Bên cạnh đó đo năng lực trí tuệ học sinh chính là một trong những biện pháp giúp cho các trường học, các cơ sở giáo dục có thể tìm kiếm các tài năng chính xác hơn và hơn thế nữa từ đó có
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
-
-BÙI VĂN PHÁI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO CỦA
HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG VÂN NỘI - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lí người và động vật
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Phạm Thị Kim Dung, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn PSG.TS Mai Văn Hưng, ThS Trần Long Giang những người đã giúp đỡ, hướng dẫn, động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu cũng như thực hiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và các em học sinh trường Trung học phổ thông Vân Nội xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn trong nhóm đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Bùi Văn Phái
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là khóa luận của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong khóa luận là chân thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Bùi Văn Phái
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - 1
1 Lí do chọn đề tài - 1
2 Mục đích nghiên cứu - 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu - 2
4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài - 2
5 Đóng góp mới của đề tài - 2
NỘI DUNG - 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU - 3
1.1 Lược sử nghiên cứu trí tuệ - 3
1.1.1 Những nghiên cứu về trí tuệ trên thế giới - 5
1.1.2 Những nghiên cứu về trí tuệ ở Việt Nam - 7
1.2 Lược sử nghiên cứu chỉ số cảm xúc - EQ - 9
1.2.1 Những nghiên cứu về cảm xúc trên thế giới - 9
1.2.2 Những nghiên cứu về cảm xúc ở Việt Nam - 10
1.3 Lược sử nghiên cứu chỉ số vượt khó - AQ - 11
1.3.1 Những nghiên cứu về chỉ số vượt khó trên thế giới - 11
1.3.2 Những nghiên cứu về chỉ số vượt khó ở Việt Nam - 13
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu - 14
2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu - 14
2.1.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu - 14
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu - 14
2.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số - 14
2.3.1 Trắc nghiệm IQ bằng test RCC phiên bản DEPP RCC-30-VN - 14
2.3.2 Trắc nghiệm chỉ số cảm xúc - EQ - 17
2.3.3 Trắc nghiệm chỉ số vượt khó - AQ - 19
Trang 52.3.3 Phương pháp xử lý số liệu - 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN - 22
3.1 Chỉ số thông minh (IQ) của học sinh - 22
3.1.1 IQ của học sinh theo tuổi - 22
3.1.2 IQ của học sinh theo giới tính - 23
3.1.3 Phân bố học sinh theo mức trí tuệ - 25
3.2 Chỉ số cảm xúc (EQ) của học sinh - 29
3.2.1 EQ của học sinh theo tuổi - 29
3.2.2 EQ của học sinh theo giới tính - 30
3.3 Chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh - 32
3.3.1 AQ của học sinh theo tuổi - 32
3.3.2 AQ của học sinh theo giới tính - 33
3.3.3 Các chỉ số thành phần AQ của học sinh - 34
3.4 Mối tương quan giữa các chỉ số sinh học - 42
3.4.1 Mối tương quan giữa IQ - EQ - 43
3.4.2 Mối tương quan giữa IQ - AQ - 44
3.4.3 Mối tương quan giữa EQ - AQ - 45
3.4.4 Mối tương quan giữa IQ và học lực - 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 52
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AQ : Adversity Quotient (chỉ số vượt khó)
C : Control (khả năng kiểm soát)
E : Endurance (khả năng nhẫn nại, lạc quan)
EQ : Emotional Quotient (chỉ số cảm xúc)
IQ : Intelligence Quotient (chỉ số thông minh)
Nxb : Nhà xuất bản
MSCEIT : Thang đo cảm xúc đa nhân tố (Mayer-Salovey-Caruso
Emotional Intelligence Test)
O : Ownership (khả năng xử lý tình huống)
R : Reach (khả năng chịu đựng)
SD : Standard Diviation (độ lệch chuẩn)
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
VN : Việt Nam
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng theo tuổi và theo giới tính - 14
Bảng 2.2 Phân loại trí tuệ theo IQ - 16
Bảng 2.3 Phân loại các chỉ số thành phần của AQ - 21
Bảng 3.1 IQ trung bình của học sinh theo tuổi - 22
Bảng 3.2 IQ trung bình của học sinh theo giới tính - 23
Bảng 3.3 Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ - 25
Bảng 3.4 EQ trung bình của học sinh theo tuổi - 29
Bảng 3.5 EQ trung bình của học sinh theo theo giới tính - 30
Bảng 3.6 AQ trung bình của học sinh theo tuổi - 32
Bảng 3.7 AQ trung bình của học sinh theo theo giới tính - 34
Bảng 3.8 Kết quả nghiên cứu các chỉ số thành phần của AQ - 35
Bảng 3.9 Khả năng kiểm soát của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 36
Bảng 3.10 Khả năng xử lý tình huống của học sinh theo tuổi và theo giới tính 37
Bảng 3.11 Khả năng chịu đựng của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 39
Bảng 3.12 Khả năng nhẫn nại, lạc quan của học sinh theo tuổi và theo giới tính- 40 Bảng 3.13 Hệ số tương quan giữa các chỉ số sinh học - 42
Bảng 3.14 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa IQ và EQ - 43
Bảng 3.15 Tỉ lệ % học sinh theo mức trí tuệ và lực học - 47
Bảng 3.16 Mô hình hồi quy tuyến tính giữa IQ và học lực - 48
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ IQ trung bình của học sinh theo tuổi - 22
Hình 3.2 Biểu đồ IQ trung bình của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 24
Hình 3.3 Biểu đồ phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính - 25
Hình 3.4 Biểu đồ phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính ở tuổi 15 - 26
Hình 3.5 Biểu đồ phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính ở tuổi 16 - 27
Hình 3.6 Biểu đồ phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính ở tuổi 17 - 28
Hình 3.7 Biểu đồ EQ trung bình của học sinh theo tuổi - 30
Hình 3.8 Biểu đồ EQ trung bình của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 31
Hình 3.9 Biểu đồ AQ trung bình của học sinh theo tuổi - 33
Hình 3.10 Biểu đồ AQ trung bình của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 34
Hình 3.11 Biểu đồ các chỉ số thành phần của AQ theo tuổi - 35
Hình 3.12 Biểu đồ chỉ số C của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 37
Hình 3.13 Biểu đồ chỉ số O của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 38
Hình 3.14 Biểu đồ chỉ số R của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 39
Hình 3.15 Biểu đồ chỉ số E của học sinh theo tuổi và theo giới tính - 41
Hình 3.16 Ma trận đồ thị phân tán giữa các chỉ số IQ, AQ, EQ - 42
Hình 3.17 Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và EQ - 43
Hình 3.18 Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và AQ - 44
Hình 3.19 Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa EQ và AQ - 46
Hình 3.20 Đồ thị phân tán mô tả mối quan hệ tuyến tính giữa IQ và học lực 48
