Trong nhà trường, môn Công nghệ là một môn có tính ứng dụng cao, giúp học sinh có những hiểu biết về khoa học, về thế giới sống, về con người trong mối quan hệ với môi trường, có tác dụn
Trang 1Phần I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môi trường là tập hợp tất cả những yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế khác Như vậy môi trường bao gồm tất cả những yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau và bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên(Điều 1: Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam, năm 1993)
Thực trạng môi trường trên thế giới hiện nay
Môi trường của chúng ta đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng, chính ô nhiễm môi trường đã làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp tới các đặc tính vật lí, sinh học, hóa học,…của bất kì thành phần môi trường Các chất gây ô nhiễm môi trường chính là nhân tố làm cho môi trường trở lên độc hại, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của con người và sinh vật trong môi trường đó, mặt khác sự suy thoái của môi trường còn gây ra những biến động cực kì phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống con người như: hạn hán, lũ lụt, sụt lở đất, xâm thực của thủy chiều, sóng thần, động đất, …
Sau hơn 30 năm kể từ Hội nghị môi trường đầu tiên trên thế giới (Stockholm 1972) đến nay, thế giới đã có nhiều nỗ lực để đưa vấn đề môi trường vào các chương trình nghị sự ở cấp quốc tế và quốc gia, tuy nhiên hiện trạng môi trường toàn cầu được cải thiện không đáng kể Môi trường chưa được lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Dân số toàn cầu tăng nhanh, sự nghèo đói, sự khai thác, tiêu thụ quá mức các nguồn tài nguyên
Trang 2thiên nhiên, sự phát thải quá mức khí “nhà kính”, …, là những vấn đề bức xúc
có tính phổ biến trên toàn cầu
Trong “Tuyên bố johannesburg và phát triển bền vững” năm 2002 của liên hợp quốc đã khẳng định về những thách thức mà nhân loại đang và sẽ phải đối mặt có nguy cơ toàn cầu
“Môi trường toàn cầu tiếp tục trở nên tồi tệ, Suy giảm đa dạng sinh học tiếp tục tiếp diễn, trữ lượng cá tiếp tục bị giảm sút, sa mạc hóa cướp đi càng nhiều diện tích đất đai màu mỡ, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã biểu hiện rõ ràng Thiên tai ngày càng nhiều và ngày càng khốc liệt Các nước đang phát triển trở nên dễ bị tổn hại hơn, ô nhiễm không khí, nước, biển, tiếp tục lấy đi cuộc sống thanh bình của hàng triệu người.”
Bản tổng kết môi trường toàn cầu do Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) mới công bố cho thấy VN có hai TP nằm trong danh sách
6 TP bị ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất trên thế giới Theo tiến sĩ Hoàng Dương Tùng - Giám đốc Trung tâm Quan trắc và thông tin môi trường thuộc Cục Bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), VN đối mặt với tất cả các vấn đề được nêu trong báo cáo Về nồng độ bụi, hai TP lớn nhất
VN chỉ đứng sau Bắc Kinh, Thượng Hải, New Delhi và Dhaka Mối đe doạ tiềm tàng này chắc chắn sẽ cản trở quá trình phát triển hơn nữa của các TP này Theo một nghiên cứu về các chỉ số môi trường ổn định do Trường Đại học Yale (Mỹ) thực hiện trong năm 2006, VN đứng thứ hạng thấp nhất trong
số 8 nước Đông Nam Á Báo cáo về thay đổi khí hậu của Ngân hàng Thế giới trong năm 2007 cũng cho thấy VN là một trong hai quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất của tình trạng băng tan Nếu nhiệt độ tiếp tục tăng, VN sẽ mất 17% sản lượng nông nghiệp Các chuyên gia dự báo Khu kinh tế Dung Quất tại VN có thể thấp hơn mực nước biển
Trang 3Ở Việt Nam chúng ta, hầu hết các dòng sông ở Việt nam đang trong giai đoạn chuyển mình sang giai đoạn dòng sông chết…, nước bị ô nhiễm một cách trầm trọng Trước đây là sông Đồng Nai( Đồng Nai- Bình Dương_TPHCM) bây giờ là sông Thị Vải( Đồng Nai), kênh Ba Bò, gần đây nhất là sông Hồng (Hà Nội), là thác Cam Ly( Lâm Đồng), là sông Cầu, sông Đuống( Bắc Ninh) Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơ lửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầu hết các rạch, cống và các điểm xả Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3 trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính); hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần còn các hồ lớn nhỏ trong các thành phố lớn cũng không thoát khỏi tình cảnh
Trang 4Không khí cũng vậy, càng ngày lượng khói thải ra từ các nhà máy, các khu công nghiệp, các chất độc càng nhiều Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác, không khí ở một số đô thị lớn thì tràn ngập bụi, nồng độ bụi
lơ lửng đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần ở một số đô thị và khu công nghiêp Theo thống kê của sở Tài Nguyên Môi Trường và Nhà Đất Hà Nội, mỗi năm thành phố Hà Nội phải tiếp nhân khoảng 80.000 tấn bụi, khói; 9.000 tấn SO2; 46.000 tấn CO2 từ các khu công nghiệp thải ra, hầu hết các đô thị lớn đều bị ô nhiễm không khí nhưng chỉ là ở mức độ khác nhau Ngoài bị
