Đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống khoai tây trong điều kiện vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội .... Thời gian mọc, thời gian sinh trưởng và một số đặc điểm sinh trưởng của các
Trang 1SV: Lê Thị Ngọc Lan 1 Lớp: K35D – SP KTNN
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Sinh-KTNN, những người đã trực tiếp giảng dạy trang bị những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học đại học của mình Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trịnh Văn Mỵ, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu cây có củ thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Trung tâm nghiên cứu cây có củ thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Lê Thị Ngọc Lan
Trang 2SV: Lê Thị Ngọc Lan 2 Lớp: K35D – SP KTNN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 6 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Lê Thị Ngọc Lan
Trang 3SV: Lê Thị Ngọc Lan 3 Lớp: K35D – SP KTNN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu 2
3 Ý nghĩa 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây khoai tây 3
1.2 Giá trị dinh dưỡng và sử dụng của cây khoai tây 4
1.3 Đặc điểm hình thái của cây khoai tây 6
1.3.1 Rễ 6
1.3.2 Thân 6
1.3.3 Lá 7
1.3.4 Hoa-quả-hạt 8
1.4 Yêu cầu ngoại cảnh đối với cây khoai tây 8
1.4.1 Nhiệt độ 8
1.4.2 Ánh sáng 9
1.4.3 Nước 9
1.4.4 Đất trồng và dinh dưỡng 10
1.5 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và Việt Nam 11
1.5.1 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới 11
1.5.2 Tình hình sản xuất khoai tây ở Việt Nam 12
1.6 Công tác nhập khẩu và khảo nghiệm trong nghiên cứu và sản xuất khoai tây 16
1.6.1 Tình hình nhập khẩu khoai tây ở Việt Nam 16
Trang 4SV: Lê Thị Ngọc Lan 4 Lớp: K35D – SP KTNN
1.6.2 Công tác khảo nghiệm giống khoai tây ở Việt Nam 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Nội dung nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19
2.3.2 Biện pháp kĩ thuật 19
2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá 20
2.3.4 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống khoai tây trong điều kiện vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 23
3.1.1 Thời gian mọc, thời gian sinh trưởng và một số đặc điểm sinh trưởng của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 23
3.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 24
3.1.3 Số thân trung bình trên khóm và diện tích che phủ đất của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 27
3.2 Mức độ nhiễm một số sâu, bệnh hại chính của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 28
3.2.1 Mức độ nhiễm bệnh mốc sương và đốm lá của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 28
3.2.2 Mức độ nhiễm bệnh héo xanh và virus của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 29
3.2.3 Mức độ nhiễm một số sâu hại chính của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 30
Trang 5SV: Lê Thị Ngọc Lan 5 Lớp: K35D – SP KTNN
3.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống khoai tây trồng
vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 30
3.4 Đánh giá một số chỉ tiêu sau thu hoạch của các giống khoai tây trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 32
3.4.1 Phân loại củ 32
3.4.2 Một số đặc điểm hình thái của cây khoai tây của các giống khoai tây nhập nội trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
Kết luận 35
Kiến nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 PHỤ LỤC
Trang 6SV: Lê Thị Ngọc Lan 6 Lớp: K35D – SP KTNN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7SV: Lê Thị Ngọc Lan 7 Lớp: K35D – SP KTNN
