MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài Trong những năm gần đây, hướng nghiên cứu về tài nguyên thực vật để tìm kiếm loài thực vật có hoạt tính sinh học và tinh dầu tạo nguồn nguyên liệu dược và tinh
Trang 1MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, hướng nghiên cứu về tài nguyên thực vật để tìm kiếm loài thực vật có hoạt tính sinh học và tinh dầu tạo nguồn nguyên liệu dược và tinh dầu phục vụ cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, luôn được các nhà nghiên cứu về thực vật, hoá thực vật trong và ngoài nước rất quan tâm
Việt Nam có nguồn thực vật nhiệt đới rất phong phú và đa dạng, trong đó
có nhiều loài chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao, có chất lượng tinh dầu tốt, có khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến dược phẩm,
mỹ phẩm và thực phẩm Tuy nhiên, số lượng những loài được nghiên cứu về theo hướng này, đặc biệt là những nghiên cứu về tách chiết và phân tích thành phần hoá học còn chưa nhiều
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, có hệ thực vật khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên, những nghiên cứu về nguồn thực vật chứa hoạt tính sinh học
và tinh dầu hầu như chưa có là mấy
Để đánh giá tiềm năng nguồn tài nguyên thực vật có hoạt tính sinh học và
tinh dầu ở đây, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng sử dụng, bảo tồn một số loài thực vật có hoạt tính sinh học và tinh dầu tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh” nhằm điều tra và thống kê một cách đầy đủ hơn về
nguồn thực vật có hoạt tính sinh học và tinh dầu tại đây, cũng như việc gây trồng
và phát triển một số loài có triển vọng và ý nghĩa trong chúng
Trang 2Mục đích nghiên cứu
Điều tra sàng lọc nguồn thực vật có hoạt tính sinh học và chứa tinh dầu tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh; đề xuất giải pháp bảo tồn một số loài có ý nghĩa khoa học và triển vọng khai thác
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phần tích thành phần hóa học và thử hoạt tính ( kháng vi sinh vật, gây độc tế bào, chống oxy hóa) của 1 số loài thực vật tại trạm Đa dạng sinh học Mê
Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên
cứu về nguồn thực vật có hoạt tính sinh học và chứa tinh dầu
Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất khả năng bảo tồn, khai thác, phát triển và sử
dụng bền vững đối với nguồn tài nguyên thực vật có hoạt tính sinh học và tinh dầu trên cả nước
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Trên thế giới
Chất kháng khuẩn được nhà bác học Lui- Pastơ nêu ra lần đầu tiên Pastơ nhận thấy rằng trực khuẩn gây bệnh than bị diệt rất nhanh trong môi trường có lẫn vi trùng gây thối Ông kết luận đó là sự đấu tranh sinh tồn giữa vi khuẩn bệnh than và các vi khuẩn bệnh khác nữa Năm 1929 Fleming ở Anh phát hiện nấm Penicillium cũng có hiện tượng trên và đến năm 1940 thì penixilin được phân lập và áp dụng trên lâm sàng Từ đó đến nay nhiều chất kháng sinh quý giá đã được tìm ra
Có tác giả dùng danh từ kháng sinh để chỉ những chất có nguồn gốc vi sinh vật, tuy nhiên các tài liệu trên thế giới hiện nay vẫn dùng từ kháng sinh để chỉ những chất có nguồn gốc thảo mộc Một số tài liệu của Liên xô thì dùng từ “ Phytonxít “ để chỉ những chất có tác dụng kháng vi sinh vật có nguồn gốc thực vật bậc cao
