Nhằm tìm hiểu về thực trạng chăn nuôi bò ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển chăn nuôi bò với điều kiện cụ thể ở địa phương chún
Trang 1+PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi bò là tập quán lâu đời của người nông dân Việt Nam Với điều kiện thời tiết thuận lợi, 3/4 diện tích là đồi núi, có đồng cỏ tự nhiên rộng lớn, phụ phẩm trồng trọt dồi dào, chăn nuôi bò là một thế mạnh ở nước ta Ðưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, trong đó chăn nuôi bò được xác định có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều vùng nước ta, nhất là ở địa bàn miền núi tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao
Đời sống vật chất ngày càng tăng cao đồng nghĩa với nhu cầu thịt, sữa, trứng… ngày càng tăng nhưng khả năng cung cấp còn hạn chế Thịt bò đại diện cho nhóm thịt đỏ là một loại thịt hấp dẫn rất giàu dinh dưỡng, được chế biến thành những món ăn với hương vị đặc biệt cung cấp lượng đạm lớn cho con người là loại thực phẩm được nhiều người yêu thích Trong mấy năm gần đây, dịch cúm gia cầm bùng phát, dịch liên cầu khuẩn ở lợn, hay gần đây nhất
là hiện tượng trứng gà giả, trứng gà công nghiệp bị tẩy màu… khiến cho những thực phẩm đó tiêu thụ giảm hẳn, ngược lại nhu cầu thịt bò tăng lên Tuy nhiên, ở Việt Nam thịt bò vẫn được xem là món ăn xa xỉ lý do giá của nó quá cao do ngành chăn nuôi bò thịt chưa được chú trọng phát triển và những thuận lợi trong chăn nuôi bò thịt chưa được khai thác tận dụng hết
Ngọc Thanh là một xã thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là vùng có khả năng canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau do đó có một lượng phế phụ phẩm nông nghiệp dồi dào mặt khác diện tích chăn thả khá rộng nên nơi đây là điều kiện tốt để phát triển chăn nuôi bò Hơn nữa trong điều kiện kinh tế của người dân ở đây còn nhiều khó khăn, chưa có khả năng để cơ giới hoá hoàn toàn trong nông nghiệp thì việc chăn nuôi bò sẽ giải quyết phần nào
Trang 2sức kéo, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và điều quan trọng là góp phần tăng thu nhập đáng kể cho người dân nơi đây Mặt khác Ngọc Thanh có
ưu thế về vị trí địa lý: là xã thuộc địa phận thị xã Phúc Yên tiếp giáp Hà Nội một thị trường tiêu thụ thịt bò rộng và tiềm năng; bên cạnh đó tại thị xã Phúc Yên có nhiều nhà máy, công ty, trường học… đây cũng là nơi tiêu thụ thịt bò khá lớn
Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi bò ở Ngọc Thanh còn nhỏ lẻ chưa được đầu tư nhiều, chưa có hộ nuôi bò theo qui mô trang trại Nguồn thức ăn
là cỏ tự nhiên dồi dào, bãi chăn thả rộng, phụ phẩm từ nông nghiệp nhiều (thân lá ngô, rơm lúa, rau khoai…) vẫn chưa được tận dụng triệt để gây lãng phí Số lượng và chất lượng đàn bò ở xã chưa phát triển được so với tiềm năng hiện có của xã
Nhằm tìm hiểu về thực trạng chăn nuôi bò ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển chăn
nuôi bò với điều kiện cụ thể ở địa phương chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng và các giải pháp phát triển chăn nuôi bò ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2 Mục tiêu của đề tài:
- Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi bò tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc
- Đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi bò với điều kiện thực tế tại địa phương
Trang 3PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình chăn nuôi bò trên thế giới và trong nước
2.1.1 Sơ lược tình hình chăn nuôi bò trên thế giới
2.2.1.1 Số lượng và phân bố đàn bò