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang 1.1 Tình hình xuất khẩu khoai tây trên thế giới so với một số loại rau khác 12 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây một số năm tại Việt Nam 14 3.1 Thời gian sinh trưởng và đặc điểm sinh trưởng của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 24 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 25 3.3 Số thân/khóm và diện tích che phủ đất của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 27 3.4 Mức độ nhiễm bệnh mốc sương và đốm lá của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 28 3.5 Mức độ nhiễm bệnh héo xanh và virus của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 29 3.6 Mức độ nhiễm một số loại sâu hại của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 30 3.7 Năng suất và một số yếu tố cấu thành năng suất của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 31 3.8 Phân loại củ của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội
vụ đông 2011 32 3.9 Đặc điểm hình thái củ của các giống khoai tây nhập nội trồng tại Thanh Trì, Hà Nội vụ đông 2011 33
Trang 8SV: Lê Thị Ngọc Lan 8 Lớp: K35D – SP KTNN
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống khoai tây nhập nội trồng vụ đông 2011 tại Thanh Trì, Hà Nội 26
Trang 9SV: Lê Thị Ngọc Lan 9 Lớp: K35D – SP KTNN
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoai tây (Solanum Tuberosum L.), thuộc họ cà (Solanaceae), là một
trong những cây lương thực chính của thế giới, xếp thứ tư sau lúa mì, gạo và ngô Sản lượng khoai tây hàng năm vào cuối những năm 1990 từ 270 triệu tấn
đã tăng đến 312 triệu tấn, chiếm 24% tổng sản lượng lương thực các loại, chiếm hơn 50% sản lượng cây có củ làm lương thực [15]
Ở Việt Nam, khoai tây được trồng từ năm 1890 do người Pháp đưa vào Giai đoạn 1961- 1963 diện tích khoai tây có khoảng 3000ha, đến năm 1991-
1993 tăng đến 29000ha Hiện nay, khoai tây ở Việt Nam chủ yếu được sử dụng làm thực phẩm cho người, được coi là loại rau sạch Lượng khoai tây dùng trong chế biến hàng năm khoảng trên 12000 tấn và chủ yếu vẫn là nhập nội
So với những cây lương thực chính trên thế giới thì cây khoai tây có nguồn gen phong phú và đa dạng hơn nhiều nhưng lại mang đặc tính nhạy cảm và khó để giống trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta Điều này hạn chế diện tích trồng khoai tây ở nước ta thời gian qua Để đáp ứng được nhu cầu tăng sản xuất khoai tây, chúng ta phải có bộ giống tốt cho năng suất cao thích hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam Nhập nội giống để khảo nghiệm đánh giá và tuyển chọn ra giống khoai tây mới có nhiều đặc tính tốt, thích hợp với điều kiện cụ thể nước ta Đó là công việc cần thiết để nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất khoai tây ở Việt Nam [24]
Từ những ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Đánh giá đặc điểm
nông sinh học của một số giống khoai tây nhập nội từ CIP trồng vụ đông
2011 tại Thanh Trì, Hà Nội”
Trang 10SV: Lê Thị Ngọc Lan 10 Lớp: K35D – SP KTNN
2 Mục tiêu
Đánh giá đặc điểm nông sinh học (đặc điểm sinh trưởng phát triển, mức
độ nhiễm sâu bệnh hại, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất) của một số giống nhập nội từ CIP được trồng tại Thanh Trì, Hà Nội
Lựa chọn được các giống khoai tây có năng suất cao phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam
Tuyển chọn được các giống khoai tây có năng suất cao, phẩm chất tốt phục
vụ sản xuất khoai tây ở nước ta
Trang 11SV: Lê Thị Ngọc Lan 11 Lớp: K35D – SP KTNN
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây khoai tây
Khoai tây (Solanum Tuberosum) thuộc họ cà Solanaceae với khoảng