Trong lịch sử phát triển y học của dân tộc ta cũng như nhiều dân tộc khác trong việc đã và đang sử dụng cây cỏ vào mục đích phòng và điều trị bệnh nhiễm trùng có hiệu quả Tuệ Tĩnh thế kỷ 14 khoảng năm 1372-1377 đã sử dụng nhiều loại thảo mộc như Tỏi, Hẹ, Tô mộc, Trầu không… vào việc các bệnh viêm nhiễm mà sau này chúng ta biết trong Tỏi có anlixin, Hẹ có chất ođorin, Tô mộc
có brrazilin và saponin, trong Trầu không có dẫn xuất phênol là những chất kháng khuẩn mạnh Ở Trung quốc các cây thuốc có tác dụng chữa bệnh nhiễm trùng phần lớn được xếp vào các nhóm thuốc gọi là “ thanh nhiệt giải độc, thuốc khử hàn…”[4,5,,7]
Trang 4Từ thời cổ xưa loài người đã biết khai thác và sử dụng tinh dầu trong cuộc sống Người Ai Cập đã biết dùng tinh dầu và cây có tinh dầu để ướp xác và làm nước hoa hàng ngàn năm trước công nguyên Các dân tộc khác nhau ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản cũng biết sử dụng tinh dầu làm thuốc chữa bệnh và gia
vị từ rất lâu đời Người Nhật đã biết trồng Bạc hà và tách methol từ tinh dầu cách đây hàng ngàn năm Tinh dầu đã và đang trở thành nguồn nguyên liệu không thể thiếu được trong nhiều ngành công nghiệp như thực phẩm, dược phẩm
và mỹ phẩm[6]
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xác nhận rằng các chất kháng khuẩn có nguồn gốc thực vật rất phong phú, phạm vi ứng dụng rất rộng trong y học, nông nghiệp, thú y…
1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta những nghiên cứu thực nghiệm về tính kháng khuẩn thực vật
cũng chỉ vài chục năm gần đây Bác sĩ Đặng Văn Ngữ (1956) nghiên cứu trên vài trăm cây thuốc và đã khẳng định nhiều cây có tính kháng khuẩn mạnh, tiếp đến là Bác sĩ Nguyễn văn Hưởng và cộng sự (1959) nghiên cứu nhiều cây thuốc trong đó đưa ra chế phẩm Tô mộc trị ỉa chảy các kết quả nghiên cứu của Viện Dược Liệu, Đai học Dược về tính kháng khuẩn của cây Hoàng đàn, Sâm đại hành, Nọc sởi… đã có những ứng dụng tốt Đại học Quân y nghiên cứu tính kháng khuẩn của cây Longtơuyn và nhiều cây thuốc thuộc họ Ráy Chế phẩm Long tơ yun điều trị các vết thương nhiễm trùng đặc biệt là trực trùng gây mủ xanh, Nhiều cơ sở ở Trung ương và địa phương trong thời gian qua đã thu thập
và ứng dụng nhiều kết quả có tác dụng kháng khuẩn, tuy nhiên nhiều nghiên cứu trên mới chỉ là bước đầu Chúng ta cần đẩy nhanh hơn nữa việc nghiên cứu, khai thác, sử dụng dược liệu trong nước Chúng ta có nền y học với nhiều kinh
Trang 5nghiệm chữa bệnh độc đáo, lại có nguồn dược liệu phong phú, nghiên cứu tính kháng khuẩn thực vật chắc chắn sẽ thu được nhiều loại thuốc quí đặc biệt đối với khu vực như Trạm đa dạng sinh học Mê Linh [1,7]
Số loài thực vật có tinh dầu trong hệ thực vật nước ta cũng rất phong phú
và đa dạng Theo Lưu Đàm Cư và Lã Đình Mỡi trong hệ thực vật nước ta có khoảng trên 600 loài có tinh dầu, thuộc trên 300 chi của 115 họ thực vật