Chăn nuôi bò thịt phát triển hầu hết ở các quốc gia thuộc các châu lục
và các vùng trên thế giới, châu Mỹ luôn là châu lục có số lượng đàn bò thịt chiếm tỷ trọng lớn nhất thế giới (khoảng 37,1%)
Bảng 2.1 Biến động về số lượng đàn bò trên thế giới
Nguồn: Phòng thống kê của FAO, năm 2009
Từ bảng 2.1 cho thấy tổng đàn bò trên thế giới trong những năm qua tăng chậm, năm 2007 là 1.357.183 nghìn con, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2007 là 0,26 % Trong đó Braxin, Ấn Độ là các quốc gia có
Trang 4tổng đàn bò lớn nhất thế giới, năm 2007 Braxin có 199.752 nghìn con (chiếm 14,72% tổng đàn bò thế giới), Ấn Độ có 176.594 nhìn con (chiếm 13,01% tổng đàn bò thế giới) Tuy nhiên số lượng đàn bò của cả 2 quốc gia trên đều
có xu hướng giảm trong những năm gần đây, tốc độ giảm bình quân trong giai đoạn 2005-2007 là 1,8% đối với Braxin và 1,18% đối với Ấn Độ
Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển và được đánh giá
có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, điều đó cũng được thể hiện thông qua tốc
độ tăng trưởng bình quân đàn bò giai đoàn 2005-2007 là 10,4%/năm và số lượng đầu con là 6.725 nghìn con năm 2007(chiếm 0,5% tổng đàn bò thế giới) Đây là kết quả bước đầu khi Việt Nam mới tham gia là thành viên chính thức của WTO
Bảng 2.2 Số lượng bò thịt giết mổ trên thế giới
Nguồn: Phòng thống kê của FAO, năm 2009
Với số lượng đàn bò như trên, số lượng bò giết mổ hàng năm trên thế
Trang 5giới cũng tương đối lớn, năm 2007 là 287.000 con, cung cẩp cho thị trường 59.852 nghìn tấn thịt (tổng hợp ở bảng 2.2).Trong đó Trung Quốc, Mỹ, Braxin là những quốc gia có số lượng bò giết mổ lớn nhất thế giới Năm
2007, số lượng bò giết mổ của Trung Quốc là 44.060 nghìn con (chiếm 15,35% số lượng bò giết mổ trên thế giới) và cung ứng 5.849 nghìn tấn thịt
Mỹ có số lượng bò giết thịt ít hơn Trung Quốc nhưng do có năng suất cao nên sản lượng thịt cung ứng lớn (12.044 nghìn tấn thịt tương ứng với 33.720 nghìn con được giết mổ) Lượng giết mổ của Braxin trong những năm qua rất lớn 10,93% trong giai đoạn 2005-2007 Ngược lại với xu thế đó, số lượng giết
mổ của đàn bò Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tốt 20,57% với tổng lượng bò giết mổ là 1.200 nghìn con, cung cấp được 206 nghìn tấn thịt vào năm 2007
Nguyên nhân chính về xu hướng biến động trên có thể do sự khủng hoảng kinh tế thế giới trong thời gian qua và một số dịch bệnh sảy ra trên đàn
bò một số nước có quy mô chăn nuôi lớn như bệnh bò điên, tụ huyết trùng và tâm lý của một bộ phận người tiêu dùng thế giới về vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao này
Tuy vậy, xu hướng chung về nhu cầu thịt bò của người tiêu dùng thế giới cũng không ngừng tăng lên, tổng lượng nhập khẩu thịt bò trên thế giới năm 2008
là 6.834 tấn (với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2008 là 0,41%), thể hiện ở bảng 2.3
Vì vậy, đây cũng là cơ hội cho các quốc gia có điều kiện phát triển chăn nuôi bò thịt tạo nhiều sản phẩm cho xuất khấu Cầu về thịt bò lớn nhất là Châu Mỹ, trong đó Mỹ là quốc gia có nhu cầu nhập khẩu thịt bò lớn nhất thế giới 1.151 tấn (chiếm 15% tổng sản lượng thịt bò nhập khẩu của thế giới vào năm 2008), ngoài ra Nga và Giamaica, Malaixia cũng là các quốc gia có tỷ trọng nhập khẩu cao
Trang 6Bảng 2.3 Tình hình nhập khẩu thịt bò trên thế giới
Nguồn: Phòng thống kê của FAO, năm 2009
Tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế thế giới, khả năng tự đáp ứng nhu cầu thịt bò trong nước và tâm lý tiêu dùng của một bộ phận người tiêu dùng thế giới về an toàn vệ sinh thực phẩm, nên trong những năm gần đây một số quốc gia có xu hướng giảm lượng thịt nhập như Mỹ, Giamaica, Ka-giắc-xtan,