Trang 9Bên cạnh đó đo năng lực trí tuệ học sinh chính là một trong những biện pháp giúp cho các trường học, các cơ sở giáo dục có thể tìm kiếm các tài năng chính xác hơn và hơn thế nữa từ đó có các định hướng phù hợp nhất nhằm duy trì và phát huy tài năng của học sinh theo đúng sở trường của các em Kết quả trắc nghiệm còn giúp cho các trường có thêm thông tin về trí tuệ của học sinh kết hợp với thông tin từ kết quả làm bài thi truyền thống nhằm tuyển sinh vào trường chuyên hay các lớp chất lượng cao, các đội tuyển thi học sinh giỏi Quốc gia hiệu quả hơn
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực trí tuệ và các chỉ số sinh học trên các đối tượng học sinh Kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy, năng lực trí tuệ của con người thay đổi theo lứa tuổi và điều kiện xã hội đặc biệt là đối với các em học sinh ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông Vì thế việc nghiên cứu trí tuệ và các chỉ số sinh học của học sinh phải được tiến hành thường xuyên Xuất phát từ thực tế trên tôi đã
thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của học sinh trường THPT Vân Nội - Đông Anh - Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu về các chỉ số năng lực trí tuệ cơ bản thường có chỉ số thông minh (IQ), chỉ số cảm xúc (EQ) và chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh trường THPT Vân Nội - Đông Anh - Hà Nội
Trang 10- Nghiên cứu các c hỉ số trí tuệ nhằm tìm hiểu mối tương quan giữa sự phát triển sinh lý với tâm lý của học sinh THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định IQ và mức trí tuệ của học sinh theo tuổi và theo giới tính
- Nghiên cứu EQ, AQ của học sinh theo tuổi và giới tính
- Xác định mối tương quan giữa IQ - EQ, IQ - AQ, IQ - AQ và IQ - học lực
4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu có tác động quan trọng đến việc thay đổi phương pháp dạy học của giáo viên với các đối tượng học sinh khác nhau
- Là cơ sở dữ liệu trong chiến lược phát triển con người chất lượng cao
- Kết quả khảo sát giúp thay đổi nhận thức về cách tiếp cận dạy học tích hợp các kiến thức về giá trị sống cho học sinh
5 Đóng góp mới của đề tài
- Xác định thực trạng các chỉ số trí tuệ cơ bản của học sinh THPT
- Tìm thấy mối tương quan giữa các chỉ số trí tuệ của học sinh trường THPT Vân Nội - Đông Anh - Hà Nội
- Góp phần đề xuất biện pháp giáo dục phù hợp với học sinh trong trường
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lược sử nghiên cứu trí tuệ
Trong lịch sử nghiên cứu về trí tuệ, nhiều chuyên gia đã có những quan niêm khác nhau về trí tuệ Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về trí tuệ, nhìn chung có thể giải thích trí tuệ theo hai xu hướng:
Hướng thứ 1: Giải thích trí tuệ quá rộng như là sự thích ứng nói chung
hoặc thu hẹp khái niệm trí tuệ vào các quá trình tư duy Các định nghĩa về trí tuệ này có thể có 3 loại:
Loại thứ 1: Coi trí tuệ là năng lực học tập (Freeman F.S,1963; Aiken L.R,1987): Trí tuệ năng lực học có mối quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Mỗi người đều phải học tập để bảo toàn cơ thể, phát triển nhân cách và khẳng định mình trong xã hội để phát triển như một thực thể tinh thần Học tập là điều kiện cần thiết để phát triển trí tuệ [11]
Loại thứ 2: Coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng (Terman L,1937): Loại này khá phổ biến và đại diện cho nó là A.Binet Theo Binet thì trí tuệ là một chức năng chung đối với việc suy luận và giải quyết vấn đề trong các tình huống khác nhau [3] L.Terman cho rằng, chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các khái niệm [4] M.N.Menchinskaia lại coi đặc trưng của trí tuệ là
sự tích luỹ vốn tri thức của các thao tác trí tuệ [18]
Loại thứ 3: Coi trí tuệ là năng lực thích ứng: Đây là định nghĩa phổ biến được nhiều nhà nghiên cứu tán thành nhất Đại diện cho khuynh hướng này là R.Stern coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người với những điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống Theo ông, trí tuệ là năng lực suy luận và khả năng sáng tạo trên cơ sở kết hợp những kinh nghiệm khác
nhau để giải quyết vấn đề mới [12]
Trang 12Hướng thứ 2: Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, khi nghiên cứu về trí thông minh của con người, các nhà tâm lí học Liên Xô đã chú ý đến những vấn đề lý luận và phương pháp luận sau:
- Tính độc lập tương đối của trí tuệ với các thuộc tính khác nhau của nhân cách
- Sự hình thành và thể hiện của trí tuệ trong hoạt động
- Tính quy định (chế ước) của những điều kiện văn hóa - lịch sử đối với những thể hiện của trí tuệ
- Chức năng thích ứng tích cực của trí tuệ
Theo lập trường trên, Blyakhe V.M và Burolachue L.F (1978) [11] đã đưa ra định nghĩa về trí tuệ: “Trí tuệ - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hóa - lịch sử quy định và chủ yếu đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy”
Ngày nay các nhà nghiên cứu về trí tuệ có xu hướng cho rằng có nhiều loại trí tuệ Từ năm 1990, người ta bắt đầu nói đến một loại trí tuệ mới - trí tuệ xúc cảm (Peter Salovey và John Mayer, 1990; Daniel Goleman, 1995…) Trước đây chúng ta không hề quan tâm đến trí tuệ cảm xúc mà chủ yếu quan tâm đến trí tuệ thông minh Trên thực tế, không có trí tuệ cảm xúc thì trí tuệ lý trí không thể hoạt động một cách hiệu quả được
Qua phân tích 2 xu hướng trên, chúng ta có thể hiểu trí tuệ như sau: Trí tuệ là một cấu trúc động tương đối độc lập của những năng lực nhận thức và xúc cảm của cá nhân, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hóa - lịch sử quy định và chủ yếu đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực
ấy, nhằm đạt các mục tiêu quan trọng trong cuộc sống của cá nhân và xã hội Có
Trang 13hai hình thức trí tuệ tương đối độc lập nhưng tác động qua lại lẫn nhau: trí tuệ lý trí (intellectual intelligence) và trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence) [11]
1.1.1 Những nghiên cứu về trí tuệ trên thế giới
Đã có rất nhiều nghiên cứu về trí tuệ trên thế giới, việc đo lường trí tuệ con người bắt đầu từ khi nào còn là một vấn đề đang tranh cãi Có người cho rằng việc sử dụng trắc nghiệm trí tuệ đã có từ năm 2200 TCN Tuy nhiên, đến mãi thế kỉ 19, việc trắc nghiệm các năng lực trí tuệ mới trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học Khái niệm trắc nghiệm tâm trí được sử dụng rộng rãi khi Mc.K.Cattell trình bày trong cuốn sách “Các trắc nghiệm và đo lường tâm trí” vào những năm 1890 tại Newwork Trong cuốn sách Mc.K.Cattell đã đưa ra mẫu 50 trắc nghiệm và được sử dụng hơn nửa thế kỉ [20]
Việc sử dụng trắc nghiệm được phát triển rộng rãi trên thế giới kể từ sau năm 1905, khi nhà tâm lý học Pháp Alfred Binet (1857 - 1911) cộng tác với bác sĩ tâm thần Theodore Simon (1873 - 1961) thực hiện các nghiên cứu
về năng lực trí tuệ ở trẻ em từ 3 - 15 tuổi Quá trình thực nghiệm với các quy tắc thống kê nghiêm ngặt, ông đã xây dựng nên trắc nghiệm trí tuệ Binet - Simon với 50 bài tập dùng cho trẻ từ 3 - 11 tuổi Đến 1908, trắc nghiệm trí tuệ Binet - Simon được xuất bản lần 2 với số bài nhiều hơn và được mở rộng cho đến 13 tuổi Đến năm 1911, trắc nghiệm đã xuất bản lần thứ 3 và mở rộng cho