ô nhiễm bởi bụi, khói, không khí còn bị ô nhiễm bởi một số khí thải độc hại khác như: SO2, CO2, NOx, CO,…, là những chất khí gây nên hiện tượng
“lồng kính” làm nhiệt độ trái đất tăng lên và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người
Trước tình hình đó, việc bảo vệ môi trường là câu hỏi đặt ra và cũng là mối quan tâm của toàn cầu Tất cả các quốc gia đều khẳng định, muốn bảo vệ môi trường thì yếu tố quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của cộng đồng
Trang 5Ở nước ta, ngày 17-02-2001 Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 1363/QĐ-TTG: Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân
Trong nhà trường, môn Công nghệ là một môn có tính ứng dụng cao, giúp học sinh có những hiểu biết về khoa học, về thế giới sống, về con người trong mối quan hệ với môi trường, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan khoa học nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Môn Công nghệ ở trường phổ thông có khả năng tích hợp các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường sống Đặc biệt là một số bài trong chương trình Công nghệ 10
Học sinh trung học phổ thông nói chung và học sinh lớp 10 nói riêng đều là chủ nhân tương lai của đất nước, các em cần có những cái nhìn đúng đắn về môi trường, về vấn đề bảo vệ môi trường Để hình thành cho các em những kiến thức về môi trường, về bảo vệ môi trường, về mối quan hệ giữa con người và môi trường, giữa tài nguyên và môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, có nhậ thức đúng đắn về môi trường cũng như có ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, có tình cảm yêu quý thiên nhiên, đất nước, tôn trọng những vẻ đẹp thiên nhiên, có thái độ thân thiện với môi trường,…
Với lí do trên tôi đã chọn đề tài “VẬN DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ 10”
Trang 63 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng giáo dục môi trường vào bảo vệ môi trường của học sinh trung học phổ thông
- Hệ thống hóa nội dung kiến thức giáo dục môi trường trong chương trình Công nghệ 10, Phần 1, Chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào dạy học môn Công nghệ 10
- Thiết kế một số bài giảng vận dụng một số biện pháp tích hợp giáo dục bảo
vệ môi trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung SGK Công nghệ 10- THPT
- Học sinh lớp 10- THPT
- Các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học có tích hợp GDMT vào dạy học môn Công nghệ 10 ở trường phổ thông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phần 1, Chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước về bảo vệ môi trường, nhiệm vụ của nhà trường phổ thông và nhiệm vụ của môn Công nghệ
Trang 7ở THPT, cơ sở lý luận của việc vận dụng các biện pháp tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Công nghệ 10
5.2 Phương pháp điều tra sư phạm
Thông qua dự giờ, thảo luận, nghiên cứu giáo trình, giáo án để tìm hiểu tình hình dạy và học môn Công nghệ ở trường THPT, nhận thức của học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 10 nói riêng về vấn đề môi trường( bằng phiếu, phỏng vấn trực tiếp)
5.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến nhận xét đánh giá của những giáo viên Công nghệ THPT có kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Công nghệ và khả năng tích hợp giáo dục môi trường vào dạy học Công nghệ
6 Những đóng góp của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Công nghệ 10, tạo điều kiện cho giáo viện thực hiện tốt mục tiêu giáo dục trong dạy học Công nghệ 10
- Phân tích nội dung kiến thức bảo vệ môi trường trong phần 1, Chương 1: Trồng trọt, lâm nghiêp đại cương Công nghệ 10
- Thiết kế được một số giáo án có ví dụ tích hợp GDMT vào dạy học Công nghệ 10
Trang 8Phần II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Ô nhiễm môi trường là một đề tài nóng, rất nóng trong xã hội hiện nay, môi trường sống của chúng ta (Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung) đang xuống cấp một cách trầm trọng
Ô nhiễm môi trường xuất hiện ở hầu hết các quốc gia, chỉ khác ở mức độ nặng hay nhẹ mà thôi, (cũng có một vài ngoại lệ như singapore) Ô nhiễm môi trường, mà nổi bật là ô nhiễm không khí và nguồn nước đang là đề tài nóng hổi trên các mặt báo thời gian qua
của quá trình công
nghiệp hóa, đô thị
Trang 10ra nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việc sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp như phân hóa học và thuốc trừ sâu tuy còn thấp nhưng không đúng kĩ thuật là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường cục bộ ở một
số địa phương và xu
hướng ngày càng ra tăng
Ô nhiễm môi trường
nước
Hầu hết nước thải
sinh hoạt (bao gồm cả
nước thải ở các bệnh
viện) ở đô thị và 90%
nước thải ở các cơ sở
công nghiệp cũ không
Trang 11được sử lí, xả trực tiếp vào kênh, mương, sông, hồ, gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước ở một số địa phương Nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4, tổng N, tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước loại A
