LỜI CẢM ƠN Để thực hiện đề tài : “Khảo sát một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung canxi hữu cơ đến năng suất của gà đẻ thương phẩm nuôi tại nông hộ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đề tài : “Khảo sát một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung canxi hữu cơ đến năng suất của gà
đẻ thương phẩm nuôi tại nông hộ huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.”
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban chủ nhiệm khoa Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập , nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này
Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân , Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn , cùng các hộ nông dân huyện Bình Xuyên đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu tại địa phương
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th S Bùi Ngân Tâm đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ, động viên khích lệ và có những ý kiến đóng góp quý báu để tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Lần đầu thực hiện nghiên cứu khoa học nên khoá luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn sinh viên
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Phùng Thị Thiện
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Phùng Thị Thiện
Sinh viên lớp k34D khoa Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài “Khảo sát một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và bước đầu nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung canxi hữu cơ đến năng suất của gà đẻ thương phẩm nuôi tại nông hộ huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.”
1 Đây là đề tài do bản thân tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Th.S Bùi Ngân Tâm, khoa Sinh – KTNN Trường Đại Học Sư phạm Hà Nội 2
2 Đề tài không hề sao chép từ bất cứ tài liệu có sẵn nào
3 Toàn bộ những vấn đề đưa ra bàn luận, nghiên cứu đều mang tính thời sự, cấp thiết và đúng với thực tế khách quan của huyện Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Phùng Thị Thiện
Trang 44 4 Tình hình phát triển sản xuất chăn nuôi gà 28
4 5 Thực trạng chăn nuôi gà đẻ tại các nông hộ 30
4 6 Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của giống gà Hyline nuôi tại
4.7 Hiệu quả của việc bổ sung canxi hữu cơ 33
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU ……….1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ……….1
1.2 Mục đích của đề tài ……… …… 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ………3
2.1 Cấu tạo hệ tiêu hóa và đặc điểm tiêu hóa của gia cầm ……….…….3
2.1.1 Khoang miệng ……….……4
2.1.2 Thực quản trên ……….4
2.1.3 Diều ……….4
2.1.4 Thực quản dưới ……… ……5
2.1.5 Dạ dày ……… 5
2.1.6 Ruột non ……….6
2.1.7 Ruột già ……… ……6
2.2 Dinh dưỡng khoáng đối với gia cầm ……….……7
2.2.1 Sự hấp thu và bài tiết chất khoáng ……… …7
2.2.2 Vai trò chung của chất khoáng 7
2.2.3 Dinh dưỡng Ca 8
2.2.3.1 Vai trò của Ca 8
2.3.2.2 Một số trạng thái bệnh lý ở gia cầm do rối loạn cân bằng Ca 9
2.3.2.3 Những nghiên cứu gần đây về việc bổ sung Ca hữu cơ trong chăn nuôi 11
2.3 Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái…… ………13
2.3.1 Hiện tượng rụng trứng và quá trình hình thành trứng ……… 13
2.3.2 Khả năng sinh sản ở gia cầm ……….………13
2.3.3 Một vài yếu tố ảnh hưởng năng suất trứng 14
Trang 62.3.4 Yếu tố làm ngừng đẻ trứng 15
2.4 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gà 15
2.4.1 Khái niệm về sinh trưởng 15
2.4.2 Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền, dòng và giống đến sinh trưởng 16
2.4.3 Ảnh hưởng của thức ăn, môi trường và điều kiện nuôi dưỡng đến sinh trưởng và phát triển 16
2.4.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng 16
