Theo thống kê mới nhất của Võ Văn Chi 2012 , cho đến nay, nước ta đã thống kê được gần 4700 loài cây thuốc, đây chắc hẳn chưa phải là con số đầy đủ nếu như không muốn nói là còn ít so vớ
Trang 1MUA (MELASTOMA L.) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phân loại Thực vật
Trang 2MUA (MELASTOMA L.) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phân loại Thực vật
Người hướng dẫn khoa học:
TS Đỗ Thị Xuyến
TS Hà Minh Tâm
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn làm khóa luận
của TS Đỗ Thị Xuyến - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và TS Hà Minh Tâm
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể phòng Thực vật - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm
ơn phòng tiêu bản Thực vật Viện dược liệu; phòng tiêu bản trường Đại học khoa học tự nhiên; trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự giúp đỡ động viên của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày 14 tháng 5 năm 2013
Sinh viên làm khóa luận
Đàm Quang Tiến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận tốt nghiệp, tôi xin cam đoan:
Khóa luận tốt nghiệp “Bước đầu nghiên cứu phân loại các loài làm thuốc thuộc
chi Mua (Melastoma L.) ở Việt Nam”, là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Xuyến - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và TS Hà Minh Tâm - Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Các kết quả tìm thấy trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu khoa học nào trước đây
Xuân Hòa, ngày 14 tháng 5 năm 2013
Sinh viên làm khóa luận
Đàm Quang Tiến
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 7
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Đối tượng nghiên cứu 10
2.2 Phạm vi nghiên cứu 10
2.3 Thời gian nghiên cứu 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu 11
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí của chi Mua (Melastoma L.) 14
3.2 Đặc điểm hình thái chi Mua (Melastoma L.) qua các đại diện làm thuốc ở Việt Nam 14
3.3 Khóa định loại các loài làm thuốc thuộc chi Mua (Melastoma L.) ở Việt Nam
16
3.4 Đặc điểm các loài làm thuốc thuộc chi Mua (Melastoma L.) ở Việt Nam .17
3.5 ước đầu tìm hiểu về giá trị làm thuốc của các loài thuộc chi Mua Melastoma L ở Việt Nam .38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .40
Kết luận 40
Kiến nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật Trong đó, chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng Phân loại thực vật một cách chính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan
Chi Mua (Melastoma L.), thuộc họ Mua (Melastomataceae Juss.) Ở Việt
Nam, tuy là một chi nhỏ, nhưng chúng có mặt nhiều trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh, trảng cây bụi; cho đến nay có 5 loài và 1 phân loài trong tổng số 13 loài và 1 phân loài được ghi nhận sử dụng làm thuốc Bên cạnh giá trị về khoa học, chi này còn có giá trị về kinh tế
Các loài cây làm thuốc đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Theo thống kê mới nhất của Võ Văn Chi 2012 , cho đến nay, nước ta đã thống
kê được gần 4700 loài cây thuốc, đây chắc hẳn chưa phải là con số đầy đủ nếu như không muốn nói là còn ít so với những con số thực tế bởi vì kho tàng kinh nghiệm của các dân tộc là rất lớn, trong khi công tác điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, bảo tồn nguồn tài nguyên quí giá này của chúng ta vẫn còn có nhiều hạn chế
Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Mua
(Melastoma L.) ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử
dụng các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu
nghiên cứu phân loại các loài làm thuốc thuộc chi Mua (Melastoma L.) ở Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu:
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại những loài làm thuốc thuộc chi
Mua (Melastoma L ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên
cứu toàn diện về chi này, phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
Trang 7Điểm mới của đề tài:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu phân loại các loài làm thuốc thuộc chi
mua (Melastoma L.) ở Việt Nam
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
– Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí Việt
Nam về họ Mua ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực
vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về chi Mua Melastoma L ở
Việt Nam
– Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành ứng
dụng và sản xuất lâm nghiệp, y dược, đa dạng sinh học, sinh thái và tài nguyên sinh
vật,…
Bố cục của khóa luận: gồm 37 trang, 7 hình vẽ, 4 ảnh, 1 bản đồ, 1 bảng được
chia thành các phần chính như sau: Mở đầu 2 trang , chương 1 Tổng quan tài liệu:
4 trang , chương 2 Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang , chương 3 Kết quả nghiên cứu: 26 trang , kết luận và kiến nghị: 1 trang), tài
liệu tham khảo: 26 tài liệu; bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 1 Các nghiên cứu chi Melastoma trên thế giới
Trên thế giới, chi Mua được công bố đầu tiên trong công trình nổi tiếng
“Species plantarum” do nhà thực vật người Thụy Điển tên là Linneaus Linnaeus
[22] đã đặt tên cho chi Mua là Melastoma Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu 6 loài thuộc chi này là Melastoma groffularrieides, M hirta, M holafericea,
M malabarica, M afpera và M octandra
Sau Linnaeus, nhiều tác giả cũng đề cập đến chi Melastoma trong các công
trình nghiên cứu như Engler (1964), Hutchinson (1969) [20], V H Heywood (1993) [18], A Takhtajan (1997, 2009) [25],… Hầu hết các tác giả này đều cho
rằng chi Melastoma nằm trong họ Mua Melastomataceae
Ở một số nước lân cận với Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu đề
cập đến phân loại chi Mua - Melastoma như:
C B Clarke (1879) [16] khi nghiên cứu hệ thực vật vùng Ấn Độ đã mô tả 6
loài thuộc chi Melastoma là M malabathricum, M polyanthum, M normale, M
imbricatum, M sanguineum, M houtteanum và đã xếp chi này vào họ
Melastomataceae Trong công trình này tác giả đã mô tả đặc điểm vắn tắt của chi, loài nhưng không có khóa phân loại đến loài, không có hình vẽ minh họa, không có mẫu nghiên cứu để so sánh,
C A Backer và R C Bakhuizen (1963) [13], khi nghiên cứu hệ thực vật vùng
Java Inđônêxia đã công bố 9 loài thuộc chi Melastoma là M sanguineum, M
malabathricum, M affine, và đã xếp chi này vào họ Melastomataceae Trong công
trình này tác giả đã mô tả đặc điểm vắn tắt của chi, có khóa định loại các loài nhưng không có hình vẽ minh họa, không có danh pháp của các loài, không có mẫu nghiên cứu để so sánh,
C Chen (1984) [15], khi nghiên cứu hệ thực vật của Trung Quốc đã mô tả 9
loài và 2 phân loài thuộc chi Melastoma là: M dodecandrum, M intermedium, M
normale, M candidum,… và đã xếp chi này vào họ Melastomataceae Tác giả đã
mô tả đặc điểm vắn tắt của chi, loài, có khóa định loài đến loài và có hình ảnh của
Trang 9loài M imbricatum Đến năm 2007, Chen J & Susanne S R [14] đã công bố lại
công trình này bằng tiếng Anh trong “Flora of China” nhưng có chỉnh lý và bổ sung một số thông tin như danh pháp