từ 2-3 lần
Nước biển ven bờ đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm Hàm lượng các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng, thành phần kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật ở một số nơi đã vượt tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng dầu ở một số vùng biển vượt quá tiêu chuẩn và đang có xu hướng tăng lên, nước ngầm ở một số
đô thị đang có xu hướng cạn kiệt về lượng và suy giảm về chất
Hiện trạng về rừng và đa dạng sinh học
Dưới áp lực phát triển kinh tế, rừng tự nhiên đầu nguồn và rừng ngập mặn bị tàn phá nghiêm trọng, hiện trạng rừng giàu, kín nguyên sinh chỉ còn chiếm 13% trong khi rừng nghèo và rừng tái sinh chiếm tới 55% diện tích rừng
Trang 12Sự đa dạng sinh học cũng đang diễn ra nhanh chóng do sự thu hẹp và mất dần nơi cư trú của các giống loài do cháy rừng, một phần đất đai bị chuyển đổi mục đích sử dụng, do khai thác và đánh bắt không hợp lí, do ô nhiễm môi trường,…sự biến mất của các loài đã và đang diễn ra từng ngày
1.2 Quan điểm và chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam
1.2.1 Quan điểm của Việt Nam về vấn đề bảo vệ môi trường
QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 27 tháng 12 năm 1993;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Quyết định của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ môi trường:
Trang 13- Chiến lược Bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước, phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững
- Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân
- Bảo vệ môi trường phải trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể chế
và pháp luật đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về bảo vệ môi trường
- Bảo vệ môi trường là việc làm thường xuyên, lâu dài Coi phòng ngừa là chính, kết hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện chất lượng môi trường; tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; coi khoa học và công nghệ là công cụ hữu hiệu trong bảo vệ môi trường
- Bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ”
(Trích QĐ của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020) 1
1.2.2 Chính sách của Việt Nam về vấn đề bảo vệ môi trường
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề ô nhiễm môi trường, những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường, điển hình là Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư
về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Luật Bảo vệ
1
Luật bảo vệ môi trường năm 2005
Trang 14môi trường (sửa đổi); các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa
tự nhiên - con người - xã hội
Nghị quyết số 41 của Trung Ương ngày 15-11 – 2004 của bộ chính trị
về môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã chỉ rõ: Đưa nội dung giáo dục BVMT, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân, tăng dần thời lượng tới hình thành môn học chính khoá đối với cấp học phổ thông
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo trên, giáo dục bảo vệ môi trường được
Bộ Giáo Dục Đào tạo đã ra chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục bảo
vệ môi trường xác định nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến 2015 cho giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học và thông qua các hoạt động ngoại khoá, xây dựng mô hình nhà trường xanh-sạch-đẹp phù hợp với các vùng, miền
Hiện nay ở các cấp học giáo dục bảo vệ môi trường chưa phải là môn học chính khoá nên việc tích hợp giáo dục môi trường vào môn học có liên quan đến kiến thức về môi trường là điều cần thiết, nhưng kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường không phải muốn đưa vào bài học nào cũng được, mà phải căn cứ vào nội dung của bài học có liên quan với vấn đề môi trường mới có thể tích hợp được
Trang 15Vậy chúng ta cần xác định nội dung kiến thức bảo vệ môi trường, phương pháp tích hợp, mục tiêu tích hợp, địa chỉ tích hợp trong bài giảng sao cho hợp
lí
Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường là trang bị kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường và kỹ năng bảo vệ môi trường: Các em phải ý thức được rằng giữ gìn bảo vệ môi trường sống phải từ các hoạt động bình thường, ngay trong lớp học, giờ chơi, lúc nghỉ ngơi, sinh hoạt trong gia đình, nơi công cộng, xa hơn nữa lúc làm việc trên đồng ruộng, trồng rừng, trong nhà máy công sở, và có khả năng cải tạo môi trường xung quanh bằng những việc làm đơn giản mà hiệu quả, cũng có thể nảy sinh những ý tưởng mới mẻ về BVMT trong giới trẻ
1.3 Nhiệm vụ của chương trình Công nghệ 10-THPT
1.3.1 Nhiệm vụ trí dục phổ thông
- Quá trình dạy học ở bậc THPT có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững hệ thống các kiến thức, phổ thông, cơ bản, hiện đại cho phù hợp trình độ phát triển của HS THPT
- Kiến thức phổ thông là những kiến thức cần thiết cho mọi người trong cuộc sống lâu dài, cho mọi thanh thiếu niên trong lứa tuổi học đường