2.4.3.2 Ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ đến sinh trưởng và phát triển 17
2.4.3.3 Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc ……….18
2.4.4 Đánh giá tốc độ sinh trưởng ……… 18
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU … 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu ……… 20
3.2 Nội dung nghiên cứu ……… 21
3.3.1 Khảo sát một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của gà đẻ thương phẩm nuôi tại nông hộ huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc ……… ………….21
3.3.2 Tìm hiểu hiệu quả của việc bổ sung can xi hữu cơ đến năng suất của gà đẻ thương phẩm nuôi tại nông hộ huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc ….…… 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu ……… 21
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ……… 23
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc…… 23
4.1.1 Vị trí địa lý, địa hình ….……… … 23
4.1.2 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Bình Xuyên ……… 24
4.1.3 Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Bình Xuyên …… 25
4.2 Khảo sát tình hình chăn nuôi gà ở thị trấn Gia Khánh và xã Tam Hợp 27
4.2.1 Tình hình phát triển sản xuất chăn nuôi gà ……… 27
4.2.2 Thực trạng chăn nuôi gà đẻ tại các nông hộ ……….…29
Trang 74.2.3 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của giống gà Hyline nuôi tại nông hộ ……… 31 4.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung can xi hữu cơ đến năng suất, chất lượng trứng của gà ……… … 32 Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ……… … 35 5.1 Kết luận……… … 35
5.1.1 Một số chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật của giống gà Hyline nuôi tại nông
hộ……… 35 5.1.2 Hiệu quả của việc bổ sung canxi hữu cơ đến năng suất của gà đẻ… 36 5.2 Đề nghị ……… 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 37
Trang 9+ Hệ thống chăn nuôi:
Trang 10
Phần 1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tăng
tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị của sản xuất nông nghiệp Hiện nay, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp của nước ta chiếm trên 32% và định hướng sẽ tăng lên Phát triển chăn nuôi nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập của khu vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần cải thiện chất lượng dinh dưỡng cho người dân và thúc đẩy tiến trình giảm nghèo Sản phẩm chăn nuôi không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn cho nhu cầu xuất khẩu [3]
Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống, có từ lâu đời của nhân dân ta Gia cầm dễ nuôi, quay vòng nhanh, tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg sản phẩm thấp, phát triển được ở mọi vùng sinh thái, thị trường rộng lớn, cho nên không có loại động vật nào có thể thay thế được gia cầm Tuy vậy chăn nuôi gia cầm ở nước ta hiện nay quy mô nhỏ lẻ là chủ yếu Do đó việc ứng dụng những tiến bộ kĩ thuật về giống, thức ăn, chuồng trại, vệ sinh phòng bệnh… còn nhiều hạn chế, hiệu quả kinh tế chưa cao, ảnh hưởng lớn đến việc phát triển chăn nuôi gia cầm trong những năm tiếp theo
Bình Xuyên là một huyện nằm ở phía nam tỉnh Vĩnh Phúc giáp với thành phố Vĩnh Yên, huyện Yên Lạc, thị xã Phúc Yên và huyện Tam Dương Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 14,847 ha có ba vùng sinh thái khác nhau: Đồng bằng, trung du và miền núi Với đặc điểm là một huyện có nhiều khu công nghiệp, có nhiều làng nghề truyền thống, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi là hướng đi hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của huyện Trong đó ưu tiên phát triển chăn nuôi gia cầm là hướng
Trang 11thích hợp [15] Thực tế ở Bình Xuyên chăn nuôi gà đẻ ở nông hộ đang rất phát triển