Ai Cập Ngược lại, Vê-nê-du-ê-la và Việt Nam có tốc độ nhập khẩu rất cao (132,10% đối với Việt Nam và 158,24% đối với Vê-nê-du-ê-la)
Về khả năng xuất khẩu thịt bò trên thế giới được tông hợp qua bảng 2.4 sau:
Các quốc gia có khả năng xuất khẩu nhiều nhất phải kể đến đó là các
Trang 7cường quốc chăn nuôi bò thịt như: Braxin, Ôxtraylia, Mỹ, Ấn độ, Niudilân , tổng lượng xuất khẩu của Braxin là 1.801 tấn năm 2008 (chiếm 23,81% tổng lượng xuất khẩu của thế giới), của Ôxtraylia là 1.407 tấn (chiếm 18,6% tổng lượng xuất khẩu của thế giới) Lượng xuất khẩu của Việt Nam chỉ có 135 tấn năm 2008 (chiếm 1,8% tổng lượng xuất khẩu của thế giới) nhưng tốc độ tăng xuất khẩu giai đoạn 2006-2008 lên đến 155,36% Điều đó chứng tỏ nước ta đã
và đang tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới một cách tích cực, khẳng định vị trí của mình trong trường quốc tế, tạo đà phát triển ngành kinh
tế này và các ngành kinh tế khác trong tương lai
Bảng 2.4 Tình hình xuất khẩu thịt bò trên thế giới
Trang 8Nguồn: Phòng thống kê của FAO, năm 2009 2.2.2 Sơ lược tình hình chăn nuôi bò ở nước ta
2.2.2.1 Số lượng và phân bố đàn bò
Từ xa xưa chăn nuôi bò nước ta chủ yếu là khai thác sức kéo và phân bón phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, là nguồn của cải dự trữ lúc thiên tai mất mùa… Ngày nay, khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, có máy móc và các sản phẩm phân bón thay thế vai trò cung cấp sức kéo và phân bón của con bò đặt xuống hàng thứ yếu, vai trò cung cấp thịt, sữa chiếm ưu thế Do đời sống con người ngày càng cao nên thịt bò ngày càng được tiêu thụ nhiều hơn Nhưng trong những năm gần đây số lượng bò được nuôi có
xu hướng giảm nguyên nhân là vì đồng cỏ chăn thả tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, đa phần người nông dân chưa có điều kiện chăn nuôi với số lượng nhiều Diễn biến số lượng bò ở nước ta trong một số năm được trình bày cụ thể dưới đây
Bảng 2.5: Số lượng bò ở Việt Nam từ năm 2005 – 2010
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2010
Như vậy những năm gần đây đàn bò nước ta có xu hướng tăng và ổn định Điều này phản ánh được sự phát triển của nông nghiệp của ta nói chung và sự phát triển của ngành chăn nuôi bò nói riêng Nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước: Đã cho bà con vay vốn, hỗ trợ kỹ thuật, không ngừng nghiên cứu tạo ra những con giống mới và nhập ngoại những con giống có năng suất cao, thích nghi với điều kiên chăn nuôi ở Việt Nam Hiện
Trang 9nay, có 15 tỉnh thành tham gia dự án giống bò thịt chất lượng cao Hàng nghìn bò thịt giống cao sản đã được nhập về nước ta trong những năm qua nhằm đáp ứng nhu cầu giống phát triển chăn nuôi của nhân dân Tỉ lệ đàn bò lai chiếm trên 30% tổng đàn bò, là đàn bò nền để tiếp tục lai tạo bò thịt chất lượng cao
Nước ta có đặc điểm tự nhiên rất đa dạng vì thế sự phân bố đàn bò trên cả nước có sự khác nhau rõ rệt Đàn bò nước ta tập trung ở khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ với số lượng trên 62% tổng đàn
bò cả nước Bò là một trong những gia súc nhai lại dễ thích nghi với những vùng có thảm thực vật phong phú, khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh của
bò rất tốt Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ là nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp với phát triển bò nên có đến 40% bò cả nước tập trung ở đây Tuy Tây Nguyên là vùng đất rộng lớn, có nhiều đất đai và đồng cỏ phù hợp với chăn nuôi bò nhưng tại đây số lượng bò chỉ chiếm rất ít khoảng 11 % số bò của cả nước
