1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam

45 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH - KTNN LÊ THỊ HIỀN BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN CHI MỘC THÔNG IODES BLUME Ở VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN

LÊ THỊ HIỀN

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ

TÀI NGUYÊN CHI MỘC THÔNG (IODES BLUME) Ở

VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học

Hà Nội, 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN

LÊ THỊ HIỀN

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ

TÀI NGUYÊN CHI MỘC THÔNG (IODES BLUME) Ở

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ

của TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Dương Đức Huyến cùng tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Tiêu bản thực vật – Viện Dược liệu; Phòng Tiêu bản thực vật – Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội; Ban chủ nhiệm khoa Sinh _ KTNN – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 25 tháng 04 năm 2013

Sinh viên

Lê Thị Hiền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:

Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại và giá trị tài nguyên chi Mộc

thông (Iodes Blume) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được

thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Các kết

quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 25 tháng 04 năm 2013

Sinh viên

Lê Thị Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Tổng quan tài liệu 3

Chương 2: Đối tương, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu 7

2.2 Phạm vi nghiên cứu 7

2.3 Thời gian nghiên cứu 7

2.4 Phương pháp nghiên cứu 7

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 3.1 Vị trí và hệ thống phân loại chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam 11

3.2 Đặc điểm phân loại chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam 12

3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam 15

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam 15 3.4.1 Iodes seguini (Lévl.) Rehd 15

3.4.2 Iodes balansae Gagnep 19

3.4.3 Iodes cirrhosa Turcz 22

3.4.4 Iodes vitiginea (Hance) Hemsl 26

3.5 Bước đầu tìm hiểu giá trị tài nguyên của chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam 29

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật Trong đó, chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng Phân loại thực vật một cách chính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan

Mặt khác, Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên có hệ thực vật vô cùng phong phú, đa dạng Do những tác động của tự nhiên cũng như của con người làm cho hệ thực vật có nhiều biến đổi Vì vậy, vấn đề đặt ra là nghiên cứu phân loại thực vật một cách chính xác làm cơ sở khoa học cho các ngành khoa học khác như Sinh thái học, Sinh lý thực vật, Tài nguyên thực vật, dược học,…

Chi Mộc thông (Iodes Blume), còn gọi là Tử quả hay Dây khố rách, thuộc họ

Thụ đào (Icacinaceae Miers) Ở Việt Nam, tuy là một chi nhỏ, nhưng chúng có mặt trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh; là một chi thực vật có ý nghĩa cả về mặt khoa học và mặt kinh tế

Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Mộc thông ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử dụng các

loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu nghiên cứu

phân loại và giá trị tài nguyên chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam”

Mục đích nghiên cứu

Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi và giá trị tài nguyên chi Mộc

thông (Iodes Blume) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên

cứu họ Thụ Đào (Icacinaceae Miers,1851), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan

Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu về vị trí phân loại của chi Mộc thông (Iodes Blume) trong họ Thụ

đào (Icacinaceae)

- Xây dựng bản mô tả các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt

Nam

Trang 7

- Xây dựng khoá định loại các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam

- Tìm hiểu giá trị tài nguyên các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở

Việt Nam

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí Việt

Nam về họ Thụ đào ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại

thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về chi Mộc thông (Iodes

Blume) ở Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành ứng dụng và sản xuất lâm nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,…

Điểm mới của đề tài

- Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành phân loại chi Mộc thông

(Iodes Blume) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống

- Kết quả của đề tài đã được tác giả công bố trong một bài báo gửi Hội nghị

sinh viên nghiên cứu khoa học các trường Đại học sư phạm toàn quốc lần thứ VI

[Phụ lục 6]