- Kiến thức cơ bản là những kiến thức phản ánh bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thực tại khách quan, giúp con người làm chủ thực tại và hành động hợp lí
Trong chương trình Công nghệ - THPT, kiến thức cơ bản nhất là hệ thống các kiến thức các khái niệm, các quy luật được phát triển theo một trình
tự logic chặt chẽ Các kiến thức này đặt nền móng cho việc tiếp tục học lên hoặc vào các trường trung học chuyên nghiệp - dạy nghề có liên quan hoặc ra đời, hoà nhập với cộng đồng, tham gia lao động sản xuất và các công việc trong các ngành nghề khác
Trang 16Khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại, lượng thông tin ngày một tăng lên nhanh chóng vì vậy, những kiến thức phổ thông cũng cần phải cập nhật, đổi mới Ngoài việc cải cách thay SGK theo chu kì từng giai đoạn, thì người
GV cũng cần phải thường xuyên cập nhật tri thức, tìm kiếm, tích luỹ thông tin khoa học Công nghệ
Qua quá trình dạy học HS phải hiểu, nhớ và vận dụng được, theo nguyên lí giáo dục đi đôi với thực hành, lí luận kết hợp với thực tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, việc giảng dạy môn Công nghệ phải quán triệt tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp Thông qua môn Công nghệ giúp HS nắm vững cơ sở khoa học của những công cụ kĩ thuật, quy trình sản xuất cơ bản,
có liên quan đến các đối tượng sống
Nguồn tri thức cung cấp cho HS thông qua con đường giáo dục là nguồn tri thức có mục đích, đã được chọn lọc, sắp xếp có hệ thống, quy định trong chương trình, SGK và được GV thể hiện trong quá trình hướng dẫn HS học tập theo kế hoạch hợp lí
1.3.2 Nhiệm vụ phát triển tư duy
Trong dạy học SH, GV phải tạo cơ hội thuận lợi để HS tập dượt, phát triển các kĩ năng và phẩm chất trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức, để
HS rèn luyện các thao tác, kĩ năng, kĩ xảo, xây dựng thói quen vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống
Việc phát triển các kĩ năng cần tuân theo quy luật tâm lí của quá trình nhận thức đó là đi từ nhận thức cảm tính (Quan sát, chú ý, ghi nhớ) đến nhận thức lí tính (So sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, cá biệt hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, hệ thống hóa)
Trong QTDH, nhiệm vụ phát triển bao gồm hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau: Phát triển năng lực nhận thức và phát triển năng lực hành động
Trang 17Năng lực nhận thức: Bao gồm hệ thống các kĩ năng giúp cho quá trình nhận thức thuận lợi và có hiệu quả hơn, như: kĩ năng quan sát, kĩ năng làm thí nghiệp, kĩ năng suy luận, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa…
Năng lực hành động: Đó là các phẩm chất tư duy, biểu hiện ở tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập: Tự học, tự nghiên cứu, năng lực phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tế
Trong quá trình thực hiện chương trình Công nghệ ở bậc trung học phổ thông, GV cần chú ý phát triển các kĩ năng nhận thức sau:
a Kĩ năng quan sát:
Rèn luyện cho HS biết quan sát tinh tường, đi sâu vào từng chi tiết, tập trung vào nhữug chi tiết quan trọng nhất của đối tượng Từ quan sát bằng mắt, đến quan sát bằng kính lúp, kính hiển vi Từ quan sát mẫu vật sống đến các vật tượng hình Cùng với quan sát là rèn luyện cho HS kĩ năng mô tả sự vật, hiện tượng quan sát được, từ việc mô tả bằng ngôn ngữ thông thường đến việc
c Kĩ năng suy luận quy nạp:
Trang 18Các kiến thức thu được nhờ quan sát và thí nghiệm chỉ là những kiến thức sự kiện, cụ thể, riêng lẻ, chúng cần phải được khái quát hóa, trừu tượng hóa thành những kiến thức lí thuyết (khái niệm, quy luật), việc này có thể được thực hiện bằng cách rèn luyện cho HS kĩ năng suy luận quy nạp.
Quy nạp có thể hiểu đơn giản là đi từ những cái cụ thể, riêng lẻ thành cái mang tính khái quát, chung cho tất cả những cái cụ thể, riêng lẻ đó
Quy nạp là suy lí bắt đầu từ việc so sánh các nhóm đối tượng cùng loại
để tách ra các dấu hiệu chung, các thuộc tính bản chất của chúng, đây chính là con đường hình thành các khái niệm, quy luật
Khi vận dụng các khái niệm, quy luật vào các trường hợp cụ thể thì lại cần đến kĩ năng suy lí diễn dịch, tức là đi từ cái chung, khái quát đến cái cụ thể, riêng lẻ Trong dạy học 2 kĩ năng này luôn bổ sung cho nhau và đều cần cho quá trình vận động của tư duy Tuy nhiên do đặc điểm của quá trình nhận thức của học sinh trung học phổ thông, GV cần chú trọng phát triển tư duy thực nghiệm quy nạp trên cơ sở rèn luyện kĩ năng quan sát, thí nghiệm
- Giáo dục môi trường
- Giáo dục hướng nghiệp
Trang 19hiện trên nền của việc trang bị kiến thức có hệ thống được chọn lọc trong tinh hoa di sản văn hóa của loài người và của dân tộc Tri thức là nội dung, là thức
ăn của tư duy, là chất liệu để hình thành niềm tin thế giới quan và phẩm chất tốt đẹp của nhân cách