2800 loài, có nguồn gốc xuất xứ ở dãy núi Andes Nơi khởi thủy của cây khoai tây trồng là ở quanh hồ Titicaca giáp ranh nước Peru và Bolivia (Nam Mỹ) Theo các nhà khảo cổ thì khoai tây được sử dụng cách đây khoảng 7000-8000 năm Người Tây Ban Nha đã phát hiện ra cây khoai tây tại lưu vực sông Canca (Colombia), nơi thổ dân da đỏ cư trú vào năm 1538 [15] Cây khoai tây được du nhập vào Tây Ban Nha vào khoảng năm 1570, từ đó khoai tây đã lan truyền ra các nước Châu Âu khác Năm 1586, khoai tây được đưa vào Anh rồi tiếp tục lan truyền sang Đức, Hà Lan Khoai tây được truyền bá vào Mỹ năm 1719 do những người nhập cư từ Ireland và Scotland Qua gần
100 năm khoai tây được trồng rộng rãi và phát triển rộng lớn ở Châu Âu Khoai tây còn được du nhập sang các nước ở châu lục khác: Ấn Độ (1615), Trung Quốc (1700), Việt Nam (1890)
Đầu thế kỉ XIX, khoai tây trở thành một cây trồng quan trọng đối với Châu Âu, là nguồn lương thực có giá trị dinh dưỡng cao Do vậy, diện tích khoai tây ngày càng được phát triển lan rộng Ở các nước khu vực châu Á và Thái Bình Dương, cây khoai tây cũng được phát triển toàn diện với tốc độ nhanh chóng Năm 2000, Trung Quốc đã trở thành nước dẫn đầu về sản xuất khoai tây trên thế giới Bangladesh và Ấn Độ đã sử dụng khoai tây trong cơ cấu an ninh lương thực quốc gia
Nhiều viện nghiên cứu và trường đại học của một số nước trên thế giới trước đây đã nghiên cứu về nguồn gen khoai tây và đã lai tạo ra những giống khoai tây có năng suất cao đạt 80-100 tấn củ/ha, có chất lượng tốt phục vụ
Trang 12SV: Lê Thị Ngọc Lan 12 Lớp: K35D – SP KTNN
nhu cầu lương thực và chế biến [5] Từ 1971 đến 1982, Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP) đã phối hợp với một số nước tiến hành điều tra thu thập phân loại và nghiên cứu nguồn tài nguyên di truyền khoai tây quy mô rộng lớn Trong ngân hàng Gen khoai tây do CIP quản lý có khoảng 13000 mẫu giống, trong đó có 1269 mẫu giống khoai tây dại Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn tài nguyên di truyền khoai tây nhiều nhất ở Peru, sau đó là Bolivia [15]
1.2 Giá trị dinh dưỡng và sử dụng của khoai tây
Hiện nay, khoai tây là nguồn lương thực quan trọng của loài người, khoai tây là cây lương thực thứ 4 sau lúa mì, lúa gạo và ngô Hằng năm, sản lượng khoai tây chiếm khoảng 50% tổng sản lượng cây có củ (FAO,1995) [29]
Trong củ khoai tây có chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như: protein, đường, lipit, các loại vitamin như Caroten, B1, B2, B3, B6, PP và nhiều nhất là vitamin C (20-50 mg%) Ngoài ra còn có các khoáng chất quan trọng, chủ yếu là K, tiếp đó là Ca, P và Mg Trong khoai tây có nhiều các loại axit amin đã làm tăng giá trị dinh dưỡng của nó Trong 100g khoai tây luộc cung cấp ít nhất 5% nhu cầu về protein, 3% năng lượng, 7-10% Fe, 10% vitamin
Theo Beukema, Vander Zaag (1979) [25], các ông đã so sánh khoai tây với một số cây trồng nhiệt đới nằm trong khoảng 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam như lúa, ngô, đậu… khoai tây là cây cho sản lượng, năng suất, protein cao nhất
Sản phẩm khoai tây được sử dụng vào nhiều mục đích:
Sử dụng làm lương thực: ở các nước Châu Âu, khoai tây là thức ăn hàng ngày của người dân và nó được coi là “cây lúa mì thứ hai”
Trang 13SV: Lê Thị Ngọc Lan 13 Lớp: K35D – SP KTNN
Sử dụng cho chăn nuôi: khoai tây là nguồn thức ăn cho chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước có nền kinh tế phát triển như: Pháp sử dụng 3,06 triệu tấn/năm, Hà Lan 1,93 triệu tấn /năm cho chế biến thức ăn chăn nuôi Hàng năm, lượng khoai tây sử dụng cho chăn nuôi chiếm khoảng 20-25% tổng sản lượng, điển hình là các nước Ba Lan (44%), Trung Quốc (34%) (FAO,1996) [30]
Ngoài ra, khoai tây còn là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến tinh bột, công nghiệp dệt, gỗ ép, giấy và đặc biệt là trong công nghiệp chế biến chất hữu cơ (lactic, xitric), dung môi hữu cơ (etanol, butanol) Ước tính một tấn khoai tây củ có hàm lượng tinh bột 17,6% chất tươi sẽ cho