Trong 5 năm qua năng suất và chất lượng các giống bò nước ta đã được cải thiện nhiều, cả nước có khoảng 6,51 triệu con, trong đó có 2,08 triệu bò lai Zebu (chiếm 32% tổng đàn bò) Các tỉnh có số lượng bò lai Sind cao như Vĩnh Phúc 58,9% (104,3 nghìn bò lai Sind trên tổng số 177,1 nghìn
bò của tỉnh), Hà Tây 85,4% (138 nghìn con trên tổng số 161,7 nghìn con), Quảng Ngãi 29,2% (83,3 nghìn con trên tổng số 284,6 nghìn con), Tây Ninh 83,0% (104,3 nghìn con trên 125,7 nghìn con) (Đề án phát triển chăn nuôi
Trang 10Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2010
Số lượng đàn bò đang có xu hướng giảm trong thời gian gần đây Nếu
so sánh năm 2005 và năm 2010, đàn bò nước ta từ 6.510,8 nghìn con xuống 5.806,3 nghìn con Chăn nuôi quy mô trang trại đã phát triển, cả nước hiện nay có trên 6.405 trang trại chăn nuôi bò.Trong đó, Đông Nam Bộ dẫn đầu
cả nước về số lượng với 2.683 trang trại bò Các trang trại có quy mô chăn nuôi từ 10-50 con Chủ trang trại áp dụng các tiến bộ về giống, thức ăn, chuồng trại cũng như kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng Vì vậy, năng suất, chất lượng giống và hiệu quả chăn nuôi được cải thiện
2.2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò thịt
Ngành chăn nuôi bò thịt chuyên dụng chưa thực sự được hình thành ở
Trang 11Việt Nam Thịt bò trên thị trường chủ yếu là thịt bò nội Những năm gần đây
do đời sống tăng cao cho nên nhu cầu tiêu thụ thịt bò ngày càng cao đồng thời giá cả và chất lượng thịt bò cũng tăng lên
Bảng 2.7: Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2010
Như vậy sản lượng thịt bò của nước ta đang có xu hướng tăng nhanh
cụ thể như năm 2005 là 142,2 ngìn tấn thì đến năm 2005 đã tăng lên đến 278,4 nghìn tấn
Theo Cục Chăn nuôi, mục tiêu trong đề án phát triển chăn nuôi bò thịt đến 2010 phải đạt số lượng bò thịt là 7,84 triệu con và là 10 triệu con vào năm 2015 Tổng sản lượng thịt bò lên 222 ngàn tấn vào năm 2010 và 310 ngàn tấn vào năm 2015
2.2 Đặc điểm một số giống bò thịt hiện nay ở nước ta
Từ những năm 1960 Nhà nước ta đã có những chương trình cải tiến để nâng cao năng xuất của giống bò địa phương bằng cách cho lai với các giống bò Zêbu nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới về chất lương và số lượng, đặc biệt là chất lượng Từ đó đến nay số lượng đàn bò trong nước có khoảng 25-30% số lượng bò lai như bò Laisin, Brahman…
2.2.1 Bò Vàng
- Nguồn gốc: Bò Việt Nam có nguồn gốc từ bò Bostaurus nhánh bò châu Á được phân bố rộng rãi ở nhiều vùng cả nước
Trang 12- Ngoại hình: Bò thường có màu vàng, vàng nhạt, vàng cánh gián, nâu và xám: màu vàng chiếm khoảng 70-80%, màu nâu và nâu xám chiếm 20-30%
Bò không có thiên hướng sản xuất rõ rệt Ngoại hình cân xứng Mắt tinh lanh lợi; yếm kéo dài từ cổ đến ức; da có nhiều nếp nhăn; u bụng to, nhưng không sệ Bốn chân thanh, cứng cáp Hai chân trước thẳng, hai chân sau đi thường chạm khoeo Tầm vóc nhỏ, khối lượng lúc sơ sinh từ 14-15kg Con cái đầu và cổ thanh, sừng ngắn Lúc trưởng thành nặng 160-200kg Con đực đầu to, sừng dài chĩa về phía trước, vai cao (con cái không có), lưng và hông thẳng, hơi rộng, bắp thịt nở nang, mông hơi xuôi, hẹp và ngắn Trưởng thành nặng 250-280kg
- Đặc điểm sinh sản: Tuổi phối giống lần đầu khoảng 20-24 tháng tuổi Tỷ lệ sinh sản đạt 50-80%
- Năng suất cho thịt: Năng suất không cao, tỉ lệ thịt xẻ từ 40-44%, thịt hồng,