S F Huang & T C Huang (1993) [19], khi nghiên cứu hệ thực vật của vùng
lãnh thổ Đài Loan đã mô tả 3 loài thuộc chi này là là M intermedia, M candidum,
M affine Trong công trình này tác giả mô tả đặc điểm vắn tắt của chi, loài, có khóa
định loại đến loài và hình ảnh minh họa của 2 loài
Karsten Meyer (1999) [21] khi nghiên cứu về chi Melastoma trên thế giới đã ghi nhận chi này có 23 loài và 2 phân loài là: M beccarianum, M saigonense, M
toppingii, M dodecandrum,… Các loài thuộc chi này phân bố chủ yếu ở Châu Á,
châu Úc Trong công trình này tác giả đã khẳng định chi này thuộc họ Mua Melastomataceae do đặc điểm quả mọng ên cạnh đó, tác giả đã thay đổi danh pháp một số loài, mô tả đặc điểm của chi, loài, có khóa định loại các loài và hình ảnh minh họa của một số loài Đây là công trình được coi là đầy đủ danh pháp và mẫu nghiên cứu nhất từ trước đến thời điểm đó Tuy nhiên, một số loài thuộc chi
Melastoma lại vẫn chưa được ghi nhận trong công trình này như M chevalieri, M osbeckioides
Susanne R et all (2001) [23], khi nghiên cứu hệ thực vật của Thái Lan, đã mô
tả 3 loài thuộc chi Melastoma là M malabathricum, M saigonense, M sanguineum
và xếp chi này vào họ Melastomataceae dựa vào đặc điểm quả mọng, quả vỡ đột ngột theo một đường không xác định, chỉ nhị có cựa lớn
1.2 Các nghiên cứu chi Melastoma ở Việt Nam
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về chi Mua Melastoma L ở Việt Nam còn tương đối ít Người đầu tiên đề cập đến chi Mua Melastoma L.) là nhà thực vật người ồ Đào Nha - Loureiro trong công trình Thực vật Nam bộ (1790), tác giả đã ghi nhận ở miền Nam Việt Nam có 2 loài thuộc chi Mua là M
septemnervia và M dodecandra
Những năm đầu thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về chi Mua thường đều
Trang 10Chine” năm 1921 do H Lecomte chủ biên Trong công trình này, tác giả đã xếp chi
Melastoma vào họ Mua Melastomataceae , ghi nhận chi này tại khu vực Đông
Dương có 14 loài, mô tả tóm tắt đặc điểm của chi Melastoma và các loài thuộc chi
này Tuy nhiên một số loài hiện nay đã được coi là tên đồng nghĩa và được nhập vào với nhau Ngoài ra, tài liệu này được viết bằng tiếng Pháp, công bố cách đây
gần một thế kỷ nên số loài đã bị thay đổi nhiều, không có Typus để đối chiếu, không
có danh pháp nên rất khó khăn cho việc tra cứu
Về sau, các công trình nghiên cứu về chi Mua Melastoma thường do người
Việt Nam công bố như: Năm 1971, trong công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam”, Lê Khả Kế [9] đã mô tả vắn tắt đặc điểm của họ Mua Melastomataceae , có khóa phân loại đến chi, và mô tả đặc điểm của một số loài thường thấy Tuy nhiên công trình này số loài ít nên tác giả đã không xếp các loài theo chi mà chỉ xếp chúng vào họ, không có khóa định loại đến loài của từng chi Riêng chi Mua, tác giả đã
công bố 3 loài là M dodencandrum, M sanguinea và M malabrathricum
Năm 1993, trong công trình “1900 loài cây có ích ở Việt Nam”, Trần Đình Lý [10] đã thống kê họ Mua có 16 chi và 17 loài Trong đó ông chỉ ra Typus của chi Mua (Melastoma và ghi nhận chi Mua có 2 loài M dodencandrum và M
malabrathricum được sử dụng lấy quả để ăn
Năm 1999, trong công trình “Cây cỏ Việt Nam”, Phạm Hoàng Hộ [8] đã mô tả vắn tắt đặc điểm của 17 loài thuộc chi Mua Melastoma kèm theo hình minh họa
đơn giản, trong đó có ghi nhận 4 loài làm thuốc Tuy nhiên có một số loài hiện nay được coi là có tên đồng nghĩa và được nhập vào loài khác, nên số lượng các loài hiện có nhiều thay đổi ên cạnh đó, tác giả không đưa ra khóa định loại của các loài thuộc chi này, không có danh pháp, mẫu nghiên cứu để so sánh,…