Trong chăn nuôi việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý cho vật nuôi
là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả chăn nuôi Khoa học về dinh dưỡng động vật có nhiều hướng nghiên cứu liên hệ với đặc điểm sinh lý của từng loại động vật Đối với chăn nuôi gia cầm điều đó càng quan trọng, bởi vì
so với động vật có vú, chim có những đặc điểm tiêu hóa hoàn toàn khác
Trong những năm gần đây, nhờ sự ứng dụng rộng rãi thành tựu của các ngành sinh hoá, hoá phân tích, sinh học phân tử càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều những chức năng quan trọng của các vitamin và khoáng trong cơ thể động vật và ứng dụng chúng vào thực tiễn chăn nuôi mang lại hiệu quả cao Trong các nguyên tố đa lượng Ca và P còn được gọi là những nguyên tố cơ sở phần lớn tham gia vào cấu trúc của cơ thể Ở gà mái đẻ phần lớn Ca của thức ăn được sử dụng để tạo thành vỏ trứng, có tới 97% CaCO3trong thành phần của vỏ trứng Để hình thành vỏ trứng gà mái phải huy động 25% Ca của cơ thể Vì thế lượng Ca dự trữ trong cơ thể của gà mái chỉ đủ để sản xuất 3 - 5 quả trứng Do đó nếu trong khẩu phần ăn của gia cầm thiếu Ca
sẽ dẫn đến hiện tượng ngừng đẻ trứng hoàn toàn Việc cung cấp đủ Ca và ở dạng thuận lợi cho tiêu hóa hấp thu của gia cầm là rất cần thiết Trước thực tế
ở địa phương và các vấn đề trên về dinh dưỡng khoáng Ca cho gà mái đẻ
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và nghiên cứu hiệu quả của việc bổ sung canxi hữu cơ đến năng suất của gà đẻ thương phẩm nuôi tại nông hộ huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc”
1.2 Mục đích của đề tài
- Xác định một số chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật trên gà đẻ nuôi tại nông hộ
- Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung canxi hữu cơ đến năng suất của gà đẻ nuôi tại nông hộ
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cấu tạo hệ tiêu hóa và đặc điểm tiêu hóa của gia cầm
Tiêu hóa là một quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong thức ăn
từ những hợp chất hóa học phức tạp chuyển biến thành chất đơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thụ và lợi dụng được Cơ quan tiêu hóa của gia cầm bao gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tuyến tụy
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật
có vú Chiều dài của ống tiêu hóa gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức
ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác, do đó để quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với lứa tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức thấp nhất
Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo hệ thống tiêu hóa của gia cầm
Trang 132.1.1 Khoang miệng
Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ đóng vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Đường vành mỏ trên có thêm những răng nhỏ bằng sừng dùng để lọc nước và cắn rau, cỏ Lưỡi gia cầm nằm ở đáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ Trên
bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng, có tác dụng giữ khối thức ăn trong miệng và đẩy chúng về phía thực quản Gia cầm thực hiện mổ và nuốt thức ăn nhờ các động tác nâng lên, hạ xuống linh hoạt của đầu Gia cầm tiếp nhận thức ăn lỏng và nước bằng cách nâng đầu rất nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt Riêng chim bồ câu uống nước bằng cách thả
mỏ, hút nước vào nhờ áp lực âm trong khoang miệng
Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm nước bọt để dễ nuốt Thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy Trong nước bọt chứa một số ít men amilaza nên có ít tác dụng đối với tiêu hóa Gà mái có thể tiết 7 - 25ml nước bọt trong một ngày đêm (bình quân khoảng 12ml) [5] Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém
2.1.2 Thực quản trên
Nằm song song với khí quản, là một ống có 2 lớp cơ đàn hồi Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt Thực quản có chức năng vận chuyển thức ăn từ khoang miệng xuống diều
2.1.3 Diều
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Ở gà, gà tây và
gà phi diều rất phát triển Ở thủy cầm không có diều nhưng thực quản cũng hơi phình ra [5] Ở gà, diều chứa được 100 – 120g thức ăn Thức ăn ở diều được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hóa từng phần bởi các men của thức
ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật
Trang 14Nếu làm thí nghiệm cắt diều của gà đi, thức ăn đi qua ống tiêu hóa nhanh hơn nhưng sự tiêu hóa lại giảm đi một cách đáng kể, gà đẻ sút cân Sau một thời gian, cơ thể sẽ lại tạo ra một cái diều mới, bên trên chỗ diều cũ
Ở đáy màng nhầy có những tuyến hình túi phức tạp Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có HCl, pepsin, men và muối Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động – pepsinogen và được hoạt hóa bởi HCl Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên
Ở gà, số lượng dịch dạ dày và độ axit tăng dần lên cùng với độ tuổi, ở
gà con vài ngày tuổi, dịch dạ dày có tính axit (pH = 4,2 – 4,4) Axit HCl tự do không thường xuyên được tìm thấy trong khối chứa trong dạ dày của gà con
có độ tuổi từ 1 – 5 ngày
Dạ dày cơ (mề) có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở phía cạnh, nằm ở phía sau thùy trái của gan và lệch về nửa trái khoang bụng Ở những gia cầm ăn hạt (gà, gà tây, gà phi), dạ dày cơ lớn hơn một cách đáng kể so với thủy cầm Lối vào và lối ra ở dạ dày cơ rất gần nhau, nhờ vậy, thức ăn được giữ lại tại đây lâu hơn, chúng sẽ bị nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn với men và được
Trang 15tiêu hóa dưới tác dụng của các dịch dạ dày cũng như enzim và chất tiết của vi khuẩn Dịch tiêu hóa không được tiết ra ở dạ dày cơ
Niêm mạc của mề rất dày và được cấu tạo từ hai lớp: Biểu bì cùng với lớp màng bằng sừng và một lớp nhầy đặc chắc từ mô liên kết
Màng sừng của mề luôn bị mòn đi, nhưng nhờ sự dày lên ở đáy nên chiều dày của nó được ổn định Ngoài ý nghĩa cơ học, màng sừng còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác động của những yếu tố bất lợi Màng sừng bền với pepsin, không bị hòa tan trong các axit loãng, kiềm và các chất hòa tan hữu cơ (Ju, T.Techver)
Tần số co bóp của dạ dày cơ trung bình ở gà là: Khi đói 2,6; sau khi cho ăn 2,9; một giờ sau khi ăn 2,3 lần/phút Sỏi và các dị vật chứa trong dạ dày có một ý nghĩa nhất định trong việc nghiền và làm sạch những tiểu thể thức ăn trong khoang dạ dày Chúng làm tăng tác dụng nghiền của vách dạ dày
2.1.6 Ruột non
Ngắn giống như ruột non của gia súc, có nhiều tuyến, nhiều nhung mao, có khả năng và tốc độ hấp thu thức ăn lớn Mặt khác do tuyến ngoại tiết tương đối phát triển nên khả năng tiêu hóa tốt
2.1.7 Ruột già
Ruột già có cấu trúc vi thể giống như ruột non Riêng số lượng tuyến ống ít hơn, nhung mao ngắn hơn Ở vị trí ranh giới giữa phần ruột non và ruột già có một hoặc hai nếp gấp vòng tạo thành van
Ruột già gồm manh tràng và trực tràng Manh tràng là cơ quan tiêu hóa
xơ chính của gà nhờ vào sự hoạt động của vi sinh vật Trực tràng là đoạn phình rộng nhất của ruột, trực tràng của gà dài 6 – 8cm, đường kính 1 – 1,5cm Phần cuối của trực tràng có lỗ huyệt cũng là nơi đổ ra của đường tiết niệu, thải phân, đồng thời thực hiện chức năng sinh dục
Trang 162.2 Dinh dưỡng khoáng đối với gia cầm
2.2.1 Sự hấp thu và bài tiết chất khoáng