- Ngoại hình: Đầu hẹp, trán gồ, tai to cụp xuống Rốn và yếm rất phát triển: yếm kéo dài từ đầu đến rốn, nhiều nếp nhăn U vai nổi rõ Âm hộ có nhiều nếp nhăn Lưng ngắn, ngực sâu, mông dốc Đuôi dài, chót đuôi thường không có xương Màu lông thường là vàng hoặc sẫm, một số ít con có vá trắng Thể vóc lớn hơn bò Vàng: khối lượng sơ sinh 17-19kg, trưởng thành 250-350kg đối với con cái, 400-450 đối với con đực
- Đặc điểm sinh sản: Tuổi phối giống lần đầu 18-24 tháng, khoảng cách lứa
đẻ khoảng 15 tháng
Trang 13- Năng suất cho thịt: Tỉ lệ thịt xẻ 48-49%
- Đặc điểm thích nghi: Chịu đựng kham khổ tốt, khả năng chống bệnh tật cao, thích nghi tốt với khí hậu nóng ẩm
Ở nước ta, bò Brahman đã được nhập từ Úc để nhân thuần và cho lai với bò lai Sind để tạo con lai hướng thịt
2.3 Các phương thức chăn nuôi bò thịt
2.3.1 Chăn nuôi quảng canh, tận dụng và sử dụng sức kéo
Là phương thức chăn nuôi phổ biến cho các hộ chăn nuôi bò của nước
ta Bởi chăn nuôi bò của nước ta theo phương thức quảng canh và qui mô theo chăn nuôi nông hộ là chủ yếu Chăn nuôi bò địa phương là nghề truyền thống lâu đời của nhân dân ta gắn liền với một nền văn minh lúa nước Bò là con vật không thể thiếu trong mỗi nông hộ Nước ta có khoảng 13 triệu hộ nông dân trong đó có khoảng 4 triệu nông hộ nuôi bò với qui mô bình quân 1,5-1,6 con/hộ với phương thức nuôi quảng canh và tận dụng Trên 90% số
bò nước ta chăn nuôi theo phương thức này, chăn nuôi bò để tận dụng sức kéo trong nông nghiệp và nông thôn có ý nghĩa quan trọng
2.4.2 Chăn nuôi bán thâm canh
Là phương thức chăn nuôi của các trang trại vừa và nhỏ Phương thức này bò được chăn thả trên các bãi, gò, đồng cỏ…hàng ngày trong một thời gian nhất định khi về chuồng mỗi con được nhốt vào một vị trí nhất định nào
đó Trong thời gian nhốt trong chuồng bò được ăn cỏ tươi, rơm, thức ăn ủ
Trang 14xanh hoặc cỏ khô và thức ăn tinh…
2.4.3 Chăn nuôi thâm canh
Chăn nuôi bò thịt chất lượng cao, thâm canh là một nghề rất mới mẻ đối với nông dân Việt Nam Chăn nuôi bò thâm canh đòi hỏi người chăn nuôi phải có vốn và kỹ thuật chăn nuôi cao Có khoảng 0,5% hộ chăn nuôi
có qui mô chăn nuôi trang trại lớn trên 100 bò trở lên với phương thức nuôi thâm canh để nuôi bò sinh sản, sản xuất con giống hoặc vỗ béo thịt Phương thức chăn nuôi này chủ yếu với bò lai, bò ngoại chuyên thịt: bò được nuôi trên đồng cỏ thâm canh luân phiên hoặc nuôi nhốt với khẩu phần ăn hoàn chỉnh và chuồng trại hiện đại
2.4 Chiến lược phát triển chăn nuôi bò ở Việt Nam
Chăn nuôi bò thịt là một trong những ngành được Nhà nước, Bộ NN&PTNT, các địa phương quan tâm ưu tiên phát triển và được nông dân đồng tình Đặc biệt từ năm 2001 Chính phủ ban hành quyết định 167/QĐ- TTg ngày 26/10/2001 về một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi
bò thịt 2001-2010, trong đó chính sách về cải tạo đàn bò Đến nay đã có 22 tỉnh và thành phố trong cả nước ban hành chính sách khuyến khích và có chương trình phát triển chăn nuôi bò Nội dung chính của các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò của các địa phương tập trung các lĩnh vực sau:
2.4.1 Giống bò:
Hỗ trợ giống mới, giống chất lượng cao: Bò lai Zebu, bò cái ngoại hỗ trợ 40% kinh phí mua giống ( Bắc Kạn, Yên Bái ) Hỗ trợ nuôi bò đực giống: 70% kinh phí mua bò đực giống lai Zebu Hỗ trợ kinh phí mua và vận chuyển
bò cái sinh sản từ tỉnh ngoài Hỗ trợ giống gốc theo quyết định 125/CP của chính phủ ban hành năm 1991 Hỗ trợ kinh phí mua tinh, vật tư phối giống, nitơ cho thụ tinh nhân tạo (TTNT) cải tạo đàn bò và lai tạo bò thịt ( Hỗ trợ
Trang 1550%, 70% và 100% kinh phí TTNT bò ở các khu vực I, II và III của tỉnh Điện Biên.)
2.4.4 Vốn vay và lãi suât ngân hàng:
Hỗ trợ 50%- 100% lãi suất vay vốn trong 3 năm ( vốn vay 10-20 triệu đồng) để mua bò giống và phát triển chăn nuôi bò thịt
2.4.5 Đào tạo tập huấn, khuyến nông:
Hỗ trợ kinh phí cho các chương trình đào tạo tập huấn, khuyến nông, tham quan mô hình trình diễn về chăn nuôi bò thịt
2.4.6 Đầu tư, đất đai:
Tạo mọi điều kiện thuận lợi về thủ tục đất đai, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, hỗ trợ kinh phí xây dựng hạ tầng cho các doanh nghiệp đầu tư để xây dựng trang trại sản xuất giống bò thịt không hạn chế quy mô và lĩnh vực đầu
tư Hỗ trợ đầu tư xây dựng các trang trại nuôi bò thịt tập trung thâm canh: cung cấp giống, vỗ béo bò thịt
2.4.7 Thị trường:
Tổ chức, thành lập và mở các chợ mua bán giống bò, giới thiệu sản phẩm giống và thu hút các nhà đầu tư vào chăn nuôi bò thịt Tìm thị trường nhập khẩu giống mới, thiết bị chăn nuôi, chế biến thức ăn, chế biến cỏ cho
Trang 16chăn nuôi bò và tìm thị trường trong nước cho việc kinh doanh, buôn bán sản phẩm bò thịt
2.4.8 Hỗ trợ người nghèo:
Hỗ trợ, ưu tiên người nghèo có cơ hội nuôi bò Chương trình ngân hàng
bò cho người nghèo Chính sách hỗ trợ một mái nhà, một con bò, một bể nước của Hà Giang thực sự giúp đỡ người nghèo
2.4.9 Hội thi bò:
Tổ chức các lễ hội thi bò, đua bò theo tập quán và truyền thống văn hóa Tổ chức hội thi giống bò tốt, hội thi chăn nuôi bò giỏi để khuyến khích phong trào nuôi bò
Sự điều tiết vĩ mô của nhà nước là rất quan trọng, nó là động lực khuyến khích sự phát triển Trong những năm vừa qua, các chính sách chăn nuôi bò thịt của nhà nước đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi bò thịt nước ta
Trang 17PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bò thịt nuôi tại nông hộ xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Nội dung nghiên cứu:
3.2.1 Tình hình chăn nuôi bò ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3.2.3 Đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi bò ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3.3 Phương pháp nghiên cứu:
- Đọc tài liệu
- Thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp
- Điều tra Phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi, sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi (Mẫu phiếu điều tra bố trí ở phần phụ lục)
Trang 18PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.[7 ], [8], [9]
4.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình
Xã Ngọc Thanh là 1 xã miền núi, dân tộc thuộc ngoại thị thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc liền kề với huyện Bình Xuyên (tỉnh Vĩnh Phúc), huyện Sóc Sơn (TP Hà Nội), phường Đồng Xuân - xã Cao Minh của thị xã Phúc Yên Nằm cách trung tâm thành phố Vĩnh Yên 20km về phía Tây và trung tâm Thủ đô Hà Nội 40km về phía Đông
Toàn bộ địa phận hành chính xã Ngọc Thanh là 7.732,68ha
Ngọc Thanh là xã miền núi, địa hình chia cắt bởi 3 dải núi thấp tạo thung lũng phía Bắc; phía Nam có địa hình đồng bằng và hồ lớn Đại Lải
Địa hình bằng và trũng: Tập trung ở phía Nam của xã và dọc theo thung lũng, chiếm tỷ lệ diện tích 20%, là vùng trồng lúa, màu, thổ canh thổ cư các thôn phía Nam và hồ Đại Lải
Địa hình núi thấp, đồi thoải chiếm 80% diện tích tự nhiên toàn xã; bao gồm các vùng rừng tự nhiên, phòng hộ, rừng trồng sản xuất
4.1.2 Khí hậu