độ tuổi 15 Một loạt trắc nghiệm do H.Munsterberg (1863 - 1916) xây dựng năm 1910 dùng trong công tác tuyển chọn nghề nghiệp cũng đã góp phần đáng kể vào việc phát triển rộng rãi trắc nghiệm
Tiếp theo thang trắc nghiệm của Binet - Simon, năm 1912 nhà tâm lí học Đức Wiliam Stern đề xuất cách tính chỉ số thông minh IQ (Intelligence Quotient) của từng cá thể Trong đó IQ được tính theo công thức:
IQ =
CA
MA
.100% MA (Mental Age): tuổi trí khôn được tính theo kết
quả bài trắc nghiệm
Trang 14CA (Chroralogical Age): là tuổi đời hay tuổi thực Khái niệm tuổi trí khôn thể hiện việc phát triển đi lên của trẻ, trẻ càng lớn thì càng có thể làm việc, giải quyết những vấn đề khó khăn hơn, học được các khái niệm và ý tưởng khó hơn [20]
Năm 1939, David Wechsler (1896-1981) giáo sư lâm sàng của đại học
y khoa NewYork đưa ra thang Wechsler Bellevue dùng cho người lớn (the Wechsler Bellevue Scale) Năm 1949, ông đưa ra WISC cho trẻ từ 5 đến 15 tuổi (the Wechsler Intelligence Scale for Children) Đến năm 1955, ông đưa
ra WAIS là loại thang đo được biến đổi dành cho người từ 16 tuổi trở nên (the Wechsler Adult Intelligence Scale) Trắc nghiệm WAIS là mẫu đầu tiên của một quan điểm nghiên cứu mới đối với vấn đề đo lường trí tuệ D.Wechsler không chấp nhận giải thích truyền thống về trình độ trí tuệ (IQ) qua mối tương quan giữa các chỉ số của tuổi khôn (MA) và tuổi thời gian (CA) như W.Stern, A.Binet và những người kế tục đã làm Với tương quan ấy thì có sự phụ thuộc theo đường thẳng giữa tuổi trí khôn và tuổi thời gian Trong khi đó,
sự phát triển trí tuệ diễn ra một cách không đồng đều trong suốt đời người D.Wechsler cho rằng một đại lượng như vậy không phải là chỉ số thông minh Ông định nghĩa IQ bằng công thức: IQ = 15.Z + 100
Trang 15Bên cạnh đó phải kể đến trắc nghiệm trí thông minh bằng test RCC Bộ trắc nghiệm RCC của Philippe Chartier được xây dựng dựa trên cơ sở năng lực suy luận gần với khái niệm trí thông minh và hệ số G Spearman (1863 - 1945) là người đầu tiên đưa ra khái niệm hệ số G vào năm 1930 (hệ số chung
về thông minh) Khái niệm khả năng suy luận rất gần với khái niệm thông
minh và khái niệm nhân tố g Spearman (1863 - 1945), nhà tâm lí học người
Anh, trong những năm 30 đã đưa ra khái niệm nhân tố g (nhân tố tổng quát của trí thông minh) Spearman nhận ra rằng những người thành công trong một bài test về trí thông minh thì cũng có xu hướng thành công trong các bài test trí thông minh khác Do đó có thể thấy sự tương quan lớn giữa cách ước lượng trí thông minh [9]
1.1.2 Những nghiên cứu về trí tuệ ở Việt Nam
Việc nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam được tiến hành trong vài chục năm gần đây Từ cuối những năm 1980 đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ của học sinh Việt Nam Việc nghiên cứu trí tuệ được tiến hành theo ba hướng chính đó là: Nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ số sinh học với sự phát triển trí tuệ, nghiên cứu những mối liên quan giữa yếu tố di truyền với trí tuệ, nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường tới sự phát triển của trí tuệ
Trần Trọng Thuỷ (1989) là một trong số các tác giả đầu tiên nghiên cứu
về trí tuệ của học sinh Việt Nam Qua nghiên cứu, ông đã xác định chiều hướng, cường độ, trình độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh Tác giả nhận thấy, sự phân bố học sinh Việt Nam theo IQ gần sự phân phối chuẩn,
có sự khác biệt giữa học sinh thành thị và học sinh nông thôn, có sự liên quan giữa học lực và thành phần gia đình [14]
Trịnh Văn Bảo (1994) nhận thấy, có sự phù hợp giữa chỉ số IQ và nhận thức trong quá trình học tập của học sinh.Trong đó, yếu tố di truyền là tiền đề,
là cơ sở của sự phát triển trí tuệ của học sinh [1]
Trang 16Võ Văn Toàn (1995) nghiên cứu khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh bằng test Raven và điện não đồ Nghiên cứu cho thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và có mối tương quan thuận với kết quả học tập Ở đầu cấp tiểu học, điểm trí tuệ của học sinh thấp hơn so với điểm chuẩn quốc tế, còn ở các lớp trên thì lại cao hơn Điểm trí tuệ của học sinh Hà Nội cao hơn so với học sinh Quy Nhơn cùng tuổi [12]
Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng (1993) đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Hà Nội có độ tuổi từ 10-14 Kết quả cho thấy, sự phát triển trí tuệ tăng theo lứa tuổi và có sự phân hoá từ 11 tuổi trở đi, trong đó trí tuệ của nam cao hơn của nữ Các tác giả còn đề cập đến ảnh hưởng của điều kiện sống tới sự phát triển trí tuệ của học sinh [13]
Tác giả Trần Thị Loan (2002) nghiên cứu các chỉ số trí tuệ của học sinh
từ 6÷ 17 tuổi tại Quận Cầu Giấy- Hà Nội, kết quả cho thấy tỉ lệ học sinh có chỉ số IQ khác nhau thay đổi theo lứa tuổi Tỉ lệ học sinh có chỉ số IQ cao tăng dần theo lứa tuổi và tỉ lệ học sinh có chỉ số IQ thấp lại giảm dần theo lứa tuổi Không có sự khác biệt về năng lực trí tuệ theo giới tính [10]
Tạ Thúy Lan và Mai Văn Hưng (1998), nghiên cứu trí tuệ của học sinh
ở Thanh Hóa đã nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi và
có mối liên quan thuận với học lực [18]
Mai Văn Hưng (2003) nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực trí tuệ của sinh viên ở một số trường đại học phía Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối tương quan thuận không chặt chẽ giữa chỉ số trí tuệ và thể lực [6]
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của nhiều tác giả khác nhau trên đối tượng học sinh, sinh viên cũng cho kết quả tương tự [19], [10] Như vậy, trí tuệ và mối tương quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số sinh học đã được nhiều tác giả nghiên cứu và đạt được những kết quả nhất định
Trang 171.2 Lược sử nghiên cứu chỉ số cảm xúc - EQ
Thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” (Emotional Interligence - EI) thường dùng dưới hàm nghĩa nói về chỉ số cảm xúc (Emotional Intellegence Quotient - EQ) của mỗi cá nhân “Chỉ số cảm xúc (EQ) là một tập hợp các kỹ năng cảm xúc
mà một người sử dụng để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống hàng ngày” (Theo Multi-Health Systems, 2008) Nói một cách đơn giản, trí tuệ cảm xúc chính là sự phán đoán dựa trên kinh nghiệm hoặc khả năng hòa nhập với mọi người [11]
1.2.1 Những nghiên cứu về cảm xúc trên thế giới
Trí tuệ cảm xúc mới được biết đến vào đầu những năm 90 của thế kỷ
XX nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ cảm xúc vào cuộc sống đang thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều người và đang ngày càng trở nên phổ biến hơn Đã không ít ý kiến cho rằng: “Chỉ số cảm xúc được coi là quan trọng hơn IQ và AQ đối với sự thành bại của con người” Nhà Tâm lý học người Mỹ Daniel Goleman đã nhận định: “ Trong những nhân tố quyết định
sự thành bại trong cuộc đời, IQ chiếm ít nhất là 20%, còn ngoài ra bị quy định bởi các nhân tố khác.”
