ở khắp các địa phương trong cả nước là những điểm tham quan du lịch đầy hấp dẫn
Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng và độc đáo như thế, mặc dù còn nhiều khó khăn trong việc khai thác, những năm gần đây ngành Du lịch Việt Nam cũng đã thu hút hàng triệu lượt khách du lịch quốc tế, góp phần đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Hơn thế, bằng tiềm năng và sản phẩm du lịch của mình, ngành du lịch đang tạo điều kiện tốt cho bè bạn khắp năm châu ngày càng hiểu biết và yêu mến đất nước Việt Nam
2.2.2.3 Các lễ hội văn hoá của dân tộc Việt
Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là loại hình văn hóa rất đặc trưng ở Việt Nam Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian có mặt hầu như ở khắp mọi miền đất nước Nhiều lễ hội được ra đời cách đây hàng nghìn năm nhưng vẫn được gìn giữ và duy trì
Hầu hết lễ hội ở Việt Nam diễn ra vào mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông có thời gian nhàn rỗi Trong số các lễ hội lớn ở Việt Nam phải kể đến những lễ hội chi phối hầu hết các gia đình trên
- 30 -
Trang 31khắp mọi miền đất nước, đến mọi dân tộc tôn giáo đó là tết Nguyên Đán, rằm tháng 7 và tết Trung Thu Bên cạnh đó là những lễ hội khác điễn ra ở từng địa phương và từng vùng
Tuy nhiên việc khai thác lễ hội như một tiềm năng văn hóa cho hoạt động du lịch trong thời gian qua còn mang tính thực dụng Do vậy, cần phải tiến hành nghiên cứu quy hoạch lễ hội để có được chương trình hoạt động du lịch lễ hội, cũng như đầu tư để xác định nội dung giới thiệu về lịch sử, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa … của các lễ hội cụ thể Đó không chỉ là những nổ lực nhằm thu hút do khách, mà còn là trách nhiệm biểu dương văn hóa dân tộc một cách nghiêm túc cho du khách về nền văn hiến của một quốc gia
2.2.2.4 Các tài nguyên nhân văn khác của Việt Nam
Các loại hình nghệ thuật ca múa nhạc, sân khấu ở Việt Nam rất phong phú và có khả năng hấp dẫn khách du lịch nước ngoài Nghệ thuật biểu diễn truyền thống trong hơn 20 năm qua có nhiều nổ lực phục hưng đáng kể, được sự tán thành của đông đảo những người có hoài bão đến truyền thống văn hóa cũng như tâm lý hiếu kỳ của du khách nước ngoài trong các môn nghệ thuật như : chèo, tuồng, cải lương, múa dân tộc, múa cung đình,các loại nhạc khí như đàn đá, đàn bầu, đàn T’rưng, cồng chiên, khèn, hát quan họ, ca nhạc Huế, nhạc cưới cổ truyền Khmer… Đặc biệt hiện nay, một số du khách nước ngoài rất quan tâm đến loại hình rối nước Tuy nhiên cần được đầu tư phát triển hơn nữa
Trong các loại tài nguyên du lịch nhân văn khác của Việt Nam chúng ta có thể kể đến các khu vực có các nghề thủ công truyền thống như : nghề làm tranh dân gian, tranh Đông Hồ, ghề gốm, nghề chạm gỗ, nghề khảm, nghệ dệt lụa, nghề thêu, nghề đan lát mây tre, nghề sơn mài, nghề chạm khắc đá, nghề đúc đồng, nghề làm chiếu, nghề làm nón….cũng như các món ăn cổ truyền, đặc sắc của Việt Nam như : bánh chưng, giò lụa, chả giò, phở, bánh cuốn, chả cá, bún, cơm hến Huế, chạo tôm, yến, ăn chay, bánh xèo…