- Phát triển năng lực nhận thức và hành động là hệ quả của quá trình chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực và chủ động sáng tạo và ngược lại, đó cũng là điều kiện để HS tiếp tục chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc và hiệu quả hơn Suy nghĩ tích cực độc lập, sâu sắc trong tự học, tự rèn luyện cũng là điều kiện để người học cải biến chính mình về tư tưởng, tác phong, thái độ, niềm tin
- Giáo dục các phẩm chất nhân cách vừa là hệ quả của hai nhiệm vụ trên, là mục đích cuối cùng của việc dạy học, vừa là yếu tố kích thích, động lực thúc đẩy quá trình chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động đến trình độ sáng tạo
Mối quan hệ trên được thể hiện qua sơ đồ "Tam giác Sư phạm" sau:
Để hoàn thành thành được nhiệm vụ dạy học trong nhà trường phổ thông chúng ta không chỉ chú trọng hay lơ là một trong ba nhiệm vụ, chúng ta phải kết hợp cả ba nhiệm vụ trong quá trình dạy học, vì ba nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất trong sản phẩm của nhà trường,
đó là những con người phát triển toàn diện
Trang 20Nhiệm vụ trí dục và nhiệm vụ phát triển tu duy là tiền đề, là động lực, là điều kiện để lĩnh hội kiến thức tốt hơn nhưng nhiệm vụ giáo dục lại là kết quả tất yếu, là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, và nó cũng có tác dụng thúc đẩy quá trình lĩnh hội tri thức và phát triển tư duy, vì vậy không thể bỏ qua bất kì nhiệm vụ nào
Và nhiệm vụ giáo dục môi trường trong hiện nay là một nhiệm vụ cấp thiết, cần được tiến hành song hành cùng các nhiệm vụ dạy học khác Như chúng ta đã biết, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là vấn đề toàn cầu, cả thế giới phải đối mặt với nguy cơ xuống cấp của môi trường sống Việc bảo vệ môi trường là việc làm quan trọng và cần thiết nhất hiện nay, mỗi con người, mỗi công dân phải có ý thức và hành vi bảo vệ môi trường, vì vậy việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường là việc làm tích cực và hiệu quả nhất để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, hình thành thái
độ, hành vi ứng sử than thiện với môi trường
Chúng ta có thể đưa giáo dục môi trường thành một môn riêng hoặc có thể tích hợp nó vào một số bộ môn phù hợp cho việc tích hợp GDMT, môn Công nghệ và GDMT có sự “giao thao” nhau về mục tiêu, nội dung cũng như cách thức thực hiện, trong đó suy cho cùng mục tiêu GDMT là mục tiêu bao trùm nhất Vì vậy nếu ta đưa việc tích hợp GDMT vào dạy học môn Công nghệ là một điều cần thiết và rất thuận lợi trong việc GDMT cho HS, bởi nhờ việc tích hợp một cách khéo léo, phù hợp vào bài dạy thì bài dạy sẽ thêm phần sinh động, kích thích được sự tích cực tham gia vào quá trình học của HS đồng thời có thể GDMT cho các em
1.4 Phương pháp tích hợp GDMT trong dạy học
1.4.1 Tích hợp là gì?
Quan niệm về tích hợp:
Trang 21Tích hợp được hiểu là sự kết hợp, lồng ghép các mục tiêu khác nhau thông qua một hoạt động nào đó
Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên
hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó
Phương pháp tích hợp GDMT
Là cách thức, con đường để đạt được các mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường thông qua môn học, hoạt động giáo dục cụ thể
Có thể thông qua
+ Các bài dạy lý thuyết, thực hành của môn học
+ Thông qua tham quan thực tế
+ Thông qua hoạt đông ngoại kháo các nội dung có liên quan
1.4.2 Phương pháp tích hợp GDMT trong dạy học
Giáo dục môi trường là gì?
GDMT là dựa trên những tri thức về môi trường mà hình thành thái độ, ý thức, trách nhiệm và kĩ năng hành động của HS nhằm bảo vệ môi trường bằng các giải pháp trước mắt và lâu dài
GDMT không phải ngày một ngày hai mà là cả một quá trình lâu dài, không phải chỉ ở HS THPT mà ở mọi lứa tuổi và trong suốt cuộc đời GDMT trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là mỗi HS được trang bị một ý thức, trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, hình thành thái độ và ý thức bảo vệ tài sản quý giá nhất của nhân loại
Nguyên tắc chung cho việc tích hợp GDMT trong dạy học
Tích hợp GDMT trong môn học phải dựa trên mối quan hệ vốn có, tự nhiên giữa mục tiêu, nội dung của môn học với mục tiêu và nội dung của
Trang 22GDMT Tránh sự khiên cưỡng, gò ép, mặt khác nó phải luôn phù hợp và dựa trên thực tiễn cuộc sống, trải nghiệm của bản thân HS
1.5 Tình hình vận dụng các biện pháp tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Công nghệ 10
1.5.1 Tình hình dạy và học môn Công nghệ 10-THPT
Bằng hình thức trao đổi với GV dạy bộ môn Công nghệ 10 về vấn đề tích hợp GDMT trong dạy học bộ môn, và thông qua dự giờ chúng tôi nhận thấy môn Công nghệ ở trường phổ thông nói chung và Công nghệ 10 nói riêng, đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức, do thiếu thốn về cơ sở vật chất và ảnh hưởng của tâm lí phân biệt môn chính, môn phụ nên giáo viên chưa nhiệt tình trong giảng dạy Đa số giáo viên vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình- thông báo, chú trọng truyền đạt kiến thức lí thuyết chưa quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy của HS Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc tích hợp kiến thức giáo dục môi trường, còn lúng túng trong việc liên hệ với thực tiễn, lựa chọn phương pháp thích hợp để thực hiện nhiệm vụ giáo dục môi trường