Bố cục của khóa luận: Gồm 40 trang, 8 hình vẽ, 4 ảnh, 1 bản đồ, 1 bảng được chia

thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 3 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 19 trang), kết luận và kiến nghị: 1 trang), tài liệu tham khảo: 20 tài liệu; bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

thuộc chi này như: Turcz (1854) công bố Iodes cirrhosa Turcz.; Hemsl (1874) công bố loài Iodes vitiginea Hemsl.; Gagnep (1912) [16] công bố loài Iodes

balansae Gagnep.; Rehd (1934) công bố loài Iodes seguini Rehd Một số công trình

nghiên cứu về chi Iodes tiêu biểu như:

Bentham & Hook f (1862) [13] khi xây dựng hệ thống phân loại cho ngành

Hạt kín, đã xếp chi Iodes Blume vào họ Dương đầu (Olacaceae) do có đặc điểm hoa

mẫu 4-5, bầu trên, mang 1-4 ô

Masters M T (1875) [21] khi nghiên cứu hệ thực vật Ấn Độ trong “Flora of

Bristish India” đã xếp chi Mộc thông (Iodes) vào họ Dương đầu (Olacaceae), mô tả

5 loài là Iodes ovalis, Iodes hookeriana, Iodes thomsonfana, Iodes brandisii, Iodes

oblonge

Về sau hầu hết các tác giả nghiên cứu đều thấy sự khác biệt giữa nhóm các

taxon của họ Olacaceae (gồm các loài có nhị gấp 2-3 lần số cánh hoa) và chi Iodes (nhị bằng số cánh hoa) Vì vậy, quan điểm tách chi Iodes khỏi họ Dương đầu

(Olacaceae) đặt trong họ Thụ đào (Icacinaceae) hầu như được tất cả các tác giả nghiên cứu về sau đồng tình như:

V H Heywood (1993) [18] khi đưa ra hệ thống phân loại cho các họ của

ngành Hạt kín trên thế giới đã chia họ Icacinaceae vào 4 tông: Icacineae, Iodeae,

Phytocreneae, Farcostigmateae; trong đó chi Iodes được xếp vào tông Iodeae cùng

Trang 9

với các chi: Mappianthus, Polyporandra, Hosiea, Natsiatum, Natsiatopsis,… cùng quan điểm này còn có Takhatajan (2009)

Các nước lân cận Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu về chi Iodes

Blume, như: C A Backer & R C Bakhuizen (1965) [12], khi nghiên cứu hệ thực

vật vùng Java (Inđônêxia) trong “Flora of Java” đã công bố họ Icacinaceae với 11 chi trong đó có chi Iodes Blume dựa trên những đặc điểm: Lá mọc đối, cành với tua

cuốn chẻ đôi ở bên Hoa nhỏ, cụm hoa kiểu chùy, có màu vàng Tác giả đã công bố

2 loài thuộc chi Iodes có trong vùng nghiên cứu là loài Iodes ovalis Blume và Iodes

cirrhosa Turcz

H Sleumer (1970) [19] khi nghiên cứu về chi Iodes ở Thái Lan, đã xếp chi này vào họ Icacinaceae, mô tả 2 loài: Iodes cirrhosa Turcz và loài Iodes vitiginea

(Hance) Hemsl

H Sleumer (1971) [20] khi nghiên cứu hệ thực vật vùng Malesia trong

“Flora of Malesiana” cũng xếp chi Iodes vào họ Icacinaceae với những đặc điểm:

Cây bụi hoặc dây leo; nhánh có nhiều lông tơ, thường mang tua ngắn chẻ đôi từ các mấu (không mọc từ nách lá); lá mọc đối, cụm hoa trên cuống kiểu xim,…và mô tả

7 loài thuộc chi Iodes ở Malesia là: Iodes ovalis Blume, Iodes yatesii Merr., Iodes

reticulata King, Iodes cirrhosa Turcz., Iodes philippinensis Merr., Iodes velutina