Một số họ có nhiều loài chứa tinh dầu như Cúc (Asteraceae) khoảng 60 loài, Bạc hà (Lamiaceae) khoảng 36 loài, Cam (Rutaceae) khoảng 43 loài và Gừng ( Zingiberaceae ) khoảng 47 loài Số loài thực vật có tinh dầu rất lớn nhưng trong thực tế chúng ta mới chỉ khai thác tự nhiên hoặc gây trồng khoảng trên 20 loài Một số loài đã được đưa vào sản xuất như Bac hà ((Mentha arvensis), Hồi (Illicium vercum), Sả (Cymbopogon winterianus), Tràm (Melaleuca cajuputi), Húng quế ( Ocimum basilicum)[6]
Cho đến nay, trạm Đa dạng sinh học Mê Linh đã có một số công trình nghiên cứu về nguồn tài nguyên thực vật tại đây Việc điều tra hiện trạng nguồn tài nguyên thực vật ở đây đặc biệt là nguồn thực vật có hoạt tính sinh học và tinh dầu là hết sức cần thiết nhằm đề xuất khả năng khai thác tự nhiên của một số loài có trữ lượng lớn phục vụ cho một số ngành sản xuất dược liệu, hương liệu trong nước và xuất khẩu cũng như việc bảo vệ, gây trồng và phát triển một số loài cây tinh dầu có giá trị và triển vọng
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là nguồn thực vật có tinh dầu và hoạt tính sinh học tại trạm Đa
dạng sinh học Mê Linh
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, một số khu vực có rừng của xã Ngọc Thanh và vùng phụ cận của Vườn Quốc gia Tam Đảo
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 10/2010 đến 4/2012
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu ngoài thực địa
Tiến hành điều tra theo tuyến khảo sát (ven suối, trên sông và một số lát
cắt ngang trên sông xuống bìa rừng) tại khu vực của Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, một số khu vực có rừng của xã Ngọc Thanh và vùng phụ cận của Vườn Quốc gia Tam Đảo
Điều tra trong nhân dân (dân tộc Sán Dìu) về việc khai thác và sử dụng nguồn thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.4.2.1 Quy trình thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định
Để tiến hành sàng lọc các cây có hoạt tính kháng sinh, chúng tôi tiến hành thử hoạt tính kháng vi sinh vật trên phiến vi lượng 96 giếng của các mẫu chiết theo phương pháp hiện đại của Vanden Bergher và Vlietlinck (1994)
Trang 7- Kháng sinh kiểm định bao gồm: Ampixilin đối với vi khuẩn Gr (+), Tetracyclin với vi khuẩn Gr (-), Nystatin đối với nấm sợi và nấm men
- Các chủng vi sinh vật kiểm định bao gồm:
Vi khuẩn Gr (-): Escherichia coli (ATCC 25922)
Pseudomonas aeruginosa (ATCC 25923)
Vi khuẩn Gr (+): Bacillus subtillis (ATCC 27212) Staphylococcus aureus
Nấm sợi: Aspengillus niger, Fusarium oxysporum
Nấm men: Candia albicans, Saccharomyces cerevisia
Chuẩn bị mẫu thử:
– Hoà tan các chiết phẩm trong dung dịch DMSO 100% bằng máy vortex với nồng độ 4mg/ml
– Từ dung dịch gốc nhỏ sang phiến vi lượng 96 giếng
– Nhỏ vào mỗi giếng đã có mẫu sẵn dung dịch vi sinh vật đã hoạt hoá – Đối chứng dương:
Dãy 1: Môi trường
Dãy 2: Kháng sinh + vi sinh vật kiểm định
(Cách pha kháng sinh: Kháng sinh pha trong DMSO100% với nồng độ: Ampixilin: 50mM; Tetracyclin: 10mM; Nystatin: 0,04mM)
Trang 8– Đối chứng âm: chỉ có vi sinh vật kiểm định
Bước 2 Tìm nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của chất có hoạt tính:
Các bước tiến hành như bước 1 Riêng mẫu đã có hoạt tính được sàng lọc
ở bước 1 được pha loãng theo các thang nồng độ thấp dần, từ 5 - 10 thang nồng
độ để tính giá trị tối thiểu mà ở đó vi sinh vật bị ức chế phát triển gần như hoàn toàn
Đọc kết quả:
Nồng độ dương tính là ở đó không có vi sinh vật phát triển Khi nuôi cấy lại nồng độ này trên môi trường thạch đĩa để kiểm tra, có giá trị CFU<5
Mẫu thô có MIC 200g/ml; mẫu tinh có MIC50g/ml là có hoạt tính
2.4.2.2 Quy trình thử hoạt tính chống oxy hoá của các mẫu sinh vật biển thông qua phản ứng bao vây gốc tự do (DPPH) (Antioxydant assay)
* Nguyên liệu, máy móc thí nghiệm:
DPPH sigma
Axit ascorbic sigma
Ethanol 96%
DMSO 100%
Phiến vi lượng 96 giếng
Máy đọc Elisa bước sóng 515 nm
Trang 9do sẽ làm giảm cường độ hấp phụ ánh sáng của các gốc tự do DPPH Hoạt tính chống ôxy hoá được đánh giá thông qua giá trị hấp phụ ánh sáng của dịch thí nghiệm so với đối chứng khi đọc trên máy Elisa ở bước sóng 515nm
a Chuẩn bị mẫu thí nghiệm:
- Tạo dung dịch có các gốc tự do: DPPH 300mg trong ethanol
- Mẫu sinh vật biển pha trong DMSO 100% với nồng độ 4mg/ml
- Chứng dương tính 1 mM Flavonoid hoặc 5mM axit acscorbic
b.Tiến hành thí nghiệm:
Trộn mẫu và DPPH trên phiến 96 giếng:
Dãy thí nghiệm: 10mg mẫu +190mg DPPH trong ethanol
Dãy chứng âm tính: 10mg DMSO 10% +190mg DPPH trong ethanol Dãy Blank (mẫu trắng): 10mg mẫu +190mg Ethanol
Dãy chứng dương tính : 10mg mẫu +190mg DPPH trong ethanol
Phiến được bọc kín để tránh ánh sáng môi trường và ủ trong tủ ấm
370C trong 2 giờ
Đọc kết quả trên máy Elisa bước sóng 515nm
Trang 10c Tính kết quả:
Tính giá trị % hoạt động SC% (Scavenging capacity):
Giá trị trung bình của SC% được đưa vào chương trình xử lý số liệu exell window tìm ra % trung bình ± độ lệch tiêu chuẩn của phép thử được lặp lại 3 lần theo công thức
Pha mẫu theo 5 thang nồng độ, nhỏ và tiến hành như ở bước 2, giá trị
IC50 được đưa vào chương trình table curve, thông qua nồng độ chất thử và % hoạt động của chất thử tính ra nồng độ của chất thử nghiệm mà ở đó 50% các gốc tự do được taọ bởi DPPH được trung hoà bởi chất thử theo công thức:
Trang 11Dòng KB (Human epidemoid carcinoma - ung thư biểu mô) từ phòng thí nghiệm Bioassay trường Đại học Dược Illinois- USA
Dòng Fl (Fibril sarcoma of Uteus - ung thư màng tử cung)
Dòng RD (ung thư màng tim - Rhabdosarcoma) từ Viện VSDT TƯ
- Môi trường nuôi cấy tế bào: DMEM (Dulbecco’s Modified Eagle
Medium) hoặc MEME (Minimum Essential Medium with Eagle’s salt) Có bổ xung L- glutamine, Sodium piruvat, NaHCO3, PSF(Penixillin- Streptomycin sulfate- Fungizone); NAA (Non-Essential Amino Acids); 10% BCS (Bovine Calf Serum)
- Tripsin-EDTA 0,05%; DMSO (Dimethyl Sulfoside); TCA(Trichloro Acetic acid); Tris Base; PBS (Phosphate Buffered Saline); SRB (Sulfo Rhodamine B); Acid Acetic
- Các dụng cụ dùng 1 lần: Bình nuôi cấy tế bào, phiến vi lượng
96 giếng, pipet pasteur, các đầu tip cho micropipet…
- Chất chuẩn chứng dương tính:
Dùng chất chuẩn có khả năng diệt tế bào: Elipticine hoặc Colchicine pha trong DMSO với nồng độ 0.01mM
- Tủ ấm CO2, tủ lạnh sâu- 840C, tủ lạnh thường, máy li tâm, máy đọc
Elisa; Box Laminar PII, bình ni tơ lỏng, cân phân tích, máy đo pH, buồng đếm tế
bào, kính hiển vi soi ngược
* Phương pháp tiến hành:
Theo phương pháp của Skehan & CS (1990) và Likhiwitayawuid & CS (1993) hiện đang được áp dụng tại viện nghiên cứu ung thư Quốc gia của Mỹ (NCI) và trường đại học Dược, đại học Tổng hợp Illinois, Chicago, Mỹ