Để hấp thu được các nguyên tố khoáng phải ở dưới dạng hòa tan Hầu hết chúng ở dạng hòa tan, bởi vậy phần lớn các hình thức hấp thu bất kỳ một nguyên tố khoáng cần thiết nào đều ở trạng thái ion đơn giản của nó, hoặc là các nhóm ion của các nguyên tử Có nhiều nhân tố tham gia vào quá trình hòa tan và sử dụng các nguyên tố khoáng ở trong hệ tiêu hóa Sự ion hóa thường
là kết quả của axit HCl tạo ra các muối Clorua với các cation khác nhau, từ đó các muối này được hấp thu thuận lợi trong ruột non Sự hấp thu khoáng trong ruột non phụ thuộc vào:
1/ Tuổi động vật
2/ Giai đoạn tiết sữa, đẻ trứng (ở gia cầm)
3/ Mức độ cung cấp chất khoáng
Thời kỳ đẻ trứng, ở gà mái sự hấp thu khoáng mạnh hơn thời kỳ hậu bị
và gà dò Mức độ hấp thu khoáng còn phụ thuộc vào chế độ, điều kiện nuôi dưỡng, hàm lượng các nguyên tố khoáng có trong thức ăn
Sự bài tiết chất khoáng tiến hành bằng các con đường khác nhau, chủ yếu qua phân và nước tiểu Ngoài ra sự bài tiết còn được thực hiện qua tuyến
mồ hôi, tuyến bã dưới da Chất khoáng còn được bài tiết theo trứng, lông và tinh dịch Những chất khoáng cần thiết cho sự sống có một cơ chế bài tiết đặc biệt qua các cơ quan như thận, gan, tuyến tụy, tuyến nước bọt, dạ dày và ruột Lượng chất khoáng bài tiết phụ thuộc vào lượng thức ăn khoáng lấy vào
2.2.2 Vai trò chung của chất khoáng
Trong cơ thể, chất khoáng đã tham gia hoàn thành nhiều chức năng quan trọng của sự sống như:
- Duy trì áp lực thẩm thấu và sức căng bề mặt của thể dịch cơ thể
- Điều hòa nồng độ ion H+ trong máu và dịch nội mô, duy trì thế cân
Trang 17bằng giữa toan và kiềm
- Tính hưng phấn hay năng lực phản ứng của cơ, thần kinh đối với những kích thích chịu ảnh hưởng trực tiếp vào những chất khoáng vô cơ Như nguyên tố Ca tham gia vào chuyển động của xung thần kinh
- Góp phần tạo nên chất nguyên sinh như P là nhân tố quan trọng trong thành phần cấu trúc nhân tế bào của mô não và thần kinh
- Tạo nên bộ khung xương vững chắc nhằm chống đỡ và bảo vệ các
mô mềm của cơ thể
- Tham gia tích cực vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm chăn nuôi như lông, trứng…
- Ngoài ra, chất khoáng còn tham gia vào quá trình điều hòa các chức năng trong cơ thể Các chất khoáng đặc biệt là khoáng vi lượng tham gia vào thành phần cấu tạo nên enzim, các hormon và một số vitamin, là những nguyên tố xúc tác sinh học trong cơ thể
đẻ 3,5 - 3,8%
Trang 18Canxi là yếu tố quan trọng tham gia các quá trình dẫn truyền xung động thần kinh, các quá trình co duỗi sợi cơ, cũng như nhiều quá trình hoạt hóa nội bào khác, do đó hàm lượng canxi ở trong và ngoài tế bào luôn là một chỉ tiêu sinh lý cần được duy trì ở trạng thài cân bằng động rất linh hoạt
Tùy theo loài động vật, hàm lượng canxi ở máu loài có vú xê dịch quanh trị số trung bình là 10mg%, nhưng gia cầm có trị số trung bình cao hơn, gần 20 - 25mg%
Sự giảm thiểu chỉ số canxi của máu và một biểu hiện quan trọng về những rối loạn chuyển hóa về những rối loạn chuyển hóa chung của cơ thể động vật
Nói chung, hàm lượng canxi huyết thanh không chịu ảnh hưởng trực tiếp và tức thời của canxi trong thức ăn Ở nhiều vật nuôi (trâu, bò, chuột, thỏ thí nghiệm), sự thiếu hụt canxi thức ăn lại làm tăng chỉ số canxi huyết Ở gia cầm hàm lượng canxi và photpho ở máu tăng và giảm xuống có tính chu kỳ, phụ thuộc vào nhịp độ đẻ trứng và chế độ cho ăn Ở gà cho ăn theo chế độ tự
do thì giờ thứ 14 sau đẻ trứng, máu có chỉ số canxi thấp nhất, photpho và canxitriol cao nhất
Ở gia cầm trong thời kỳ đẻ trứng, lượng canxi huyết tăng gấp đôi và chủ yếu là dạng liên kết với protein, nhất là phức hợp canxi - photphoprotein
2.3.2.2 Một số trạng thái bệnh lý ở gia cầm do rối loạn cân bằng Ca
Như phần trên đã đề cập, sự điều tiết cân bằng chuyển hóa Ca/P là một trong những cơ chế nhạy bén nhất trong cơ thể động vật Cân bằng canxi -photpho phải được duy trì để trước hết bảo đảm quá trình canxi hóa bộ xương