Năm 2003, trong công trình “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam”, Nguyễn Kim Đào [6] đã chỉnh lí danh pháp và đưa ra danh lục 16 loài thuộc chi Melastoma
hiện biết ở Việt Nam trong đó có 8 loài được ghi nhận làm thuốc Tác giả đã cung cấp một số dẫn liệu về vùng phân bố, cũng như giá trị sử dụng các loài trong chi
Melastoma nhưng các loài chưa có bản mô tả, không có hình vẽ minh họa, về mặt
Trang 11danh pháp hiện danh pháp một số loài đã được thay đổi nên số lượng loài làm thuốc không phải có số lượng 8 loài nữa
Năm 2004, trong công trình “Từ điển thực vật thông dụng”, Võ Văn Chi [4] đã
mô tả đặc điểm vắn tắt của họ Mua, mô tả đặc điểm của 8 loài Ngoài ra ông còn trình bày vắn tắt sự phân bố, sinh thái và công dụng của chúng
Năm 2004, trong công trình “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”,
Đỗ Huy ích và cộng sự [1] đã mô tả đặc điểm của 3 loài thuộc chi Mua
(Melastoma L có khả năng làm thuốc, đưa ra nơi phân bố, sinh thái và công dụng
của các loài đó một cách rất tỷ mỷ Tuy nhiên các tác giả lại không đưa ra khóa định loại đến loài thuộc chi này, các loài chưa có danh pháp, typus, mẫu nghiên cứu,…
Năm 2012, trong công trình “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, Võ Văn Chi [5] đã
mô tả 6 loài thuộc chi Mua Melastoma L có khả năng được sử dụng làm thuốc,
trong đó có 1 loài hiện được coi là có tên đồng nghĩa Ngoài ra, tác giả còn trình bày vắn tắt đặc điểm sinh thái, sự phân bố và công dụng của những loài này
Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu
về phân loại một cách đầy đủ và có hệ thống, cập nhật về các loài làm thuốc thuộc
chi Melastoma ở Việt Nam
Sau khi tham khảo các tài liệu, chúng tôi đã ghi nhận được số loài thuộc chi Mua được sử dụng làm thuốc là 5 loài, 1 phân loài (trước đây là 6 loài) Danh sách
cụ thể như sau:
1 Mua lùn (Melastoma dodecandrum)
2 Mua da hung (Melastoma malabathrium)
2a Mua thường (Melastoma malabathrium ssp normale)
3 Mua lông (Melastoma saigonense)
4 Mua bà (Melastoma sanguineum)
5 Mua vảy (Melastoma septemnerium)
Trang 12CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài làm thuốc thuộc chi Mua Melastoma L ở Việt Nam, dựa trên cơ sở
mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Mua Melastoma L trên thế giới và của
Việt Nam, nhất là các chuyên khảo về phân loại học và dược học
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Mua Melastoma L ở Việt Nam,
hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật
Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật với tổng số mẫu nghiên cứu là 78 số hiệu với 152 tiêu bản
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm mẫu ở các phòng tiêu bản thực vật: Ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội HNU là 14 số hiệu với 18 tiêu bản, ở Viện Dược liệu HNIP) là 5 số hiệu với 18 tiêu bản
2 4 Nội dung nghiên cứu
– Phân tích các hệ thống phân loại chi Mua (Melastoma L trên thế giới, từ đó tìm hiểu vị trí và hệ thống phù hợp để sắp xếp các loài thuộc chi Mua
– Xây dựng bản mô tả các loài làm thuốc thuộc chi Mua Melastoma L ở Việt Nam
– Xây dựng khoá định loại các loài làm thuốc thuộc chi Mua Melastoma L ở Việt Nam
Trang 13– ước đầu tìm hiểu về giá trị làm thuốc của các loài thuộc chi Mua
(Melastoma L ở Việt Nam
2 5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại các loài làm thuốc thuộc chi Mua Melastoma L.)