King, Iodes hookeriana Baill

Chuang Hsuan et Hsu Ting-zhi (1981) [22] khi nghiên cứu hệ thực vật Trung

Quốc đã ghi nhận chi Iodes Blume thuộc họ Icacinaceae với những đặc điểm cây

bụi hoặc dây leo, cánh hoa có lớp lông dày bao bọc xung quanh, chỉ dính liền ở đáy,

chỉ nhị ngắn Tác giả đã mô tả đặc điểm của chi Iodes, mô tả 4 loài có ở Trung Quốc là: Iodes seguini (Lévl.) Rehd., Iodes balansae Gagn., Iodes cirrhosa Turcz.,

Iodes vitiginea (Hance) Hemsl Về sau, H Peng and A H Richard (2009) trong

phần tái bản có bổ sung công trình Thực vật chí Trung Quốc bằng tiếng Anh “Flora

of China” cũng có cùng quan điểm

Trang 10

1.2 Ở Việt Nam

Cho đến nay các công trình nghiên cứu họ Thụ đào (Icacinaceae) nói chung

và chi Mộc thông (Iodes) nói riêng ở Việt Nam còn rất ít Trước kia, các công trình

nghiên cứu về chi Mộc thông thường do người nước ngoài (người Pháp) công bố như Gagnepain (1946) [17] khi nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương đã ghi nhận 2

loài thuộc chi này có trên lãnh thổ Đông Dương là I ovalis và I balansae Điểm

khác biệt của Gagnepain với các tác giả trên thế giới lúc bấy giờ là không đặt chi

Iodes vào họ Icacinaceae mà để trong họ Phytocrenaceae cùng với các chi khác như Apodytes, Miquelia, Phytocrene, Sarcostigma Cũng tác giả này vào năm 1946

trong công trình tái bản có bổ sung một số dẫn liệu về phân bố của chi Iodes cũng

vẫn đưa ra quan điểm trên

Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về chi Iodes thường do

người Việt Nam tiến hành điển hình như công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt

Nam” của Lê Khả Kế [8] Tác giả công bố 1 thứ thuộc chi Iodes thường gặp ở việt Nam là I ovalis var vitiginea; hay công trình “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng

Hộ (1991, tái bản năm 1999) [7] Trong cuốn sách này, tác giả đã tóm tắt đặc điểm

nhận dạng của 3 loài cùng hình ảnh sơ bộ kèm theo: Iodes seguini (Lévl.) Rehd.,

Iodes cirrhosa Turcz., Iodes vitiginea (Hance) Hemsl Công trình “Cây cỏ Việt

Nam” tuy còn nhiều hạn chế như không có tài liệu trích dẫn, danh pháp, không có mẫu nghiên cứu Nhưng cho đến nay đây vẫn là dẫn liệu quan trọng trong việc định loại sơ bộ các loài ở Việt Nam

Nguyễn Tiến Bân (2003) [2], trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã

chỉnh lý và đưa ra danh lục 4 loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) hiện biết ở

Việt Nam trong đó có 2 loài được ghi nhận làm thuốc Tác giả đã cung cấp dẫn liệu

về danh pháp, vùng phân bố, dạng sống, sinh thái và giá trị sử dụng của các loài của

chi Mộc thông (Iodes Blume)

Bên cạnh các công trình về phân loại học, còn có một số công trình nghiên

cứu của các tác giả về giá trị tài nguyên của chi Iodes như: Võ Văn Chi (1997,

2004, 2012) trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [6] và “Từ điển thực vật thông

Trang 11

dụng” [5], Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004) trong “Cây thuốc và động vật làm thuốc

ở Việt Nam” [3]

Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu

đầy đủ và có hệ thống về phân loại chi và các loài cây làm thuốc chi Mộc thông

(Iodes Blume) ở Việt Nam Chính vì vậy, công trình nghiên cứu: “Bước đầu

nghiên cứu phân loại và giá trị tài nguyên chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt

Nam” của chúng tôi sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ

thống về phân loại và giá trị tài nguyên chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở mẫu vật và tài liệu

Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Mộc thông (Iodes Blume) trên thế giới

và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo

Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt

Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), phòng tiêu bản thực vật, Viện Dược liệu, Hà Nội (HNIP)

Tổng số mẫu nghiên cứu là 26 số hiệu với 79 tiêu bản Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo 37 mẫu tiêu bản ở phòng tiêu bản thực vật thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), 27 mẫu tiêu bản ở Viện Dược liệu (HNIP) và một số mẫu thu thập được trong khi điều tra thực địa và các ảnh chụp mẫu vật trên internet

2.2 Phạm vi nghiên cứu: Khắp cả nước

2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2012 đến tháng 5/2013.