và đủ canxi cho những cơ chế sinh học trọng yếu (cơ, thần kinh, enzim) Cân bằng Ca/P thực hiện qua sự hấp thu và bài tiết
Khi quá rối loạn cân bằng canxi, thường dẫn tới các trạng thái bệnh lý
Trang 19sau đây:
- Chứng co giật cơ và cứng cơ
Thường do thấp canxi huyết với nguyên nhân thiểu năng tuyến phó giáp trạng hoặc thiếu vitamin D Rối loạn tiêu hóa, nôn mửa nhiều nên mất H+
dẫn tới trạng thái kiềm huyết cũng có thể gây thấp canxi huyết
- Bệnh còi xương ở gà con và xốp xương ở gà mái đẻ
Gà con đặc biệt nhạy cảm với khẩu phần thiếu canxi hoặc thiếu vitamin
D Chỉ cần 3 - 4 ngày là đã có biểu hiện bệnh lý của chứng còi xương Khi khẩu phần ăn thiếu vitamin D và thiếu tác động ánh sáng tia tử ngoại thì gà con ngay từ tháng đầu sau khi nở đã có biểu hiện chậm phát triển và mắc chứng còi xương: Chúng kém vận động, lông xơ xác, màu xỉn, mỏ không cứng, bị vẹo và hay dính thức ăn Nhiều nghiên cứu đã xác định rằng tỷ lệ Ca/P tối ưu của khẩu phần gà con nằm trong giới hạn 1,3 - 1,7
Gà mái đẻ cần khoảng 2g canxi cho việc tạo nên 1 vỏ trứng với thành phần chính là canxi cacbonat (CaCO3), do đó hàm lượng canxi huyết phải bảo đảm mức cao (18 – 25mg% hoặc cao hơn nữa) Vào thời kỳ chuẩn bị đẻ, sự hấp thu và tích lũy canxi được đẩy mạnh, trong xương xuất hiện những bọt xương hoặc gai xương mà người ta gọi chung là xương phần tủy Đây là dạng canxi dự trữ rất linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu sinh sản ở gà mái đẻ Xốp xương làm suy giảm nhanh chóng năng suất đẻ trứng của gà và gây hiện tượng liệt, vì dự trữ canxi lúc này đã cạn kiệt Khi thức ăn gà đẻ thiếu canxi
có thể gà vẫn đẻ, nhưng vỏ trứng mỏng hoặc hoàn toàn mất phần vỏ vôi Dự trữ canxi trong cơ thể chỉ tương đương 8 - 10g, khi sử dụng hết thì con vật phải huy động nguồn canxi từ xương, chủ yếu dưới tác dụng của parahocmon tuyến cận giáp
- Canxi với chất lượng vỏ trứng
Trong chăn nuôi gà đẻ, chất lượng vỏ trứng có ý nghĩa vô cùng quan
Trang 20trọng và thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học Theo tác giả Bùi Lan Hương, Lê Hồng Mận (1989) [2], chất lượng vỏ trứng kém là nguyên nhân trực tiếp gây tỷ lệ dập vỡ trứng cao Thiệt hại do nguyên nhân này ở Mỹ lên đến 8 - 10% tổng số trứng sản xuất, ở cộng hòa Liên bang Đức là 8 - 12%, ở Australia là 10 - 15%, còn ở Liên Xô cũ là 7%, chỉ riêng ở nước này đã có 2
tỷ trứng bị dập vỡ hàng năm [3] Mỗi năm trên thế giới có khoảng 7,7% trứng (tức hàng chục tỷ) bị dập vỡ, con số này là không nhỏ Tổn thất này đã đặt cho các nhà chăn nuôi một nhiệm vụ to lớn là: Bên cạnh việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao sản lượng trứng, cần phải tìm cách giảm số lượng trứng dập vỡ hàng năm
Các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng dập vỡ như sau:
- Canxi và photpho
- Vitamin
- Các nguyên tố vi lượng
- Protein và năng lượng
- Thuốc an thần và giảm đau
- Các hormon tuyến giáp trạng và sinh dục
Trong đó, tác giả đặc biệt chú ý đến ảnh hưởng lớn của canxi, photpho
và vitamin D, nhất là vai trò của canxi (bởi vì vỏ trứng chủ yếu là CaCO3) Để tạo ra một vỏ trứng gà mái cần khoảng 2g canxi, vì vậy cần phải cho gà ăn khoảng 3,75 - 4,0 g canxi/ngày Cần lưu ý là khi tăng khẩu phần canxi thì lại làm giảm tỷ lệ canxi tích lũy (calcium retention) trong cơ thể
2.3.2.3 Những nghiên cứu gần đây về việc bổ sung Ca hữu cơ trong chăn nuôi
Mặc dù trong kỹ thuật chăn nuôi nhất là chăn nuôi gia cầm mà đặc biệt
là chăn nuôi gà công nghiệp, đã có các chỉ tiêu khá đầy đủ về mức độ và chất khoáng như Canxi, photpho, magie… trong khẩu phần ăn của các loại gà theo