chúng tôi sử dụng phương pháp Hình thái so sánh [11] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho đến nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất trên thế giới và phù hợp với điều kiện nghiên cứu của nước ta Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài của các cơ quan thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường.Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển cây trưởng thành so sánh với cây trưởng
thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa,
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời
cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm
thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã đi thu thập mẫu vật tại Trạm
Đa dạng sinh học Mê Linh Vĩnh Phúc và một số vùng lân cận
Công tác nội nghiệp: Xử lý và bảo quản mẫu vật Việc nghiên cứu các mẫu
vật khô được tiến hành tại các phòng thí nghiệm Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn nếu có , các chuyên khảo, các bộ thực vật chí nhất là của Việt Nam và các nước lân cận để phân tích, so sánh và định loại
Để đánh giá giá trị làm thuốc của các loài thuộc chi mua Melastoma L.) thì
chúng tôi dựa vào tài liệu tham khảo và thực tế điều tra
Việc nghiên cứu phân loại các loài làm thốc thuộc chi Mua Melastoma L.) được tiến hành theo các bước như sau:
Trang 14ước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi Mua
(Melastoma L Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân loại chi
này ở Việt Nam
ước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Mua Melastoma L hiện có
ước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác ước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài
– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa nếu có , tên Việt Nam khác nếu có , mô tả, loài typ của chi, ghi chú nếu có
Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc nếu có , các tên đồng nghĩa nếu có , tên Việt Nam khác nếu có , mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn Loc class , mẫu vật chuẩn Typus kèm theo nơi bảo quản theo quy ước quốc tế , sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú nếu có
– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng dạng sống, cành, lá, đến cơ quan sinh sản cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ nếu có ,
từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài ản mô tả chi được
Trang 15xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau , chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung
– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn
cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau: Từ
tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập
và xếp chúng vào hai nhóm các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi
phân biệt hết các taxon
Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành
và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí của chi Mua (Melastoma L.)
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Mua (Melastoma L.) nói riêng và
họ Mua (Melastomataceae) nói chung, cùng việc tham khảo các công trình thực vật chí ở các nước trên thế giới và các nước lân cận với Việt Nam, chúng tôi nhận thấy
hệ thống phân loại của chi Mua (Melastoma L.) là tương đối đồng nhất ở hầu hết