Chỉ số này mô tả khả năng, năng lực, kỹ năng (trong trường hợp của
mô hình tính cách về trí tuệ cảm xúc) hay khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc Trí tuệ cảm xúc là nhánh nghiên cứu tương đối mới của tâm
lý học Do đó, định nghĩa về trí tuệ cảm xúc không ngừng thay đổi
Nhưng phải đến năm 1990, thuật ngữ trí tuệ cảm xúc mới thực sự xuất hiện lần đầu tiên trong một bài báo của 2 tác giả người Mỹ: Peter Salovey và John Mayer đã công bố một bài báo gây ấn tượng: “Trí thông minh cảm xúc”, một bài tuyên bố có ảnh hưởng mạnh nhất đến lý thuyết trí thông minh cảm xúc tại thời điểm đó Hai ông cho rằng trí tuệ cảm xúc là khả năng làm chủ, điều khiển, kiểm soát tình cảm, cảm xúc của mình và của người khác, và khả
Trang 18năng sử dụng các thông tin này để dẫn dắt, định hướng cách suy nghĩ và hành động của một cá nhân Điều này minh chứng một nhu cầu cần phải tách biệt các năng lực về trí thông minh cảm xúc khỏi các năng lực trí tuệ khác, các nét nhân cách và nghiên cứu sâu về nó
Sau một thời gian nghiên cứu Mayer và Salovery (1997) đã chính thức
định nghĩa trí tuệ cảm xúc: “Là khả năng nhận biết, bày tỏ xúc cảm, hòa xúc
cảm vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc cảm, điều khiển, kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” [2], [3]
Năm 1995, Daniel Goleman, tâm lý gia và nhà báo người Mỹ, với cuốn sách “Thông minh cảm xúc”, không đưa ra lý thuyết mới nhưng nhấn mạnh vai trò của cảm xúc trong việc làm Ông đã không ngần ngại khẳng định vai trò của thông minh cảm xúc như yếu tố cấu thành của thành công trong giao tiếp và thành công trong nghề nghiệp, đường đời Ông dựa trên các công trình của Salovey và Mayer để đưa ra bốn điều chính:
1+2: Khả năng hiểu và điều khiển những cảm xúc của mình để hành động 3+4: Khả năng hiểu các cảm xúc của người đối diện để phản ứng tốt và điều khiển các quan hệ xã hội [2]
1.2.2 Những nghiên cứu về cảm xúc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cảm xúc cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
Đặc biệt là trong đề tài cấp nhà nước KX- 05 - 06 (2001 - 2005): “Nghiên cứu
sự phát triển các chỉ số trí tuệ (IQ, CQ, EQ) của học sinh, sinh viên và lao
động trẻ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
(2001-2005) do Trần Kiều làm chủ nhiệm Công trình nghiên cứu này chỉ ra rằng chỉ
số cảm xúc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: giới, ngành học, môi trường văn hóa nhà trường
Năm 2004, tác giả Dương Thị Hoàng Yến của trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội do Trần Trọng Thủy chủ nhiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm
Trang 19để đo chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Thái Nguyên [7]
Năm 2005, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học Sư phạm Hà Nội do Trần Trọng Thủy chủ nghiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm để đo chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Thái Nguyên [15]
1.3 Lược sử nghiên cứu chỉ số vượt khó - AQ
Chỉ số vượt khó (Adversity Quotient AQ) là chỉ số đo khả năng đối xử, quản lí nghịch cảnh, khó khăn, stress, gọi tắt là chỉ số vượt khó khăn AQ hiện nay được coi như một trong những chỉ số định lượng các phẩm chất tạo nên thành công của con người [16]
1.3.1 Những nghiên cứu về chỉ số vượt khó trên thế giới
Năm 1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz [17]lần đầu tiên đưa
ra một khái niệm mới: AQ (Adversity Quotient) trong cuốn sách “AQ: Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội” Trong đó, ông định nghĩa, AQ là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn Tại sao một số người trở nên xuất chúng, rất thành công, trong khi những người khác lại nản lòng, thất bại cho dù họ có thừa thông minh hoặc tư cách tốt? Điểm khác nhau giữa họ chính là sự chênh lệch
về AQ - khả năng đương đầu và đương đầu có hiệu quả trước bất hạnh và nghịch cảnh
Paul Stoltz đã phát triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm
lí học đi trước, như Abrecham Maslow, từ Martin Seligman, tác giả của sách
“Học lạc quan”, và Stephen R.Covey, tác giả của “Tồn tại thói quen của người thành đạt”
Nhiều nhà tâm lý đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này Điều này góp phần khẳng định, việc lượng hóa những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thể làm được như đã từng làm với trí tuệ (IQ) và cảm xúc (EQ)
Trang 20Paul Sloltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và
dễ buông xuôi trước nhiều vấn đề trong cuộc sống Trong khi, những người
có AQ cao sẽ ít khi đầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai
Theo quan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những khái niệm “fix”,
có nghĩa là phần nhiều thuộc về “thiên phú”, khó có khả năng thay đổi Trong khi đó, AQ là đại lượng có thể được rèn luyện để “cải thiện, nâng cấp” AQ gồm 4 chỉ số thành phần: C, O, R, E
- Chỉ số C (Control): Kiểm soát, điều khiển
Những người có AQ cao có thể kiểm soát được tốt các tình huống xảy
ra hơn là người có AQ thấp Ngay cả trong tình huống xuất hiện quá khả năng của họ thì những người có AQ cao vẫn có thể tìm thấy giải pháp Những người có AQ thấp thì ít hoặc không kiểm soát tốt
Đo chỉ số C để xác định mức độ kiểm soát của một người khi họ vượt qua trở ngại Đó là khả năng phục hồi về thể chất và tinh thần
- Chỉ số O ( Ownership): Quyền sở hữu
