Trong sản xuất nông nghiệp, huyện đã tập trung chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiệu quả và bền vững, lấy chăn
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi nhận được sự hướng dẫn nhiệt
tình và chu đáo của cô giáo Lưu Thị Uyên- giảng viên tổ KTNN, Khoa Sinh-
KTNN, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lưu Thị Uyên đã giúp đỡ em hoàn
thành khoá luận này
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và sự đóng góp của các bạn để có thể tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này
Hà Nội, ngày…… tháng 5 năm 2011 Người thực hiện
SV:Đỗ Thị Phương
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người thực hiện
SV: Đỗ Thị Phương
Trang 3
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc mới được thành lập theo Nghị định số 09 ngày 23/12/2008 của Chính phủ, là một huyện nằm xa trung tâm tỉnh lỵ Kinh tế thuần nông, điểm xuất phát kinh tế còn ở mức thấp.[ 8]
Trong định hướng phát triển, huyện Sông Lô xác định nhiệm vụ trọng tâm
là phát triển kinh tế Các cấp uỷ Đảng, chính quyền cùng toàn thể nhân dân trong huyện đã tập trung sức lực, trí tuệ đẩy mạnh phát triển kinh tế các ngành, vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn
có Vì vậy, kinh tế phát triển nhanh, tổng giá trị sản xuất thực hiện năm 2009 đạt 952,82 tỷ đồng, năm 2010 ước đạt trên 1.147 tỷ đồng, tăng 678 tỷ đồng so với năm 2005 (năm 2005 đạt 468 tỷ đồng) Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 15,2%/năm Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 12,8 triệu đồng/người/năm (tăng 7,31 triệu đồng so với năm 2005) Sản xuất nông nghiệp đạt nhiều thành tựu nổi bật Nhịp độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2005 -
2010 đạt 10,4%/năm Trong sản xuất nông nghiệp, huyện đã tập trung chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiệu quả và bền vững, lấy chăn nuôi là mũi nhọn, khâu đột phá, gắn chăn nuôi với phát triển kinh tế vườn đồi, trang trại, khuyến khích phát triển chăn nuôi động vật có giá trị kinh tế cao Đồng thời chú trọng phát triển công nghiệp, TTCN và dịch vụ [ 8]
Xác định chăn nuôi là ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế nông nghiệp, vì vậy trong những năm qua, nông dân trong huyện đã quan tâm đầu tư phát triển cả số lượng, chất lượng đàn vật nuôi Trên cơ sở cải tạo đàn bò theo hướng Sind hóa, đàn lợn theo hướng nạc hóa, đến nay toàn huyện đã có 4.197 con trâu, 19.261 con bò, hơn 65.000 con lợn, hơn 718.000 con gia cầm So với năm 2005 đàn trâu tăng 2,2%, đàn bò tăng 7,8%, đàn lợn tăng 26,1%, đàn gia cầm tăng 15,5% Phong trào chăn nuôi các động vật có giá trị kinh tế cao như: nhím, rắn… phát triển mạnh, mở ra hướng đi mới trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành chăn nuôi Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong nông nghiệp
Trang 4tăng từ 45,07% (năm 2005) lên 50,9% năm 2010 Sông Lô cũng đã xác định trong vòng 5-10 năm tới, kinh tế của Sông Lô vẫn chủ yếu dựa vào ngành nông nghiệp với thế mạnh chăn nuôi [ 12 ]
Không thể phủ nhận giá trị sản xuất chăn nuôi của huyện Sông Lô liên tục tăng trong những năm gần đây, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của toàn huyện đi lên nhưng cùng với đó, là tình trạng ô nhiễm do chất thải chăn nuôi thải trực tiếp ra môi trường Ở nhiều xã chăn nuôi với quy mô lớn mức độ ô nhiễm rất cao Vào những ngày hè nóng bức, mùi chất thải chăn nuôi bốc lên phát tán vào không khí rất khó chịu, nước thải chưa qua xử lý ngấm xuống nguồn nước ngầm gây ô nhiễm không thể sử dụng được, cùng với đó là việc thôn xóm trở nên mất mỹ quan do hệ thống cống rãnh ngập ngụa chất thải