các tác giả nghiên cứu Hầu như các tác giả đều đi theo quan điểm các loài thuộc chi Mua được phân trực tiếp từ đơn vị chi mà không qua các đơn vị nhỏ hơn như phân chi (subgenus) hay nhánh (section)
Còn về vị trí của chi Mua (Melastoma L.) hầu hết các tác giả như aker &
Bakh f (1963), Engler (1964 , Hutchinson 1969 , H Heywood 1993 , A Takhtajan 1997, 2009 ,… đều thống nhất xếp:
Chi Mua (Melastoma)
Thuộc họ Mua (Melastomataceae)
Thuộc ộ Sim Myrtales
Thuộc Lớp Hai lá mầm Dicotyledone
Thuộc Ngành Hạt kín Angiospermae
3.2 Đặc điểm phân loại chi Mua (Melastoma L.) qua các đại diện làm thuốc ở
Việt Nam
3.2.1 Dạng sống
Cây bụi đứng hoặc bò lan mặt đất M dodecandrum), cao 1-3 m Đặc trưng
bởi cành non có tiết diện vuông, thường có nhiều lông Loài thân bò có rễ ở mắt,
thân mảnh M dodecandrum)
3.2.2 Lá
Lá đơn, nguyên, mọc đối, không có lá kèm; phiến lá nhiều hình dạng khác
nhau như hình bầu dục M dodecandrum, M candidum, M saigonense , hình mũi mác (M sanguineum, M malabathrica); chóp lá tròn (M dodecandrum) hay nhọn (M sanguineum, M malabathrica , gốc thường tròn hoặc tù; mặt trên xanh hơn mặt
Trang 17dưới, đôi khi lá mặt dưới màu đo đỏ; mép lá nguyên; thường có 5 gân dọc trong đó
có 2 gân ở gần mép lá thường dài, chạy tới gần hết chiều dài của lá, các gân thường nổi ở mặt dưới, hằn lên ở mặt trên; thường có nhiều lông ở cả 2 mặt
- Đài 5, hợp ở phía dưới, phía trên có các thùy rời xa nhau, dày dạng da, sớm
rụng, hình tam giác hay thuôn dài, nguyên hay đôi khi có răng M sanguineum)
- Cánh hoa 5, rời nhau, màu hồng tím, đậm hay nhạt tùy loài, hình trứng ngược, cả hai mặt thường có lông mịn như nhung
- ộ nhị: gồm 10 nhị rời nhau đôi khi hơn , không đều, đính trên 2 vòng, chỉ nhị gập trong nụ hoa Vòng ngoài là nhị hữu thụ, chỉ nhị dạng sợi mảnh, dài, chia 2 đoạn gần bằng nhau, ở giữa mang một phần phụ gọi là cựa, phần trên mang bao phấn thường màu hồng hay tím đậm Vòng trong là nhị bất thụ, chỉ nhị thô, ngắn, phía trên mang bao phấn giả màu vàng
- ộ nhụy: ầu trung, có 5 ô, có lông hoặc không có lông nhưng có vảy, mỗi ô gồm rất nhiều noãn Vòi nhụy hình trụ mảnh, dài 1 - 3 cm, màu hồng tím, thường không có lông Núm nhụy hình đầu hay dạng điểm
Trang 18H nh 1 Sơ đồ c u tạo hoa của Melastoma L
3.2.5 Quả và hạt
Quả nang, hình chuông, phía trên có đài tồn tại hay sớm rụng M sanguinea)
Ống đài khi chín thường vỡ theo một đường không xác định; quả thường có lông
hình sao phủ dày (M saigonense hay lông đơn cứng M septemnervium), lông mềm rải rác M dodecandrum)
Hạt nhiều, nhỏ, thường mang màu tím hay đen
1A Đế hoa và ống đài có lông hình sao với thân dài nổi lên 3 M saigonense
1 Đế hoa và ống đài không có lông hình sao nổi lên
2A Thân bụi bò lan mặt đất, có rễ ở đốt 1 M dodecandrum
2 Thân bụi đứng, không có rễ ở đốt
Trang 193A Đế hoa và ống đài có vảy, lông cứng không lợp lên nhau 4 M sanguineum
3 Đế hoa và ống đài không có vảy, lông cứng lợp lên nhau
4A Lá bắc cụm hoa dựng đứng, rộng, có lông mềm, chiều dài thường lớn hơn
5 Mặt dưới lá có nhiều lông mềm, cành non không có vảy, có lông dày
2a M malabatrica ssp normale
3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Mua (Melastoma L.)ở Việt Nam
3.4.1 Melastoma dodecandrum Lour - Mua lùn
Lour 1790 FI Cochinch.: 274; C Chen, 1984 Fl Reipub Pop Sin 53(1): 154; Karsten Meyer, 1999 Blumea 80; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 73; N K Dao, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 916; J Chen & Susanne S R., 2007 Fl China, 13: 364