Những người có AQ cao thường có trách nhiệm giữ mình để đối phó với bất kì tình huống nào do họ gây ra Những người có AQ thấp thường cảm thấy cô đơn và cần giúp đỡ
Đo chỉ số O để xác định mức độ chịu trách nhiệm và khả năng xử lí tình huống, hành động
- Chỉ số R (Reach): Phạm vi hoạt động
Những người có AQ cao chấp nhận thất bại và thách thức trong mọi thời điểm, không cho chúng ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của họ Những người có AQ thấp thường bị rơi vào trạng thái thê thảm, bị thất bại
Đo chỉ số R để xác định mức độ, phạm vi tiếp cận sự kiện, sức chịu đựng các cấp độ căng thẳng
- Chỉ số E (Endurance): Khả năng chịu đựng, tính nhẫn nại
Trang 21Những người có AQ cao luôn đối diện với khó khăn với thái độ lạc quan và giữ hi vọng Những người có AQ thấp xem trở ngại như là khó khăn không giải quyết nổi
1.3.2 Những nghiên cứu về chỉ số vượt khó ở Việt Nam
Chỉ số vượt khó (AQ) mới được đưa ra cách đây hơn 10 năm nên ở Việt Nam AQ còn ít được nghiên cứu
Nguyễn Thị Hiền (2010) nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ của học sinh trường THCS Minh Đạo - Tiên Du - Bắc Ninh, kết quả cho thấy AQ của học sinh từ 7 - 15 tuổi tăng dần theo độ tuổi Không có sự khác biệt về
AQ của học sinh nam và học sinh nữ [5]
Trang 22CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh trường THPT Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Tất cả có 3 nhóm với 3 độ tuổi khác nhau từ 15 đến
17 tuổi (tuổi theo năm nghiên cứu 2012) Các đối tượng nghiên cứu đều có sức khỏe và trạng thái tâm sinh lý bình thường
2.1.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu
Tổng số đối tượng nghiên cứu là 313 học sinh, trong đó có 145 học sinh nam và 168 học sinh nữ Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và theo giới tính thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng theo tuổi và theo giới tính
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Trường THPT Vân Nội - Đông Anh - Hà Nội
Trung tâm Nhân học và Phát triển trí tuệ, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Thời gian: tháng 11/2012 - đến 4/2013
2.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số
2.3.1 Trắc nghiệm IQ bằng test RCC phiên bản DEPP RCC-30-VN
Nguồn gốc trắc nghiệm RCC từ bài trắc nghiệm MGM (Pire, 1975) là bài trắc nghiệm dành cho tập thể, được xây dựng dựa theo nhân tố g
Trang 23Phiên bản RCC 30 từ việc phân tích, tính toán điểm số của phiên bản RCC50, người ta thực hiện thu gọn thành phiên bản RCC30, chỉ còn 30 câu trắc nghiệm, chia làm ba phần, mỗi phần có 10 câu trắc nghiệm: có liên quan đến không gian, con số và số học
Yêu cầu của bài trắc nghiệm RCC 30 là tìm ra đặc điểm của 1 lá bài hay nhiều lá bài được dấu (úp lại) (ví dụ như giá trị và màu sắc của nó) trong mối quan hệ với các lá bài đang được mở trên cùng một trang giấy, một bài tập Các lá bài được dấu (úp lại) có giá trị từ số 1 (quân át) đến số 10 (quân 10) ứng với 4 chất: cơ, rô, tép, bích [11]
Thời gian thực hiện được giới hạn tối đa là 20 phút
Bài trắc nghiệm được dùng cho đối tượng từ 12 tuổi trở lên
2.3.1.1 Quy trình sử dụng bài trắc nghiệm
- Phát bài trắc nghiệm RCC cho học sinh
- Phát phiếu trả lời trắc nghiệm, giới thiệu cho học sinh từng phần có trong phiếu trả lời: các thông tin cần điền, các câu hỏi trước và sau khi hoàn thành trắc nghiệm, phần ví dụ (câu A đến câu D), phần câu hỏi (từ câu 1 đến câu 30)
- Phát phiếu hướng dẫn thực hiện bài trắc nghiệm đo khả năng lập luận RCC cho học sinh: số câu hỏi, số câu ví dụ, thời gian thực hiện, cách tìm và viết trả lời, một số lưu ý khi thực hiện
- Hướng dẫn học sinh sử dụng bài trắc nghiệm
2.3.2.2 Nhận định kết quả
- Kết quả về độ tin cậy của bài trắc nghiệm được đánh giá thông qua hệ
số tương quan cronbach anpha giữa các items trong từng nhóm lập luận của cả bài
- Các đại lượng đặc trưng cho mức độ phân tán và tập trung của bài trắc nghiệm RCC
- Phân bố điểm chuẩn của bài trắc nghiệm đối với mẫu
Trang 24- Sự khác biệt giữa các đối tượng thực hiện trắc nghiệm (khối lớp, giới tính)
- Xác định lại các điểm chuẩn Bước này cũng bao hàm những gợi ý, những cảnh báo về việc nên sử dụng trắc nghiệm như thế nào
- Kiểm tra mức độ hiểu, làm quen với bộ bài, mức độ hấp dẫn người làm trắc nghiệm
Từ các kết quả trên, có thể đánh giá được quy trình triển khai thực hiện trắc nghiệm có đạt chuẩn hay không
Mỗi bài tập trả lời đúng được 1 điểm Căn cứ vào điểm test của mỗi nghiệm thể, tính IQ theo nghiệm theo công thức của D.Wechsler [17]:
Mỗi điểm trắc nghiệm sẽ có một giá trị IQ tương đương D.Wechsler phân loại thành 7 mức trí tuệ như bảng 2.2:
Bảng 2.2 Phân loại trí tuệ theo IQ
Trang 25Cấu trúc của trắc nghiệm gồm 8 phần:
- A: Nhận biết cảm xúc qua khuôn mặt, phần này gồm 4 tình huống, mỗi tình huống phải đòi hỏi quan sát kĩ một bức tranh và xét đoán khuôn mặt này qua 5 loại cảm xúc đã cho theo thang bậc từ 1 đến 5
- E: Nhận biết cảm xúc biểu lộ qua các bức tranh, phần này gồm 6 tình huống Mỗi tình huống đòi hỏi phải quan sát kĩ một bức ảnh và nhận xét 5 loại cảm xúc đã cho biểu hiện như thế nào khi xem từng bức tranh theo thang bậc từ 1 đến 5
- B: Nuôi dưỡng các cảm xúc tích cực, phần này gồm 5 tình huống, và mỗi tình huống đòi hỏi phải xem xét 3 loại cảm xúc đã cho có lợi ích ở mức
độ nào theo thang bậc từ 1 (không có ích) đến 5 (rất có ích)
