Đề tài này của chúng tôi cũng nhằm để thực hiện mục tiêu trên của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn mới của phát triển đất nước.. Ý nghĩa của đề tài Sự thành công của đề tài mở ra một
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH-KTNN -000 -
PHẠM THỊ HẰNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT Ở XÃ TÂN HƯƠNG - NINH GIANG - HẢI DƯƠNG MỘT VÀI GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT
CÁ NUÔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Môi trường
Người hướng dẫn khoa học
TS Hoàng Nguyễn Bình ThS.Nguyễn Văn Hiếu
Hà Nội - 2011
Trang 2ii
MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN Trang LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 1
3 Ý nghĩa của đề tài 1
4 Điểm mới của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nuôi cá nước ngọt ở Việt Nam 3
1.2 Tình hình nuôi cá nước ngọt ở Hải Dương 3
1.3 Tình hình nuôi cá nước ngọt ở xã Tân Hương 4
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu 6
2.2 Thời gian nghiên cứu 6
2.3 Địa điểm nghiên cứu 7
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Vài đặc điểm về ao nuôi cá ở xã Tân Hương, Ninh Giang, Hải Dương 8
3.2 Đánh giá thực trạng nuôi cá ở xã Tân Hương, Ninh Giang, Hải Dương 8
3.2.1 Tổng diện tích ao nuôi 8
3.2.2 Kỹ thuật nuôi cá 8
3.2.3 Kỹ thuật đánh bắt 9
3.2.4 Đánh giá tổng quát về nghề nuôi cá nước ngọt ở xã Tân Hương, Ninh Giang, Hải Dương 9
3.2.4.1 Về diện tích nuôi 9
Trang 3iii
3.2.4.2 Cá giống và đặc điểm sinh thái 10
3.2.4.3 Thức ăn nuôi cá 10
3.2.4.4 Vệ sinh môi trường 11
3.3 Các giải pháp nâng cao năng suất nuôi cá 12
3.3.1 Tăng diện tích nuôi 12
3.3.2 Áp dụng hệ thống ổ sinh thái 12
3.3.3 Chuẩn bị ao nuôi đúng kỹ thuật 13
3.3.4 Phát triển thức ăn tự nhiên 14
3.3.5 Bổ sung thức ăn nhân tạo 16
3.3.6 Chủ động phòng trừ dịch bệnh cho cá 17
3.3.7 Giảm sinh vật gây bệnh, sinh vật gây hại 19
3.3.8 Chủ động nguồn nước 20
3.3.9 Quản lý ao nuôi 21
3.3.10 Đánh tỉa thả bù 22
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 23
2 Kiến nghị 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS.GVC Hoàng Nguyễn Bình, ThS Nguyễn Văn Hiếu, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường ĐHSP Hà Nội 2, phòng khoa học công nghệ, khoa Sinh - KTNN, tổ Động vật học, Ban thư viện đã tạo điều kiện giúp đỡ em
Em xin chân thành cảm ơn các phòng ban của tỉnh Hải Dương, huyện Ninh Giang, xã Tân Hương và các chủ hộ nuôi cá đã giúp đỡ quý báu cho em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè đã đóng góp ý kiến nhận xét cho đề tài của em
Hà Nội, tháng 05 năm 2011 Người thực hiện
Phạm Thị Hằng
Trang 5v
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình Các số liệu trong khóa luận là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Phạm Thị Hằng
Trang 6Ngày nay vẫn vậy, trong phong trào khuyến nông mới, bà con nông dân đang có phong trào 50 triệu Nghĩa là một năm trên một hecta gieo trồng hoặc chăn nuôi thu nhập ít nhất 50 triệu đồng Vì thế việc thả cá nước ngọt sẽ góp phần xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu và góp phần xây dựng nông thôn mới mà Đảng và Chính phủ đang đặt thành mục tiêu hàng đầu cho phát triển nông nghiệp, cho vấn đề nông dân và nông thôn