- 31 -
Trang 322.3 Đánh giá thực trạng ngành du lịch ở Việt Nam
2.3.1 Thực trạng phát triển ngành du lịch Việt Nam
2.3.1.1 Số lượng du khách quốc tế đến Việt Nam thời kỳ 1990 – 1999
Trước năm 1989, số khách quốc tế đến Việt Nam còn rất hạn chế Tuy nhiên từ những năm 1990 trở lại đây, số khách tăng lên với tốc độ nhanh Điều đó được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Số khách quốc tế đến Việt Nam thời kỳ 1990 –2000
1,351,296
1,607,155
1,715,637
Trang 33Ñoă thò 2.1 Soâ khaùch quoâc teâ ñeân Vieôt Nam thôøi kyø 1990 –2000
Theo Toơng cúc du lòch Vieôt Nam, chư trong 10 thaùng ñaău naím 2000, Vieôt Nam ñaõ ñoùn ñöôïc 1,73 trieôu löôït khaùch quoâc teâ, ñát 86,5% so vôùi keâ hoách cụa naím vaø taíng 17,8% so vôùi cuøng kyø naím tröôùc Vaø ñeân ngaøy 17 thaùng 12 naím 2000, cođ Villard Karine, moôt du khaùch ngöôøi Phaùp, ñaõ trôû thaønh ngöôøi khaùch quoâc teâ thöù 2.000.000 cụa ngaønh du lòch Vieôt Nam trong naím 2000 Nhö vaôy, löôïng khaùch quoâc teâ vaøo Vieôt Nam trong naím 2000 seõ vöôït qua con soẩ 2.000.000 khaùch, cao nhaât töø tröôùc ñeân nay Trong ñoù Nhaôt laø nöôùc coù löôïng khaùch ñeân Vieôt Nam ñođng nhaât vôùi 110.000 khaùch vaø seõ ñát ñöôïc 140.000 khaùch vaøo cuoâi naím nay, taíng 30% so vôùi naím tröôùc
Söï taíng tröôûng nhanh veă soâ löôïng khaùch quoâc teâ lieđn quan tôùi nhieău yeâu toâ nhö chính saùch môû cöûa vaø hoôi nhaôp vôùi theâ giôùi, söï cại táo vaø nađng caâp cô sôû há taăng, cô sôû vaôt chaât kyõ thuaôt phúc vú du lòch, vieôc khuyeân khích ñaău tö vaøo caùc ngaønh kinh teâ ôû Vieôt Nam
Veă cô caâu nguoăn khaùch coù theơ chia laøm 4 nhoùm chụ yeâu : Vieôt kieău, khaùch chađu AÙ, chađu Ađu vaø khaùch khaùc (Hoa Kyø, Phaùp, Anh…) Trong nhöõng naím qua nhoùm khaùch Chađu AÙ (Trung Quoâc, Ñaøi Loan, Nhaôt Bạn…) chieâm ña soâ Trong ñoù, Trung Quoâc cuõng laø quoâc gia gôûi du khaùch ñeân Vieôt Nam nhieău nhaât trong nhöõng
- 33 -
Trang 34năm gần đây Cũng theo những số liệu về lượng du khách quốc tế trong tương lai,
bên cạnh Nhật Bản, Trung Quốc là một trong những nước có lượng du khách đi ra
nước ngoài nhiều nhất, đạt con số 100 triệu lượt khách vào năm 2020, do đó chúng
ta cần lưu ý đến đối tượng khách này nhiều hơn nữa
Bảng 2.2 Lượng khách quốc tế đến Việt Nam phân chia theo quốc tịch
1993 (%) 1994 (%) 1995 (%) 1996 (%) 1997 (%) 1998 (%) 1999 (%) Trung
Quốc
17.509
(100) 2.91
14.381 (82.13) 1.41
62.640 (435.57) 4.64
377.555 (602.73) 23.49
405.279 (107.34) 23.62
420.743 (103.81) 27.67
484.102 (115.05) 27.16 Mỹ 102.892 (100) 17.13 (147.89) 14.94152.176 189.090(37.79) 4.26 146.488(75.06) 2.69 147.982 (93.60) 2.36 (436.97) 11.61176.578 (119.14) 11.8210.377Đài
Loan
96.257
(100) 2.8
185.067 (143.79) 2.28
224.127 (121.10) 1.56
175.486 (70.59) 0.93
154.566 (71.69) 0.62
138.529 (80.15) 9.11
173.920 (125.54) 9.76 Nhật
31.320
(100) 5.21
67.596 (215.82) 6.64
119.540 (176.84) 8.85
118.310 (98.97) 7.36
122.083 (103.18) 7.12
95.258 (78.02) 6.26