- F: Xét đoán sự tiến triển các xúc cảm, phần này có 5 tình huống và mỗi tình huống đòi hỏi phải hình dung các xúc cảm, tình cảm ở đó giống như thế nào với 3 loại cảm xúc đã cho theo thang bậc từ 1 (không giống) đến 5 (rất giống)
- C: Hiểu những thay đổi về xúc cảm, phần này có 20 tình huống, mỗi tình huống, đòi hỏi phải đọc kĩ để hiểu các loại cảm xúc xuất hiện và phát triển như thế nào Sau đó chọn 1 trong 5 phương án trả lời cho trước như là phương án trả lời tốt nhất cho mỗi tình huống
- G: Hiểu sự biến đổi, hòa trộn các loại cảm xúc phức hợp, phần này gồm 12 tình huống, mỗi tình huống đòi hỏi phải hiểu sự xuất hiện, hòa trộn và
Trang 26phát triển các loại cảm xúc phức hợp diễn biến như thế nào Sau đó chọn 1 trong 5 phương án trả lời cho trước như phương án phù hợp nhất cho mỗi tình huống
- D: Kiểm soát các xúc cảm của bản thân, phần này có 5 tình huống, mỗi tình huống có 4 phương án hành động Mỗi hành động ở từng tình huống chọn 1 trong 5 mức độ được cho là phù hợp nhất, theo thang bậc từ 1 (rất kém hiệu quả) đến 5 (rất hiệu quả)
- H: Kiểm soát cảm xúc trong quan hệ với người khác, phần này có 3 tình huống là những vấn đề trong các quan hệ liên cá nhân, mỗi tình huống đưa ra 3 phương án để giải quyết Mỗi phương án ở từng tình huống chọn 1 trong 5 mức độ được cho là phù hợp nhất, theo thang bậc từ 1 (rất kém hiệu quả) đến 5 (rất hiệu quả)
Các phần trên của MSCEIT được sắp xếp vào 4 nhánh/ thành tố hay 4 tiểu thang đo là:
- Nhận biết cảm xúc (Phần A đến E)
- Xúc cảm hóa ý nghĩ (Phần B và F)
- Hiểu biết cảm xúc (Phần C và G)
- Điều khiển, kiểm soát cảm xúc (phần D và H)
Bốn thành tố trên của MSCEIT được quy về 2 khu vực đo lường hay 2 thang đo:
- Trí thông minh trải nghiệm cảm xúc: gồm A, E, B, F
- Trí thông minh kiểm soát cảm xúc: Gồm C, G, D, H
Cách tính điểm MSCEIT theo nguyên tắc đồng ý, từ là điểm của từng Item bằng số người chọn mức đó
Bài trắc nghiệm chúng tôi sử dụng để điều tra gồm có 30 câu
Học sinh thực hiện trong thời gian 30 phút
2.3.2.1 Quy trình sử dụng bài trắc nghiệm
- Phát bài trắc nghiệm và phiếu trả lời
Trang 27- Hướng dẫn ghi đầy đủ các mục theo yêu cầu trên trang đầu của mỗi bài trắc nghiệm
- Hướng dẫn cách trả lời cho người được trắc nghiệm (Đọc mỗi Item trong bài test và điền vào phiếu trả lời một đáp án nào bạn cho là đúng nhất đối với bạn, hoặc điền đáp án đúng nhất vào phiếu trả lời Có câu trả lời vừa đúng vừa sai thì bạn hãy chọn theo những suy nghĩ nào diễn ra trong đầu bạn trước tiên)
- Theo dõi chặt chẽ, nghiệm thể thực hiện quá trình hoàn thành bộ bảng hỏi AQ, tránh việc nhìn bài của nhau
- Theo dõi thời gian làm bộ bảng hỏi EQ (30 phút)
- Thu toàn bộ bảng hỏi và trả lời EQ sau khi nghiệm thể hoàn thành việc trả lời
2.3.2.2 Nhận định kết quả
- Mỗi câu trả lời đúng được cho 1 điểm
- Tổng số điểm dành được/ tổng số các Item sẽ là kết quả để lượng hóa mức độ phát triển chỉ số cảm xúc của con người được đánh giá
- Điểm đạt lý tưởng là 30 điểm và thấp nhất là 0 điểm Điểm trung bình
là 15 điểm
2.3.3 Trắc nghiệm chỉ số vượt khó - AQ
Chỉ số vượt khó (AQ) được xác định qua hồ sơ AQ (phụ lục 1), được sáng tạo bởi tiến sĩ Paul Stoltz - Chủ tịch và giám đốc điều hành học viện Peak - Công ty tư vấn và nghiên cứu tại San Luis Oispo Ông là tác giả của tác phẩm nổi tiếng Adversity Quotient và Adversity Quotient @ work AQ gồm 4 chỉ số C, O, R, E
Chỉ số C (control) khả năng kiểm soát, điều khiển Đây là một trong số những nhân tố quan trọng chỉ ra khoảng cách một người nào đó phản ứng lại
Trang 28với những trở ngại Chỉ số C đánh giá khả năng kiểm soát và hạn chế bất lợi chi phối cuộc sống, đánh giá sự quyết tâm kiên cường, đối mặt với trở ngại
Chỉ số O (Ownership): khả năng xử lý tình huống Đo chỉ số O để xác định mức độ chịu trách nhiệm và khả năng xử lý tình huống, hành động
Chỉ số R (Reach) là khả năng chịu đựng Đo chỉ số R để xác định mức
độ phạm vi tiếp cận sự kiện và sức chịu dựng các mức độ căng thẳng
Chỉ số E (Endurance) khả năng nhẫn nại, tinh thần lạc quan Đo chỉ số
E để xác định thời gian chịu đựng các tình huống xấu, là thước đo về sự lạc quan
2.3.3.1 Quy trình sử dụng bài trắc nghiệm:
- Phát bài trắc nghiệm và phiếu trả lời
- Hướng dẫn ghi đầy đủ các mục theo yêu cầu trên trang đầu của mỗi bài trắc nghiệm
- Hướng dẫn cách trả lời cho người được trắc nghiệm (có ghi ở đầu mỗi bài trắc nghiệm)
- Theo dõi chặt chẽ, nghiệm thể thực hiện quá trình hoàn thành bộ bảng hỏi AQ, tránh việc nhìn bài của nhau
- Theo dõi thời gian làm bộ bảng hỏi AQ (10 phút)
- Thu toàn bộ bảng hỏi AQ sau khi nghiệm thể hoàn thành việc trả lời
2.3.3.2 Nhận định kết quả
Viết các số đối tượng nghiên cứu đã khoanh tròn trên Hồ sơ AQ (gồm
20 câu hỏi), tương ứng với các ô bên dưới, tính tổng cho mỗi cột, tính tổng của 4 cột, nhân 2, tìm được chỉ số AQ
AQ = (C + O + R +E) x 2
AQ trung bình = 147,5 Chỉ số này càng cao càng tốt Hồ sơ AQ cần hình thành trong vòng 8 →10 phút
Trang 29Bảng 2.3 Phân loại các chỉ số thành phần của AQ
- Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng để chấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng
- Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu
- Tính toán các thông số giá trị trung bình, độ lệch chuẩn
- Dùng kiểm định thống kê để so sánh các giá trị trung bình
- Tìm hiểu mối tương quan giữa các đại lượng bằng mô hình hồi quy tuyến tính
- Các số liệu điều tra được xử lí bằng phần mềm SPSS 13.0 và excell trên máy vi tính với các phương pháp thống kê dùng trong sinh học.
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Chỉ số thông minh (IQ) của học sinh
Kết quả nghiên cứu chỉ số thông minh (IQ) của học sinh trường THPT Vân Nội được so sánh theo các tuổi, và theo giới tính Nhìn chung IQ của học sinh ở mức trung bình
3.1.1 IQ của học sinh theo tuổi
Kết quả nghiên cứu IQ của học sinh trường THPT Vân Nội được thể hiện trong bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 IQ trung bình của học sinh theo tuổi
IQ ( đ i ể m)
)(X ± SD T ă ng
105 105.5
106 106.5
107 107.5
IQ ( đ i ể m)
Tu ổ i
Trang 31Các số liệu trong bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy, ở giai đoạn 15 - 17 tuổi
IQ của học sinh tăng dần theo tuổi Cụ thể, độ tuổi 15 điểm số IQ là 105,11 ± 8,37 điểm tăng lên 107,45 ± 8,06 điểm ở độ tuổi 17, mỗi năm tăng trung bình 1,17 điểm Tốc độ tăng IQ của học sinh không đều qua các năm Dựa vào thang chuẩn Wechsler (bảng 2.2) thì kết quả nghiên cứu IQ của học sinh 15-17 tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi đạt 106,31 ± 8,46 điểm, xếp ở mức trung bình (IQ = 90 - 109) Sự khác biệt về IQ giữa các độ tuổi của học sinh trường THPT Vân Nội không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
3.1.2 IQ của học sinh theo giới tính
Kết quả nghiên cứu IQ của học sinh trường THPT Vân Nội theo giới tính được thể hiện trong bảng 3.2 và hình 3.2
Bảng 3.2 IQ trung bình của học sinh theo giới tính
17 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 1,09 điểm
Trang 32Tốc độ tăng IQ trung bình của học sinh không đều giữa các năm, IQ của học sinh nam và học sinh nữ tăng nhanh nhất ở tuổi 16 (học sinh nam tăng 1,69 điểm/năm, học sinh nữ tăng 1,28 điểm/năm)
Trong cùng một độ tuổi IQ của học sinh nam và học sinh nữ có sự chênh lệch (hình 3.2) Ở tuổi 15 IQ trung bình của học sinh nữ cao hơn IQ trung bình của học sinh nam Tuy nhiên, mức chênh lệch này không đáng kể (p>0,05) Ở giai đoạn từ 16 - 17 tuổi, IQ trung bình của học sinh nam lại cao hơn IQ trung bình của học sinh nữ, nhưng mức chênh lệch này cũng không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Hình 3.2 Biểu đồ IQ trung bình của học sinh theo tuổi và theo giới tính
Theo nghiên cứu của chúng tôi, IQ trung bình của học sinh nam cao hơn IQ trung bình của học sinh nữ Sự chênh lệch về IQ trung bình giữa học sinh nam và học sinh nữ là 0,11 điểm Trong đó mức chênh lệch IQ trung bình giữa học sinh nam và học sinh nữ ở tuổi 16 là cao nhất Tuy nhiên, sự khác nhau về IQ trung bình giữa học sinh nam và học sinh nữ ở từng tuổi đều không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Điều này có thể giải thích rằng ở lứa tuổi THPT trí tuệ của các em vẫn tiếp tục được hoàn thiện
Trang 333.1.3 Phân bố học sinh theo mức trí tuệ
Căn cứ vào thang phân bố mức trí tuệ của Wechsler (bảng 2.2), có thể xếp học sinh trường THPT Vân Nội theo 7 mức trí tuệ Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.3 và hình 3.3
Bảng 3.3 Phân bố học sinh theo các mức trí tuệ
Trang 34Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, học sinh có mức trí tuệ IV chiếm tỉ lệ cao nhất (55,9%), sau đó đến mức trí tuệ III (33,58%), tiếp theo là mức trí tuệ
II (6,07%), mức V (3,19%), thấp nhất là mức trí tuệ VI (1,26%) Không có học sinh với mức trí tuệ I và VII Điều này cho thấy đa số học sinh có mức trí tuệ trung bình khá (55,9%) Mức thông minh và xuất sắc chiếm 39,65% mức tầm thường và mức kém chiếm 4,46% (bảng 3.3)
Khi xét sự phân bố học sinh theo mức trí tuệ của từng tuổi có thể thấy
sự khác nhau Ở tuổi 15, học sinh có mức trí tuệ IV chiếm tỉ lệ cao nhất (60,19%), tiếp đến là mức trí tuệ III (31,51%), sau đó đến mức trí tuệ V (3,67%), mức II (2,77%), mức VI (1,86%), không có học sinh mức I và mức VII
Hình 3.4 Biểu đồ phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính ở tuổi 15
Khi so sánh mức trí tuệ của học sinh nam và học sinh nữ ở tuổi 15 có thể thấy, ở các mức trí tuệ III, V, VI học sinh nam chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh nữ, còn ở các mức II, IV học sinh nữ lại chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh nam
Trang 35Ở tuổi 16, học sinh có mức trí tuệ IV chiếm tỉ lệ cao nhất (55,44%), tiếp đến là mức trí tuệ III (33,65%), sau đó đến mức trí tuệ II (5,87%), mức V (3,40%), mức VI (1,64%), không có học sinh mức I và mức VII
Khi so sánh mức trí tuệ của học sinh nam và học sinh nữ ở tuổi 16 có thể thấy, ở các mức trí tuệ II, V, VI học sinh nam chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh
nữ, còn ở các mức III, IV học sinh nữ lại chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh nam
Hình 3.5 Biểu đồ phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính ở tuổi 16
Ở tuổi 17, học sinh có mức trí tuệ IV chiếm tỉ lệ cao nhất (51,15%), tiếp đến là mức trí tuệ III (36%), sau đó đến mức trí tuệ II (10,55%), mức V (2,3%), không có học sinh mức I,VI và mức VII
Khi so sánh mức trí tuệ của học sinh nam và học sinh nữ ở tuổi 17 có thể thấy, ở các mức trí tuệ I, IV, V học sinh nam chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh
nữ, còn ở các mức III học sinh nữ lại chiếm tỉ lệ cao hơn học sinh nam