Đề tài này của chúng tôi cũng nhằm để thực hiện mục tiêu trên của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn mới của phát triển đất nước
2 Mục tiêu của đề tài
+ Đánh giá thực trạng nuôi cá nước ngọt ở xã Tân Hương-Ninh Hải Dương
Giang-+ Góp phần đề xuất giải pháp để nâng cao năng suất cá nuôi
3 Ý nghĩa của đề tài
Sự thành công của đề tài mở ra một hướng mới cho nghề nuôi cá nước ngọt ở địa điểm nghiên cứu Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo để các hộ nuôi cá ứng dụng, nhằm chuyển đổi hình thức nuôi thả từ chỗ còn nhiều hạn chế sang hình thức nuôi thả ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, nhất là ứng dụng các kiến thức sinh học và sinh thái học để tăng năng suất cá nuôi, góp phần tăng thu nhập cho người nuôi cá
Ngoài ra các kết quả nghiên cứu của đề tài còn có thể được sử dụng làm tài liệu sinh học thực tiễn khi giảng dạy môn sinh học, tìm hiểu tự nhiên
Trang 72
cho các cấp học phổ thông, cũng như ở các trường Đại học hoặc Cao đẳng có ngành thủy sản
4 Điểm mới của đề tài
Điểm mới của đề tài: Các giải pháp để nâng cao năng suất cá nuôi được rút ra từ đánh giá thực trạng việc nuôi cá nước ngọt tại xã Tân Hương Do đó các giải pháp này có ý nghĩa thiết thực cho bà con nông dân của xã triển khai nuôi cá nước ngọt
Trang 83
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nuôi cá nước ngọt ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có diện tích nước ngọt bề mặt lớn với 653 nghìn hecta sông ngòi, 394 nghìn hecta hồ chứa, 85 nghìn hecta đầm phá ven biển,
580 nghìn hecta ruộng lúa nước, ngoài ra ở đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm có khoảng 1 triệu hecta diện tích ngập lũ trong 2-4 tháng Vì vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú
Nghề cá nước ngọt bao gồm khai thác tự nhiên và nghề nuôi, trong đó nghề nuôi cá đã đóng góp vào việc cung cấp thực phẩm quan trọng cho nhân dân và cả xuất khẩu ra nước ngoài Cá nước ngọt được xuất khẩu sang gần 50 thị trường trên thế giới Giá trị xuất khẩu cá nước ngọt của Việt Nam hàng năm hiện nay chiếm khoảng 50-60% tổng giá trị xuất khẩu cá đông lạnh
Hiện nay nghề nuôi cá nước ngọt phát triển rộng khắp cả nước, không chỉ ở các tỉnh đồng bằng, ven biển mà ở các tỉnh miền núi nhằm mục tiêu kinh tế vừa xuất khẩu vừa cải thiện nguồn cung cấp thực phẩm cho dân cư trong nước [9]
1.2 Tình hình nuôi cá nước ngọt ở Hải Dương
Hải Dương là tỉnh nông nghiệp có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt Tổng diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản từ 11.000 - 13.000 ha, bao gồm ao hồ, sông cụt, đầm triều trũng có thể chuyển sang nuôi trồng thủy sản
So với các tỉnh khác, diện tích mặt nước nói trên không phải là lớn Tuy vậy, từ lâu đời nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Hải Dương luôn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Trong thập niên 70-80 của thế kỉ trước, nhiều năm liền Hải Dương là tỉnh dẫn đầu cả nước về phong trào nuôi cá nước ngọt
Trang 94
Hiện nay, phong trào nuôi trồng thủy sản ở Hải Dương cũng rất phát triển Từ khi dự án 773 của Thủ tướng Chính phủ nhà nước cho phép chuyển những diện tích ruộng trồng cấy lúa hiệu quả thấp sang nuôi thủy sản,
Hải Dương đã có 23 vùng được chuyển đổi từ đất hoang hóa, đất ruộng trồng sang nuôi thủy sản tập trung (quy mô 30-70 ha/vùng) với tổng diện tích được chuyển đổi 1020 ha ( đến năm 2005) còn lại 16 vùng (với tổng diện tích 1288 ha) đang được trình các cấp ban ngành trong tỉnh để được tiếp tục chuyển đổi
Theo đánh giá của Viện kinh tế và Quy hoạch thủy sản (VIFEP), tại Hải Dương các mô hình chuyển đổi từ đất ruộng trũng sang nuôi thủy sản đều đạt hiệu quả trên 50 triệu/ha (quá chỉ tiêu cánh đồng 50 triệu) Trong đó mô hình nuôi cá nước ngọt (kết hợp giữa cá rô phi, chim trắng , chép V1 và cá truyền thống) đạt hiệu quả cao nhất (84,2 triệu/ha) Đây là một ý nghĩa thực tiễn rất lớn tạo tiền đề để nghề nuôi cá nước ngọt của tỉnh nhà phát triển rộng rãi hơn nữa [10]
1.3 Tình hình nuôi cá nước ngọt ở xã Tân Hương
Tân Hương là xã có diện tích 1105,90 ha Trong đó diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản khoảng 6 ha Diện tích mặt nước nói trên không phải là lớn, chủ yếu là nuôi cá nước ngọt Tuy nhiên nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng này cho nhân dân trong vùng Không những thế nghề nuôi cá nước ngọt ở đây đã làm cho nhiều hộ thoát nghèo, vươn lên làm giàu ngay trên đất quê hương
Từ khi dự án 773 của Chính phủ được thực hiện thì nhiều hộ gia đình
đã mạnh dạn chuyển đổi đất ruộng sang đào ao thả cá, diện tích ao nuôi cá tăng nhiều Tuy vậy, những năm gần đây nhiều hộ nuôi cá đã không còn mặn
mà với nghề nuôi cá do năng suất thấp, không đủ chi phí đầu tư
Nguyên nhân chính ở đây là do bà con nông dân nuôi thả cá còn mang tính tự phát, truyền thống, không nắm vững kĩ thuật chăm sóc, quản lý ao
Trang 105 nuôi, chưa áp dụng khoa học kĩ thuật vào nuôi cá Vì vậy năng suất đạt được thấp, hiệu quả kinh tế không cao và không ổn định
Trang 116
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, THỜI GIAN
VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
* Điều tra, ghi chép: theo phương pháp của Nguyễn Thanh Bình [1] Điều tra tình hình quản lý, chăm sóc của các hộ nuôi cá, qua đó tìm hiểu những hạn chế và hiệu quả kinh tế đã đạt được từ đó đề ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên
* Khảo sát thực địa: theo phương pháp của Trần Thị Hà [2] Thu thập, khảo sát đánh bắt thử để theo dõi tình hình dịch bệnh của đàn cá Kiểm tra có mắc bệnh bằng mắt thường nhờ quan sát trên da, mang, mổ cá quan sát nội tạng, ngoài ra quan sát hiện tượng cá bơi lội ngứa ngáy, lờ đờ
Xác định hàm lượng O2 hòa tan trong ao qua hiện tượng cá nổi đầu vào sáng sớm và buổi tối mùa hè
Khảo sát các địa điểm nghiên cứu để đánh giá thực trạng nuôi thả cá như: Thực trạng chăm sóc quản lý ao nuôi và những hạn chế của các hộ nuôi
