Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội và xu thế toàn cầu hóa đã sản sinh ra các giá trị hiện đại, tạo cho sự phát triển của nền văn hóa, mặt khác nó cũng là thách thức đối với bản
Trang 1Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa Sinh KTNN
*****************
TRƯƠNG THị HạNH
BảO TồN Và PHáT HUY GIá TRị
VĂN HóA - LịCH Sử CủA Lễ HộI
LồNG TồNG (XUốNG ĐồNG) CủA
NGƯờI TàY, Xã LAM SƠN, HUYệN
NA Rì, TỉNH BắC KạN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Sinh thái học
Người hướng dẫn khoa học
TS Hoàng Nguyễn Bình
Hà Nội - 2011
Trang 2MỞ ĐẦU
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng và phổ biến ở các tộc
người, các quốc gia Đây là sinh hoạt đặc thù tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử
điều kiện xã hội địa lí và quá trình tiến triển từng tộc người, từng quốc gia
Cho nên lễ hội nào cũng mang bản sắc của dân tộc ấy Theo nghiên cứu của
các nhà văn hóa dân gian Việt Nam các lễ hội được tổ chức trải dài khắp đất
nước trong bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông Nhưng phổ biến nhất là vào
mùa Xuân và mùa Thu Bởi đó là mùa khởi đầu cho một năm sinh sôi nảy nở
Giữa tiết trời ấm áp lòng người phơi phới rủ nhau đi hội cầu mong năm mới
ấm no hạnh phúc
Từ xa xưa, lễ hội đã trở thành một sinh hoạt văn hóa quen thuộc đối với
người dân Việt Nam và cho đến nay lễ hội vẫn tồn tại như nó vốn có Đó là
nhu cầu của mỗi người dân tạo nên sức sống mạnh mẽ qua hàng ngàn năm
lịch sử
Ngày nay, cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế xã hội
theo hướng ngày càng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Các lễ hội
truyền thống vì thế cũng biến đổi theo Bên cạnh những tác động tích cực thì
cũng có những tác động tiêu cực làm cho truyền thống lễ hội phần nào bị ảnh
hưởng Vì vậy, để lễ hội vừa đáp ứng được nhu cầu tâm linh vừa giữ được
những giá trị vốn có đang trở thành vấn đề cấp thiết
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc
Phía Nam giáp Thái Nguyên, phía Bắc giáp Cao Bằng, phía Đông giáp Lạng
Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang Diện tích toàn tỉnh là 485721 ha gồm 7
huyện và một thị xã với 122 xã phường thị trấn Dân số năm 2003 là 300000
Trang 3người Bắc Kạn nằm trên tuyến quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng Đây là
trục quốc lộ quan trọng vùng Đông Bắc Đồng thời nằm giữa các tỉnh có tiềm
năng kinh tế lớn Là một tỉnh miền núi có trên 80% là đồng bào dân tộc thiểu
số trong đó dân tộc Tày chiếm 54,3% mà nền sản xuất nông nghiệp chiếm vai
trò chủ đạo Chính vì vậy lễ hội Lồng Tồng mang sắc thái văn hóa đậm đà bản
sắc dân tộc Trong một năm có 12 tháng thì người Tày ở Bắc Kạn hầu như
tháng nào cũng có ngày "ăn tết” nhưng tháng có ngày ăn chơi gần như với ý
nghĩa của hội thì chỉ có tháng giêng Đây là lễ hội đặc trưng của dân tộc Tày
Qua lễ hội nhằm giáo dục thế hệ trẻ lòng biết ơn tổ tiên, nhớ cội nguồn,
coi trọng sản xuất nông nghiệp Đặc biệt là trồng lúa nước Thông qua lễ hội
phản ánh được giá trị hiện thực, thế hiện được nhu cầu không thể thiếu trong
đời sống tinh thần Thỏa mãn được nhu cầu tâm linh, coi trọng nông nghiệp,
khuyến khích nông nghiệp
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội và xu thế toàn cầu hóa đã
sản sinh ra các giá trị hiện đại, tạo cho sự phát triển của nền văn hóa, mặt
khác nó cũng là thách thức đối với bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, trong đó
dân tộc Tày với lễ hội Lồng Tồng Do công tác bảo tồn chưa được chú trọng
cho nên quá trình diễn ra lễ hội trong những năm gần đây không còn giữ được
những sắc thái giá trị xưa Vì vậy lễ hội Lồng Tồng có nguy cơ mất dần
những giá trị xưa Sự mai một đó làm ảnh hưởng đến sự đa dạng, thống nhất
và độc đáo của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam
Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc càng làm phong
phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Do đó việc bảo vệ và
nghiên cứu các yếu tố văn hóa của dân tộc nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa và
đa dạng văn hóa ở Việt Nam là cần thiết và phù hợp với tinh thần nghị quyết
ban chấp hành trung ương lần thứ 9 khóa X của Đảng: Phải nghiên cứu bảo
tồn những di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc ít người ở Việt Nam
Trang 4Nhận thức được điều đó bằng sự trân trọng những nét đẹp văn hóa
truyền thống của dân tộc tôi đã chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa - lịch sử của lễ hội Lồng Tồng (Xuống Đồng) của người Tày, xã Lam
Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển lễ hội Lồng Tồng ở xã Lam
Sơn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn
Nghiên cứu đặc điểm lễ hội hiện nay
Từ những nghiên cứu trên cần tìm ra giá trị văn hóa lịch sử cần bảo tồn
và các hủ tục cần loại bỏ Sau đó tìm ra các giải pháp phục hồi
3 Điểm mới của đề tài
Đề tài không chỉ nghiên cứu đặc điểm riêng của lễ hội Lồng Tồng ở xã
Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn mà còn mở rộng ra đặc điểm chung của
lễ hội Lồng Tồng của người Tày trong cả nước Từ đó, tìm ra các phần cần
bảo tồn phát huy và loại bỏ các hủ tục Mặt khác lễ hội Lồng Tồng không chỉ
diễn ra ở miền núi mà còn được diễn ra ở đồng bằng Như vậy cần nghiên cứu
để so sánh sự giống và khác nhau của từng vùng miền
4 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp rất phát triển trong đó người
Tày tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng Chính vì vậy tôi
chọn đề tài này nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa và giá trị tinh thần của một lễ hội
coi trọng nông nghiệp, khuyến khích nông nghiệp Ngoài ra việc giữ gìn bản
sắc dân tộc, khắc sâu dân tộc, giáo dục lòng yêu nước, cố kết cộng đồng cùng
với những giá trị tinh thần cả người dân đang trở nên cấp thiết
5 Ý nghĩa của đề tài
Ngày nay trong thời đại thông tin khoa học công nghệ Đặc biệt là công
cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự gia tăng sinh hoạt
Trang 5văn hóa lễ hội là vấn đề được quan tâm bức xúc trong nhiều ngành, cấp khác
nhau Do đó nghiên cứu lễ hội sẽ góp phần cung cấp những cơ sở khoa học
góp phần giúp ngành văn hóa thông tin và chính quyền quản lí bảo tồn, khai
thác, kế thừa và phát huy những giá trị tinh hoa của văn hóa truyền thống dân
tộc
Lễ hội Lồng Tồng nhằm mục đích giáo dục nét truyền thống văn hóa
-lịch sử là cầu nối giữa hiện tại và tương lai Thông qua lễ hội các dòng họ
trong làng trong xã giao lưu với nhau Nhờ đó thể hiện được sức mạnh cộng
đồng, mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Ngoài ra qua lễ hội nhắc nhở
mọi thành viên có những bài học đạo lí của ông cha về lịch sử của làng bằng
tinh thần lạc quan yêu lao động Nhắc nhở mọi thành viên có bổn phận và
trách nhiệm với tổ tiên và sống sao cho xứng đáng với ông bà, dòng họ Mặt
khác thông qua lễ hội thỏa mãn nhu cầu tâm linh, phù hộ cho cuộc sống bình
an, cây trồng bội thu với lòng ngưỡng mộ chân thành
Trang 6CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược lịch sử lễ hội Lồng Tồng (Xuống Đồng) ở Việt Nam và các
nước Đông Nam Á
Từ ngàn đời nay hình ảnh cây lúa nước, những cánh đồng bát ngát đã đi
sâu vào tiềm thức của nhân dân ta Hình ảnh con trâu cái cày cùng với người
nông dân trên những thửa ruộng trở nên gần gũi quen thuộc Ở một nước mà
nền nông nghiệp trồng lúa nước có vị trí quan trọng như ở nước ta thì việc tôn
vinh cây lúa, tôn vinh đất đai, nông cụ và công việc là đương nhiên Cho nên,
ngày tết có lễ tế thần( thần lúa, thần đất, thần nông cụ) lễ mở đường cày năm
mới Rồi đến việc đưa những món ăn bằng thóc gạo đặc biệt là gạo nếp vào
mâm cỗ cúng thần linh, tổ tiên trong dịp lễ cũng không ngoài mục đích cầu