Do không phải là môn thi tốt nghiệp nên đa số học sinh chưa say mê học tập, yêu thích bộ môn, tư tưởng ỉ lại, dựa dẫm vào kiến thức có sẵn do giáo viên cung cấp là khá phổ biến, chủ yếu là lắng nghe, ghi nhớ lời giảng của giáo viên
Tuy nhiên Công nghệ nông nghiệp là môn khoa học ứng dụng, nội dung kiến thức rất gần gũi và thiết thực với đời sống hàng ngày Nên nếu giáo viên
có phương pháp dạy học thích hợp sẽ thu hút được sự chú ý của học sinh, phát huy được tính tích cực, chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh Đặc biệt là lựa chọn được nội dung kiến thức liên quan đến môi trường sống Các biện pháp tích hợp giáo dục môi trường sẽ phát huy ưu thế của môn học, thực hiện tốt mục tiêu giáo dục môi trường, góp phần nâng cao nhận thức về
Trang 23nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ môi trường của những chủ nhân tương lai của đất nước
1.5.2 Tình hình vận dụng các biện pháp tích hợp GDMT trong dạy học môn Công nghệ 10
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học, đưa giáo dục môi trường vào một số bộ môn như Sinh học, Hóa học Nhưng việc tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Công nghệ thì chưa có những nghiên cứu mang tính hệ thống, phần lớn mới dừng lại ở các tiết dạy mẫu, thi giáo viên dạy giỏi
Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ
sở lý luận của việc tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Công nghệ 10, tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện tốt mục tiêu giáo dục trong dạy học Công nghệ 10 - THPT
Trang 24Chương 2: CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ 10 VÀ NỘI DUNG TÍCH HỢP GDMT TRONG CHƯƠNG 1 (PHẦN 1) CÔNG NGHỆ 10
2.1 Cấu trúc chương trình Công nghệ 10- THPT
Được cấu trúc theo kiểu đồng tâm xoáy ốc, được mở rộng và nâng cao dần từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông
Chương trình Công nghệ ở bậc cơ sở đề cập đến nội dung Trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi thủy sản…
Lên đến bậc trung học phổ thổng, các em lại được học về trồng trọt, lâm nghiệp và chăn nuôi thủy sản nhưng được nâng cao và mở rộng hơn…
Chương trình Công nghệ 10 ở bậc trung học phổ thông, học sinh được
mở rộng, nâng cao kiến thức về trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi thủy sản và đặc biệt là bảo quản chế biến lương thực và tạo lập doanh nghiệp Chương trình chủ yếu là kiến thức đại cương, nhằm cung cấp cho học sinh những nguyên lý chung để học sinh có thể vận dụng vào các đối tượng cụ thể
Chương trình Công nghệ 10- THPT được cấu trúc 2 phần:
- Phần 1: Nông, lâm, ngư nghiệp; Gồm 3 chương
+ Chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương
+ Chương 2: Chăn nuôi thủy sản đại cương
+ Chương 3: Bảo quản và chế biến nông, lâm, thủy sản
- Phần 2: Tạo lập doanh nghiêp; Gồm 1 chương
+ Chương 4: Tạo lập doanh nghiệp và hướng nghiệp
+ Chương 5: Tổ chức và quản lí doanh nghiệp
Trang 252.2 khung phân phối chương trình Công nghệ 10
Khung phân phối chương trình lớp 10 - Môn Công nghệ
Lớp 10
Cả năm: 37 tuần (52 tiết) Học kì I: 19 tuần (18 tiết) Học lì II: 18 tuần (34 tiết)
số tiết
Lý thuyết
Thực hành
Phần I: Nông, lâm, ngư nghiệp
Chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương 18 12 6
Chương 2: Chăn nuôi, thủy sản đại cương 18 14 4
Chương 3: Bảo quản và chế biến nông, lâm,
thủy sản
Phần II: Tạo lập doanh nghiệp( 11 t) + Hướng nghiệp(6t)
Chương 4: Doanh nghiệp và lựa chọn lĩnh vực
kinh doanh
Chương 5: Tổ chức và quản lý doanh nghiệp 6 5 1
Ôn tập( kì I có 2 tiết, kì II có 3 tiết) 5
Kiểm tra(kì I có 1 bài kiểm tra 1 tiết, 1 bài kiểm
tra cuối kì, kì II có 2 bài kiểm tra 1 tiết và 1 bài
kiểm tra cuối năm)
5
Trang 262.3 Nội dung tích hợp giáo dục môi trường trong chương 1
Bài 9: Biện pháp cải tạo và sử
Nguyên nhân trực tiếp gây xói mòn đất
là lượng mưa và địa hình của đất nhưng nguyên nhân sâu xa là hiện tượng phá rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn từ đó nhấn mạnh biện pháp trồng rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn
Từ đó HS thấy được vai trò, tầm quan trọng của rừng đầu nguồn, có thái độ tích cực trong việc bảo vệ rừng và tài
nguyên đất Giáo dục ý thức bảo vệ tài nghuyên đất và rừng
Tình trạng sử dụng phân bón hiện nay gây ô nhiễm môi trường đất và môi trường sống, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, là hiểm họa cho nền sản xuất nông nghiệp trong tương lai Thấy được vai trò của việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường
Tầm quan trọng của việc sử dụng
Trang 27sinh trong sản xuất phân bón
Bài 17: phòng trừ tổng hợp dịch
hại cây trồng
Bài 19: Ảnh hưởng của thuốc
hóa học bảo vệ thực vật đến
quần thể sinh vật và môi trường
những loại phân bón sạch, thân thiện với môi trường nhưng vẫn giải quyết được vấn đề nhu cầu lương thực ngày càng tăng
Thấy được việc sử dụng thuốc hóa học trong sản xuất nông nghiệp không phải