Trang 21từng lứa tuổi, từng nhóm sản xuất (thịt, trứng…), nhưng việc tìm các biện pháp tối ưu cho việc nuôi dưỡng vẫn được tiếp tục không ngừng Phương châm của các nghiên cứu này là làm sao đáp ứng tốt nhất nhu cầu dinh dưỡng thay đổi trong từng giai đoạn phát triển, ứng với từng trạng thái trao đổi chất
và mức độ sản lượng để đạt tới hiệu quả kinh tế cao nhất trong ngành chăn nuôi Người ta tiếp tục thử các mức bổ sung Canxi khác nhau, thử các dẫn xuất chuyển hóa của Vitamin D đến hiệu quả phòng bệnh xương và chất lượng trứng, thăm dò tác dụng hỗ trợ của Vitamin C
Việc nghiên cứu ra Canxi hữu cơ có gắn với chất mang đã làm tăng nhanh thời gian tiêu hóa và hấp thụ thức ăn đồng thời ngăn chặn tình trạng vỏ trứng bị thiếu hụt Canxi của gà đẻ Ứng dụng này đã được áp dụng ở EU mà điển hình là Pháp đã mang lại hiệu quả kinh tế và đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về thực phẩm sạch, an toàn
Chế phẩm Canxi hữu cơ ở lợn mang tên Greencab đã được nghiên cứu
và ứng dụng ở rất nhiều nước trên thế giới Điển hình như Pháp (2003), Bỉ (2003), Trung Quốc (2005), Canada (2005) đã cho kết quả tốt về khả năng thu nhận thức ăn và nâng cao tăng trọng hàng ngày (tài liệu được khai thác từ tập đoàn: Global Nutrition International) [8]
Ở nước ta cũng đang dần thay thế Canxi vô cơ bằng các chế phẩm Canxi hữu cơ dễ tiêu hóa và hấp thụ lên các đối tượng như lợn, gà thịt, tới đây
là lên gà đẻ và bò Chế phẩm Greencab đã được nghiên cứu ở nước ta năm
2009 trên lợn bởi Nguyễn Văn Phú, 2009 [8], với mức trộn là 1,5kg/tấn thức
ăn cho lợn con cai sữa đã làm giảm tỷ lệ lợn con ỉa phân trắng đồng thời tăng khả năng thu nhận thức ăn và nâng cao tăng trọng hàng ngày
Tóm lại các vấn đề cơ sở lý luận cũng như biện pháp thực tiễn trong việc thay thế canxi vô cơ thành canxi hữu cơ cần được nghiên cứu sâu rộng để tìm ra mức bổ sung thích hợp trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà đẻ
Trang 22nói riêng
2.3 Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái
2.3.1 Hiện tượng rụng trứng và quá trình hình thành trứng
Hiện tượng rụng trứng và sự hình thành trứng ở gà mái gắn liền với sự hình thành các chất dinh dưỡng để nuôi bào thai Sự rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là sau khi đẻ trứng 30 phút Gà đẻ sau 16 giờ thì
sự rụng trứng sẽ chuyển đến buổi sáng ngày hôm sau Sự rụng trứng của gà thường xảy ra trong thời gian từ 2 – 14 giờ hàng ngày
Tế bào trứng di chuyển đầu tiên là phần tiết lòng trắng (2,5 – 3 giờ) Ở đây các phần của lòng trắng được hình thành và tiếp tục di chuyển xuống phần eo khoảng 10 phút bắt đầu hình thành màng lòng trắng, sau đó xuống tử cung, qua tử cung mất 19 giờ Ở đây nó hình thành vỏ, sau đó trứng qua âm đạo rất nhanh ra ngoài
2.3.2 Khả năng sinh sản ở gia cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu sau:
+ Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: Tuổi mà tỷ lệ đẻ toàn đàn là 5%
+ Sản lượng trứng: Lượng trứng trung bình một mái đẻ được trong thời gian một năm
+ Khối lượng trứng: Đây là tính trạng có hệ số h2 cao (h2= 0,48 - 0,8) [9] Khối lượng trứng tăng theo tuổi đẻ của gia cầm và sự thay đổi khối lượng trứng còn ứng với sự thay đổi khối lượng cơ thể
+ Chất lượng trứng: Được thể hiện ở các chỉ tiêu màu sắc vỏ trứng, độ dày và độ bền của vỏ trứng, chỉ số lòng đỏ và chỉ số lòng trắng
Trang 23Bảng 2.1: Đặc điểm sản xuất trứng của một số loài [15]
Loài Tuổi đẻ trứng
đầu tiên (tuần)
Tỷ lệ đẻ đạt đỉnh (%) Số trứng/năm
2.3.3 Một vài yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng [10]
Ngoài yếu tố di truyền thì có một loạt yếu tố môi trường ảnh hưởng đến năng suất trứng gia cầm
- Thời gian chiếu sáng trong ngày: Nếu gia tăng sẽ làm tăng năng suất trứng
- Tỷ lệ gà đẻ không ổn định thay đổi tùy từng thời kỳ trong giai đoạn đẻ trứng Đường cong về số trứng đẻ trong một giai đoạn có thể chia làm ba thời