Khí hậu mang đặc điểm chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa thuộc tiểu vùng IIa chia ra 2 mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
+ Tổng lượng mưa trung bình năm: 1.550mm (tập trung vào tháng 6, 7, 8,
9 gây ngập úng, xói lở)
+ Độ ẩm tương đối trung bình năm: 84%;
+ Số giờ nắng trung bình năm: 1.760 giờ
+
Trang 194.1.3 Điều kiện đất đai, dân số, lao động
Việc tiến hành điều tra điều kiện đất đai, dân số, lao động của xã nhằm mục đích xác định những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp và cụ thể là chăn nuôi trâu bò của địa phương Dưới đây là kết quả điều tra của chúng tôi về điều kiện đất đai, dân số, lao động của xã Ngọc Thanh năm 2012 được trình bày cụ thể qua bảng 4.1
Bảng 4.1: Điều kiện đất đai, dân số, lao động
Diện tích đất tự nhiên rộng với tổng diện tích là 7.732,68 ha Đất trồng lúa chiếm 510,43 ha Đồi núi chiếm 4.381,94 ha chiếm 80% diện tích đất tự nhiên của toàn xã Diện tích đồi núi chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên là
Trang 20điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi đại gia súc trong đó có chăn nuôi bò Những vùng đồi không dốc lắm có thể tận dụng để trồng cỏ làm thức ăn thêm cho bò
4.1.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp
4.1.4.1 Tình hình sản suất trồng trọt:
Ở Ngọc Thanh trồng trọt là ngành sản xuất chính, cung cấp lương thực cho con người và thức ăn cho vật nuôi Người dân trong xã chủ yếu canh tác các loại cây trồng chính là lúa, ngô, lạc Bên cạnh đó các loại cây trồng khác như rau các loại, cà chua, đậu đỗ, khoai lang, khoai tây cũng được trồng nhưng diện tích không nhiều Phụ phẩm từ các loại cây trồng kể trên đều có thể tận dụng cho chăn nuôi
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng cây lương thực một số năm
SL (tấn)
DT (ha)
NS (tấn/ha)
SL (tấn)
DT (ha)
NS (tấn/ha)
SL (tấn)
Khoai,
(Nguồn: Báo cáo tình hình KT - XH xã Ngọc Thanh năm 2010, 2011, 2012)
Lúa vẫn là cây lương thực chính và được trồng nhiều nhất, năm 2012 lúa được trồng với diện tích 597 ha, tổng sản lượng cả năm thu được đạt 2.865,6 tấn
Cây ngô cũng được trồng với diện tích khá cao Diện tích trồng sắn và khoai cũng chiếm một tỷ lệ nhất định
Ngoài các loại cây lương thực được trồng nhiều với năng suất, diện tích
Trang 21thể hiện trên bảng 4.2 một số cây rau màu khác (rau đậu, cà chua…) cũng được nông dân trồng nhưng còn nhỏ lẻ Tuy nhiên cũng đã tận dụng được những chân đất màu mỡ, dễ canh tác, không bỏ hoang phí, nâng cao hệ số sử dụng đất
Như vậy, với sản lượng thu được trên có thể đáp ứng được nhu cầu lương thực trong xã, ngoài ra còn thu được nguồn phụ phẩm lớn từ cây lương thực trên làm nguồn thức ăn thô cho trâu bò góp phần giải quyết tình trạng thiếu thức ăn trong vụ đông xuân
4.1.4.2 Tình hình sản xuất chăn nuôi
Diễn biến số lượng đàn gia súc, gia cầm của xã Ngọc Thanh trong mấy năm gần đây được thể hiện trong bảng 4.3
Bảng 4.3: Số lượng gia súc, gia cầm qua một số năm
(Nguồn: Báo cáo tình hình KT - XH xã Ngọc Thanh năm 2010, 2011, 2012)
Nhìn chung đàn gia súc, gia cầm của xã biến động không nhiều trong mấy năm qua
Số lượng đàn trâu giảm do vai trò cày kéo của trâu giảm, người nông dân đang chuyển dần sang sử dụng máy nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp Một hạn chế khác nữa của trâu là khả năng sinh sản kém dẫn đến hiệu quả chăn nuôi không cao Nhiều hộ dân chuyển sang nuôi bò với số lượng năm 2011 là 1.676 và năm 2012 là 1.819 con
Đàn lợn cũng có xu hướng tăng nhưng không đáng kể năm 2010 là
Trang 2210.213 năm 2011 là 10.356 đến năm 2012 la 10.750 con
Đàn gia cầm ngày càng có chiều hướng tăng đặc biệt năm 2011 là 687 nghìn con đến năm 2012 tăng lên 750 nghìn con
Nhìn chung chăn nuôi bò tại xã đang ngày càng tăng về số lượng từ năm 2010 đến năm 2012 tăng khoảng 421 con Xu thế phát triển chăn nuôi bò thịt có nhiều lý do Thịt bò là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đời sống người dân lên cao, nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, thị trường tiêu thụ rộng Mặt khác Ngọc Thanh là xã có diện tích tự nhiên tương đối rộng, diện tích chăn thả nhiều, nguồn lao động dồi dào sẵn có đó là những điều kiện thuận lợi và động lực cho sự phát triển chăn nuôi bò của xã
4.2 Tình hình chăn nuôi bò ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc
Với mong muốn có một cái nhìn toàn diện về tình hình chăn nuôi bò tại xã Ngọc Thanh chúng tôi đã tìm hiểu một số các chỉ tiêu: cơ cấu giống, phương thức, quy mô chăn nuôi, tình hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi…
4.2.1 Cơ cấu giống bò
Hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố kỹ thuật: con giống, thức
ăn, chăm sóc thú y, phòng bệnh….Trong đó con giống là yếu tố quan trọng hàng đầu Vì vậy trong số các giải pháp công nghệ để có thể thực hiện định hướng phát triển chăn nuôi bò thịt giai đoạn 2006-2015 ở Việt Nam giải pháp giống đã được đặc biệt lưu ý Các nhà chuyên môn đã nhấn mạnh cần thiết phải cải tạo đàn bò địa phương, lai giống bò ngoại nâng cao số lượng
bò có 75% máu ngoại, đồng thời chọn lọc và nhân thuần các giống bò Zebu kết hợp nhập các giống bò thịt cao sản phù hợp với điều kiện từng địa phương.[ 3 ]
Kết quả điều tra về cơ cấu giống bò của xã Ngọc Thanh được thể hiện ở bảng 4.4
Trang 23Bảng 4.4: Cơ cấu giống bò tại xã Ngọc Thanh
(Nguồn: Báo cáo tình hình KT - XH xã Ngọc Thanh năm 2012)
Kết quả điều tra cho thấy giống bò vàng chiếm 56.8% trong khi đó bò lai Sind chiếm 43.2% trong tổng số bò nuôi tại xã
Bò lai Sind có nhiều ưu điểm nổi trội so với bò Vàng Việt Nam nhờ tầm vóc to hơn, khả năng cho thịt xẻ cao hơn mặt khác khả năng thích nghi cũng cao (do được lai từ bò Vàng VN) Chiến lược xuyên suốt các chương trình cải tạo giống bò ở Việt Nam từ giai đoạn những năm 1960 trở lại đây là Sind hoá đàn bò nội Trên cơ sở đó để cải tiến nâng cao năng suất của đàn bò địa phương Từ đàn bò nền lai Sind sẽ áp dụng các công thức lai khác nhau để có bò hướng thịt hoặc hướng sữa năng suất cao Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh có
tỷ lệ bò lai Sind cao ở Việt Nam Tuy vậy tỷ lệ bò lai Sind được nuôi ở Ngọc Thanh dưới 50% Đây là yếu tố ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả chăn nuôi bò
ở địa phương
4.2.2 Quy mô chăn nuôi
Xã Ngọc Thanh chia hai vùng địa hình rõ rệt: vùng bằng và trũng; vùng núi thấp, đồi thoải Chúng tôi tiến hành điều tra quy mô chăn nuôi bò của một
số hộ ở hai thôn thuộc khu vực địa hình bằng, trũng (Thôn Đồng Đầm, Đồng Cao) và hai thôn thuộc khu vực núi thấp, đồi thoải (Lập Đinh, Thanh Cao)
Qui mô chăn nuôi bò đồng nghĩa mức độ phát triển của ngành chăn nuôi bò tại đại phương Nếu chỉ dừng ở mức độ chăn nuôi nhỏ lẻ một vài con thì người chăn nuôi thường không chú tâm vào đầu tư vốn, kỹ thuật,