là biện pháp duy nhất để tiêu diệt sâu, bệnh hại mà còn có nhiều biện pháp không gây hại cho môi trường mà vẫn đạt được kết quả, và phải sử dụng hợp
lí thuốc hóa học
Thuốc bảo vệ thực vật không những gây ôi nhiễm môi trường mà còn phá hoại sự cân bằng sinh thái của quần thể sinh vật
Các loài trong quần xã luôn có quan hệ mật thiết với nhau Số lượng cá thể trong quần xã luôn được khống chế ở mức độ phù hơp với khả năng của môi trường, tạo nên sự cân bằng sinh học trong quần xã
Các sinh vật trong quần xã luôn gắn bó với nhau bởi nhiều mối quan hệ, trong
đó quan hệ dinh dưỡng có vai trò quan trọng được thể hiện qua chuổi thức ăn,
Trang 29Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG CÔNG NHỆ 10 – THPT 3.1 Một số biện pháp
3.1.1 Sử dụng phương pháp nêu tình huống có vấn đề
Khái niệm về phương pháp nêu tình huống có vấn đề
Thực chất của dạy học nêu vấn đề là việc giáo viên đặt câu hỏi hoặc nêu vấn đề và bài toán có vấn đề, còn học sinh thì tự lực suy nghĩ, thảo luận, giải đáp dưới sự định hướng của giáo viên
Thông thường, phương pháp dạy học theo tình huống thường được sử dụng nhằm mục đích:
+ Đi đến một sự nhận thức chung, khái quát từ một tình huống riêng biệt đặc thù, để đạt được điều đó, giáo viên phải tự tạo ra những tình huống phù hợp (thu thập một hệ thống các tình huống)
+ Khuyến khích người học để họ có khả năng đề ra được các giải pháp giải quyết vấn đề
Để vận dụng phương pháp dạy học theo tình huống đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải tìm ra được những tình huống có liên quan đến thực tiễn, song trong thực tế nghề nghiệp các tình huống xảy ra lại rất đa dạng, nhiều hình nhiều vẻ, cho nên phải lựa chọn những tình huống nào để cho người học nhận ra và giải quyết cho phù hợp với chương trình và mục tiêu học tập lại là nghệ thuật của người giáo viên Muốn làm được điều này, giáo viên phải tìm kiếm trong các tài liệu học tập, các văn bản và trong hoạt động thực tiễn dạy và học Cấu trúc của một tình huống thường có liên quan đến trạng thái căng thẳng, gay cấn giữa vấn đề: thu thập tình huống, tính vừa sức, tầm quan trọng, định hướng khoa học với hành động thực dụng
Trang 30Nguyên tắc dạy học khi vận dụng phương pháp dạy học theo tình huống là:
+ Học tập phải gắn với thực tiễn, nghĩa là học ở những ví dụ thực tiễn, + Học cách giải quyết vấn đề, nghĩa là học ở những ví dụ có những giải pháp giải quyết vấn đề khác nhau và đi đến sự quyết định
Khi dùng phương pháp này người học được đưa vào một tình huống trong công việc họ đang thực hiện với vai trò là một chủ thể hành động thực
tế, họ không chịu sự ép buộc nào, nhưng họ đang đứng trước một tình thế buộc họ phải hành động và có trách nhiệm giải quyết, họ phải nhìn nhận toàn
bộ các mối quan hệ liên quan đến tình huống và sự tạo ra các thông tin để nắm bắt vấn đề
Chất liệu tạo nên tình huống phải được tạo nên từ bản chất của công việc
và việc cung cấp tài liệu phải rõ ràng, dễ hiểu, và nếu có giải thích cho người học thì phải mở ra những ý tưởng khác nhau Những thông tin cơ bản ban đầu phải cho người học làm quen với tình huống được khai thác Những thông tin khó hiểu phải được chia tách ra và giải thích cặn kẽ, rõ ràng và tạo điều kiện cho họ có thể dễ dàng thông hiểu và xử lý được, bằng cách dùng những câu hỏi gợi ý và hướng dẫn công việc để người học định hướng tiếp tục cho những vấn đề nhất định
Những luận điểm sau đây cần được chú ý Aebli (1981) đã nêu ra 13 quy tắc để giải quyết vấn đề:
1 Lường trước được những khó khăn, chú ý đến ngôn ngữ và vài khái niệm hoặc lời nói có tình huống,
2 Nếu gặp những khó khăn trong khi hành động và trong khi diễn ra các trạng thái xúc cảm tiêu cực có thể sử dụng những ngôn ngữ dễ hiểu có tính chất đời thường,
Trang 313 Mô tả vấn đề với sự trợ giúp của những phương tiện cần thiết có thể
sử dụng để đạt được sự thông hiểu bản chất của nó,
4 Tạo ra những hiểu biết tốt nhất về những điều đã cho thuộc phạm vi của vấn đề
5 Định rõ đặc điểm của vấn đề,
6 Tìm kiếm những kiến giải đặc thù cho vấn đề,
7 Làm sáng tỏ những câu hỏi được nêu ra,
8 Không những chỉ đi từ cái đã biết đến cái phải tìm, mà còn ngược lại
đi từ cái phải tìm đến cái đã biết,
9 Kiểm tra những cái đã đạt được trong cách giải quyết,
10 Quay trở lại cách đã giải quyết khi cần thiết,
11 Sử dụng tất cả những thông số có liên quan đến vấn đề,
12 Trường hợp nếu không thể giải quyết được những nhiệm vụ đã đặt ra thì có thể lược lại những nhiệm vụ đã thực hiện, hoặc những nhiệm vụ thông dụng,
13 Nếu không giải quyết được vấn đề, trong trường hợp này không cần thiết lược lại toàn bộ chương trình hành động, mà nên xem xét lại cách giải quyết vấn đề và tìm kiếm trong những điều đã học của mình
Ví dụ đưa ra tình huống:
Tình huống 1: “Để góp phần giữ gìn sự trong sạch không khí cho đừờng
phố, người ta thường lập nên những công viên cây xanh, nhưng quá trình đô thị hóa, diện tích xây dựng nhà ở, đường giao thông ngày càng tăng, vậy làm thế nào để đảm bảo tỷ lệ diện tích cây xanh hợp lí cho một đô thị hiện đại?”