113.514 (119.16) 6.37 Pháp 61.883 (100) 10.3 (180.43) 10.97111.657 (105.72) 8.74137.890 (62.34) 4.5887.795 (91.06) 3.91 81.513 (124.93) 5.4883.371 (193.18) 4.8286.026Anh
20.231
(100) 3.36
39.237 (193.94) 3.85
52.820 (134.61) 3.91
40.692 (77.03) 2.53
44.719 (109.89) 2.61
39.613 (89.66) 2.6
43.863 (110.72) 2.46
Thái lan 16.695 (100) 2.78 (142.77) 2.3423.838 (96.97) 1.7123.117 (84.89) 1.2219.626 (93.53) 1.07 18.337 (89.84) 1.0816.474 (117.82) 1.0819.410Việt
kiều &
các
nước
khác 323.075 (100) 48.23 424.292 (44.86) 41.66 (199.53) 30.42542.072 (133.04) 34.03641.203 741.158 (92.95) 33.83 549.544(93.21) 36.51 (118.37) 36.51650.542Tổng
cộng
669.862
(100) 100
1018244 (150.51) 100
1351296 (133.29) 100
1607155 (118.93) 100
1715637 (106.74) 100
1520128 (88.60) 100
1781754 (117.14) 100
Ghi chú : số trong ( ) là tốc độ phát triển % qua các năm, lượt khách năm trước là
100%
Cột (%) là tỉ lệ cơ cấu khách theo quốc tịch đến Việt Nam qua các năm
Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam
Theo số liệu phân tích thị trường khách quốc tế đến Việt Nam trong thời gian
qua, mục đích chủ yếu là du lịch, giải trí (chiếm tỷ lệ cao nhất), thương mại, thăm
thân nhân bạn bè… Chúng ta có thể tham khảo cụ thể qua các số liệu qua bảng 2.3
- 34 -
Trang 35Bảng 2.3 Số khách quốc tế đến Việt Nam phân theo mục đích chuyến đi
Đơn vị : lượt người
* Mục đích của chuyến đi 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Giải trí, nghỉ ngơi 242,8
67
475,82 5
610,64 7
837,5 50 Kinh doanh và công việc
chuyên môn
141,0 04
263,42 0
308,01 5
266,0 01 Thăm bạn bè và họ hàng 141,3
68
210,06 4
202,69 4
337,0 86 Mục đích khác 75,19
341,1 17
Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam
Phần lớn khách du lịch đến Việt Nam hiện nay chủ yếu là đến thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hạ Long (Quảng Ninh), Huế, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu… Đây đều là những trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam hay là những nơi có những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng
Bảng 2.4
Lượng du khách đến các tỉnh thành
Đơn vị : lượt người
* Lượng du khách đến các
Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam
- 35 -
Trang 36Cùng với xu hướng phát triển mới của du lịch quốc tế trên thế giới, lượng khách đến với Việt Nam gia tăng không những bằng đường hàng không mà còn bằng đường bộ và đường thủy Nếu như trong năm 1993 lượng khách du lịch đến Việt Nam bằng đường thủy chỉ đạt 18.414 lượt người thì đến năm 1999 con số này đã tăng hơn gấp 10 lần là 187.932 lượt người Tương tự như vậy, số khách đến Việt Nam bằng đường bộ chỉ là 53.652 lượt vào năm 1993 thì đến năm 1999 đã là 571.749 lượt người Ta có thể thấy con số cụ thể qua từng năm trong suốt thời kỳ 1993-1999 như sau
Bảng 2.5 Số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thời kỳ 1993-1999
phân theo phương tiện vận chuyển
Đơn vị : lượt người
*Phương tiện vận
1,206,799
939,635
2
46,522
122,752
505,653
4
31,015
21,745
161,867
Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam
2.3.1.2 Doanh thu từ du lịch quốc tế của Việt Nam
Từ sau năm 1990, ngành du lịch Việt Nam có nhiều biến chuyển sâu sắc với tốc độ tăng trưởng khách quốc tế trung bình hàng năm thời kỳ 1994 – 1999 đạt trên16.7% Vì vậy doanh thu từ du lịch quốc tế cũng tăng trung bình là 6.8% thời kỳ
1996 – 1999
- 36 -
Trang 37Bảng 2.6 Doanh thu từ du lịch quốc tế của Việt Nam thời kỳ 1996 -1999
Đơn vị : triệu đồng
1996 1997 1998 1999 Tổng doanh thu của các
đơn vị kinh doanh du lịch
Trong đó doanh thu từ
khách du lịch quốc tế
Nguồn : Niên giám thống kê 1999
2.3.2 Những điểm mạnh và điểm yếu của ngành du lịch quốc tế tại Việt Nam
trong thời gian qua
2.3.2.1 Điểm mạnh của ngành du lịch Việt Nam
- Đất nước chúng ta chỉ là một nước nhỏ nằm ở Châu Á, tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử mà hai chữ “Việt Nam” được rất nhiều người trên thế giới biết đến Đây là một lợi thế rất cơ bản của chúng ta
- Nằm ở vị trí cửa ngõ giao lưu quốc tế, Việt Nam có điều kiện để phát triển giao thông cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không đến các quốc gia trên thế giới Và cũng do điều kiện địa lý, Việt Nam còn có khả năng thành cửa ngõ du lịch của các nước Đông Dương
- Tài nguyên du lịch Việt Nam đa dạng, tài nguyên thiên nhiên phong phú như bãi biển, hang động, suối nước nóng, hồ bùn, các đảo, sự phong phú về động thực vật, cảnh quan tự nhiên độc đáo ….bên cạnh các tài nguyên nhân văn như các di tích lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, những làng nghề truyền thống, nghệ thuật ẩm thực, các phong tục tập quán riêng biệt về văn hóa, âm nhạc, trang phục, lễ hội,… chính những nguồn tài nguyên này đã giúp cho chúng ta
- 37 -
Trang 38có những điều kiện thuận lợi cho chúng ta phát triển nhiều loại hình du lịch như : nghĩ dưỡng, thể thao, nghiên cứu, hội chợ, hội nghị… dài ngày và ngắn ngày
- Tài nguyên du lịch Việt Nam được phân bổ thành từng cụm, hình thành các môi trường du lịch điển hình Mỗi vùng, mỗi cụm du lịch có một sắc thái riêng, tạo nên các tuyến du lịch xuyên quốc gia, không lập đi, lập lại gây nhàm chán cho khách du lịch Những tài nguyên du lịch này đa phần nằm gần các đô thị lớn, các cửa khẩu quan trọng nên thuận tiện cho việc đi lại, tham quan và ăn nghỉ của khách Nhiều vùng như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận Hà Tây, Ninh Bình, Vĩnh Phú, Hòa Bình… Vùng biển Hạ Long - Quảng Ninh, Cát Bà, Đồ Sơn - Hải Phòng, vùng Đại Lãnh – Văn Phong, Nha Trang – Khánh Hòa, đảo Phú Quốc – Kiên Giang, Huế, Đà Lạt – Lâm Đồng và vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long … nếu được quy hoạch và đầu tư thích đáng sẽ trở thành những trung tâm du lịch có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới
- Trong xu hướng mới của du lịch quốc tế trong thời gian tới, thị trường du lịch sẽ phân khúc ra thành các phân khúc thị trường bao gồm : du lịch sinh thái,
du lịch văn hoá, du lịch đường biển, du lịch thám hiểm và du lịch.theo chủ đề Trong 5 phân khúc đó thì Việt Nam có ưu thế hơn về du lịch văn hoá, du lịch sinh thái và du lịch bằng đường biển với vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Kỳ quan thiên nhiên của thế giới cùng ba di sản văn hóa thế giới là Hội An, Huế, Mỹ Sơn, với bờ biển chạy dài dọc suốt chiều dài của đất nước từ Tam Quang đến mũi Cà Mau và khu rừng nguyên sinh ngập mặn Cần Giờ…
- 38 -
Trang 39- So với các nước khác trong khu vực, Việt Nam do mở cửa kinh tế sau nên đối các khách du lịch quốc tế Việt Nam vẫn còn là một tuyến điểm mới, lạ Đặc biệt do hoàn cảnh lịch sử nên Việt Nam cũng thu hút những du khách quan tâm đến một Việt Nam sau chiến tranh, chẳng hạn như những cựu chiến binh Mỹ và gia đình, các du khách Pháp quan tâm đến những công trình do chính quyền thuộc địa Pháp ít nhiều đã xây dựng ở Việt Nam, cũng như du khách Nhật Bản quan tâm đến phố cổ Hội An, nơi mà trong quá khứ cũng đã có sự đầu tư của người Nhật…
- Các dân tộc thiểu số của chúng ta đa dạng, hàng thủ công mỹ nghệ khéo léo, giá thành rẻ … cũng như những nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam cũng mang lại sự thích thú cho du khách
- Cuộc sống của người dân Việt Nam tương đối thư thả hơn ở các nước phát triển, điều này cũng mang lại cảm giác thư giãn cho những du khách quốc tế muốn được nghỉ ngơi sau những ngày làm việc hối hả nơi họ sống
- Hệ thống chính trị ổn định của Việt Nam tạo sự an tâm về mặt an ninh, chính trị cho du khách quốc tế
2.3.2.2 Điểm yếu của ngành du lịch Việt Nam
- Từ năm 1989 đến nay, kinh doanh du lịch trở nên nhộn nhịp, nhưng phức tạp Một trong những nguyên nhân quan trọng là hệ thống văn bản pháp quy, các quy chế quản lý và kinh doanh du lịch vốn đã thiếu lại không được điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với thực tế
- Vấn đề quản lý Nhà nước trên địa bàn với nhiều cấp đang tồn tại là một khó khăn đáng kể Một doanh nghiệp du lịch thuần túy có nhiều họat động khác nhau tại một địa điểm thì có quá nhiều cơ quan được quyền cấp giấy phép (văn hóa thông tin, y tế, thương mại, giao thông công chính, thể dục, thể
- 39 -
Trang 40thao…) Tất cả những điều đó gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước đối với họat động du lịch ở Việt Nam
- Hiện nay tốc độ phát triển du lịch ngày càng nhanh và đa dạng nhưng bộ máy quản lý nhà nước về du lịch chưa đáp ứng và theo kịp xu thế phát triển Hiện nay cả nước mới chỉ có 14 tỉnh và thành phố đã thành lập Sở Du lịch Điều này sẽ hạn chế sự phát huy các tiềm năng du lịch của địa phương, đưa các hoạt động kinh doanh du lịch đi vào nề nếp
- Giá tour còn quá cao so với các nước trong khu vực, đặc biệt là do giá vé máy bay chiếm một giá trị quá lớn trong giá thành của một chuyến đi Ta có thể tham khảo giá các tour trọn gói từ Tokyo (Nhật Bản) đến các thành phố châu Á như Singapore, Thái Lan và thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ thấy giá tour đến Việt Nam là quá cao
Bảng 2.7 So sánh các tour trọn gói từ Tokyo đến Việt Nam
Tên tour Thời
gian
=133.65 JPY)
Singapore/Japan Airlines, 3 ăn sáng,
1 ăn trưa, phòng thường
48.000 yên 107.000 yên 49.800 yên
- 40 -