Trang 12Dòng tế bào được giữ trong Nitơ lỏng, đánh thức và duy trì trong các môi trường dinh dưỡng có bổ sung huyết thanh bê tươi 7-10% Hoà mẫu thí nghiệm vào dung dịch DMSO 100% (4- 10mg/ml) cho bước sàng lọc sơ bộ
Pha 10 thang nồng độ cho bước 2 để tính giá trị IC50
Tế bào nuôi cấy cho phát triển tới mức 60-70%, thay môi trường sạch để hoạt hoá tế bào từ 18-24 giờ, lúc đó tế bào đã sẵn sàng để để thực hiện thí
nghiệm
Tế bào được xử lý Trípsin 0,1% cho tách khỏi đáy bình Hoà dung dịch huyền phù tế bào bằng môi trường sạch, rửa và đếm số lượng, pha tế bào nồng
độ 3x104
tế bào/ml đối với dòng KB, 4x104 tế bào/ml đối với dòng FL
- Thêm vào các giếng đã có chất chuẩn bị sẵn ở trên 190 àl dung dịch huyền phù tế bào
- Phiến được ủ trong tủ CO2 thêm 3 ngày
- Kết thúc thí nghiệm:
Tế bào khi ủ 3 ngày được cố định bằng dung dịch TCA lạnh (30-50%) Rửa, để khô, nhuộm SRB 0,4% trong axit acetic 1% và rửa lại bằng axit acetic 1% để loại mầu thừa; để khô, hoà lại bằng dung dịch đệm Tris base 10mM
- Đọc trên máy ELISA ở bước sóng 495-515nm
+ Tính kết quả:
Giá trị CS: Là khả năng sống sót của tế bào ở nồng độ nào đó của chất thử tính theo % so với đối chứng Dựa trên kết quả đo được của chúng OD (ngày 0), DMSO 10% và so sánh với giá trị OD khi trộn mẫu để tìm giá trị CS(%) theo công thức:
OD (mẫu) – OD (ngày 0) CS% = x 100
Trang 13OD (DMSO) – OD (ngày 0)
Giá trị CS% sau khi tính theo công thức trên, đựơc đưa vào tính toán exel
để tìm ra % trung bình ± độ lệch tiêu chuẩn của phép thử được lặp lại 3 lần theo công thức của Ducan như sau: Độ lệch tiêu chuẩn
(xi - x )2
= n - 1 Các mẫu có biểu hiện hoạt tính (CS < 50%) sẽ được chọn ra để thử nghiệm tiếp để tìm giá trị IC50
Giá trị IC50 : Dùng giá trị CS của 10 thang nồng độ, dựa vào chương
trình Table curve theo thang giá trị logarit của đường cong phát triển tế bào và nồng độ chất thử để tính giá trị IC50 Công thức: 1/y=a+blnX
Trong đó Y: Nồng độ chất thử
X: Giá trị CS (%)
Ảnh Thử nghiệm gây độc tế bào trên phiến vi lượng
2.4.2.4 Nghiên cứu hàm lƣợng tinh dầu
Bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước có hồi lưu trong thiết bị Clevenger, phân tích chất lượng tinh dầu bằng phương pháp sắc ký khí (GC), sắc ký khối phổ (GC/MS) và cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)
Trang 14CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định
Chúng tôi đã tiến hành thử hoạt tính kháng vi sinh vật của 112 mẫu thực vật thu tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, các kết quả bước đầu (Bảng 1 ) cho thấy đã xác định được 78 loài có hoạt tính kháng vi sinh vật bao gồm:
– 49 loài thực vật có hoạt tính kháng vi khuẩn Gr (-), trong đó có 45
loài có hoạt tính kháng vi khuẩn E coli; 12 loài có hoạt tính kháng vi khuẩn P aeruginosa; 8 loài có hoạt tính kháng cả hai loài vi khuẩn trên, đó là các loài: Quisqualis indica; Derris elliptica; Melastoma sp.; Rhodomyrtus tomentosa; Passiflora foetida; Polygonum chinense; Mischocarpus poilanei; Lantana camara
– 58 loài có hoạt tính kháng vi khuẩn Gr (+), trong đó có 29 loài có
hoạt tính kháng vi khuẩn B subtillis; 50 loài kháng vi khuẩn S aureus; 21 loài kháng cả hai dòng vi khuẩn trên, đó là các loài: Rhus chinensis, Rhus succelanea, Desmos chinensis, Dregea volubilis, Streptocaulon juventas, Caesalpinia latisiliqua, Cassia alata, Peltophorum pterocarpum, Bischofia javanica, Croton tonkinensis, Homonoia riparia, Phyllathus reticulatus, Stephania sp., Rhodomyrtus tomentosa, Polygonum chinense, Euodia lepta, Glycosmis citrifolia, Stemona tuberosa, Symplocos sp., Lantana camara, Vitex quinata
– 26 loài có tác dụng với Nấm mốc, trong đó có 9 loài kháng ASP niger; 21 loài kháng F oxysporum; 4 loài kháng cả hai dòng nấm mốc trên là: Desmos chinensis, Anodendron manubriatum, Homonoia riparia, Helixanthera brevicalyx
– 31 loài có tác dụng với Nấm men; trong đó có 16 loài kháng C albicans; 27 loài kháng S cerevisiae; 12 loài kháng cả hai dòng nấm men trên là:
Trang 15Desmos chinensis, Marsdenia tonkinensis, Bixa orellana, Garcinia oligantha, Glochidion sp1, Glochidion sp2, Homonoia riparia, Rhodomyrtus tomentosa, Polygonum chinense, Pterospermum heterophyllum, Grewia paniculata
– 3 loài có hoạt tính rất mạnh kháng 7 trong số 8 vi sinh vật kiểm định
là Desmos chinensis; Homonoia riparia; Rhodomyrtus tomentosa
– Các mẫu có hoạt tính khá là Anodendron manubriatum, Dregea volubilis, Symplocos sp., Bridelia sp., Bischofia javanica, Marsdenia
tonkinensis, Peltophorum pterocarpum, Cassia alata, Rhus chinensis,
Melastoma sp., Bixa orellana, Lantana camara, Polygonum chinense, Passiflora foetida, Croton tonkinensis
Bảng 1 Kết quả hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định
Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC: g/ml)
Vi khuẩn Gr(-)
Trang 18Trong số mẫu thử hoạt tính, chúng tôi cũng đã xác định được 34 loài
không có hoạt tính: Uvaria sp.; Cardiospermum halicacabum; Memecylon edule; Acronychia pendunculata; Clerodendron cyrtophyllum; Rubus cochinchinensis; Streblus asper; Alangium chinensis; Engelhardia roxburghiana; Wrightia pubescens; Derris alborubra; Zanthoxylum sp.; Sageretia theezans; Costus speciosus; Clematis sp.; Jasminum sp.; Illigera sp.; Wendlandia tinctoria; Ailanthus sp.; Xylinabariopsis napeensis; Clausena excavata; Zanthoxylum rhetsa; Barringtonia sp.; Acanthus sp.; Aglaia sp.; Smilax sp.; Solanum sp.; Ficus heterophylla; Pothos repens; Morinda parvifolia; Markhamia stipulata; Uvaria rufa; Antidesma ghaesembilla; Fissistigma petelotii;
Trang 192 Alchornea trewioides 61,75 0,7 Có hoạt tính tốt
12 Clerodendrum cyrtophyllum 45,3 9,4 Hoạt tính yếu
15 Dicranopteris dichotoma 50,14 0,4 Có hoạt tính tốt
17 Engelhardia roxburghiana 30,9 3,3 Hoạt tính yếu
Trang 2019 Garcinia sp 35,2 0,2 Hoạt tính yếu
22 Hibiscus grewiaefolius 50,96 0,6 Có hoạt tính tốt
24 Macaranga trigonostemonoides 62,50 0,1 Có hoạt tính tốt
25 Marsdenia tonkinensis 41,3 7,5 Hoạt tính yếu
29 Rubus cochinchinensis 42,6 0,1 Hoạt tính yếu
36 Xylinabariopsis napeensis 42,8 6,1 Hoạt tính yếu
Trang 21hoạt tính chống oxy hoá yếu như: Acronychia pendunculata, Clerodendron cyrtophyllum, Desmos chinensis, Rubus cochinchinensis, Engelhardia roxburghiana, Gnetum montanum, Tinospora sinensis, Sageretia theezans, Dregea volubilis, Costus speciosus, Bridelia sp., Illigera sp., Wendlandia tinctoria, Ailanthus sp., Xylinabariopsis napeensis, Clausena excavata, Marsdenia tonkinensis, Streblus asper, Symplocos sp., Pellionia sp