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu phân loại chi Mộc thông (Iodes Blume), chúng tôi sử dụng

phương pháp Hình thái so sánh [11] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất trên thế giới và phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng

Trang 13

một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành, nụ so sánh

với nụ, hoa so sánh với hoa, )

Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời

cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp

Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm

thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác

Trong quá trình triển khai đề tài này, tôi đã tiến hành điều tra thực địa tại Trạm

đa Dạng Sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc) và một số điểm tại xã Minh Xuân, huyện

Lục Yên, tỉnh Yên Bái Đặc trưng của các loài Iodes là các loài thân leo, ưa sáng,

thường leo bám trên các lùm bụi, ven đường, ven rừng thứ sinh nơi có nhiều ánh sáng nên thuận tiện cho việc thu thập mẫu vật

Công tác nội nghiệp: Xử lý và bảo quản mẫu vật Việc nghiên cứu các mẫu

vật khô được tiến hành tại các phòng thí nghiệm Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các

nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại

Việc nghiên cứu phân loại chi Mộc thông (Iodes Blume) được tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi Mộc

thông (Iodes Blume) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân loại

chi này ở Việt Nam

Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume)

Trang 14

sôi hoặc ngâm trong cồn pha loãng (khoảng 400C), sau đó dùng kim nhọn để tách từng bộ phận để quan sát

Trong khi phân tích mẫu, phải ghi chép các đặc điểm, vẽ hình, chụp ảnh Sau

đó kết hợp với các tài liệu chuyên ngành (bản mô tả gốc, các chuyên khảo, thực vật chí,…) và mẫu chuẩn – typus (nếu có) để xác định tên khoa học của mẫu vật

Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu,

tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác như thông tin về sinh thái và giá trị sử dụng

Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây

dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài

- Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:

Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú (nếu có)

Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)

- Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)

Trang 15

Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có),

từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài Bản mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung

- Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn

cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau: Từ

tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập

và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi

phân biệt hết các taxon

Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành

và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Vị trí và hệ thống phân loại chi Mộc thông (Iodes Blume)

Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Mộc thông (Iodes) và họ Thụ

Đào (Icacinaceae), tham khảo các công trình thực vật chí ở các nước gần Việt Nam

và các công trình nghiên cứu về họ Thụ Đào ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy về hệ

thống phân loại của chi Iodes là tương đối đồng nhất ở hầu hết các tác giả nghiên cứu, còn về vị trí của chi Iodes có 4 quan điểm khác nhau:

+ Quan điểm thứ 1: Chi Iodes thuộc vào họ Tiết dê (Menispermaceae) Đi

theo quan điểm này có Blume (1825)

+ Quan điểm thứ 2: Chi Iodes thuộc vào họ Dương đầu (Olacaceae) Đi theo

quan điểm này có Bentham & Hook f (1862), Masters M T (1875)

+ Quan điểm thứ 3: Chi Iodes thuộc vào họ Phytocrenaceae Đi theo quan

điểm này có Gagnepain (1911, 1946)

+ Quan điểm thứ 4: Xếp chi Iodes vào họ Thụ Đào (Icacinaceae) Đi theo

quan điểm này có Mier (1851), H Sleumer (1970, 1971), Takhtajan (2009),…

Chúng tôi thấy rằng việc tách các nhóm chi thuộc họ Tiết dê, họ Dương đầu thành một nhóm họ riêng biệt là rất thỏa đáng do chúng mang các nét khác biệt rõ ràng; quan điểm 3 và quan điểm 4 thực chất chỉ là sự thay đổi tên của bậc họ, các chi trong cùng một họ không có sự thay đổi, mặt khác tên họ Icacinaceae được Mier đặt từ năm 1851 Họ Phytocrenaceae được Gagnepain đặt vào năm 1911 Do vậy

khi nghiên cứu chi Mộc thông (Iodes), chúng tôi đi theo quan điểm của Mier (1851), H Sleumer (1970, 1971), Takhtajan (2009),…, xếp chi Mộc thông (Iodes