Từ thực tế đó, với mục đích thu thập được số liệu phản ánh thực trạng phát triển chăn nuôi và vấn đề xử lý chất thải chăn nuôi tại địa phương, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Điều tra thực trạng phát triển chăn nuôi và vấn đề xử lí chất thải chăn nuôi tại một số xã của huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phản ánh được thực trạng phát triển chăn nuôi của một số xã thuộc huyện Sông Lô
- Đánh giá hoạt động xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp phù hợp giúp người chăn nuôi tăng cường xử lý chất thải chăn nuôi
Trang 5CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi ở Việt Nam [ 3]
Theo Tổng cục Thống kê, tổng số đầu lợn năm 2010 là 27,3 triệu con, giảm 0,92%, số lượng lợn nái là 4,1 triệu con, tổng sản lượng thịt lợn hơi đạt 3,03 triệu tấn, tăng 3,3% so với năm 2009 Số lượng gia cầm tăng từ 280 triệu con lên 300,4 triệu con, tăng trưởng đạt 7,2%, sản lượng thịt tăng từ 528 nghìn tấn lên 615 nghìn tấn, tăng gần 16% Tổng sản phẩm chăn nuôi năm 2010 tăng 6,3% so với năm 2009 Với tốc độ tăng trưởng này, ngành chăn nuôi trở thành ngành có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong nhóm ngành nông nghiệp (gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ) và lớn hơn cả tốc độ tăng trưởng chung toàn ngành nông - lâm - thủy sản (đạt 4,7%)
- Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn, Bộ, Ngành
có liên quan ( Bộ Nông nghiệp – PTNN; Viện Chăn nuôi quốc gia, ĐH Nông nghiệp Hà Nội…), đã chỉ ra rằng chăn nuôi Việt Nam phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững mà nguyên nhân chủ yếu là:
- Chăn nuôi quy mô nhỏ, phân tán, mang tính tận dụng chiếm tỷ lệ cao Các cơ sở chăn nuôi phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch, chủ yếu trên đất vườn nhà, đất mua hoặc thuê tại địa phương Phần lớn cơ sở chăn nuôi còn xây dựng ngay trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ dịch bệnh cho vật nuôi, con người
- Công tác phòng, chống dịch bệnh của nhiều địa phương còn yếu nên dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, lợn tai xanh xảy ra thường xuyên gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam
- Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước chỉ đáp ứng 75-78% nhu cầu sản xuất, vì vậy phải nhập khẩu 20% nguyên liệu giàu năng lượng, 80% các loại thức ăn bổ sung, 80-90% thức ăn giàu đạm và hơn 90% chất phụ gia
Trang 6- Giá thành các sản phẩm chăn nuôi khá cao, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng trong nước, đặc biệt là cho xuất khẩu
Những khó khăn từ đầu vào đến đầu ra của sản xuất đã khiến ngành chăn nuôi Việt Nam năm 2010 không đạt được kết quả như mong đợi
- Bước sang năm 2011, năm đầu tiên của kế hoạch năm năm 2011-2015,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đặt mục tiêu: tăng trưởng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 7,5-8%; tổng sản lượng thịt hơi các loại 4,28 triệu tấn; sản xuất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp 12 triệu tấn Để thực hiện mục tiêu này, Bộ NN&PTNT đề ra ba nhóm giải pháp:
- Tập trung đảm bảo về giống, kỹ thuật, chủ động nguồn thức ăn và các điều kiện cần thiết để khôi phục và phát triển nhanh đàn gia súc, gia cầm theo hướng hình thành các vùng chăn nuôi tập trung hình thức trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với cơ sở chế biến tập trung và xử lý chất thải; tăng nhanh các cây thức ăn chăn nuôi, nhất là bắp, đậu tương;
- Bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các phương án chủ động phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, đặc biệt đối với bệnh cúm gia cầm, lở mồm long móng, tai xanh ở gia súc
- Tiếp tục thực hiện chương trình cải tạo đàn bò và nạc hóa đàn heo, chương trình giống vật nuôi, chương trình kiểm soát dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm Triển khai chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chăn nuôi, chương trình hỗ trợ có mục tiêu phát triển chăn nuôi, giết mổ, chế biến gia cầm tập trung, phát triển thức ăn chăn nuôi, tập trung trồng cỏ và chế biến nâng cao giá trị dinh dưỡng nguồn phụ phẩm của sản xuất công nghiệp và nông nghiệp
- Với tất cả những khó khăn hiện tại ở một nước đang phát triển như Việt Nam, do thiếu đất canh tác và vốn, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và tay nghề thấp của nông dân, chăn nuôi nông hộ nhỏ sẽ tiếp tục tồn tại một thời gian dài nữa Những trở ngại này cần phải được xem xét nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi
và hạn chế bớt những bất lợi của chăn nuôi quy mô nhỏ
Trang 72.2 Chiến lược Quốc gia về phát triển chăn nuôi đến năm 2020 [ 9]
Chiến lược Quốc gia về phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16 tháng 1 năm 2008 với những nguyên tắc sau:
- Phát triển ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hoá, từng bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
- Tổ chức lại sản xuất ngành chăn nuôi theo hướng gắn sản xuất với thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và cải thiện điều kiện an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Tập trung phát triển sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh như lợn, gia cầm, bò; đồng thời phát triển sản phẩm chăn nuôi đặc sản của vùng, địa phương
- Khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghiệp; đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện hộ chăn nuôi theo phương thức truyền thống chuyển dần sang phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp
Đồng thời bản Chiến lược này cũng đề ra mục tiêu phát triển dưới đây:
- Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%, trong đó năm 2010 đạt khoảng 32% và năm 2015 đạt 38%;
- Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế có hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi;
- Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường
2.3 Vấn đề quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi [ 1],[2],[4]…
2.3.1 Chất thải chăn nuôi
Các loại chất thải phát sinh từ chăn nuôi bao gồm: Chất thải rắn: Phân, chất độn, lông, thức ăn dư thừa, chất hữu cơ ; Chất thải lỏng: nước tiểu, nước rửa
Trang 8chuồng, tắm rửa gia súc, vệ sinh lò mổ, dụng cụ…; Chất thải khí: CO2, N2O, NH3, CH4…
Chất thải rắn
Chất thải rắn từ hoạt động chăn nuôi gồm phân, rác, chất độn chuồng, thức
ăn dư thừa, xác gia súc chết hàng ngày Tỷ lệ các chất hữu cơ, vô cơ, vi sinh vật trong chất thải phụ thuộc vào khẩu phần ăn, giống, loài gia súc và cách dọn vệ sinh
Nước thải
Nước thải phát sinh từ chăn nuôi do làm vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống, nước tắm rửa cho gia súc hàng ngày, nước tiểu do gia súc bài tiết ra môi trường Nước thải chăn nuôi được coi là một trong những nguồn nước thải gây ô nhiễm nghiêm trọng, nếu không được giải quyết thỏa đáng sẽ gây ra ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và gây ra những vấn đề mang tính chất xã hội phức tạp
+ Thành phần nước thải từ các trại chăn nuôi gia súc như sau:
- Chất hữu cơ: 70–80% gồm cellulose, protit, axit amin, chất béo, hidratcarbon và các dẫn xuất của chúng… Hầu hết các chất hữu cơ dễ phân hủy
- Vi sinh vật gây bệnh: Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh
- Chất vô cơ: chiếm 20–30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO42-,…
- Thành phần nước thải chăn nuôi biến động rất lớn phụ thuộc vào quy mô chăn nuôi, phương pháp vệ sinh, kiểu chuồng trại và chất lượng nước vệ sinh chuồng trại Trong nước thải, nước chiếm 75 – 95%, phần còn lại là các chất hữu cơ, vô cơ và mầm bệnh
Khí thải
Kết quả phân tích không khí chuồng nuôi cho thấy hầu hết các chỉ tiêu đều vượt quá ngưỡng cho phép Nồng độ khí NH3 trong nông hộ đạt 0,112% mg/m3 vượt gấp 11,2 lần tiêu chuẩn cho phép, khí H2S đạt 0,0053 mg/m3 vượt gấp 1,06 lần tiêu chuẩn cho phép Độ nhiễm khuẩn không khí đạt 35.500 VK/m3 cao
Trang 9hơn mức cho phép 19,72 lần Nồng độ khí sulfua hoà tan cao 28-35 lần tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Nồng độ NH4-N vượt quá chỉ tiêu cho phép 1,5-2 lần Hai loại khí trên phát thải trong quá trình phân hủy nước thải và chất thải chăn nuôi có mùi hôi, tính độc có thể gây hại cho cộng đồng, ảnh hưởng tới sức khỏe người dân
2.3.2 Một số văn bản/ chương trình liên quan đến quản lý chất thải chăn nuôi
Văn bản/ luật
Luật Bảo vệ môi trường - Điều 6, yêu cầu cơ sở chăn nuôi:
- Có đầy đủ các thiết bị, dụng cụ thu gom, tập trung chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại và đáp ứng các yêu cầu tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn;
- Có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung, hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường và được vận hành thường xuyên;
- Đáp ứng các yêu cầu về cảnh quan môi trường, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng
- Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng quy môi nhỏ không có trong danh sách các
dự án phải lập ĐTM sẽ phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường
Trang 10- Chương trình này được bắt đầu thực hiện từ năm 2003 Trong giai đoạn đầu (2006 - 2007) có 27.000 công trình đã được xây dựng tại 20 tỉnh Dự án đặt mục
tiêu hoàn thành 140.000 công trình biogas vào cuối giai đoạn 2 Hiện nay việc
lên kế hoạch cho giai đoạn 2 đang được thực hiện, có thể bao gồm 50 trong tổng
số 63 tỉnh thành của cả nước
Dự án Quản lý Chất thải Vật nuôi Đông Á
Dự án bắt đầu được thực hiện từ năm 2006 và sẽ kết thúc sau 5 năm Dự án đặt mục tiêu giảm ô nhiễm nước biển từ sản xuất chăn nuôi tập trung tại 3 nước, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam
Chương trình Quốc gia về Nước sạch và Vệ sinh Môi trường
Quyết định số 277/2006/QĐ-TTg đặt mục tiêu trong giai đoạn 2006 – 2010, các trại chăn nuôi và chất thải gia súc phải được điều chỉnh để đạt các yêu cầu
về giảm ô nhiễm nguồn nước và môi trường Trong quyết định này, xây dựng các trạm biogas, thiết kế chuồng trại mới (thân thiện môi trường), danh sách các
dự án khác đã bao gồm cải thiện 5 triệu hộ chăn nuôi, dự tính ngân sách khoảng 6.800 tỉ đồng
Chương trình hỗ trợ nông dân quản lý chất thải ở các tỉnh
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 đã hỗ trợ một số hộ chăn nuôi mỗi hộ 300.000 đồng để xây bể biogas (theo quyết định số 6/2003/TTLT/BTC-NNPTNT) Năm 2007 số tiền hỗ trợ đã tăng lên 1.000.000 đồng cho mỗi hộ
Một số tỉnh khác như Vĩnh Phúc, Long An, Đồng Nai cũng áp dụng chính sách hỗ trợ tương tự cho nông dân
Tại Nghệ An, nông dân chăn nuôi gia súc sẽ nhận được giá thuê đất rẻ chỉ khi họ viết bản cam kết bảo vệ môi trường, giới hạn khối lượng phân chuồng dùng nuôi cá, sử dụng biogas, chỉ có phân sau khi xử lý mới được đem bón trên đồng ruộng
2.3.3 Hiện trạng quản lý môi trường trong chăn nuôi
Theo số liệu Cục Chăn nuôi (Bộ NN –PTNT) [ 3], năm 2008 cả nước có khoảng 16.700 trang trại chăn nuôi với 220 triệu con gia cầm, 8,5 triệu con trâu -
bò, 27 triệu con lợn, trên 1,3 triệu con dê và 11 vạn con ngựa Với lượng thải
Trang 11của một con bò từ 10 - 15kg phân/ngày, một con lợn là 2,5 - 3,5 kg phân/ngày
và gia cầm là 90 gam phân/ ngày thì tổng số lượng chất thải chăn nuôi khoảng
73 triệu tấn/năm chất thải rắn (phân khô, thức ăn thừa) và 25-30 triệu m3 chất thải lỏng (phân lỏng, nước tiểu và nước rửa chuồng trại) Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (36,5 triệu tấn), 80% chất thải lỏng (20 - 24 triệu m3) xả thẳng ra tự nhiên, hoặc sử dụng không qua xử lý là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trong mối quan tâm chung về ô nhiễm môi trường nông thôn thì những quan ngại về chất thải chăn nuôi thường được gắn nhiều hơn với chăn nuôi lợn
do số lượng tương đối lớn và tập trung, chiếm tới 70% tổng đàn gia súc trong khi các gia trại chăn nuôi các loại khác chỉ có quy mô nhỏ và phân tán
Việc tăng số lượng gia súc đã làm tăng số lượng chất thải chăn nuôi và gây ô nhiễm môi trường Do đó việc đặt ra quản lý chất thải chăn nuôi để vừa ngăn chặn tác nhân gây ô nhiễm từ chất thải này vừa tái tạo năng lượng phục vụ sản xuất đang là vấn đề đặt ra cho ngành chăn nuôi
Đã có một số chương trình/dự án hợp tác quốc tế về xử lý chất thải chăn nuôi (với FAO, Hà Lan, Đan Mạch, Pháp, Bỉ…) Nhiều doanh nghiệp cũng đã cung cấp các dịch vụ xử lý chất thải chăn nuôi Tuy vậy cho đến nay, các chất thải vật nuôi ở nước ta vẫn chưa được xử lý nhiều, hoặc có xử lý nhưng công nghệ xử lý chưa triệt để Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi còn nhiều bất cập về các nguồn lực Sự phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các cấp quản lý địa phương để triển khai công tác BVMT trong chăn nuôi chưa đạt nhiều hiệu quả Các chương trình/dự án hợp tác quốc tế chưa phát huy rộng rãi và có hiệu quả trong công tác BVMT chăn nuôi; chưa thu hút được
sự đầu tư ở nhiều thành phần kinh tế vào lĩnh vực BVMT trong chăn nuôi
Thêm vào đó, nhận thức của người chăn nuôi về BVMT trong chăn nuôi còn hạn chế cộng với các cơ sở chăn nuôi ở Việt Nam phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch, chủ yếu còn xây dựng ngay trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường, tăng nguy cơ dịch bệnh cho vật nuôi, con người và ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi
Trang 122.3.4 Xử lý chất thải chăn nuôi [ 12]
Các phương pháp thông dụng xử lý chất thải lỏng chăn nuôi là:
1 Hồ sinh vật (hồ oxy hóa): Gồm các loại hồ ổn định chất thải hiếu khí,
hồ ổn định chất thải kỵ khí và hồ ổn định chất thải tùy nghi
2 Sử dụng cánh đồng lọc, cánh đồng tưới (là những khu đất chia ô nhỏ
bằng phẳng được quy hoạch để xử lý nước thải)
3 Sử dụng các sinh vật thủy sinh: gồm các nhóm nổi (bèo tấm, lục
bình ), nhóm nửa chìm nửa nổi (sậy, lau, thủy trúc, cây muỗi nước ), nhóm chìm (rong xương cá, rong đuôi chó )
4 Phương pháp lắng cặn: Hỗn hợp chất thải chăn nuôi được đưa vào hồ,
sau đó dùng một số yếu tố như dùng lực động học để phân loại chất thải thành chất thải rắn và chất lỏng
5 Các biện pháp khác: Các biện pháp khác như đốt (rác, vật nuôi chết),
làm lạnh (khí thải), pha loãng để làm nước tưới, dùng hóa chất, men sinh học, dùng làm thức ăn cho các loại vật nuôi khác (nuôi trồng…)
2.3.5 Quy định về quản lý chất thải ( Luật Bảo vệ môi trường 2005 ) [ 1 ]
Tùy theo điều kiện mặt bằng, quy mô cơ sở chăn nuôi, chủ cơ sở lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp đảm bảo chất thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường
Trang 13- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học vào xử lý chất thải chăn nuôi, giảm thiểu mùi hôi, khí độc sinh ra từ phân và nước tiểu gia súc, gia cầm
Quản lý chất thải rắn
- Chất thải rắn phát sinh trong quá trình chăn nuôi phải được thu gom gọn gàng sạch sẽ, có nơi thu gom, chứa chất thải rắn, thùng chứa phải bằng vật liệu bền, có nắp đậy kín, không rò rỉ, thấm hút, chảy tràn Thường xuyên dùng hoá chất, vôi bột để sát trùng nơi chứa chất thải rắn Xử lý bằng hầm, túi biogas
- Không tồn trữ chất thải rắn tại chuồng trại và nơi thu gom của cơ sở quá
24 giờ mà không có biện pháp xử lý thích hợp
- Làng nghề phải xây dựng và vận hành thường xuyên hệ thống thu gom,
xử lý nước thải tập trung đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với nước thải, bảo đảm không làm ô nhiễm đất, nước ngầm, nước ao hồ và sông ngòi xung quanh Trường hợp làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì các hộ gia đình, cơ sở chăn nuôi phải tự xử lý nước thải, bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường
- Nghiêm cấm việc xả nước thải chưa được xử lý vào các ao, hồ và các dạng chứa nước khác mà không được chống thấm theo quy định
Xử lý khí thải, mùi hôi và tiếng ồn
- Chủ cơ sở chăn nuôi phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại để giảm thiểu mùi hôi phát sinh trong quá trình chăn nuôi, khử trùng, phòng chống, dập dịch theo đúng quy định về vệ sinh thú y
- Khí thải trong quá trình nuôi nhốt, tồn trữ chất thải phải được xử lý bằng các biện pháp thích hợp để không phát sinh mùi hôi ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
- Các khu vực tập trung đông dân cư, chuồng trại phải có tường bao quanh với chiều cao tối thiểu theo quy định
Trang 14CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG –
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động sản xuất chăn nuôi
Hoạt động quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
Giới hạn trong phạm vi các xã Đồng Thịnh, Đồng Quế, Tân Lập huyện Sông Lô
3.2 Nội dung nghiên cứu
1 Thực trạng phát triển chăn nuôi tại khu vực nghiên cứu
o Quy mô đàn gia súc, gia cầm
o Hình thức chăn nuôi
2 Quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
o Quản lý chuồng trại chăn nuôi
o Phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi
o Nhận thức của người chăn nuôi về vấn đề quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
3.3 Phương pháp nghiên cứu
o Nghiên cứu tài liệu, niên giám thống kê của địa phương
o Điều tra, phỏng vấn người chăn nuôi
o Quan sát thực tế
Trang 15CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên -kinh tế - xã hội huyện Sông Lô và khu vực nghiên cứu [ 8]
4.1.1 Điều kiện tự nhiên -kinh tế - xã hội huyện Sông Lô
Ngày 23/12/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch để thành lập huyện Sông Lô trên cơ sở các xã: Bạch Lưu, Hải Lựu, Đôn Nhân, Quang Yên, Lãng Công, Nhân Đạo, Phương Khoan, Đồng Quế, Nhạo Sơn, Như Thuỵ, Yên Thạch, Tân Lập, Tứ Yên, Đồng Thịnh, Đức Bác, Cao Phong và thị trấn Tam Sơn Về vị trí địa lý Huyện Sông Lô: Phía Đông giáp huyện Lập Thạch; phía Tây và Nam giáp tỉnh Phú Thọ; phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang
Là một huyện thuần nông với cơ cấu nông nghiệp chiếm gần 50%, diện
tích đất tự nhiên 15.031,77 ha- được đánh giá là địa phương có đất đai rộng, tiềm năng đất nông nghiệp cao Dân số 93.984 người Gồm 23.996 hộ gia đình Lao động: 41.490 người Số hộ làm nông nghiệp chiếm gần 80%, trong đó hộ chăn nuôi chiếm gần 100% Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 là 12,8 triệu đồng Cả 17 xã của Sông Lô là những địa phương khó khăn; địa hình lại phức tạp, chủ yếu là đồi gò, diện tích chiêm trũng lớn, rất khó khăn về tưới tiêu, trong khi đó, xuất phát điểm kinh tế của huyện rất thấp, chủ yếu thuần nông, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ lẻ, cơ sở
hạ tầng còn yếu kém
Tuy vậy, trong thời gian tới, Sông Lô vẫn phải xác định phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng, bởi hiện nay vẫn còn 96% dân số của huyện sống trong nông thôn, trong đó, cần lấy phát triển chăn nuôi là đột phá Trên cơ
sở phân tích thổ nhưỡng, xác định cây trồng chủ lực cho từng vùng; quy hoạch vùng sản xuất tập trung để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá; từng bước hình thành các vùng sản xuất các cây rau màu có giá trị kinh tế cao; phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh; đưa tiến bộ KHKT, giống cây trồng vật nuôi có năng suất, giá trị kinh tế cao vào sản xuất; khai thác tốt tiềm năng vườn đồi, kinh tế trang trại; phát triển mạnh chăn nuôi, coi đây là khâu đột phá, phấn đấu đến năm 2015, tỷ
Trang 16trọng chăn nuôi đạt 68% Bên cạnh đó, huyện sẽ khai thác tốt tiềm năng mặt nước để phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là mô hình 1 lúa - một cá, phấn đấu đến năm 2015, diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 1.100 ha, sản lượng đạt 1.500 tấn
4.1.2 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
Bảng 1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của Đồng Thịnh, Đồng Quế và Tân Lập
Diện tích đất tự nhiên (ha) 1.134,65 798,32 723,21
Mặt nước nuôi trồng thủy sản ( ha ) 198,00 28,95 38,50
1 Xã Đồng Thịnh: Một trong những xã thuần nông của huyện Sông Lô Đất
đai đa số là đồi gò và vùng chiêm trũng, nhiều diện tích đất canh tác không chủ động được nước tưới, trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, sản xuất nông nghiệp đạt năng suất thấp, không ổn định; các ngành nghề dịch vụ ở địa phương cũng chưa phát triển Đồng Thịnh đã và đang chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; khai thác tiềm năng lao động, đất đai, tích cực đẩy mạnh phát triển toàn diện KT-XH
Trong chăn nuôi, xã khuyến khích các hộ chăn nuôi đầu tư xây dựng các trang trại có quy mô sản xuất lớn, hiệu quả cao, hạn chế chăn nuôi tại hộ gia đình nhỏ lẻ Phát triển chăn nuôi bò lai sind, đầu tư chăn nuôi lợn nái và lợn siêu