112 lít rượu, 35 kg axit hữu cơ và một số sản phẩm phụ khác Do vậy, khoai tây là cây trồng có giá trị xuất khẩu và giá trị mậu dịch Chỉ tính đến năm
1994, giá trị khoai tây củ dao động từ 140-270 USD/tấn Ngoài ra, khoai tây còn là nguyên liệu để chế biến cồn, làm cao su nhân tạo, nước hoa, phim ảnh…, là cây cải tạo đất, làm đất tơi xốp, tăng dinh dưỡng đất (Hồ Hữu An, Đinh Thế Lộc, 2005 [1]
Khoai tây được dùng làm nguyên liệu để chế biến rượu, tinh bột, làm bánh: khoai tây dùng để chế biến rượu có giá thành hạ và thu được lượng rượu nhiều hơn so với các loại ngũ cốc khác Một hecta khoai tây công nghiệp
có thể sản xuất được 1000 lít rượu, trong khi một hecta đại mạch chỉ sản xuất được 360 lít, một hecta yến mạch thu được 260 lít (Đường Hồng Dật, 2004) [12]
Khoai tây là cây làm tốt đất trong hệ thống luân canh: Sau khi thu hoạch khoai tây để lại một lớp đất tơi xốp, tính chất vật lý của đất tốt Khoai tây thường được chăm bón nhiều cho nên sau khi thu hoạch, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất còn lại có thể cung cấp cho các loại cây trồng tiếp theo [12]
Trang 14cả quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Rễ xuất hiên tập trung sau trồng 20-30 ngày Ở các thân ngầm dưới mặt đất (tia củ) cũng có khả năng ra
rễ nhưng rễ ngắn và ít phân nhánh Các loại rễ khoai tây đều tham gia vào quá trình hấp thu nước và dinh dưỡng để nuôi cây, thân củ Bộ rễ phân bố chủ yếu trên tầng đất cày 0-40 cm Tuy nhiên mức độ phát triển của bộ rễ còn phụ thuộc vào các yếu tố như: kỹ thuật làm đất, tính chất vật lý của đất, độ ẩm, giống, và các yếu tố ngoại cảnh khác (Tạ Thu Cúc, 2007) [7] Trong điều kiện thuận lợi, rễ có thể vươn dài 2,5-3 cm/ngày đêm Rễ phát triển ở độ sâu 0,3 m hút được 70% tổng độ màu của đất, ở độ sâu 0,4-0,6 m hút được 100% lượng nước sẵn có trong đất Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc thành phần cơ giới đất, kết cấu đất Rễ khoai tây phát triển mạnh nhất ở thời kì cây bắt đầu ra nụ (ở dưới mặt đất lúc này đã hình thành củ và củ bắt đầu lớn) (Nguyễn Văn Thắng và Bùi Thị Mỳ, 1996) [22]
Nghiên cứu bộ rễ nhằm mục đích chọn đất thích hợp, tạo tầng canh tác dày liên quan đến kĩ thuật xới đất, vun cho cây khoai tây (Tạ Thu Cúc, 2007) [7]
Trang 15SV: Lê Thị Ngọc Lan 15 Lớp: K35D – SP KTNN
trên mặt đất thường mọc thẳng đứng hay rích rắc, giữa các đốt có dạng tròn hoặc 3-5 cạnh Trên thân có lông tơ cứng, khi già lông rụng Lớp tế bào nằm sát biểu bì của thân chứa chất chlorophin, thân có màu xanh Nếu chứa các sắc tố khác thì thân có màu tím hoặc hồng Chiều cao của thân thể hiện đặc trưng hình thái giống, thay đổi từ 30-150cm Trung bình có 2-8 khóm/thân
Sự phân cành của thân xác định hình dạng của khóm Sự thay đổi về chiều cao thân, số thân/khóm, màu sắc phụ thuộc vào các yếu tố giống, điều kiện trồng trọt, điều kiện ngoại cảnh, mật độ, thời vụ (Tạ Thu Cúc, 2007) [7]
- Phần dưới mặt đất (thân củ)
Củ khoai tây thực chất là do sự phình to và rút ngắn của tia củ (thân ngầm hay còn gọi là thân địa sinh phát triển trong điều kiện bóng tối) Về cấu tạo và hình thái cho thấy củ khoai tây hoàn toàn giống như cấu tạo của một thân Các mắt củ là vết tích của những gốc cuống lá Mắt củ hình thành trong điều kiện bóng tối Mỗi mắt thường có 2-3 mầm củ và thường tập trung nhiều nhất trên đỉnh củ Hình dạng, màu sắc củ thể hiện đặc trưng giống Giữa giai đoạn sinh trưởng thân lá và tích lũy dinh dưỡng vào củ, mối quan hệ giữa các
bộ phận trên và dưới mặt đất liên quan chặt chẽ Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ này khi đạt 1:1 hoặc 1:0,8 năng suất khoai tây sẽ cao nhất
Do vậy, khi bộ lá bị tổn thương năng suất giảm rõ rệt (Tạ Thu Cúc, 2007) [7]
1.3.3 Lá
Lá khoai tây là lá phức, bản lá to, mọc cánh xẻ lông chim, có 3-7 đôi mọc đối xứng qua trục và một lá lẻ trên cùng thường lớn hơn gọi là lá chét đỉnh Lá dài khoảng 10-15 cm, mặt lá phẳng hoặc gợn sóng Màu sắc lá phụ thuộc giống, thời vụ, điều kiện chăm sóc mà có thể xanh, xanh đậm, xanh nhạt… (Hồ Hữu An, Đinh Thế Lộc, 2005) [1]
Lá hình thành và hoàn thiện theo sự tăng trưởng của cây: Đầu tiên là các lá nguyên đơn, dần dần hình thành các lá kép lẻ chưa hoàn chỉnh và cuối
Trang 16SV: Lê Thị Ngọc Lan 16 Lớp: K35D – SP KTNN
cùng là các lá hoàn chỉnh Số lượng, kích thước và sự sắp xếp lá trên thân thể hiện đặc điểm của giống và quyết định đến độ thoáng cũng như khả năng hấp thụ ánh sáng của mỗi lá và bộ lá Các lá ở tầng giữa có khả năng quang hợp mạnh nhất Góc độ giữa lá và thân lớn, lá gần như song song với mặt đất Khi
tiềm năng năng suất đạt cao nhất Do đó, nếu diện tích lá giảm một nửa, năng suất giảm tối thiểu 30% (Tạ Thu Cúc, 2007) [7]
1.3.4 Hoa - quả - hạt
Hoa khoai tây là loài hoa tự thụ phấn, hạt phấn hoa thường bất thụ do vậy tỉ lệ đậu quả thấp (Tạ Thu Cúc, 2007) [7] Hoa thường mọc tập trung thành chùm, màu sắc phụ thuộc vào giống, có thể là trắng, phớt hồng, hồng, tím hoặc đỏ (Hồ Hữu An, Đinh Thế Lộc, 2005) [1]
Quả thuộc loại quả mọng, hình tròn hoặc trái xoan, màu xanh lục, có
2-3 noãn tạo 2-2-3 ngăn chứa nhiều hạt rất nhỏ (Tạ Thu Cúc, 2007) [7]
Hạt dạng tròn dẹt, màu xanh đen Hạt có thời gian ngủ nghỉ dài như củ giống (Tạ Thu Cúc, 2007) [7]
1.4 Yêu cầu ngoại cảnh đối với cây khoai tây
1.4.1 Nhiệt độ
Cây khoai tây là cây yêu cầu khí hậu mát mẻ và ôn hòa Mỗi một thời
kì sinh trưởng và phát triển của cây chúng yêu cầu nhiệt độ khác nhau Hạt
có thể nảy mầm ở nhiệt độ từ 12-15oC, nhưng thích hợp nhất từ 18-20oC
nhưng mầm phát triển chậm và thường bị thối Nhiệt độ thích hợp cho thân
Trang 17SV: Lê Thị Ngọc Lan 17 Lớp: K35D – SP KTNN
gặp nhiệt độ cao trên ngưỡng nhiệt độ thích hợp hình thành của chúng, tia củ thường hình thành ít, vươn dài, ra nhiều củ bé Trong điều kiện nhiệt độ cao, khoai tây thường kéo dài thời gian sinh trưởng và cho năng suất thấp
Trong giai đoạn ngủ nghỉ của cây khoai tây nó có thể mọc mầm ở nhiệt độ 4oC, nhiệt độ từ 10-15oC mọc mầm tốt nhất, mầm mập và ngắn (Đường Hồng Dật, 2004) [12]
1.4.2 Ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố cần thiết cho cây quang hợp để tích lũy vật chất Khoai tây là cây ưa ánh sáng, cường độ ánh sáng mạnh có lợi cho quá trình quang hợp của khoai tây, thúc đẩy tốt cho việc hình thành củ và tích lũy hàm lượng chất khô Cường độ ánh sáng thích hợp cho cây khoai tây quang hợp
là từ 40.000-60.000 lux Nhìn chung khoai tây là cây ưa thời gian chiếu sáng ngày dài (trên 14 giờ chiếu sáng) sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây Trong điều kiện ngày ngắn, ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, năng suất có thể đạt cao tại các vùng cao nguyên hoặc trong mùa rét Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn sinh trưởng và phát triển chúng yêu cầu ánh sáng khác nhau Thời
kì mọc mầm khỏi mặt đất đến lúc cây có nụ hoa, khoai tây yêu cầu ánh sáng ngày dài sẽ có lợi cho sự phát triển thân lá và thúc đẩy mạnh quá trình quang hợp Đến thời kì hình thành tia củ chúng yêu cầu thời gian chiếu sáng ngắn Các điều kiện này rất phù hợp với điều kiện miền Bắc nước ta Khi củ phát triển mạnh, chúng yêu cầu bóng tối Do vậy trong kĩ thuật, thời kì này cần làm cỏ xới xáo và vun gốc cao dần cho cây (Đường Hồng Dật, 2004) [12]
1.4.3 Nước
Bộ rễ khoai tây kém phát triển, phần lớn rễ tập trung ở phần đất mặt, khả năng hút nước, dinh dưỡng kém Trong thời kì sinh trưởng phát triển khoai tây cần lượng nước lớn và phải được cung cấp thường xuyên Kết quả
Trang 18SV: Lê Thị Ngọc Lan 18 Lớp: K35D – SP KTNN
nghiên cứu cho thấy trong suốt thời gian sinh trưởng (từ 3-4,5 tháng) khoai tây cần lượng mưa khoảng 500-700 mm Đồng thời mỗi thời kì, chúng cần lượng nước khác nhau để phát triển mầm, thân, lá, hoa, quả
Theo giáo sư G.Staikov (1989) cho thấy rằng giai đoạn mọc mầm chuyển qua giai đoạn xuân hóa chúng yêu cầu độ ẩm thích hợp nhất là 70%
và sau đó không dưới 80% (Hồ Hữu An, Đinh Thế Lộc, 2005) [1]
Ngô Đức Thiệu [23], chứng minh rằng giai đoạn từ khi trồng đến bắt đầu ra nụ hoa khoai tây yêu cầu 60% độ ẩm đồng ruộng, các giai đoạn sau chúng yêu cầu 80% và sẽ cho năng suất cao nhất Trong điều kiện thiếu và thừa độ ẩm trong các giai đoạn trên, rễ, thân, lá đều phát triển kém, củ ít, nhỏ, chống chịu sâu bệnh kém dẫn đến năng suất thấp
1.4.4 Đất trồng và dinh dưỡng
Khoai tây có khả năng thích ứng với nhiều loại đất trồng khác nhau trừ đất thịt nặng và đất sét ngập úng Đất có tầng canh tác dày và tơi xốp, khả năng giữ nước và không khí tốt là thích hợp nhất với khoai tây và sẽ cho năng suất cao nhất Đất có pH từ 5-7, nhưng thích hợp nhất là 6-6,5 Độ pH cao hơn có thể bị bệnh ghẻ trên củ Khoai tây yêu cầu một lượng dinh dưỡng lớn và đầy đủ các nguyên tố đa lượng và vi lượng Trung bình một tấn củ khoai tây (kể cả thân lá tương ứng) lấy đi từ đất là 5,68 kg đạm, 1,11 kg lân, 8.92 kg kali Với năng suất 15 tấn/ha cây khoai tây đã lấy đi 88 kg đạm, 17
kg lân, 134 kg kali, 19 kg CaO và 16 kg MgO (Nguyễn Văn Bộ, 2004) [3]
Nguyên tố đạm là nguyên tố cần thiết để hình thành tế bào mới cấu tạo nên các bộ phận như rễ, thân, lá, củ Nếu bón không đầy đủ cây sẽ kém phát triển, năng suất thấp, nhưng nếu bón quá nhiều đạm sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng của cây làm mất cân đối giữa các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất đồng thời tạo điều kiện cho bệnh phát triển Lượng đạm bón
Trang 19rễ phát triển Thiếu lân có thể làm cho cây phát triển không bình thường Lân
là phân bón hấp thụ chậm nên thường được bón lót Bón muộn, đặc biệt thời
kì ra nụ hoa sẽ làm giảm năng suất và chất lượng tinh bột Ở Việt Nam, trên
Đức Thiệu, 1975) [23] Khoai tây cần nhiều kali hơn cả, nó có tác dụng làm tăng quá trình sinh trưởng, đặc biệt khả năng quang hợp và khả năng vận chuyển các chất về củ, tăng chất lượng củ, tăng khả năng chống chịu một số bệnh quan trọng trên củ như bệnh đốm đen Lượng phân bón thích hợp 120-
1.5 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới
Theo thống kê của FAO (2004-2005), diện tích trồng khoai tây toàn thế giới có xu hướng giảm dần từ 20.208.896 ha xuống 18.652.381 ha Năng suất khoai tây tăng rõ vào các năm 2004 và 2005, nhưng tăng không nhiều
Do đó tổng sản lượng tăng không đáng kể Lượng khoai tây giống được sản xuất cho trồng trọt nhiều hơn
Giữa các châu lục có sự chênh lệch rõ về số nước trồng khoai tây, diện tích và năng suất đạt được Châu Á có số nước trồng khoai tây nhiều nhất (42 nước) Dẫn đầu thế giới về diện tích trồng khoai tây vẫn là Trung Quốc (4,602 triệu ha), kế đó là Châu Âu (38 nước trồng khoai tây) với nước Nga chiếm diện tích 3,211 triệu ha Châu Đại Dương có 6 nước trồng khoai tây, chiếm diện tích nhỏ nhất
Trang 20SV: Lê Thị Ngọc Lan 20 Lớp: K35D – SP KTNN
Về năng suất, Newzealand đạt năng suất cao nhất thế giới (50 tấn/ha), rồi đến Hà Lan (43,4 tấn/ha), Kuwait (41,3 tấn/ha) và Mỹ (40,16 tấn/ha) Năng suất thấp nhất là ở Đông Timo (2,5 tấn/ha) (Tạ Thu Cúc,2007) [7]
Bảng 1.1 Tình hình xuất khẩu khoai tây trên thế giới so với một
số loại rau khác
Tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau 1999-2001
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu rau 1999-2001
Cà chua nghiền
Cà chua tươi
Khoai tây đông lạnh
Khoai tây tươi
Dưa chuột
Hành khô
1,6 4,3 2,8 2,2 1,2 1,0
4,9 4,5 11,2 0,7 3,7 4,4
(Nguồn FAOSTAT, 2007)
Qua bảng 2.1 cho thấy: trong nhóm rau cao cấp, khoai tây giữ vị trí quan trọng hàng đầu tương đương vị trí của cà chua về tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 1999-2001 Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của khoai tây tươi thấp hơn so với các loại rau khác (Tạ Thu Cúc, 2007) [7]
1.5.2 Tình hình sản xuất khoai tây ở Việt Nam
Cây khoai tây được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1890, được trồng chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng (Đường Hồng Dật, 2004) [12] Trước năm 1970, diện tích trồng khoai tây chỉ 2000 ha và khoai tây chỉ được xem là một loại rau, sau đó tăng từ 25.500 ha năm 1976 lên tới 104.600 ha năm 1979 Kết quả của việc tăng diện tích đó là nhờ cuộc cách mạng xanh về giống lúa, vụ đông ở đồng bằng sông Hồng trở thành vụ chính, cây khoai tây
Trang 21SV: Lê Thị Ngọc Lan 21 Lớp: K35D – SP KTNN
được coi là một loại cây trồng vụ đông lý tưởng và trở thành cây lương thực quan trọng Chương trình khoai tây quốc gia được thành lập đã thu hút hàng loạt các cơ quan nghiên cứu và triển khai phát triển khoai tây rất mạnh (Nguyễn Quang Thạch và cs, 1991) [19]
Hiện nay, khoai tây được coi là một trong những loại thực phẩm sạch,
là một loại nông sản hàng hóa được lưu thông rộng rãi ( Ngô Văn Hải, 1977) [14]
Với điều kiện thời tiết khí hậu trong vụ đông ở miền Bắc Việt Nam cây khoai tây có ưu thế hơn hẳn so với nhiều loại cây trồng khác cùng vụ Thời vụ trồng không khắt khe như ngô, đậu tương… Có thể trồng từ thượng tuần tháng 10 đến hạ tuần tháng 12 mà vẫn cho năng suất rất khá Đồng bằng sông Hồng chiếm 70% diện tích trồng, trung du 18%, miền núi 5% và khu Bốn cũ 2-4%
Tuy nhiên, diện tích khoai tây ở Việt Nam biến động lớn Diện tích tăng nhanh vào những năm 1970 và đạt cực đại vào năm 1979, sau đó liên tục giảm Một số năm gần đây, diện tích trồng khoai tây bắt đầu tăng đều và
ổn định với trên dưới 1000ha/năm, diện tích dao động trên dưới 30.000 ha Trong những năm tới, xu thế sản xuất khoai tây sẽ được mở rộng và đạt khoảng 50.000 ha/năm (Nguyễn Công Chức, 2006) [8]
Năng suất khoai tây đạt trung bình trong những năm 1976-1990 là dưới 10 tấn/ha, dao động khoảng 10 tấn/ha trong những năm 1991-1998 và đến những năm 1999-2002 tăng lên 11-12 tấn/ha Những năm gần đây, năng suất đạt khoảng 14/ha (Đỗ Kim Chung, 2003) [6]
Sản lượng khoai tây của cả nước dao động từ 260.100-361.638 tấn trong những năm 1976-1990 và 243.348 – 382.296 tấn năm 1991-2000 và tăng lên trên dưới 400.000 tấn những năm 2002-2003 (Đỗ Kim Chung, 2003, Nguyễn Thị Kim Thanh, 1998) [6],[18]
Trang 22SV: Lê Thị Ngọc Lan 22 Lớp: K35D – SP KTNN
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây một số năm
tại Việt Nam
(1000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
7,6 11,5 11,9 12,0
- 13,1 14,0
721,0 342,1 397,7 421,0
- 354,1 340,0
Tuyển tập báo cáo tổng kết chỉ đạo sản xuất năm 2006-Cục trồng trọt [10]
Sự dao động về diện tích khoai tây ở nước ta rất lớn, diện tích trồng khoai tây hiện nay so với năm 1976 thì có sự giảm sút đáng kể Nguyên nhân chính là do việc sử dụng giống có chất lượng kém (thoái hóa) làm năng suất khoai tây quá thấp chỉ đạt khoảng 10 tấn/ha Làm giảm hiệu quả kinh tế sản xuất khoai tây so với các cây trồng vụ đông khác Sự tăng lên về năng suất khoai tây ở nước ta là do áp dụng giống mới và các biện pháp canh tác tiên tiến Tuy nhiên mức năng suất chúng ta đạt được hiện nay còn thấp so với nhiều nước trên thế giới Nguyên nhân năng suất của chúng ta thấp là do thiếu giống chất lượng tốt, tập quán canh tác của nông dân chưa thay đổi, sự thiếu thông tin về thị trường và tâm lý sản xuất hàng hóa tự cung tự cấp Điều đó làm cho tốc độ phát triển của cây khoai tây còn chưa cao Do đó, việc chọn tạo ra những giống mới có chất lượng tốt, phục tráng các giống có tiềm năng năng suất cao thay thế các giống cũ đang bị thoái hóa là một việc rất cần thiết