36 loài không có hoạt tính: Allophylus macrodontus; Ampelopsis cantoniensis; Anodendron manubriatum; Antidesma ghaesembilla; Aporosa dioica; Atalantia roxburghiana; Barringtonia sp.; Cardiospermum halicacabum; Clematis sp.; Derris elliptica; Derris sp.; Glochidion sp1; Glochidion sp2; Glycosmis citrifolia; Helixanthera brevicalyx; Homonoia riparia; Jasminum sp.; Knema lenta; Lantana camara; Lygodium flexuosum; Markhamia stipulata; Mischocarpus poilanei; Morinda parvifolia; Passiflora foetia; Quisqualis indica; Stachytarpheta jamaicensis; Sterculia lanceolata; Streptocaulon juventas; Thunbegia grandiflora; Fissitigma petelotii; Uvaria sp.; Uvaria grandiflora; Viscum liquidambaricola; Vitex pinnata var ptilota; Wrightia pubescens
3.3 Thử hoạt tính gây độc tế bào
Bước đầu trong 21 mẫu thực vật thử hoạt tính, chúng tôi đã xác định được
5 mẫu có hoạt tính kháng 2 dòng tế bào ung thư biểu mô ở người và tế bào ung thư màng tử cung người Đây thực sự là những kết quả ban đầu khả quan về việc điều tra phát hiện nguồn thực vật có khả năng chống ung thư hiện nay, đặc biệt là việc đánh giá tiềm năng thực vật chữa ung thư của Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Bảng 3)
Trang 22Bảng 3 Thử hoạt tính gây độc tế bào – (Cytotoxicity)
S
Hoạt tính gây độc tế bào Ghi chú
Ghi chú: KB: Tế bào ung thư biểu mô người; FL: Tế bào ung thư màng
tử cung người
Trong 21 loài thử hoạt tính, chúng tôi đã xác định được những loài không
có hoạt tính gồm: Ardisia sp.; Saurauia tristyla; Anthocephalus cadamba; Acanthus sp.; Hedyotis capitellata; Gouania leptostachya; Iodes ovalis var vitiginea; Turpinia cochinchinensis; Aglaia sp.; Croton tiglium; Phyllanthus emblica; Aporosa sp.; Daphniphyllum calycinum; Euodia lepta; Embelia ribes; Abroma angusta; Micromelum sp
Trang 233.4 Nguồn thực vật có tinh dầu tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
Sau đây là kết quả nghiên cứu về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh và kết quả phân tích định tính và định lượng của một số loài trong số nói trên
1 Annonaceae – Họ Na
1 Hoa dẻ (Desmos chinensis L.)
Hàm lượng tinh dầu trong hoa đạt 0,15 % theo nguyên liệu khô không khí Thành phần hóa học của tinh dầu gồm các thành phần chính sau: β- caryophyllen (28,9%), bicyclogermacren (11,5%), D germacren (7,2%), α- humulen (7,2%)
2 Araceae – Họ Ráy
2 Thủy xương bồ (Acorus gramineus Soland.)
Hàm lượng tinh dầu trong thân rễ đạt 0,22 theo nguyên liệu khô không khí Thành phần hóa học của tinh dầu gồm β-asarol (54,5%), acorenon (11,1%), 3,4 dihydrofuran(8,3%)
3 Thiên niên kiện (Homalomena occulta (Lour) Schott )
Cây bị khái thức quá mức, hiện tại còn lại không đáng kể Cần có biện pháp bảo vệ và phát triển cây này trong khu vực nghiên cứu
3 Araliaceae – Họ Ngũ gia bì
4 Chân chim, Đáng ( Schefflera octophylla (Lour.) Harm.)
Hàm lượng timnh dầu đạt 0,04% theo nguyên liệu khô không khí
5 Đu đủ rừng (Trevesia palmata (Roxb.) Visiani.)
4 Asteraceae – Họ Cúc
6 Thanh hao hoa vàng (Astemisia annua L )
Hàm lượng tinh đầu trong cành mang lá và hoa đạt 0,26 theo nguyên liệu khô không khí Thành phần hóa học của tinh dầu đang được phân tích