cá như việc dùng phân chuồng tươi, vệ sinh ao nuôi
* Trong phòng thí nghiệm
Tiến hành phân tích mẫu để xác định các yếu tố thủy hóa như: xác định
pH của ao nuôi bằng giấy quì, quan sát, so sánh để đánh giá màu nước, mùi, mức độ ô nhiễm của nước
Thu thập các thông tin về kĩ thuật nuôi cá như: sách, báo, giáo trình, internet
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê trên phần mềm Excel
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 2 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010
Trang 127
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu ở các địa điểm nuôi cá ở xã Tân Hương, Ninh Giang, Hải Dương
Trang 13pH trung tính, hơi kiềm, sinh vật phù du, sinh vật đáy phát triển
Bên cạnh đó, từ khi thực hiện việc chuyển đổi vùng đất trũng cấy lúa không hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản thì diện tích ao được đào để nuôi cá tăng lên rất nhiều Những ao này thường có độ pH thấp, nước bị chua Muối dinh dưỡng và chất hữu cơ trong nước nghèo, sinh vật phù du nghèo
Ngoài ra còn có một số ao bị tù đáy nhiều bùn, lượng oxi thấp, nước tù bẩn, hàm lượng chất hữu cơ tuy cao nhưng chỉ thích hợp cho một số tảo khó tiêu phát triển Cá nuôi trong ao này thường chậm lớn
Nguồn nước được bổ sung cho ao chủ yếu là do nguồn nước sinh hoạt, nước mưa dẫn vào là chính
3.2 Đánh giá thực trạng nuôi cá ở xã Tân Hương, Ninh Giang, Hải Dương
3.2.1 Tổng diện tích ao nuôi
Hiện nay tổng diện tích ao nuôi cá nước ngọt của xã khoảng hơn 6ha
Ao nuôi cá thường là ao cỡ nhỏ vào khoảng 300 - 500m2 , còn một số ao do mới chuyển đổi từ đất ruộng trũng thì diện tích lớn hơn (có thể lên tới 1000m2) [8]
3.2.2 Kỹ thuật nuôi cá
Các hộ nuôi cá ở đây chủ yếu nuôi thả cá dựa vào kinh nghiệm bản thân, trao đổi kinh nghiệm với nhau Vì thế, bên cạnh một số hộ nuôi cá có
Trang 14- Ao không được rắc vôi để khử chua, trừ mầm bệnh, ổn định pH chưa bón phân thường xuyên làm phong phú nguồn thức ăn cho cá
- Thức ăn cho cá còn thiếu và không đảm bảo do không chú ý phát triển thức ăn tự nhiên và chưa hoặc ít bổ sung thức ăn nhân tạo
- Chưa có biện pháp ổn định các yếu tố sinh thái như: ánh sáng, nhiệt
độ, pH, màu sắc, mùi của nước Nên chưa tạo điều kiện thuận lợi cho cá sinh trưởng phát triển
- Cá không được theo dõi tình hình sinh trưởng thường xuyên nên không có điều chỉnh kịp thời khi cá sinh trưởng và phát triển kém
3.2.3 Kỹ thuật đánh bắt
Từ lâu, người dân đã sử dụng các loại ngư cụ như : đó, lưới, nơm, để đánh bắt các loại thủy sản Người ta có thể tận thu bằng cách cạn kiệt, dùng lưới có mắt nhỏ để đánh vét hoặc dùng lưới mắt to để loại bỏ những cá nhỏ chưa muốn thu hoạch Tuy nhiên ngư cụ và kỹ thuật khai thác còn thô sơ, chưa được cải tiến, kết cấu và kỹ thuật khai thác của các ngư cụ không theo một tiêu chuẩn kỹ thuật nào mà phụ thuộc vào kinh nghiệm của người dân địa phương nên năng suất và hiệu quả chưa cao
3.2.4 Đánh giá tổng quát về nghề nuôi cá nước ngọt ở xã Tân Hương, Ninh Giang, Hải Dương
Trang 1510
yếu là nuôi cá thịt Các loại cá thường có nhiều trên thị trường như: cá trôi, cá trắm, cá mè, cá rô phi được nuôi phổ biến
3.2.4.2 Cá giống và đặc điểm sinh thái
Cá giống thả được nuôi ở nhiều ao giống quanh khu vực, nên không đảm bảo về kích thước, chất lượng cá thả Ngoài ra mật độ, tỉ lệ cá thả chưa hợp lý, cụ thể như sau:
- Mật độ thả: mật độ thả không đảm bảo, không tính toán chỉ ước lượng áng chừng, nên có hộ thì thả quá dày, dẫn đến không đủ về thức ăn, oxi và các điều kiện sinh thái khác, vì thế cá sinh trưởng và phát triển chậm Có hộ lại thả quá thưa nên không tận dụng hết tiềm năng của ao
- Kích thước: cá giống thả không được đảm bảo về độ đồng đều, có loại quá to, có loại quá nhỏ dẫn đến khó khăn trong việc chăm sóc, thu hoạch
và theo dõi tình hình sinh trưởng của cá Ngoài ra còn dễ mang mầm bệnh, không đảm bảo sức khỏe
- Về tỷ lệ thả: cá thả không theo tỷ lệ hay công thức nhất định, thả ánh chừng, dẫn đến một mặt không tận dụng hết không gian sống và nguồn dinh dưỡng trong ao, mặt khác có thể gây quá dày cho một loại cá nên tăng sự cạnh tranh về thức ăn, nơi ở, dẫn đến ảnh hưởng tới sự phát triển của cá
- Thời gian thả: chưa hợp lý, nên cũng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cá
3.2.4.3 Thức ăn nuôi cá
Do chưa đánh giá được tầm quan trọng và ý nghĩa của thức ăn đối với
sự phát triển của cá, nên chưa có chú trọng đến việc phát triển thức ăn tự nhiên và bổ sung thức ăn nhân tạo cho cá, mà chủ yếu tận dụng nguồn thức ăn
tự nhiên sẵn có trong ao nuôi
Hầu hết người nuôi cá chưa chủ động bón phân chuồng, phân xanh, phân vô cơ, nên không thúc đẩy được sự phát triển của sinh vật thức ăn như: tảo, động vật phù du, thực vật thủy sinh, giáp xác, nhuyễn thể Bên cạnh đó
Trang 1611
việc đầu tư thức ăn nhân tạo cũng không được chú ý do sự tốn kém hoặc do không am hiểu quá trình sinh trưởng phát triển của cá, hệ sinh thái ao Do đó vào những tháng ít mưa, ánh sáng yếu, sinh vật thức ăn giảm sút, họ không có biện pháp bổ sung thức ăn nhân tạo kịp thời, nên cá sinh trưởng và phát triển chậm Một số hộ cũng đã chú trọng bón phân, bổ sung thức ăn nhân tạo nhưng cũng không đảm bảo và không khoa học
3.2.4.4 Vệ sinh môi trường
Ao nuôi trước khi thả cá không được xử lý kỹ thuật như sau:
- Chưa rắc vôi khử chua, diệt trừ mầm bệnh và sinh vật hại, ao nuôi còn nhiều sinh vật gây bệnh cho cá, nhiều sinh vật cạnh tranh nguồn sống với cá nuôi
- Ao không được tu sửa bờ và cống cẩn thận, lấp các hang hốc rò rỉ, phát quang bụi dậm Bên cạnh đó nguồn nước trong ao có nguy cơ bị ô nhiễm
do nước thải sinh hoạt của con người, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ Các nguyên nhân này ảnh hưởng đến nguồn nước qua đó ảnh hưởng đến sức khỏe,
sự sinh trưởng và phát triển của cá nuôi Nếu nước bị ô nhiễm nhẹ sẽ làm cho
cá chậm phát triển, nếu nước bị ô nhiễm nặng sẽ làm cá mắc bệnh và có thể chết
Ngoài ra việc phân chuồng tươi từ các chuồng trại không được ủ đổ thẳng xuống ao cũng mang theo nhiều mầm bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của cá