Osbeeckia repens Cogn (ed), 1828 Prod 3: 142
Melastoma rosenum Poir., Lam (ed), 1814 Encyc., Suppl 3: 644
Melastoma octandrum L ex Sm in Rees (ed), 1819 Cyclop 23: n 67
Melastoma trunggij Pócs & Tiep, 1965 Ann Hist Nat Mus Natl Hung 57: 167
Mua thấp, mua 12 tiểu nhị
Cây bụi bò lan mặt đất, cao 30 cm, cành non có bốn cạnh có lông thưa thớt bao phủ xung quanh, có rễ ở đốt Lá đơn, nguyên, mọc đối, phiến lá hình bầu dục, kích thước 0,8-2 x 2-4 cm, có 3 - 5 gân, các gân nổi ở mặt trên và hằn ở mặt dưới, 2 mặt của phiến lá nháp vì có nhiều lông ngắn và cứng, gốc tròn, chóp tù, mép nguyên; cuống lá tròn, dài 0,5-1 cm Hoa mọc thành cụm hình xim hoặc mọc đơn độc trên
Trang 20không có lông hình sao nổi lên, thùy đài hình tam giác, kích thước 0,2–0,4 x 0,1–0,2
cm, có lông ở mép, ống đài có lông nhỏ Cánh hoa hình trứng ngược, kích thước 0,7–0,8 x 1- 1,4 cm, có lông mịn ở mép ộ nhị gồm 8- 12 nhị, không đều đính trên
2 vòng; vòng ngoài là các nhị hữu thụ có bao phấn màu hồng tím dài 0,5 cm, chỉ nhị dài 0,4 cm; vòng trong là các nhị bất thụ có bao phấn màu vàng dài 0,4 cm, chỉ nhị dài 0,3 cm Trung đới dài 0,5 cm ầu trung, hợp sinh, 4-6 ô, hình cầu, có lông bao phủ Quả mọng, hình chuông, kích thước 0,3- 0,5x 0.7- 0,9 cm Hạt nhiều, nhỏ
Loc class.: Cochinchine, Vietnam
Sinh học và sinh thái: Ra hoa tháng 5-8, có quả chín tháng 6-10 Thường
phân bố rộng rãi và ít khi tạo thành quần thể lớn Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng, thường mọc trên đất ẩm ven rừng, chân núi đá vôi và bờ mương rẫy Cây tái sinh chủ yếu từ hạt Sau khi bị cắt hoặc giẫm đạp thì các bộ phận còn lại của cây đều có khả năng tái sinh
Phân bố: Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh Hà Cối, Uông í , ắc Giang
(Nhã Nam), Hải Dương, Hà Nội Phủ Lỗ , Hòa ình, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế Huế Còn có ở Trung Quốc
Mẫu nghiên cứu: THÁI NGUYÊN, Petelot 1323 (HNU); Nguyễn Văn Mạnh
sn HNU _ LẠNG SƠN, Lê Kim iên 5989 HN ; Đoàn điều tra thực vật Việt Trung 4048 HN _ QUẢNG NINH, 442 HNIP _ HÀ NỘI, Petelot 1324 HNU _ HÒA ÌNH, Nguyễn Đăng Khôi 5656 HN
Giá trị sử dụng: Cả cây, nhất là rễ, dùng chữa mụn nhọt, ứ huyết, tê thấp, sai
khớp, phù nề ở phụ nữ sau khi sinh đẻ Lá giã nhỏ trộn với nước tiểu, nướng đắp chỗ đau do bị gãy chân tay, lá đắp chữa đinh tay Ở Trung Quốc, làm thuốc dự phòng viêm màng não và tủy sống, chữa viêm ruột, lị trực trùng, đau thắt lưng, tê thấp Rễ và quả sắc uống chữa bệnh thiếu máu do thai ngén, kiệt sức, rong kinh Lá sắc lấy nước rửa cam trĩ, nhọt độc, ghẻ ngứa, loét chân tay và rắn cắn [5, 6]
Trang 21H nh 2 Melastoma dodecandrum Lour
Trang 22Dạng sống
Ảnh 1 Melastoma dodecandrum Lour
(Ảnh Đỗ Thị Xuyến, chụp tại Chí Linh, Hải Dương)
Trang 233.4.2 Melastoma malabathrica L - Mua da hung
L 1753 Sp Pl 1: 390 “malabathricum”; Clarke in Hook 1879 Fl Brit
India, 2: 523; Guill in H Lecomte, 1912 Fl Gen Indo-Chine, 2: 882; Karsten Meyer, 1999 Blumea 83; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 74; Susanne R et al
2001 Fl Thailand, 7(3): 441; N K Dao, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 917; Chen
J & Susanne S R., 2007 Fl China, 13: 365
Melastoma affine D Don, 1823 Mem Wern Nat Hist Soc 4: 288; Backer