mong cho cây lúa, cho mùa màng
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh “Hạ Điền” là lễ cúng Thần
Nông những ngày đầu năm mới để bắt đầu công việc nhà nông Dân gian
thường gọi là lễ “Xuống Đồng” hoặc “Ra Đồng” Mỗi dân tộc đều có tên gọi
riêng đó là lễ “Tịch Điền’ của người Kinh, “Róng pọoc” của người Giáy,…
và còn có ở người Mường, người Thái Tất cả đều gồm hai phần là phần lễ và
phần hội
Lê Đại Hành tên húy là Lê Hoàn (941-1006) là vị vua đâu tiên của nhà
Tiền Lê trị vì 980-1005 Đây là vị vua rât chăm lo đến nền sản xuất nông
nghiệp Sử cũ có ghi rõ: “ Đinh Hợi,( Thiên Phúc) năm đó thứ 8 (987), (Tống
Ung Huy năm thứ 4) Vua lần đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi được một hũ
nhỏ vàng Lại cày ở núi Bàn Hải, được một hũ nhỏ bạc, nhân đó đặt tên là
ruộng Kim Ngân” [1]
Sau đó đến thời Lý Trần các lễ hội này được tổ chức long trọng hơn và
là một trong những lễ hội chính được tổ chức vào mùa xuân
Trang 7Vào thời Lý vua Lý Thái Tông là người rất chăm lo đến nền nông
nghiệp nước nhà Ông đã nhiều lần tự mình xuống cày Sử cũ có ghi rõ :
“Mùa đông, tháng 10, được mùa to Ngày 14, vua thân ra ruộng ở Điểu Lộ
xem gặt, nhân đổi tên cánh đồng ấy gọi là ruộng Vĩnh Hưng”.[2]
Và: “Mùa hạ, tháng 4, ngày mùng 1, vua ngự đến Tín Hương ở Đỗ
Động giang cày ruộng tịch điền, có nhà nông dâng một cây lúa chín có chín
bông thóc Xuống chiếu gọi ruộng ấy là ruộng Ứng Thiên” [3]
Mậu Dần, (Thông Thụy) năm thứ 5(1038), (Tống Bảo Nguyên năm thứ
1) Mùa xuân tháng 2, vua ngự ra Bố Hải cày ruộng tịch điền Sai Hũy ti dọn
cỏ đắp đàn Vua thân tế Thần Nông, tế xong tự cầm cày để làm lễ tự cày Các
quan tả hữu có người can rằng: “Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm
thế?” Vua nói: “Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lại lấy gì cho
thiên hạ noi theo?” Nói xong đẩy cày ba lần rồi thôi Tháng 3, vua về Kinh
Sử Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thái Tông khôi phục lễ cổ, tự mình cày ruộng
tịch điền để noi gương cho thiên hạ trên để cúng tôn miếu, dưới để nuôi muôn
dân, công hiệu trị nước dẫn đến dân đông, của giàu, nên thay ! ”[4]
Vậy từ nhận định trên chứng tỏ rằng các triều đại vua rất coi trọng nghề
nông: “dĩ nông vi bản” và “dân vi bản ”có nghĩa là dân là trọng nhất và lấy
nghề nông làm gốc thì mới có cuộc sống no đủ, đất nước giàu mạnh hưng
thịnh Thể hiện sự quan tâm của vua với nông dân phát huy sức mạnh của
nhân dân Lời nói phải đi đôi với việc làm Hành động vua cầm cày đầu năm
mới thể hiện được là vua gần dân chứ không đơn thuần là xuống chiếu
khuyến dụ, hô hào cổ vũ nhân dân Những vị vua này không chỉ có công giữ
vững kỉ cương phép nước, đất nước vững vàng kinh tế phát triển còn tạo nên
lễ hội tốt đẹp Kể từ đó lễ Tịch Điền thành một hỷ tục Các triều đại Lý, Trần,
Hậu Lê, Nguyễn đều thực hiện một cách thành kính trang nghiêm
Trang 8Ở Hà Nam sau một thời gian gián đoạn từ năm 2009 phong tục tốt đẹp
này đã được phục dựng lại Đến năm 2010 lần đầu tiên chủ tịch nước Nguyễn
Minh Triết mặc áo nông dân cầm cày thực hiện nghi lễ ở Đọi Sơn huyện Duy
Tiên tỉnh Hà Nam Điều này chứng tỏ Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến nền nông nghiệp nước nhà Luôn chú trọng đến tam nông: nông nghiệp,
nông dân, nông thôn Tuyên truyền giáo dục tầng lớp nhân dân lòng biết ơn
các tiền nhân, tích cực sản xuất nông nghiệp Vì thế phát huy truyền thống lao
động, phát triển kinh tế trên đất quê hương
Trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử Đất nước ta lâm vào hoàn
cảnh thuộc địa do thực dân Pháp cai trị và xảy ra cuộc kháng chiến chống đế
quốc Mỹ Nhân dân ta phải đứng lên giành độc lập tự do cho nước nhà Do đó
các hoạt động lễ hội dường như phải dừng lại Cho đến khi đất nước hòa bình
thống nhất nước nhà Lễ hội Xuống Đồng được phục dựng lại theo nghi lễ