Trang 23SV: Lê Thị Ngọc Lan 23 Lớp: K35D – SP KTNN
Diện tích trồng khoai tây vụ đông năm 2005 đạt 27,2 nghìn ha, giảm khoảng 3000 ha so với vụ trước do ảnh hưởng của đợt mưa lớn cuối tháng 10 làm hỏng trên 5000 ha, năng suất đạt 14,04 tấn/ha, tăng 6,4% so với năm trước và sản lượng đạt 340 nghìn tấn, bằng 96% so với vụ đông trước Cơ cấu giống khoai tây chủ yếu là giống VT2 được nhập từ Trung Quốc (chiếm khoảng 70%), các giống của Hà Lan, Đức tiếp tục được mở rộng chiếm khoảng 30%, kết quả hơn hẳn về năng suất và chất lượng, thị trường tiêu thụ dùng cho ăn tươi và chế biến đang ngày càng được mở rộng (Cục Trồng trọt, 2006), [10]
Sản xuất khoai tây vụ đông đã góp phần làm tăng tổng giá trị sản xuất nông nghiệp và tăng thu nhập của hộ nông dân Khoai tây có hiệu quả kinh
tế cao hơn nhiều hơn lúa, gấp 13,8 lần so với khoai lang, và 1,7 lần so với ngô Thu nhập từ khoai tây chiếm 42-87% thu nhập từ vụ đông, 4,5-34,5% từ trồng trọt (Đỗ Kim Chung, 2003) [6]
Cùng với việc gia tăng diện tích gieo trồng và tăng năng suất khoai tây, thì sản lượng khoai tây tươi của Việt Nam cũng tăng dần qua các năm Nếu như giai đoạn 1991-1995 sản lượng khoai tây chỉ đạt bình quân 256.000 tấn/năm, thì đến giai đoạn 1996-2000 đã tăng lên 348.860 tấn/năm tăng 35,9% so với thời kì trước và giai đoạn 2001-2005 bình quân một năm đã được khoảng 410.920 tấn Năm 2007 sản lượng khoai tây cả nước đạt khoảng 420.000 tấn, gấp 2,2 lần sản lượng năm 1985 (Nguyễn Tiến Mạnh, 2008) [16]
Tuy vậy nếu xét trong chuỗi thời gian 10 năm gần đây nhất thì thấy rằng cả diện tích và năng suất khoai tây nước ta tăng giảm không ổn định và
có chiều hướng suy giảm (nguyên nhân là do giống khoai tây ngày càng bị thoái hóa và nhiễm sâu bệnh, giống mới chất lượng cao chưa đủ về số lượng, giá giống tốt quá cao nên người sản xuất thường dùng khoai tây thương
Trang 24SV: Lê Thị Ngọc Lan 24 Lớp: K35D – SP KTNN
phẩm, khoai tây nhập từ Trung Quốc về bổ nhỏ để sử dụng làm giống) Chính điều đó làm cho sản lượng khoai tây cả nước dao động thất thường, sản xuất của ngành chưa phát triển ổn định và ý nghĩa kinh tế của cây khoai tây trong dân chúng bị hạn chế Để khắc phục được hạn chế này, việc triển khai thành công trên thực tế các dự án, chương trình của Nhà nước về phát triển cây khoai tây là vô cùng quan trọng (Nguyễn Tiến Mạnh, 2008) [16] 1.6 Công tác nhập khẩu và khảo nghiệm trong nghiên cứu và sản xuất khoai tây
1.6.1 Tình hình nhập khẩu khoai tây ở Việt Nam
Theo thống kê của FAO năm 2008 cho thấy: Từ năm 1996 đến năm
2005 lượng khoai tây nhập khẩu của nước ta nhìn chung là tăng dần từ 1300 tấn năm 1996 đến 4768 tấn năm 2005 (FAOSTAT, 2008) [32]
Trong những năm gần đây, các đơn vị sản xuất khoai tây giống có nhiều cố gắng trong việc sản xuất giống khoai tây tại chỗ, tuy nhiên lượng giống sản xuất vẫn còn hết sức hạn chế và mới đáp ứng được khoảng 20-25% nhu cầu (Nguyễn Công Chức, 2006) [9]
Tỷ lệ khoai tây nhập khẩu vẫn chiếm 75-80% chủ yếu từ Trung Quốc
và một số nước châu Âu Khoai tây Trung Quốc có ưu điểm là giá thấp song chất lượng cũng rất thấp và nguy cơ dịch bệnh khá cao trong khi khoai tây giống nhập từ châu Âu có chất lượng tốt nhưng giá lại rất đắt nên nếu không
có hỗ trợ giá thì nông dân khó có thể chấp nhận được Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh tế và tính bền vững của ngành sản xuất này (Nguyễn Công Chức, 2006) [9]
1.6.2 Công tác khảo nghiệm giống khoai tây ở Việt Nam
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp còn lạc hậu cho nên công tác giống trong sản xuất khoai tây chưa được chú trọng đúng mức Trước