& Bakhuizen, 1963 Fl Java, 1: 358; C Chen, 1984 Fl Reipub Pop Sin 53(1): 156; S F Huang & T C Huang, 1993 Fl Taiwan, 3: 915; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 73; N K Dao, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 915
M polyanthum Blume, 1831 Flora 14: 481; Clarke in Hook 1879 Fl Brit
India, 2: 523
Muôi Singapo, mua se
Cây bụi, mọc đứng, cao 1 - 3m, cành non có bốn cạnh, phủ lông rải rác, có vảy, không có rễ ở đốt Lá đơn, nguyên, mọc đối; phiến lá hình mũi mác, kích thước 1,5-10 x 5-19 cm, có 5 hoặc 7 gân, thường có 2 gân ở mép hơi mờ, gân thường hằn
ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới; gốc lá tròn, hơi lệch; chóp nhọn; mép nguyên, mặt trên xanh và nháp so với mặt dưới vì mặt trên có nhiều lông thô cứng, mặt dưới có nhiều lông nhỏ hơi cứng; cuống lá dài 0,5- 3 cm Cụm hoa hình xim gồm 3-7 hoa, mọc ở đỉnh cành hoặc ở nách lá Hoa lưỡng tính, đều, mẫu 5, hiếm khi mẫu 4 hoặc
6 Lá bắc hình trứng ngược, dựng đứng có lông như gai, đôi khi nhẵn, kích thước 0,7-0,9 x 1,8-2 cm Đế hoa và ống đài không có vảy, lông đơn cứng lợp lên nhau, không có lông hình sao, thùy đài hình mũi mác, kích thước 0,2- 0,6 x 0,5-1,3 cm Cánh hoa hình trứng ngược, màu hồng-tím, kích thước 1,2-1,6 x 2,5-3,5 cm Nhị hoa 10, hiếm khi 8 hoặc 12, đính trên 2 vòng; nhị hữu thụ có chỉ nhị dạng sợi, dẹt, dài 2-3 cm, bao phấn màu hồng-tím, dài 0,8-1,4 cm; nhị bất thụ có chỉ nhị dài 0,8- 1,2 cm, bao phấn lép màu vàng, dài 0,6-1,2 cm, trung đới dài 0,4-0,8 cm ộ nhụy gồm 5 lá noãn dính nhau, bầu trung, hình trứng, có nhiều lông cứng, có 5 ô, mỗi ô
Trang 24hình chuông, kích thước 0,6-0,8 x 0,9-1,2 cm, khi chín quả vỡ theo một đường không cố định Hạt nhiều, nhỏ, màu đen
Loc class.: India; Typus: Wight s.n (LINN)
thường gặp trong các trảng cây bụi, ven rừng thứ sinh, có ở độ cao lên tới 900 m
Phân bố: Khá phổ biến ở Việt Nam như Tuyên Quang, Quảng Ninh, Vĩnh
Phúc, Hà Nội, Hòa ình, Nghệ An, Quảng ình, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Nông, Lâm Đồng, Long An, Kiên Giang Còn có ở Ấn Độ
Mẫu nghiên cứu: TUYÊN QUANG, Nguyễn Thị Đỏ và CS T-V-10 (HN),
Phương 6625 HN _ QUẢNG NINH, Nguyễn Tiến ân và CS 7 & 168 HN , TTHD2-76 163 HN _ VĨNH PHÚC, Đoàn điều tra thực vật Việt Nam Liên Xô LX-VN 2703 (HN _HÀ NỘI, Dzu-Thomas 77814 HN _ HÒA ÌNH, Phương
2375 HN _NGHỆ AN, H.566 HNU _ QUẢNG ÌNH, Averyanov et al
VH-4702 HN , Hà Tuế 746 HN _ THỪA THIÊN HUẾ, Thái-Thuận 94 HN , Hà Tuế
685 HN _ KON TUM, Lê Kim iên 533 HN , Đoàn điều tra thực vật Việt Nam Liên Xô LX-VN 766 HN _ GIA LAI, Đoàn điều tra thực vật Việt Nam Liên Xô LXVN 2703 HN _ ĐĂK NÔNG, Tân 63 HN _ LÂM ĐỒNG, Averyanov et al
VH 2965 HN , iên 1208 HN , Hà Tuế 521 HN _ LONG AN, Hà Tuế 775
HN _ KIÊN GIANG, Nguyễn Tiến ân và CS 583 & 1152 (HN)
Giá trị sử dụng: Quả hơi nạc, có thịt đỏ hơi thơm và có vị ngọt, dùng ăn được
Lá dùng trị ỉa chảy và lỵ Lá và chồi hoa được dùng như chất làm săn da trong bệnh khí hư và ỉa chảy mãn tính Dùng ngoài, nước sắc rễ được sử dụng ở Malaixia làm thuốc súc miệng trị sâu răng Người Ấn Độ dùng để nhuộm đỏ [2, 5, 6]
Ghi chú: Loài này thường được mang tên phân loài chuẩn Melastoma
malabathrica ssp malabathrica nhưng theo luật danh pháp quốc tế, chúng tôi trình
bày trong bản khóa luận tên loài chính thức Melastoma malabathrica L