Trang 36Hình 3.6 Biểu đồ phân bố học sinh theo mức trí tuệ và theo giới tính ở tuổi 17
Tóm lại kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số IQ của học sinh trường THPT Vân Nội ở mức trung bình, với IQ đạt 106,31 ± 8,46 điểm Sự phân bố các đối tượng theo mức trí tuệ có dạng phân phối chuẩn Tỷ lệ học sinh cao nhất ở mức trí tuệ IV (trung bình), sau đó tỷ lệ này giảm dần ở các mức trí tuệ trên và dưới Không có học sinh ở mức trí tuệ I, II Điều này là hợp lý do các
em học sinh phải trải qua các cuộc thi tuyển vào các trường THPT trong huyện
Khi so sánh IQ giữa các tuổi chúng tôi thấy, IQ tăng dần từ 15 đến 17 Song mức độ khác nhau theo tuổi trong giai đoạn này không đáng kể (p>0,05) Thực tế cho thấy, 15 đến 17 tuổi là giai đoạn ổn định về mặt phát triển cơ thể sau dậy thì Có lẽ, cũng chính vì vậy mà hoạt động trí tuệ của các
em tương đối ổn định Tuy nhiên, có lẽ do điều kiện sống và học tập khác nhau nên IQ của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi chưa được cao Điều này có nghĩa là giáo dục và môi trường sống có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của học sinh Sự phát triển về mặt năng lực trí tuệ lại liên quan mật
Trang 37thiết với các chức năng sinh lý thể hiện qua hoạt động của hệ thần kinh Chính
vì vậy, khi hệ thần kinh đã phát triển hoàn thiện sau dậy thì, thì hoạt động trí tuệ cũng ít thay đổi theo tuổi
3.2 Chỉ số cảm xúc (EQ) của học sinh
Kết quả nghiên cứu chỉ số cảm xúc (EQ) của học sinh trường THPT Vân Nội được so sánh theo các tuổi, và theo giới tính Nhìn chung điểm số
EQ của học sinh ở trên mức trung bình
3.2.1 EQ của học sinh theo tuổi
Kết quả nghiên cứu EQ của học sinh trường THPT Vân Nội được thể hiện trong bảng 3.4 và hình 3.7
Các số liệu trong bảng 3.4 cho thấy, ở giai đoạn 15-17 tuổi EQ của học sinh tăng dần theo tuổi và đạt 15,37 điểm Cụ thể, độ tuổi 15 EQ đạt 15,12 ± 2,05 điểm tăng lên 15,95 ± 2,13 điểm ở độ tuổi 17, mỗi năm tăng trung bình 0,41 điểm Tốc độ tăng EQ của học sinh không đều qua các năm Dựa vào mức đo của chúng tôi thì EQ của học sinh đạt mức trên trung bình
Tuy nhiên, điểm số EQ của học sinh còn thấp, nguyên nhân là do tính năng động, tích cực của học sinh chưa được phát huy mạnh, chưa có đủ những năng lực cần thiết để điều khiển cảm xúc của mình và của người khác
Bảng 3.4 EQ trung bình của học sinh theo tuổi
EQ ( đ i ể m)
)(X ± SD T ă ng
Trang 38Riêng sự chênh lệch EQ ở tuổi 17 và 15 có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Điều này cho thấy ở tuổi 17 cảm xúc của các em đã tăng lên đáng kể so với tuổi 15 Chứng tỏ rằng EQ có thể học được và được tích lũy dần ở từng tuổi
Hình 3.7 Biểu đồ EQ trung bình của học sinh theo tuổi
3.2.2 EQ của học sinh theo giới tính
Kết quả nghiên cứu EQ của học sinh trường THPT Vân Nội theo giới tính được thể hiện trong bảng 3.5 và hình 3.8
Bảng 3.5 EQ trung bình của học sinh theo giới tính
Trang 39Hình 3.8 Biểu đồ EQ trung bình của học sinh theo tuổi và theo giới tính
Các số liệu trong bảng 3.5 và hình 3.8 cho thấy EQ của học sinh nam
và nữ đều tăng dần theo tuổi Cụ thể, ở học sinh nam EQ lúc 15 tuổi là 15,02
± 1,95 điểm tăng lên 15,10 ± 1,89 điểm lúc 16 tuổi và 15,49 ± 2,00 điểm lúc
17 tuổi Tăng trung bình 0,24 điểm/năm Còn ở học sinh nữ EQ lúc 15 tuổi là 15,19 ± 2,13 điểm tăng lên 15,95 ± 1,70 điểm lúc 16 tuổi và 16,38 ± 2,18 điểm lúc 17 tuổi Tăng trung bình 0,60 điểm/năm
Trong cùng một độ tuổi chỉ số EQ của học sinh nam và học sinh nữ có
sự chênh lệch Chỉ số EQ trung bình của học sinh nam (15,19 ± 1,94 điểm) thấp hơn học sinh nữ (15,79 ± 2,05) Sự chênh lệch về chỉ số EQ trung bình giữa học sinh nam vào học sinh nữ là 0,60 điểm Trong đó mức chênh lệch chỉ số EQ giữa học sinh nam và học sinh nữ tuổi 17 cao nhất Đặc biệt, sự khác nhau về chỉ số EQ trung bình giữa học sinh nam và học sinh nữ ở tuổi 16
Trang 40Điều này có thể giải thích được do sự khác biệt nhau giữa giới tính nam và giới tính nữ Dường như học sinh nữ yêu cầu cao hơn về đời sống tình cảm,
dễ đồng cảm với người khác hơn và thể hiện tình cảm với người khác dễ dàng hơn học sinh nam Sự bền bỉ, kiên trì, chịu khó tập luyện và khả năng thuyết phục người khác ở học sinh nữ biểu hiện rõ ràng hơn học sinh nam
Qua kết quả này chúng tôi khẳng định học sinh nữ ở trường THPT Vân Nội có EQ cao hơn học sinh nam Như vậy, có thể nói yếu tố giới tính ít nhiều làm ảnh hưởng đến mức độ trí tuệ cảm xúc của học sinh Lý do này có thể được giải thích là trong ứng xử, nữ giới thường tinh tế, nhẹ nhàng hơn nam giới, do vậy việc nữ giới có mức EQ cao hơn nam giới cũng là lẽ đương nhiên
3.3 Chỉ số vượt khó (AQ) của học sinh
Kết quả nghiên cứu chỉ số vợt khó (AQ) của học sinh trường THPT Vân Nội được so sánh theo các tuổi, và theo giới tính Bên cạnh đó AQ còn được chúng tôi nghiên cứu theo các chỉ số thành phần C, O, R, E Nhìn chung học sinh của trường THPT Vân Nội có điểm số AQ mức trên trung bình
3.3.1 AQ của học sinh theo tuổi
Kết quả nghiên cứu AQ của học sinh trường THPT Vân Nội theo tuổi được thể hiện trong bảng 3.6 và hình 3.9
Bảng 3.6 AQ trung bình của học sinh theo tuổi
AQ ( đ i ể m)
)(X ±SD T ă ng