Blume) thuộc:

Họ Thụ đào (Icacinaceae)

Bộ Dây gối (Celastrales)

Lớp Mộc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledonea)

Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae)

Trang 17

3.2 Đặc điểm phân loại chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam

Iodes Blume – Mộc thông, Tử quả, Dây khố rách.

Blume, 1825 Fl Neder Ind.: 23; Benth & Hook f 1862 Gen Pl 1: 355; Mast

1875 Fl Brit Ind 1: 595; Gagnep 1911 Fl Gen Indoch 1: 844; id 1948 Suppl

Fl Gen Indoch, 1: 757; Back & Bakh 1965 Fl Jav 2: 123; Sleum 1969 Blumea, 17(1): 219; Phamh 1970 Illustr Fl S Vietn 1: 694; Sleum 1970 Fl Thailand, 2(1): 85; id 1971 Fl Males 7(1): 67; Wu, 1977 Fl Yun 1: 173; Chuang 1981 Fl Reip Pop Sin 46: 54

- Erythrostaphyle Hance 1873 Journ Bot 11: 266

3.2.1 Dạng sống: Các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam

có dạng dây leo thân gỗ; thân hình trụ, có nốt sần (I seguini) hay không có (I

cirrhosa, I vitiginea,…), cành có lông dày hoặc thưa, cành non thường có lông tơ

màu vàng Tua cuốn thường ở nách lá hay đối diện với lá, chẻ hai từ mắt hoặc không

3.2.2 Lá: Mọc đối, có cuống, phiến lá hình bầu dục hoặc hình tim Chóp lá

thường nhọn hay tù Gốc lá hình tim, mép nguyên, có lông vàng chủ yếu ở mặt dưới, gân bên hình lông chim

Hình 1 Hình dạng lá của chi Iodes Blume

1 Iodes seguinii Rehder; 2 Iodes cirrhosa Turcz; 3 Iodes vitiginea (Hance)

Hemsley

Trang 18

3.2.3 Cụm hoa: Dạng xim tập hợp thành chùy ở nách lá hoặc trên nách lá,

đôi khi ở đỉnh cành, thường có lông hoe

3.2.4 Hoa: Đơn tính khác gốc, nhỏ, màu trắng (I seguinii) hoặc vàng (I

cirrhosa, I vitiginea) hay hơi xanh (I vitiginea)

Hoa đực: Đài hợp thành hình chén, có 4-5 thùy, mặt ngoài đài phủ lông

vàng Tràng thường hợp một phần ở phía dưới (I cirrhosa), đôi khi hợp tới ½ - ¾ chiều dài tràng tạo thành ống tràng (I vitiginea), có 4-5 thùy tràng, xếp van, chóp

có mũi nhọn kéo dài và cong; mặt ngoài có nhiều lông Nhị 4-5 nhị, rời nhau, xếp xen kẽ với thùy tràng, chỉ nhị ngắn hơn tràng, bao phấn 2 ô, đính gốc, mở trong Bầu tiêu giảm, rậm lông

Hoa cái: Đài và tràng như hoa đực Không có nhị hoặc có nhị lép Bầu hình

trứng, hình bầu dục hay trứng ngược, không cuống hoặc có cuống ngắn, thường có lông; 1 ô, chứa 2 noãn; vòi nhụy không có; núm nhụy dạng đĩa