truyền thống và cho đến nay đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa không thể
thiếu khi mùa xuân đến Đó là đối với lễ hội Xuống Đồng ở Việt Nam nói
riêng
Đối với các nước Đông Nam Á nơi có nền sản xuất nông nghiệp chiếm
tỉ lệ lớn trong nền kinh tế thì lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc Ở Trung Quốc
có lễ Tịch Điền Ở Thái Lan có căp trâu thần, trâu trắng riêng để đi cày Trong
phần lễ cho một chậu nước và rượu và xem trâu uống nước hay uống rượu
trước để đoán xem năm đó như thế nào Điều này chứng tỏ nền nông nghiệp
rất được coi trọng thông qua lễ hội nhằm mục đích khuyến khích sản xuất
nông nghiệp Là nét đẹp văn hóa trở về nguồn cội
1.2 Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày ở Việt Nam
“Áo em thêu chỉ biếc hồng Mùa xuân ngày hội Lồng Tồng thêm vui”
Trang 9Hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu đưa đến một lễ hội mang đậm sắc thái
văn hóa dân tộc người Tày ở nước ta Người Tày là dân tộc thiểu số đông nhất
trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, cư trú ở hầu hết khắp các tỉnh miền
núi và trung du Bắc Bộ, từ tả ngạn sông Hồng đến vịnh Bắc Bộ: Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái,… Ngày nay còn có
bộ phận người Tày sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Tây
Nguyên Họ sống tập trung ở các lưu vực sông Bằng, sông Kỳ Cùng, sông
Gâm, sông Lô, sông Chảy, sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam… Đồng
bào ở thành từng bản, bản trung bình có từ mười đến mười lăm nóc nhà, bản
to có trên dưới tám mươi nóc nhà Họ có tiếng nói, chữ viết có nền văn hóa
văn nghệ mang bản sắc dân tộc Họ sống quần cư thành bản làng bảo tồn
được nền văn hóa với bản sắc riêng Nghề nghiệp chủ yếu là trồng lúa nước
Môi trường sống khép kín, quanh năm người dân thường bị khuôn chặt vào
hai địa bàn là làng bản và nương rẫy Do đó đồng bào luôn khao khát có cuộc
sống sôi động khác thường Lễ hội đáp ứng được nhu cầu này: Đó là giải
phóng xung cảm bị kìm hãm trong đời sống đơn điệu, đảm bảo cân bằng về
mặt tâm lý và tạo khả năng tái sáng tạo của con người Vì vậy sau một năm
làm việc vất vả mùa xuân là thời điểm vui chơi sinh hoạt văn hóa Hình ảnh
con trâu, cây lúa đã đi vào ca dao, tục ngữ:
“Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Thể hiện được vất vả khó nhọc của người nông dân Hoặc có thể là
hình ảnh người nông dân là bạn với trâu:
“Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài đồng trâu cày với ta Cấy cày giữ nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Trang 10Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”
Từ những câu tục ngữ trên chứng tỏ rằng nguồn gốc của lễ hội phải
xuất phát từ nền sản xuất nông nghiệp ở đại đa số các tỉnh phía Bắc nơi có
đồng bào Tày sinh sống đều diễn ra lễ hội Lồng Tồng Tuy nhiên dù ở đâu thì
đều được chia làm hai phần là phần lễ và phần hội
Phần lễ: Gồm có đám rước và lễ tế thần Sau đó là cày ruộng Đám
rước là các mâm cỗ và lễ tế thần là lễ tế thần Nông, thần Mưa, thần Gió, thần
Thổ Địa gồm các mâm lễ được đặt trang trọng Dù trời mưa hay trời nắng thì
lễ cúng vẫn được diễn ra một cách chi tiết và cụ thể Mâm lễ cúng gồm có thủ
lợn, gà trống luộc, rượu, bánh chưng, trứng gà nhuộm đỏ, xôi ngũ sắc và các
sản vật địa phương Sau khi mâm cúng được hoàn tất thì diễn ra lễ cúng: Thầy
cúng đọc các bài cúng thực hiện các nghi thức tạ thiên địa, cầu thần Nông,
thần Suối, thần Thổ Địa… Đây là những vị thần bảo vệ mùa màng, sức khỏe,
sự bình yên cho dân làng Báo cáo thành tích sau môt năm làm việc vất vả và
cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, không bị quỷ thần quấy phá Sau lễ
cúng thần linh là lễ cày ruộng Người được chọn cầm cày phải là người lao
động giỏi, phải có uy tín trong làng xã Con trâu được chọn đi cày phải khỏe