Tình huống 2: “Phân hóa học có tỉ lệ dinh dưỡng cao, dễ hòa tan, cây hấp
thụ nhanh và hiệu quả Vậy tại sao các nhà khoa học vẫn khuyến cáo không
nên lạm dụng phân hóa học?” (áp dụng trong bài 12: Đặc điểm, kĩ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường)
Trang 32
3.1.2 Tổ chức trao đổi thảo luận trong giờ lên lớp
Khái niệm phương pháp thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là phương pháp nhằm giúp HS tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho HS có thể chia sẻ kinh nghiệm hay ý kiến để giải quyết một vấn đề nào đó
GV có thể chia chia lớp thành các nhóm nhỏ thảo luận một vấn đề, chẳng hạn như “con người gây nên những tác động xấu gì đến thiên nhiên?”, từng nhóm lên thuyết trình quan điểm của mình, các nhóm còn lại lắng nghe và có thể phản biện
- Các bước tiến hành thảo luận nhóm:
Trang 33Bước 1: xác định rõ mục tiêu của cuộc thảo luận
Bước 2: xây dựng nội dung thảo luận
Bước 3: xây dựng cấu trúc tiến trình thảo luận từng vấn đề
Bước 4: dự kiến hệ thống câu hỏi nêu vấn đề và câu hỏi gợi mở sẽ được
sử dụng trong quá trình thảo luận
Bước 5: kế hoạch thảo luận cần thông báo cho học sinh biết trước
- Yêu cầu khi tiến hành thảo luận:
+ Chia nội dung bài học thành những vấn đề nhỏ có liên kết với nhau + Chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ
+ Mỗi nhóm cử ra một trưởng nhóm
+ Giao nhiệm vụ cho từng cá nhân và nhóm
+ Kết quả thảo luận được trình bày trước nhóm và lớp
Đảm bảo yếu tố cạnh tranh và thi đua trong các nhóm
Đảm bảo yếu tố thông tin phản hồi từ các nhóm
Giáo viên đóng vai trò trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Tuy nhiên để đảm bảo những giờ thảo luận đạt được hiệu quả cao, tránh tình trạng học sinh không tích cực tham gia thảo luận, giáo viên phải:
+ Lựa chọn được chủ đề thảo luận
+ Biết cách phân chia các nhóm thảo luận
+ Biết phân bố thời gian cho mỗi chủ đề thảo luận
+ Có khả năng chuyển hóa các tri thức trong SGK sang tri thức dưới dạng tình huống
+ Phải là người có năng lực tổ chức, điều khiển và dẫn dắt học sinh thảo luận
+Phải tạo ra được không khí thoải mái trong tiến tình thảo luận
+ Phải có khả năng điều tiết và xử lý khéo léo các tình huống bất thường diễn ra trong quá trình thảo luận
Trang 34+Phải là người biết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại
Thảo luận nhóm và sử dụng phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp có thể nâng cao hiệu quả cao cho việc tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học công nghệ 10
Ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: “Chúng ta đã biết được nguyên nhân làm cho đất bị bạc màu, vậy có
cách khắc phục tình trạng này không? Và cụ thể chúng ta có thể làm gì để cải
tạo nó” (Bài 9: Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu và đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá)
Ví dụ 2: “Tại sao đất xám bạc màu lại phân bố chủ yếu ở vùng trung du Bắc
Bộ và miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên?” (Bài 9: Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu và đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá)
3.1.3 Phương pháp vấn đáp
Là quá trình tương tác giữa người dạy và người học, được thực hiện
thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được người dạy và người học đặt ra nhằm đạt mục tiêu dạy học
Phương pháp này giáo viên đưa ra các câu hỏi học sinh trả lời, hoặc ngược lại Việc sử dụng các câu hỏi hợp lí này khuyến khích học sinh quan tâm đến các vấn đề môi trường và dự đoán các vấn đề môi trường xảy ra trong tương lai
Đặt ra các câu hỏi cho học sinh trong những giờ lên lớp là một công việc rất quen thuộc đối với người giáo viên, tuy nhiên cách đặt câu hỏi làm sao để khuyến khích được học sinh phát huy tính tích cực, chủ động là công việc không hề dễ dàng chút nào Làm thế nào để lôi cuốn học sinh vào chủ đề mà người thầy giáo muốn học sinh tìm hiểu lại phụ thuộc rất nhiều vào cách đặt câu hỏi người thầy giáo