3.2.5 Quả và hạt:

Quả hạch hình trứng, hình bầu dục hay trứng ngược, mang núm nhụy và đài

tồn tại Vỏ quả ngoài mỏng màu vàng hoặc đỏ Vỏ quả trong hóa gỗ mỏng, bên ngoài có những gờ dài thưa dạng lưới

Hạt 1 trong mỗi ô, có nội nhũ, lá mầm to dạng lá, rốn hạt rõ, bề mặt của hạt thường nhăn nheo

Trang 19

Hình 4 Hình dạng quả của Iodes Blume

1.Quả bổ dọc (I balansae Gagn.); 2 và 4: Quả khi khô (I balansae Gagn và I

cirrhosa Turcz.); 3 Vị trí mang quả (I seguinii Rehder); 5 Quả bổ ngang (I

balansae Gagn.)

Typus: Iodes ovalis Blume

3.2.6 Sinh học và sinh thái: Các loài thuộc chi Iodes Blume thường ưa

sáng, ưa khô, mọc rải rác trong rừng, ven rừng, bãi hoang, trảng cây bụi, ở độ cao đến 1.300 m Mùa ra hoa và kết quả khác nhau giữa các loài, thường rải rác trong

năm, nhưng tập trung nhiều vào tháng 6-12

3.2.7 Phân bố: Trên thế giới có khoảng 28 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới

Châu Phi, Châu Á như Ấn Độ, Myanma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Việt Nam, Nước ta hiện biết có 4 loài phân bố rải rác khắp

cả nước, nhưng chủ yếu ở các tỉnh Lai Châu, Bắc Kạn, Hòa Bình, Hà Nội, Hải

Trang 20

Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên-Huế, Đắk Lắk, Khánh hòa, Ninh Thuận, Đồng Nai

3.3 Khoá định loại các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam

1a Thân có nhiều nốt sần 1 I seguini

1b Thân không có nốt sần

2a Quả dài 3,0-3,8 cm; trên gân ở mặt dưới lá có lông tơ quăn 2 I balansae

2b Quả ngắn hơn 3 cm; trên gân ở mặt dưới lá không có lông tơ quăn

3a Hoa đực với cánh hoa rời; mặt dưới lá có lông nhung mềm 3 I cirrhosa

3b Hoa đực có cánh hoa dính tới giữa; mặt dưới lá có lông cứng

4 I vitiginea

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Mộc thông (Iodes Blume) ở Việt Nam

3.4.1 Iodes seguini (H Léveille) Rehder – Tử quả seguin

Rehder 1934 J Arnold Arbor 15: 3; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 176; N T Ban, 2001 Check Pl Sp Vietn 2: 1115; H Peng & A H Richard, 2007 Fl

China, 12: 512

- Vitis seguinii H Lével 1907 Repert Spec Nov Regni Veg 4: 331

Dạng sống: Dây leo, thân gỗ; cành còn non có lông cứng quăn dày đặc; cành

màu xám - nâu, hình trụ, với nhiều nốt sần sáng màu kích thước lớn nổi rõ, thấy rõ khi già

Lá: Cuống lá dài 0,5-2 cm, có lông cứng phủ dầy đặc; phiến lá mặt dưới lá

màu xanh sáng bóng; hình trứng hoặc hình tim; kích thước 4-14 × 3-10,5 cm; gốc lá hình trái tim, chóp lá tù đến nhọn; mặt dưới lá bao phủ bởi nhiều lông cứng xen lẫn lông tơ rải rác; mép nguyên; gân giữa lồi lên ở mặt dưới, có lông tơ thưa, gân bên 4-