mạnh cày bừa tốt Sau những đường cày đầu tiên thì sẽ có hai người theo sau
để gieo hạt giống
Phần hội: Sau tiếng trống khai hội là màn múa lân, ném còn, đẩy gậy,
chọi gà, hát then… Tùy địa phương khác nhau mà trong phần hội mang sắc
thái của địa phương ấy
1.3 Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày ở xã Lam Sơn huyện Na Rì tỉnh
Bắc Kạn
Huyện Na Rì nằm ở hướng đông tỉnh Bắc Kạn Phía Bắc giáp Ngân
Sơn, phía Tây giáp Bạch Thông và Chợ Mới, phía Nam giáp Võ Nhai tỉnh
Thái Nguyên, phía Đông giáp Bình Gia và Tràng Định tỉnh Lạng Sơn Là một
huyện có địa hình vùng núi cao giao thông đi lại khó khăn, có hơn 80% là
Trang 11đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong đó nền kinh tế chính là sản xuất
nông nghiệp mà trồng lúa nước chiếm số lượng lớn nhất
Xã Lam Sơn thuộc huyện Na Rì là một xã vùng cao có bốn dân tộc sinh
sống là Tày, Nùng, Kinh, Dao Trong đó dân tộc Tày chiếm số lượng lớn
nhất Xã gồm mười thôn nằm rải rác bên các sườn đồi và con đường liên
huyện Vì vậy lễ hội mang đậm đà bản sắc địa phương
Lễ hội Lồng Tồng có từ ngày xưa, chưa có tài liệu nào nghiên cứu nói
chính xác thời điểm đầu tiên xuất hiện lễ hội Nhưng cho đến khi đất nước ta
chịu ách thống trị của thực dân Pháp và xảy ra cuộc chiến tranh kháng chiến
chống Mỹ thì lễ hội không hoạt động trong một khoảng thời gian dài Cho đến
năm 1999 thực hiện nghị quyết Trung Ương V lễ hội Lồng Tồng được duy trì
và tổ chức vào một ngày nhất định trong tháng giêng Trải qua một thời gian
dài ngừng tổ chức trong những năm diễn ra lễ hội đều nhận được sự ủng hộ
nhiệt tình của đông đảo bà con nhân dân và khách thập phương Cho đến năm
2003 vụ Văn hóa dân tộc thiểu số - sở Văn hóa thông tin và thể thao tỉnh Bắc
Kạn kết hợp với xã Lam Sơn tổ chức nhằm phục dựng lại các nghi lễ truyền
thống và các trò chơi dân gian đã bị mai một do một số nguyên nhân khách
quan và chủ quan mang lại Và cho đến nay lễ hội được tổ chức hàng năm vào
ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch tại bản Pjoo Cùng với sự phát triển của đất
nước qua thời gian và biến cố của lịch sử lễ hội vẫn tồn tại và phát triển Điều
này chứng tỏ sức ảnh hưởng rất lớn mà lễ hội đem lại
1.4 Các giá trị văn hóa – lịch sử cần bảo tồn hoặc cần lược bỏ là nội dung
nghiên cứu đề ra
Khi đời sống kinh tế, xã hội, dân trí của người dân ngày càng phát triển
thì nhu cầu của con người không chỉ dừng lại ở mức ăn mặc, đi lại thông
thường mà còn có cả những nhu cầu vui chơi giả trí thưởng thức những cái
đẹp, thư giãn tinh thần, nâng cao hiểu biết xã hội Lễ hội chính là một hoạt
động giúp con người thỏa mãn nhu cầu đó Lễ hội Lồng Tồng là sinh hoạt văn
hóa người Tày Lễ hội đến với mọi người phần nào thỏa mãn được nhu cầu
Trang 12sinh hoạt văn hóa tâm linh cũng như là nơi giao lưu giữa các dòng họ, các dân
tộc với nhau Chính vì thế lễ hội rất gần gũi tồn tại không chỉ đối với nhiều
thế hệ người Tày xưa kia mà cho đến nay vẫn còn hiện diện Điều đó chứng tỏ
lễ hội có sức sống bên trong và sự biến đổi thích nghi để tồn tại
Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ các giá trị văn hóa-
lịch sử cần được bảo tồn hay cần phải lược bỏ và tìm ra hướng khắc phục
những hủ tục lạc hậu trong khi diễn ra lễ hội
Trang 13CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, THỜI GIAN
NGHIÊN CỨU, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra trực tiếp tại nơi nghiên cứu: quan sát và tổng kết từ thực tiễn
nơi diễn ra lễ hội
Phân tích, so sánh, tổng hợp để nghiên cứu đặc điểm lễ hội Các nguồn
tư liệu, số liệu về thực trạng lễ hội Lồng Tồng hiện nay không chỉ diễn ra ở
Bắc Kạn nói riêng mà ở người Tày của nước ta nói chung Sau đó xử lí số liệu
thu được
Phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn ban tổ chức lễ hội, phỏng vấn các
vị cao tuổi ở địa phương và khách dự hội và phỏng vấn người dân tham gia lễ
hội
2.2 Thời gian nghiên cứu
Lễ hội Lồng Tồng ở xã Lam Sơn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn Được tổ
chức vào ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch hàng năm
Thời gian nghiên cứu từ tháng II - 2010 đến tháng IV - 2011
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Nơi diễn ra lễ hội là những thửa ruộng bậc thang của bản Pjoo xã Lam
Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Trang 14CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Các nghi lễ trong lễ hội Lồng Tồng
3.1.1 Các nghi lễ trong lễ hội Lồng Tồng xưa
Trong phần lễ truyền thống của Lồng Tồng gồm có các phần: Lễ rước
cỗ, lễ tế thần, cày ruộng gieo vãi hạt giống
Lễ hội Lồng Tồng ở Lam Sơn được tổ chức ở cánh đồng bản Pjoo Cho
nên những thửa ruộng đó được sự quản lý của làng xã Chủ của cánh đồng
không được để nước vào hoặc làm bất cứ việc gì có thể cản trở đến tổ chức lễ
hội Từ vài ngày trước hội, các cụ cao niên trong xã đã tổ chức họp bàn, phân
công công việc chuẩn bị cho ngày hội Cánh trai trẻ thì chuẩn bị trang phục,
giầy dép, các thiếu nữ thì ríu rít rủ nhau ngồi khâu còn, đan yến (để đá cầu) và
làm bánh trái phục vụ lễ hội… Buổi sớm ngày hội, bên bếp lửa hồng, các gia
đình người Tày thổi xôi, luộc thịt, sắp xếp hương hoa, bánh trái, chuẩn bị lễ
vật cẩn thận trước khi mang ra đồng góp lễ Từ 6 giờ sáng, trên khắp các ngả
đường, từng tốp nam nữ í ới gọi nhau đi dự hội, khiến cho vùng rừng núi
thường ngày vốn yên bình bỗng trở nên nhộn nhịp trước không khí tưng
bừng, vui vẻ của ngày hội Địa điểm tổ chức hội thường ở giữa cánh đồng hay
trên một bãi đất rộng
Thời gian chuẩn bị cho phần lễ diễn ra từ tuần trước Phần lễ được diễn
ra long trọng Lễ rước cỗ mở đầu cho lễ hội Lồng Tồng diễn ra tại khu đất
trống ở bản Pjoo xã Lam Sơn khiến người ta nghĩ đến lễ dâng bánh chưng
bánh dày của Lang Liêu thủa trước Trang trọng và đầy ắp hương xuân, mỗi
mâm cỗ là một tác phẩm nghệ thuật của nấu nướng và sắp đặt Chỉ với một
loại nếp nương, người dân Na Rì đã chế biến được 8-10 món bánh trên mâm
cỗ, từ bánh dày, bánh chưng, xôi mật, xôi ngũ sắc Đến các loại bánh phỏng
nhào mật đủ cả vuông, tròn, sao năm cánh v.v Rồi chuối, dứa, và các loại
Trang 15hoa rừng, mùa nào thức đấy, mâm cỗ đầu xuân của ngày hội xuống đồng cũng
là mâm cỗ đủ cả sản vật của 12 tháng với ước mong về một sự no đủ để lễ tế
thần Nông, thần Mưa, thần Gió, thần Thổ Địa Các mâm lễ được đặt vào các
bàn trên những thửa ruộng bằng phẳng nhất Dù trời mưa hay trời nắng thì lễ
cúng vẫn diễn ra Mâm lễ cúng gồm thịt trâu, rượu, bánh chưng, trứng gà luộc
nhuộm đỏ, xôi ngũ sắc, bánh dày, cơm trắng và chén nước chè Mỗi thôn sẽ
có một mâm cỗ với hầu hết các sản vật của địa phương
Nghi thức tổ chức lễ cúng các vị thần Họ là những hiện tượng thiên
nhiên như mưa, gió, nắng, họ là những dòng suối, ngọn núi, hòn đá, cây rừng,
là những con vật hay bất kỳ cái gì đó ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của
những người dân chất phát Đây không phải là sự mê tín dị đoan đối với
những người dân khi họ chưa có đủ trình độ khoa học nhất định Ở một góc
độ nào đó chính là sự sống hòa mình với thiên nhiên, tôn trọng thiên nhiên và
biến mình thành bộ phận của thiên nhiên chứ không hoàn toàn áp đặt chinh
phục, phá hoại thiên nhiên một cách vô tội vạ Đồng bào Tày quan niệm: có
một vị thần cai quản việc đồng ruộng và chăn nuôi của nhà nông Đó là thần
Nông Theo truyền thuyết thần Nông là người dạy dân nghề làm ruộng chế ra
cày bừa Năm nào mất mùa lúa bị sâu cắn phá đó là thần Nông quở phạt vì
thờ không tốt Vì vậy phải có lễ cúng thần Đây là một nghi lễ thiêng liêng
cầu cho năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, gia súc gia cầm sinh
sôi nảy nở Tế thần Nông về bài bản tế cũng giống như tế thành hoàng làng,
nghĩa là có chủ tế, đông tây xướng đọc chúc bồi tế, có chiêng trống, nhạc bát
âm Sau cùng là phụ lão chức sắc trong làng và mười bốn ông trưởng giáp đều
vào làm lễ
Điều giá trị nhất ở đây là người xưa xác định vị trí vua thần Nông ở
phía Tây Nam bầu trời cho nên đều xoay theo trục Đông Bắc Tây Nam Khi tế
lễ người hành lễ hướng về phía Tây Nam Vị trí đó là nơi xuất hiện chòm sao
Trang 16thần Nông hình người đội nón cúi lom khom Chòm sao này vào đêm rằm
tháng tám âm lịch có thể trắc nghiệm vụ lúa chiêm Nếu sao sáng tỏ hình ông
thần Nông rõ ràng thì được mùa, nếu sao mờ hình thần Nông không hiện rõ
thì vụ lúa đó sút kém
Do hiện tượng này người ta thờ chòm sao thần Nông để cầu mùa màng
tươi tốt
Đầu tiên người cúng là trưởng họ hoặc thầy cúng có uy tín trong làng
xã đứng ra cúng khấn tạ ơn trời đất thần linh phù hộ cho dân bản Văn cúng
dùng để tế thần thánh là những lời thiêng liêng nhất sâu kín nhất của cộng
đồng Nó chỉ được thể hiện trang trọng vào dịp lễ thần linh khi làng tổ chức
hội
Người chủ cúng đại diện dân làng cúng thần, ngoài những hành động
cúng thì lời còn là phương tiện truyền tải mong muốn, những suy tư của cộng
đồng tới thần thánh mong thần thánh cảm thông giúp đỡ dân làng trong sản
xuất bằng sự chân thành nhất và chân thật nhất trước thần linh mà dân làng
đặt ở đấy mọi niềm tin tưởng
Nội dung của văn cúng thường kể niên hiệu tức ngày tháng năm dân
làng mở hội cúng thần Chủ tế tên gì kính dâng lễ vật( kể tên các lễ vật) dâng
lên thần Nông, thần Mưa, thần Thổ Địa,… Nhân ngày mở hội cầu xin các vị
thần linh nhận lễ vật của dân làng và phù hộ cho dân làng mạnh khỏe an
khang thịnh vượng mùa màng bội thu,… Để dân làng nối tiếp nhau phụng sự
ngài, bởi ngài là vị thần anh minh trong sáng hùng dũng toàn tài,… Nói chung
là ca ngợi công đức vị thần được dân làng thờ phụng Sau đó vảy nước xung
quanh ngụ ý ban mưa sau cùng là gieo quẻ xin âm dương Sau nghi lễ cúng
thần là đến lễ cày ruộng Người được chọn cầm cày phải là người có uy tín
trong dòng họ, có công với làng, là một người lao động sản xuất giỏi và có
sức khỏe Con trâu được chọn đi cày phải đẹp, thuần thục việc cày bừa và làm
Trang 17việc chăm chỉ suốt một năm qua Sau những đường cày đầu tiên thì có hai
người theo sau gieo vãi hạt giống và sản phẩm của năm nay sẽ được dành cho
năm sau làm lễ
Thực chất của việc đi cày đầu năm không chỉ diễn tả lại truyền thuyết
vua đi cày trong lễ Tịch Điền của người Kinh mà nước ta coi trọng sản xuất
nông nghiệp, khuyến khích nông nghiệp Chính vì vậy ngày xuân tổ chức đi
cày nhằm mục đích thi đua lao động sản xuất
3.1.2 Các nghi lễ trong lễ hội Lồng Tồng ngày nay
Từ năm 1999 thực hiện nghị quyết Trung Ương V lễ hội Lồng Tồng
được duy trì đến nay Được sự quan tâm của tỉnh ủy năm 2003 tại xã Lam
Sơn đã diễn ra lễ phục dựng lại lễ hội Lồng Tồng với sự phối hợp của sở Văn
hóa thông tin truyền thông tỉnh Bắc Kạn và xã Lam Sơn kết hợp tổ chức
Nghi lễ gồm có lễ rước cỗ, lễ khấn thần, thắp hương cầu lộc và cày ruộng
Đầu tiên là lễ rước cỗ Các mâm lễ được hai người con trai nâng ngang vai đi
thành hai hàng dọc tiến vào lễ hội Đây là sự khác biệt lớn so với lễ Tịch Điền
của người Kinh là các mâm lễ được đội lên trên đầu Các mâm cỗ gồm có thủ
lợn, gà trống thiến, xôi ngũ sắc, cơm trắng Sau khi các mâm lễ được đặt ở
những vị trí trang trọng nhất thì diễn ra lễ khấn thần Người đại diện đứng ra
khấn là trưởng họ Nội dung khấn gồm thực hiện các nghi thức tạ thiên địa,
cầu thần Nông, thần Suối,… Đây là những vị thần bảo vệ mùa màng, sức
khỏe, sự bình yên cho dân làng Báo cáo thành tích lao động sau một năm và
cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa để tiếp tục sản xuất Sau khi cúng
xong thì vảy nước xung quanh ngụ ý ban mưa Sau đó xin âm dương Sau khi
khấn xong thì cho mọi người thắp hương cầu lộc Đây là một nét mới của lễ
hội Mọi người tham gia thắp hương và có thể đặt tiền vào bát hương Điều
này thể hiện tấm lòng thành kính trước tổ tiên, các vị thần linh bảo vệ che
chở
Trang 18Sau khi khấn thần linh xong là đến lễ mang trâu đi cày, lễ này tái hiện
lại phong tục xưa kia Nhắc nhở truyền thống của một nước lấy nền sản xuất
nông nghiệp làm trọng “Con trâu là đầu cơ nghiệp” chứng tỏ được vai trò to
lớn của con trâu đối với nền sản xuất nông nghiệp Ngày nay khoa học kĩ
thuật phát triển người nông dân đã biết sử dụng các thành tựu của nền công
nghiệp hiện đại với những chiếc máy cày, máy gặt, máy cấy nhưng vai trò của
con trâu vẫn còn Người được vinh dự cầm cày là một người có uy tín trong
làng sản xuất giỏi và có công đóng góp cho sự phát triển của làng xã Những
con trâu được chọn đi cày khỏe mạnh con trâu được chọn xuống đồng trong
ngày khai hội cũng được tết nơ hồng, nơ đỏ vào đuôi, vào sừng, những chiếc
cày, chiếc bừa gắn tua rua, cắm cờ đỏ khiến mảnh ruộng cạnh khu lễ hội cũng
rực lên một sắc mới Thửa ruộng được chọn phải bằng phẳng và đẹp về thẩm
mĩ
3.1.3 Đánh giá
Lễ hội Lồng Tồng xưa và nay đều nhằm mục đích tỏ lòng thành kính
với thần Nông và các bậc tiền nhân Trong phần lễ đều có các nghi thức sau:
Đó là rước cỗ, cúng thần, thắp hương cầu lộc và trâu cày ruộng đầu năm mới
Nhưng sắc thái của ngày xưa khác với sắc thái của ngày hôm nay Trong phần
lễ đã có sự giản lược đi rât nhiều từ khâu chuẩn bị cho tới tiến hành nghi lễ
Nhờ đó nhằm tái hiện lại sự vất vả khó nhọc của người nông dân giữa cái
nắng oi ả của ngày hè để làm ra hạt lúa vàng Trong những năm đầu tiên phục
dựng lại thì chưa có phần lễ trâu cày ruộng đầu năm Giải thích cho việc tái
hiện lại các phần lễ truyền thống đó chính là Lam Sơn là một xã nông nghiệp
Trong đó người Tày chiếm số lượng đông nhất Nghề trồng lúa nước là chủ
yếu Mặt khác theo phong tục ngày tết của nước ta là thờ cúng tổ tiên ông bà
thì những ngày sau tết là mở hội
Trang 193.2 Các phần hội trong lễ hội Lồng Tồng
3.2.1 Các phần hội trong lễ hội Lồng Tồng xưa
Sau khi làm xong lễ cày thì tiếng trống khai hội được gióng lên Tung
còn, hát then, hát sli lượn giao duyên, cờ người, đánh bạc là nét tiêu biểu
trong lễ hội Lồng Tồng xưa Hát lượn là một làn điệu dân ca của người Tày
Nó có hai nghĩa rộng hẹp:
Thứ nhất là nghĩa rộng: Lượn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca người Tày,
bao gồm cả then (lượn then), hát đám cưới (lượn quan làng), phuốc pác (lượn
phuốc pác) và phong slư (lượn phong slư)
Thứ hai là nghĩa hẹp: Lượn chỉ là những điệu hát giao duyên chỉ riêng
của người Tày Phổ biến hơn cả là cách gọi tên lượn theo nghĩa hẹp, tức là bộ
phận hát giao duyên đối đáp của người Tày
Hát lượn của người Tày 3 loại: "lượn cọi", "lượn slương" và "lượn
Nàng hai" Nếu như "lượn cọi" và "lượn Nàng hai" có địa bàn chính ở phía
Tây Việt Bắc Theo những tài liệu sưu tầm được, sơ bộ có thể chia "lượn
slương thành" 3 phần: "Lượn đi đường", "lượn sử" và "lượn chúc mừng"
Trong đó phần "lượn chúc mừng" không phải là hát giao duyên, chỉ là lời cảm
tạ của người lượn đối với gia chủ nên nó có tính chất gắn kết khá lỏng lẻo với
cuộc lượn Phần lượn sử với một thời gian khá lớn dành cho việc lượn về các
truyện cổ dân gian của người Tày và các tích truyện có nguồn gốc từ Trung
Quốc thể hiện chiều sâu của cuộc "lượn slương" khi tình cảm của người hát
đã hết sức sâu nặng Tung còn là trò chơi đặc trưng nhất của hội Cách làm
quả còn như sau: trái còn to bằng quả cam, khâu bằng vải, bên trong nhồi
bông hay vải vụn, bên ngoài bọc vải mềm có tua ngũ sắc trông sặc sỡ và rất
đẹp Cột còn làm bằng cây tre cao khoảng 10 mét và được buộc lên đường
tròn đồng tâm Cách làm vòng mặt trời như sau: lấy tre vót và uốn cong vòng
tròn Sau đó dán giấy đỏ, xanh, vàng Cắt mặt trời bằng giấy đỏ, mặt trăng