6 cặp, gân lá bậc ba thường không dễ thấy, hình thành mạng lưới mờ

Cụm hoa: Kiểu xim tập hợp thành hình chùy, mọc ở nách lá hoặc bên, chùy

dài 2-3 cm, có lông tơ màu rỉ sắt

Trang 21

Hoa: Phân tính Hoa đực: Đài hợp đến giữa, đường kính 1 mm, mang 4-5

thùy, thùy hẹp hình trứng, bên ngoài phủ lông màu rỉ sắt dày đặc Tràng hoa hợp ở 1/3 phía gốc, mang 4 hoặc 5 thùy tràng; thùy tràng hình trứng đến bầu dục, dài 3-4

mm, đỉnh nhọn, mặt ngoài có lông màu rỉ sắt dày đặc, có xen lẫn lông tơ rải rác, mặt trong nhẵn Bộ nhị: 5 cái, xen kẽ với thùy tràng; chỉ nhị thon dần về phía đỉnh; bao phấn hình trứng hoặc thuôn, dài 0,5 mm Bộ nhụy: bầu nhụy không phát triển Hoa cái: cấu tạo giống hoa đực, nhưng mang bầu phát triển, có lông

Quả: Quả hạch màu xanh khi non, vàng khi già và chín màu đỏ, dạng trứng

ngược thuôn dài, dài 1,8-2,3 cm, đường kính 1,2 cm, có lông tơ dày đặc Thịt quả mịn, vỏ quả trong hơi có rãnh hoặc gồ ghề dạng mạng lưới Hạt đơn, kích thước lớn, nhẵn

Loc class.: China; Isotype: Bodinier E 2641 (P - Số hiệu tiêu bản

P00698076)

Phân bố: Hà Giang (Quảng Bạ), Phú Thọ (Xuân Sơn), Hòa Bình, Hà Nội

(Ba Vì - Thủ Pháp), Nghệ An (Quế Phong) Còn có ở Trung Quốc

Mẫu nghiên cứu: HÀ GIANG, DKH 5053 (HN) _ PHÚ THỌ, Phương

6500 (HN); Vũ Anh Thương VAT 41 (HN) _ NGHỆ AN, VN 598 (HN)

Sinh học và sinh thái: Cây ưa sáng, leo trên các lùm bụi, thường sống trong

rừng thứ sinh, trảng cây bụi, ven đường, ở độ cao 700 m trở lên Mùa ra hoa từ tháng 1 đến tháng 5, mùa ra quả vào khoảng tháng 4 đến tháng 6

Trang 22

Hình 5 Iodes seguinii (Léveillé) Rehder

1 và 2 cành mang tua cuốn; 3 hoa; 4 cụm quả ; 5 quả khô;

(1, 3-5 theo Phạm Hoàng Hộ, 2000; 2 theo H Peng and A H Richard, 2009)

Ngày đăng: 30/11/2015, 06:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hình dạng lá của chi Iodes Blume. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
Hình 1. Hình dạng lá của chi Iodes Blume (Trang 17)
Hình 2. Hoa cái đã tách tràng  Hình 3. Hoa đực  3.2.5. Quả và hạt: - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
Hình 2. Hoa cái đã tách tràng Hình 3. Hoa đực 3.2.5. Quả và hạt: (Trang 18)
Hình 4. Hình dạng quả của Iodes Blume - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
Hình 4. Hình dạng quả của Iodes Blume (Trang 19)
Hình 5. Iodes seguinii (Léveillé) Rehder. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
Hình 5. Iodes seguinii (Léveillé) Rehder (Trang 22)
Hình 6. Iodes balansae Gagnep. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
Hình 6. Iodes balansae Gagnep (Trang 25)
Hình 7. Iodes cirrhosa Turcz. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
Hình 7. Iodes cirrhosa Turcz (Trang 29)
Hình 8.  Iodes vitiginea (Hance) Hemsley. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
Hình 8. Iodes vitiginea (Hance) Hemsley (Trang 32)
PHỤ LỤC 3. BẢNG PHÂN BIỆT  ĐẶC ĐIỂM CÁC CÂY LÀM THUỐC  THUỘC  CHI MỘC THÔNG (IODES BLUME) Ở VIỆT NAM - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mộc thông (iodes blume) ở việt nam
3. BẢNG PHÂN BIỆT ĐẶC ĐIỂM CÁC CÂY LÀM THUỐC THUỘC CHI MỘC THÔNG (IODES BLUME) Ở VIỆT NAM (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm